1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm của nguyễn tuân

126 220 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân luôn gắn liền với đặc điểm ngôn ngữ trong các sáng tác của ông.. Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám 1945 Thời kỳ trước cách mạng, những tác phẩm như V

Trang 1

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

0.1 Lý do và mục đích nghiên cứu 3

0.2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 4

0.3 Phương pháp nghiên cứu 8

0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9

0.5 Bố cục của luận văn 9

Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 11

1.1.Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác 11

1.1.1 Tiểu sử 11

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 13

1.2 Sơ lược về phong cách và phong cách Nguyễn Tuân 17

1.2.1 Một số vấn đề chung về phong cách 17

1.2.2 Phong cách Nguyễn Tuân 25

1.2.2.1 Ý thức sáng tạo ngôn ngữ 25

1.2.2.2 Phong cách ngôn ngữ độc đáo 29

Chương 2 MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ NGÔN NGỮ CỦA NGUYỄN TUÂN 2.1 Xét ở cấp độ từ ngữ 34

2.1.1 Việc sử dụng lớp từ Hán Việt 34

2.1.2 Vận dụng linh hoạt các từ ngữ địa phương và thành ngữ 42

2.1.3 Nghệ thuật chuyển hóa từ loại 49

2.1.4 Sử dụng phong phú loạt từ đồng nghĩa 53

2.1.5 Việc ưa dùng các từ ngữ mới lạ, kết ghép độc đáo 55

2.1.6 Sáng tạo sử dụng các động ngữ, tính ngữ có các phụ từ chỉ hướng 61

2.1.7 Tiểu kết 66

2.2 Xét ở cấp độ câu 68

2.2.1 Câu văn với nhiều sắc thái đa dạng 68

Trang 4

2.2.1.1 Câu văn mang phong thái cổ kính 68

2.2.1.2 Câu văn dân giã, bình dị 70

2.2.1.3 Câu văn hiện đại theo kiểu phương Tây 74

2.2.1.4 Câu văn giàu nhịp điệu 77

2.2.1.5 Câu văn lồng ghép thi liệu thơ 79

2.2.1.6 Câu văn giàu sức tạo hình 81

2.2.1.7 Câu văn với lượng thông tin phong phú 83

2.2.2 Những kiểu cấu trúc câu độc đáo 86

2.2.2.1 Kiểu câu đặc biệt 86

2.2.2.2 Kiểu câu dài sử dụng nhiều định ngữ và thành phần chú thích 87

2.2.3 Tiểu kết 91

2.3 Vận dụng linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật 91

2.3.1 Thủ pháp so sánh 91

2.3.2 Thủ pháp liệt kê tăng cấp 98

2.3.3 Thủ pháp điệp 99

2.3.4 Thủ pháp tương phản 102

2.3.5 Tiểu kết 104

2.4 Tổ chức văn bản 105

2.4.1 Một vài vấn đề chung về việc tổ chức văn bản 105

2.4.2 Việc tổ chức văn bản trong tác phẩm Nguyễn Tuân 106

2.4.3 Tiểu kết 113

KẾT LUẬN 115

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

Trang 5

MỞ ĐẦU

0.1 Lý do và mục đích nghiên cứu

Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ có những đóng góp to lớn trong việc giữ gìn và phát triển ngôn ngữ dân tộc Nói theo

nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên thì “Nguyễn Tuân là một trong những cây đại thụ

của rừng đầu nguồn văn chương Việt Nam thế kỷ XX” Ông là một nhà văn được

xem là có phong cách văn chương độc đáo, tài hoa nhưng cũng hết sức phức tạp trên văn đàn hiện đại Việt Nam

Phong cách nghệ thuật văn chương Nguyễn Tuân trải qua hai thời kỳ trước

và sau cuộc cách mạng lớn của dân tộc – cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945

Đó là một quá trình tự nhận thức và cải biến từ nghệ thuật vị nghệ thuật đến nghệ thuật vị nhân sinh Sự thay đổi thế giới quan, ý thức nghệ thuật ấy là một quá trình gian khổ Trước Cách mạng, cái tôi của người nghệ sĩ trong cảnh mất nước là một

“cái tôi lập dị, ngang bướng, đi lù lù giữa cuộc đời, ném đá vào những kẻ xung

quanh”.[45:71] Nhưng sau cách mạng, cái tôi ấy đã có sự thay đổi lớn về thế giới

quan trong dòng chảy của hai cuộc kháng chiến trường kỳ, để hướng tới sự hòa hợp của cái tôi nghệ sĩ và cái tôi công dân Trải qua những biến cố lớn lao của đời sống lịch sử của dân tộc, Nguyễn Tuân từ một nhà văn lãng mạn chủ nghĩa đã chuyển mình và dần dần hình thành cho mình một phong cách văn chương tài hoa,

độc đáo, một nghệ sĩ “luyện đan” ngôn từ Cuộc đời cầm bút trên 40 năm nhiều

biến cố tạo nên một phong cách Nguyễn Tuân độc đáo và đa dạng

Phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân luôn gắn liền với đặc điểm ngôn ngữ

trong các sáng tác của ông Thật không quá khi Hoài Anh cho rằng: “Nguyễn Tuân

là người nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa đến một độ cao hiếm thấy trong văn học Việt Nam” Tuy rằng, trước cách mạng, sự thăng hoa ấy theo

Nguyễn Đăng Mạnh chỉ là để “chơi ngông” với đời, chỉ “đổ tràn trên mặt giấy để

phô tài, khoe chữ” Nhưng sau cách mạng, đặc biệt là đến lần “nhận đường” thứ

hai (1958–1960), ngôn ngữ Nguyễn Tuân luôn tươi mới, sôi nổi, sáng tạo không ngừng, quan niệm về cái đẹp của nhà văn thật sự có những phẩm chất mới Cái

Trang 6

đẹp của ngôn ngữ đã gắn liền với đời sống lớn của nhân dân và đất nước Nó là cái đẹp của cuộc sống chiến đấu, xây dựng tổ quốc của dân tộc, của nhân dân

Nghiên cứu phong cách văn chương Nguyễn Tuân nói chung và đặc điểm ngôn ngữ trong các tác phẩm cụ thể của ông là một điều thú vị, hấp dẫn, tuy đó không phải là một công việc dễ dàng Chúng ta đều biết rằng, Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn luôn có ý thức trân trọng, giữ gìn sự trong sáng, thuần khiết, giàu có của tiếng nói dân tộc Nghiên cứu những đặc sắc ngôn ngữ trong các tác phẩm của nhà văn chính là góp phần tìm hiểu phong cách của nhà văn đó Chúng tôi ước muốn rằng, luận văn này sẽ là một sự bổ sung trong việc tìm hiểu, khai phá thêm những địa hạt ngôn ngữ trong rừng tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân

0.2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn Do vậy, đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu viết về cuộc đời và tác phẩm của ông Chúng tôi chia làm 3 giai đoạn chính trong quá trình nghiên cứu về con người và tác phẩm của nhà văn

a Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám 1945

Thời kỳ trước cách mạng, những tác phẩm như Vang bóng một thời, Chiếc

lư đồng mắt cua, Thiếu quê hương,…đã tạo được nhiều ấn tượng đối với người

đọc và các nhà nghiên cứu, phê bình văn học lúc bấy giờ Nhìn chung, các đánh giá thời kỳ này đều đánh giá cao sự tài hoa, uyên bác cũng như sắc thái dân tộc được thể hiện trong tác phẩm của Nguyễn Tuân

Đầu tiên phải kể đến là bài viết của nhà văn Thạch Lam và nhà nghiên cứu

Vũ Ngọc Phan Trong bài viết của mình trên báo Ngày nay (Số 212, ngày 15–5–

1940), Thạch Lam đã đánh giá cao tinh thần sáng tạo văn chương của Nguyễn

Tuân Ông cho rằng: “Nguyễn Tuân là một nhà văn có tài năng đặc biệt, một nghệ

sĩ có lương tâm, ở người đó chúng ta đặt những hi vọng tốt đẹp nhất về sự nghiệp”.[39:269] Còn trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã phân tích,

phê bình, đánh giá tác phẩm của Nguyễn Tuân một cách khoa học và giàu sức

thuyết phục:“ Ông là một nhà văn đặc Việt Nam, có tính hào hoa và có cái giọng

khinh bạc đệ nhất trong văn giới Việt Nam hiện đại Nói như thế người ta mới hiểu

Trang 7

được thân thế ông và văn ông, vì thân thế ông với văn ông theo nhau như người với bóng” [59:438,439]

Ở miền Nam, thời kỳ này cũng có nhiều ý kiến đánh giá cao về tác phẩm

của Nguyễn Tuân Vũ Bằng trong bài Nguyễn Tuân: đứa con nuông của thiên thần

và ác quỷ đã có những nhận xét thấu đáo về tinh thần bất đắc chí của một con

người “không có cả Bây giờ, không có cả Ngày mai” Bên cạnh đó, Phạm Thế

Nghĩa có những suy nghĩ toàn diện và sâu sắc khi cho rằng văn chương Nguyễn

Tuân “thật già mà thật trẻ, rất cũ cũng rất mới”

Các tác giả khác như Thẩm Thệ Hà thì cho rằng Nguyễn Tuân là “nhà văn

nổi bật nhất thời tiền chiến” Tạ Tỵ lại có những nhận xét về ngôn ngữ mà nhà văn

sử dụng: “một vùng trời xôn xao của thanh âm ngôn ngữ”

b Sau cách mạng tháng Tám đến trước ngày mất của Nguyễn Tuân 1987)

(7-Thời kỳ này ghi dấu những đánh giá trái chiều của các nhà nghiên cứu mà khá nhiều trong số đó là những lời phê phán Phê phán nội dung, thế giới quan

cũng như ý thức sáng tác Như Phong đả kích cái Tôi ích kỷ, Nam Mộc cho rằng tác phẩm Nguyễn Tuân “chướng căn còn nặng” Triều Mai còn nhận định đó là

“cái Tôi hết mùa” Nguyễn Đăng Mạnh lại khẳng định, Nguyễn Tuân viết để thể hiện cái Ngông, thể hiện phản ứng của chủ nghĩa cá nhân kiêu ngạo của người

thanh niên trí thức giàu sức sống nhưng bế tắc

Dẫu vậy, cũng có không ít những nhìn nhận tích cực, những lời khen, đặc biệt ở khía cạnh ngôn ngữ và tinh thần dân tộc Bài viết đáng chú ý, thực sự công

phu và chuyên sâu thì phải kể đến bài nghiên cứu của Phan Cự Đệ trong cuốn Nhà

văn Việt Nam và Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Tuân của Nguyễn Đăng Mạnh

Trong cuốn Nhà văn Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã viết về cuộc đời và

tác phẩm của Nguyễn Tuân trong cả hai thời kỳ trước và sau cách mạng một cách

sâu sắc và khá toàn diện Ông nhận xét: “Trước Cách mạng, cái Tôi cá nhân chủ

nghĩa trong tác phẩm Nguyễn Tuân đã có khuynh hướng muốn tự phủ định…Trước cuộc đổi đời vĩ đại của cả một dân tộc, Nguyễn Tuân trịnh trọng

Trang 8

tuyên bố phải gây “những vụ án mạng” trong con người cũ của mình… Trước cách mạng, ta chỉ có một Nguyễn Tuân nghệ thuật vị nghệ thuật, một Nguyễn Tuân nghệ sĩ thuần túy Bây giờ đây ta đã có một công dân Nguyễn Tuân bên cạnh một Nguyễn Tuân nghệ sĩ, một cán bộ Nguyễn Tuân hòa hợp với một nhà văn Nguyễn Tuân” [19:202,203] Bên cạnh đó qua Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn

Tuân cũng như nhiều bài viết của Nguyễn Đăng Mạnh, chúng tôi nhận thấy ông luôn có những nghiên cứu công phu, toàn diện về những ưu điểm cũng như hạn chế trong các sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân Ông có những nhận xét tinh tế, khoa học về con người, quan điểm nghệ thuật, về các tác phẩm của nhà văn :

“Nhưng nếu như trước kia, chủ nghĩa cá nhân hưởng lạc và kiêu ngạo đã lôi cuốn

ông chạy theo những xu hướng văn học tiêu cực suy đồi và lúc ấy, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc đã cố kéo ông lại, thì giờ đây, khi lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, được cách mạng phát huy, thôi thúc ông tiến lên trên con đường lớn của nghệ thuật cách mạng, thì chủ nghĩa cá nhân hưởng lạc và kiêu ngạo lại muốn níu giữ ông lại, tạo ra thế giằng co mới trong ý thức nghệ thuật của ông Tuy nhiên, nhờ

sự giáo dục của Đảng và của thực tiễn cách mạng, cũng như mối liên hệ ngày càng máu thịt hơn đối với đời sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân, Nguyễn Tuân ngày càng vượt qua được tình trạng giằng co nói trên một cách thanh thoát hơn, để trờ thành một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, thấm nhuần những tư tưởng cao đẹp của thời đại mới” [47:118]

Nguyễn Đăng Mạnh còn cho rằng tinh thần dân tộc của nhà văn như “huyệt

thần kinh nhạy cảm nhất”, về ngôn ngữ thì “ cần có chuyên luận riêng về đặt câu, dùng từ”

c Từ ngày Nguyễn Tuân mất đến nay

Có thể nhận thấy đây là giai đoạn mà giới phê bình đã có những nhìn nhận hết sức khoa học và khách quan về con người và tác phẩm của nhà văn Những đánh giá khen ngợi đều tập trung vào ba khía cạnh: tinh thần dân tộc, ngôn ngữ và cái Tôi độc đáo

Trang 9

Về tinh thần dân tộc, nhà văn được đánh giá cao: “Nguyễn Tuân đa dạng,

phức điệu biến hóa và tiến triển nhưng bao giờ cũng nhất quán một cách sâu sắc, bao giờ cũng thủy chung, thắm đỏ với sự nghiệp của nhân dân, đất nước mình cho

dù đó không phải là một tình yêu đơn giản”.(Phan Cự Đệ)

Về ngôn ngữ, Nguyễn Đình Thi ca ngợi Nguyễn Tuân là “nghệ sĩ bậc thầy

của tiếng Việt” Hoàng Tiến chú ý tới câu văn của ông: “Kiến trúc câu tuyệt vời”

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến đều khẳng định về cái Tôi cá nhân rõ nét trong tác

phẩm Nguyễn Tuân Trong tác phẩm của mình, “viết nhân vật nào cũng là nhân

vật tôi” (Tô Hoài) Ngoài ra, các nhà phê bình đều ca ngợi Nguyễn Tuân luôn có

thiên hướng về cái Đẹp nhưng không phải là cái Đẹp duy mĩ như nhiều nhận định

chủ quan trước đây: “Quan niệm về cái đẹp đã chi phối cả quá trình sáng tác của

ông Quan niệm về cái đẹp có khi được ông phát biểu một cách trực tiếp nhưng chủ yếu thể hiện qua sáng tác, bằng những nhân vật yêu thích của mình… Một trong những quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân là cái đẹp đối lập với cái phàm tục, tầm thường Cái đẹp không đi đôi với đồng tiền” (Nguyễn Thị Thanh

Minh) Hơn nữa, nhiều người đề cao tính sáng tạo của thể loại làm nên phong cách

Nguyễn Tuân, đó chính là tùy bút Tùy bút của ông “dạy cho ta nghệ thuật sống” (Hoàng Như Mai), với những trang văn “thấm đẫm phong vị và văn hóa Việt

Nam” (Phạm Thùy Nhân)

Tóm lại, giai đoạn này các nhận định nghiêng về sự ca ngợi, khẳng định hơn là phê phán Đó chính là những nhận xét mang tính chất khách quan, cụ thể đều giúp ích cho chúng tôi trong việc nghiên cứu, tìm hiểu đề tài trong luận văn này

Gần đây cũng có một vài công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân nhưng chủ yếu là nghiên cứu về mặt phong cách của nhà văn Trong đó đáng chú ý là

luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Hà với đề tài “Đặc trưng tùy bút Nguyễn

Tuân” Tác giả đã nghiên cứu một cách công phu và khá toàn diện về những đặc

sắc trong thể loại tùy bút của nhà văn, trong đó một vài yếu tố nổi bật về ngôn ngữ cũng đã được tác giả khai thác Đó là một trong số các công trình nghiên cứu

Trang 10

thành công và có ý nghĩa khoa học, thực tiễn cao trong việc tìm hiểu về những đặc sắc của thể tùy bút nói riêng và phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân nói chung

0.3 Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Tuân

ở các thể loại khác nhau Do số lượng tác phẩm khá nhiều nên chúng tôi dùng hai

phương pháp chính khi tiến hành nghiên đề tài này đó là phân tích và mô tả dựa trên việc khảo sát kĩ và có chọn lọc các đơn vị ngôn ngữ từ các tác phẩm của

Nguyễn Tuân Đặc điểm ngôn ngữ cũng như phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân luôn có sự vận động, phát triển, vì vậy chúng tôi nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ Nguyễn Tuân trong mối quan hệ biện chứng, tức là nghiên cứu phải xét tới những chuyển biến về thế giới quan, quan điểm thẩm mỹ và phương pháp sáng tác

của nhà văn Chúng tôi cố gắng kết hợp những lí luận chung về ngôn ngữ và phân

tích những đặc sắc ngôn ngữ cụ thể Bên cạnh đó, chúng tôi dùng phương pháp so sánh nhằm làm nổi bật những đặc sắc ngôn từ trong tác phẩm của Nguyễn Tuân

Ngoài ra, trong một vài trường hợp, chúng tôi dùng phương pháp thống kê để thấy

rõ một đặc điểm ngôn ngữ nào đó trong tác phẩm

Trong quá trình viết luận văn, chúng tôi có được nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn Những thuận lợi ấy chính là đã có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu về con người và tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân Bên cạnh đó, trong khoảng thời gian gần đây các bộ môn nghiên cứu văn học như lí luận văn

học, phê bình văn học khá phát triển Trong đó đáng chú ý là công trình Tìm hiểu

phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc đã tiếp cận tác giả, tác

phẩm trên bình diện thi pháp, đã đạt được những thành công nhất định Điều đó cũng đã góp phần giúp cho việc tìm hiểu ngôn ngữ của các tác phẩm văn học trở nên khoa học và có nhiều thuận lợi hơn Tuy vậy, khó khăn của chúng tôi là phải khảo sát kĩ một số lượng khá lớn các tác phẩm của nhà văn ở tất cả các thể loại

Ngoài ra, số lượng các bài viết về Nguyễn Tuân rất phong phú nhưng chủ yếu chỉ

tập trung về mảng văn học

Trang 11

Trong luận văn này, chúng tôi tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của những người đi trước, đồng thời cũng mạnh dạn trình bày những đánh giá của riêng mình một cách thận trọng, tránh những nhận xét phiến diện, một chiều

0.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Như đã nói ở trên, trong luận văn này chúng tôi cố gắng tiếp thu những thành tựu của những người đi trước, đặc biệt là những thành tựu nghiên cứu về

phong cách Nguyễn Tuân Với luận văn này, chúng tôi muốn tìm hiểu cụ thể hơn

đặc điểm ngôn ngữ trong các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân ở các cấp độ và phương diện khác nhau, từ cấp độ từ ngữ, câu, các biện pháp tu từ cho đến việc tổ chức văn bản Qua đó, chúng tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về những giá trị nghệ

thuật trong việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Tuân

Trang 12

2.1.3 Nghệ thuật chuyển hóa từ loại

2.1.4 Sử dụng phong phú loạt từ đồng nghĩa

2.1.5 Việc ưa dùng các từ ngữ mới lạ, kết ghép độc đáo

2.1.6 Sáng tạo trong việc dùng các động ngữ, tính ngữ có các phụ từ chỉ hướng 2.1.7 Tiểu kết

2.2 Xét ở cấp độ câu

2.2.1 Câu văn với nhiều sắc thái đa dạng

2.2.1.1 Câu văn mang phong thái cổ kính

2.2.1.2 Câu văn dân giã, bình dị

2.2.1.3 Câu văn hiện đại theo kiểu phương Tây

2.2.1.4 Câu văn giàu nhịp điệu

2.2.1.5 Câu văn lồng ghép thi liệu thơ

2.2.1.6 Câu văn giàu sức tạo hình

2.2.1.7 Câu văn với lượng thông tin phong phú

2.2.2 Những kiểu cấu trúc câu độc đáo

2.2.2.1 Kiểu câu đặc biệt

2.2.2.2 Kiểu câu dài sử dụng nhiều định ngữ và thành phần chú thích

2.4.1 Một vài vấn đề chung về việc tổ chức văn bản

2.4.2 Việc tổ chức văn bản trong tác phẩm Nguyễn Tuân

2.4.3 Tiểu kết

Trang 13

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác

1.1.1 Tiểu sử

Nguyễn Tuân sinh ngày 10-7-1910 tại phố Hàng Bạc, Hà Nội Gia đình có

truyền thống nho học Nhưng lúc này nho học đã thất thế, nhường chỗ cho Tây

học Cả một thế hệ vốn gắn bó với cửa Khổng sân Trình bỗng dưng trở nên lỗi thời trước xã hội giao thời Tây-Tàu nhố nhăng; sinh ra tư tưởng bất đắc chí (trong

đó có cụ Tú Hải Văn, thân sinh của nhà văn Nguyễn Tuân) Bối cảnh xã hội, không khí gia đình đặc biệt ấy đã ghi lại dấu ấn sâu sắc trong cá tính, tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn Là một trí thức giàu tinh thần dân

tộc, Nguyễn Tuân đã phải trải qua những năm tháng khổ sở, có lúc bế tắc, tuyệt

vọng

Năm 1929, bị đuổi học và không được vào làm việc ở bất cứ công sở nào trên toàn cõi Đông Dương (vì tham gia bãi khóa chống đối việc giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam, tại trường trung học Nam Định) Sau đó Nguyễn Tuân cùng một nhóm bạn, vượt biên giới sang Lào; bị bắt ở Thái Lan, đưa về giam ở Thanh Hoa Hơn một năm sau, ra tù rồi vào Sài Gòn, đến Vinh thì bị bắt và bị quản thúc

ở Thanh Hóa Kể từ đây, Nguyễn Tuân lâm vào tình trạng khủng hoảng tinh thần

sâu sắc Ông lao vào con đường ăn chơi trụy lạc, thành kẻ “đại bất đắc chí”, như một người “hư hỏng hoàn toàn”

Năm 1938, tham gia vào đoàn làm phim "Cánh đồng ma", quay tại Hồng

Kông Từ 1942 đến 1945, ngày càng bế tắc, suy sụp ; đã có ý định tự sát

Cách mạng tháng Tám đã cứu sống cuộc đời cũng như trang viết Nguyễn

Tuân Ông hân hoan chào đón cuộc đổi đời lịch sử, tự “lột xác” và chân thành

đứng vào hàng ngũ nhà văn Cách mạng Năm 1950, vào Đảng Cộng sản Đông Dương Từ 1948-1958, là tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam Nguyễn Tuân luôn hăng hái tham gia vào hai cuộc kháng chiến Tiếp tục đi nhiều, có mặt ở tuyến lửa

ác liệt, dùng văn chương ngợi ca đất nước và cùng nhân dân đánh giặc

Trang 14

Nguyễn Tuân mất ngày 28-7-1987 tại Hà Nội

Về con người, Nguyễn Tuân là một trí thức dân tộc rất mực tài hoa, uyên

bác Ông am tường cả Hán học lẫn Tây học, đặc biệt, có lòng say mê thiết tha đối

với tiếng Việt Rất mực đề cao và chú tâm gìn giữ nhân cách nghệ sĩ, nên Nguyễn Tuân căm ghét thói xấu xa đê tiện, rởm đời, vô văn hóa Đọc văn ông, người đọc không chỉ có khoái cảm thẩm mỹ từ nghệ thuật ngôn từ mà còn được bồi dưỡng thêm tri thức về nhạc, họa, điêu khắc, kiến trúc, lịch sử, địa lý, điện ảnh, Thực tế

ấy chứng tỏ Nguyễn Tuân là một tài năng phong phú, có năng lực ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật

Đời viết văn hơn nửa thế kỷ của Nguyễn Tuân là một quá trình lao động nghệ thuật thật sự nghiêm túc Về sau, khi đã ở đỉnh cao nghề nghiệp, ông vẫn không bao giờ tỏ ra lơi lỏng, hời hợt ; mà ngược lại, luôn nghiêm khắc với chính

mình Đây là một nhà văn “suốt đời đi tìm cái Đẹp, cái Thật” (Nguyễn Đình Thi),

tự nhận mình là người “sinh ra để thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa”

Trước Cách mạng tháng Tám, trong bối cảnh nước mất, xã hội đảo điên

“lộn tùng phèo” mọi thứ quan niệm, mọi giá trị, Nguyễn Tuân đã đứng hẳn về phía

dân tộc và truyền thống, dũng cảm chống lại sức công phá của lối sống xu thời Sáng tác của ông thời kỳ này dồn sức chủ yếu vào việc phục hiện lại các giá trị văn hóa xưa Trên trang viết Nguyễn Tuân, những vẻ đẹp xưa chợt sống dậy trong niềm xót xa tiếc nuối khôn nguôi Dù điều kiện bấy giờ không cho phép nhà văn bộc lộ trực tiếp tâm sự u hoài đối với dân, với nước, người đọc vẫn cảm nhận được một tấm lòng chân thành và rất mực thủy chung Ông đã ghé vai vào chống chọi, hàn gắn, sắp xếp lại với kỳ vọng gìn giữ những giá trị thiêng liêng nhất vốn hun đúc nên quốc hồn, quốc túy Việt Nam Nếu có thể ví trang sách như tấm lá chắn hữu hiệu thì nhà văn Nguyễn Tuân - giai đoạn trước 1945 - chính là người cảm tử quân đang chiến đấu với cái Ác, tử thủ ở thành trì Chân - Thiện - Mỹ

Từ sau 1945, Nguyễn Tuân viết đều đặn, càng tỏ ra sâu sắc trong tư tưởng nghệ thuật Nhà văn có dịp đi nhiều, vừa đi vừa mở lòng đón nhận bao nhiêu thanh sắc của cuộc sống mới đang từng giây từng phút sinh sôi Nếu trước kia chỉ có thể

Trang 15

bộc lộ tâm sự yêu nước thương dân một cách kín đáo, thì giờ đây, con người tài hoa uyên bác ấy như được tháo cũi sổ lồng, phát huy hết mọi sở trường, cất cao lời ngợi ca đất nước và con người Việt Nam trong thời đại mới

Nếu trước Cách mạng tháng Tám, quan niệm về cái Ðẹp của Nguyễn Tuân

đậm màu sắc chủ quan, “không bà con gì với luân lý thời đại” thì giờ đây, đã có sự

hài hòa cần thiết Bởi cái Ðẹp giờ hiện hữu trong thực tại, là đời sống muôn màu của Nhân Dân ; như có thể cầm lên tay mà nâng niu Hoài cổ không còn mang ý nghĩa níu kéo dĩ vãng mà được nâng lên thành ý thức về sự góp mặt của dĩ vãng ở hiện tại

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác

Tác phẩm tiêu biểu :

- Trước 1945 : Một chuyến đi (1938), Vang bóng một thời (1939), Ngọn đèn

dầu lạc (1939), Thiếu quê hương (1940), Tàn đèn dầu lạc (1941), Chiếc lư đồng mắt cua (1941), Tùy bút I (1941), Tùy bút II (1943), Tóc Chị Hoài (1943), Nguyễn

(1945)

- Sau 1945 : Chùa Đàn (1946), Đường vui (1949), Tình chiến dịch (1950),

Thắng càn (1963), Tùy bút kháng chiến và hòa bình (Tập I/1955, tập II/1956), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), Ký (1976), Hương vị và cảnh sắc đất nước (1978), Tuyển tập Nguyễn Tuân (1994)

Do chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hán học, sáng tác của ông, cho đến trước

năm 1937, hầu hết được viết theo bút pháp cổ điển Những sáng tác buổi đầu ấy

chưa gây được tiếng vang Tuy nhiên, có thể bắt gặp ở một số trang viết tiêu biểu

như Giang hồ hành (thơ), Vườn xuân lan tạ chủ (truyện ngắn) những tín hiệu của

một phong cách nghệ thuật lớn Ðó là tinh thần hoài cựu, luôn chăm chút nhặt nhạnh những vẻ đẹp xưa dù đã tàn tạ, cuối mùa ; là hệ thống nhân vật tài hoa tài

tử, nhuốm chút ngông nghênh kiêu bạc; là lối văn cầu kỳ trúc trắc mà uyên bác hơn người

Đến 1937, Nguyễn Tuân lại xuất hiện trên các báo với những truyện ngắn hiện thực trào phúng, ở đó thường vỡ ra những tràng cười châm biếm thoải mái,

Trang 16

đậm đà phong vị dân gian (Mánh mất ví, Một vụ bắt rượu, Mười năm trời mới gặp

lại cố nhân) Tuy nhiên, do trào lưu hiện thực phê phán lúc bấy giờ đã phát triển

rất mạnh với nhiều tên tuổi lớn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, cho nên thật không dễ dàng đối với Nguyễn Tuân trong việc tìm một vị trí có hạng trên văn đàn Có lẽ hơn ai hết, Nguyễn Tuân sớm nhận ra rằng thể loại truyện ngắn vẫn chưa phù hợp với sở trường của mình

Nguyễn Tuân chỉ thực sự công nhận như một phong cách văn chương độc

đáo kể từ tùy bút - du ký Một chuyến đi (1938) Tác phẩm là tập hợp những trang

viết từ chuyến du lịch không mất tiền sang Hương Cảng để tham gia thực hiện bộ

phim Cánh đồng ma - một trong những phim đầu tiên của Việt Nam Nét đặc sắc nhất ở Một chuyến đi chính là giọng điệu Có thể nói đến đây Nguyễn Tuân mới

tìm được cách thể hiện giọng điệu riêng, một giọng điệu hết sức phóng túng, linh

hoạt đến kỳ ảo: “Khi thì trang nghiêm cổ kính, khi thì đùa cợt bông phèng, khi thì

thánh thót trầm bổng, khi thì xô bồ bừa bãi như là ném ra trong một cơn say chếnh choáng, khinh bạc đấy, nhưng bao giờ cũng rất đỗi tài hoa” (Nguyễn Đăng

Mạnh) Nhân vật chính trong tác phẩm là cái “tôi” ngông nghênh kiêu bạc của nhà văn Một cái “tôi” sau quá nhiều đắng cay tủi cực đã hầu như hoài nghi tất cả, chỉ còn tin ở cái vốn tình cảm, ý nghĩ, cảm xúc sắc sảo và tinh tế của mình tích lũy được trên bước đường xê dịch

Một năm sau, 1939, bằng tập truyện Vang bóng một thời Nguyễn Tuân đã vươn đến đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật Tác phẩm gần đạt đến độ “toàn thiện

toàn mỹ” (Vũ Ngọc Phan) ấy đã góp phần đưa nghệ thuật văn xuôi Việt Nam phát

triển thêm một bước mới trên con đường hiện đại hóa Vang bóng một thời vẽ lại

những nét đẹp xưa của thời phong kiến suy tàn, thời có những ông Nghè, ông Cống, ông Tú thích chơi lan chơi cúc, thích đánh bạc bằng thơ hoặc nhấm nháp chén trà trong sương sớm với tất cả nghi lễ thành kính đến thiêng liêng Cũng vào thời ấy, tên đao phủ còn chém người bằng đao, người ta còn đi lại trên đường bằng võng, bằng cáng; vừa đi vừa dềnh dàng đánh cờ bằng miệng Thời gian hầu như chưa trở thành nỗi ám ảnh lớn đối với con người, bởi nó còn được đo bằng mùa,

Trang 17

bằng tiết Nhưng những vẻ đẹp có màu sắc truyền thống ấy đang có nguy cơ bị mai một Ðau đớn nhận ra điều đó, Nguyễn Tuân ra sức níu giữ, gom góp và phục

chế lại bằng tất cả tấm lòng thành kính Vang bóng một thời, vì thế, có thể được

xem như một bảo tàng lưu giữ các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc

Từ sau Vang bóng một thời đến năm 1945, sáng tác của Nguyễn Tuân dần

đi vào ngõ cụt Nếu như ở Thiếu quê hương (1940), Chiếc lư đồng mắt cua (1941)

tuy mải mê với những lạc thú trần tục, cái “tôi” vẫn còn đầy tự trọng và giữ được ý thức về bản thân mình thì từ 1942, tình hình có khác đi Vẫn cái “tôi” ấy nhưng đã

có vẻ mất niềm tin vào cuộc sống Trong những năm đen tối này, đời sống tinh thần của Nguyễn Tuân lâm vào tình trạng ngày càng khủng hoảng sâu sắc Những trang viết thưa dần Bên cạnh những đề tài cũ (vẻ đẹp xưa, đời sống trụy lạc), xuất hiện thêm các đề tài mới hướng về thế giới của yêu tinh, ma quỷ Ngay tiêu đề các

tác phẩm: Xác ngọc lam, Đới roi, Rượu bệnh, Loạn âm cũng đủ nói lên tình trạng

bế tắc của ngòi bút Nguyễn Tuân thời kỳ này

Dõi theo quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, thật dễ nhận ra sự thay đổi rõ rệt về tư tưởng nghệ thuật, nhất là từ

Vang bóng một thời trở về sau Điều này hoàn toàn có thể lý giải được nếu nhìn

vào quy luật của chủ nghĩa lãng mạn: bao giờ cũng khởi đầu thật ấn tượng bằng việc khám phá và đề cao cái “tôi” cá nhân, để rồi sau giây phút choáng ngợp ấy tất

cả vụt trở nên nhỏ nhoi, trống vắng và buồn chán đến nao lòng Dẫu sao, những trang viết của Nguyễn Tuân vẫn luôn được đón nhận bằng thái độ trân trọng và thông cảm sâu sắc; bởi độc giả nhận ra ở đấy một tấm lòng chân thành, cả trong những thời điểm khắc nghiệt nhất

Những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, ngoài một vài tùy bút ngắn ghi

lại tâm trạng vừa hoang mang vừa đầy ắp hy vọng của một trí thức tự “lột xác” để dấn thân vào cuộc đời mới (Vô đề, Ngày đầy tuổi tôi Cách Mệnh), Nguyễn Tuân còn có Chùa Ðàn - một tác phẩm được viết khá công phu và đầy tâm huyết Chùa

Đàn là truyện về một nhân vật mắc căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ đến tàn

nhẫn; nhưng từ sau 1945, như được uống liều thuốc cải lão hoàn đồng, tự cải tạo

Trang 18

vươn lên thành con người mới, sống chan hòa với xung quanh Có nhiều ý kiến đánh giá chưa thật thống nhất đối với tác phẩm này Mới đọc qua, dễ có ấn tượng

về một quá trình đổi thay có vẻ giản đơn, công thức Nhưng nếu xem xét tác phẩm

trong cả quá trình sáng tác của nhà văn thì không thể không công nhận “Chùa Đàn” là một cố gắng đáng trân trọng

Tiếp theo, hai tập tùy bút: Đường vui (1949) và Tình chiến dịch (1950) ghi

nhận chuyển biến thật sự sâu sắc của ngòi bút Nguyễn Tuân Đáp lời kêu gọi của Đảng, Nguyễn Tuân hăng hái xốc ba lô lên vai dấn thân khắp các nẻo đường chiến dịch Cái “tôi” giờ đây không còn phá phách, ngông nghênh nữa mà hòa nhập, sẻ chia với đồng bào đồng chí Giọng điệu văn chương trở nên sôi nổi tin yêu, tràn ngập một tình cảm chân thành đến hồn nhiên đối với quê hương đất nước, với cách mạng và kháng chiến Ngỡ như sau phút dừng chân bên đường để định phương hướng, Nguyễn Tuân lại tiếp tục bôn ba trên hành trình đi tìm cái Đẹp, cái Thật

Có điều khác là những giá trị ấy giờ đây không phải mất công tìm kiếm ở cõi quá vãng hoặc vô hình nào mà hiện hữu ngay trong cuộc đời thực đang từng giây từng phút sinh sôi cuồn cuộn trước mắt Nguyễn Tuân như chuếnh choáng say sưa trước niềm hạnh phúc vô biên ấy Ông vốc từng vốc lớn chất liệu hiện thực và bày biện một cách hết sức tài hoa, tinh vi lên trang viết để thết đãi cả nhân dân mình

Hàng loạt tùy bút đặc sắc ra đời trong mạch cảm hứng ấy: Phở, Cây Hà Nội, Con

rùa thủ đô, Tìm hiểu Sê Khốp

Sông Đà, viết từ 1958 đến 1960, là cái mốc quan trọng, đỉnh cao mới trong

sáng tác của Nguyễn Tuân từ sau Cách mạng tháng Tám Tác phẩm như một dòng thác lớn thanh âm ngôn ngữ, cảm xúc, tư tưởng được khơi đúng nguồn mạch

chính, hệt con sông Đà “hung bạo và trữ tình”, chảy băng băng qua vùng Tây Bắc hùng vĩ và ngạo nghễ với thời gian Ðọc Sông Đà, thấy trữ lượng cái Đẹp - chất

“vàng mười” của đất nước và con người Việt Nam trong cuộc sống mới - quả là

nhiều vô kể Cánh cửa tâm hồn tài hoa, lãng tử của Nguyễn Tuân như mở toang ra

cho cái Đẹp ùa vào: “Đời sống Tây Bắc ngày nay là một tấm lòng tin tưởng không

bờ bến, tin mình tin người, mấy chục dân tộc miền cao và đồng bằng tin cậy lẫn

Trang 19

nhau, và nhất là tin chắc vào cái chế độ đẹp sáng do tay mình đắp cao mãi lên trên chỗ cao nguyên tiềm tàng sức sống này” [92:335]

Từ sau “Sông Đà”, Nguyễn Tuân tiếp tục đi và viết nhiều, chủ yếu vẫn ở thể tùy bút, được tập trung in trong các tác phẩm tiêu biểu : “Hà Nội ta đánh Mỹ

giỏi” (1972), “Ký” (1976), “Hương vị và cảnh sắc đất nước”(1978) Nhìn chung,

sáng tác thời kỳ này có thể phân thành hai mảng chính: mảng thứ nhất viết về tình

cảm Bắc - Nam và đấu tranh chống Mỹ - Ngụy chia cắt đất nước ; mảng thứ hai tiếp tục khai thác vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam, của truyền thống văn hóa Việt Nam trong thời đại mới Công cuộc chống Mỹ đã đưa dân tộc ta lên tầm cao của thời đại mới Tinh thần quyết thắng từ tầm cao lịch sử ấy là âm hưởng chung của văn học thời kỳ này Tuy nhiên, Nguyễn Tuân đã thể hiện tinh thần ấy theo một cách riêng Dưới ngòi bút của ông, người Việt Nam vừa đánh Mỹ vừa sản xuất trong tư thế ung dung, sang trọng và đầy tài hoa ; tư thế của một dân tộc không chỉ giành được chính nghĩa trong chiến đấu giữ nước mà còn có bề dày

truyền thống văn hóa lâu đời Nhiều bài ký khiến người đọc phải ngỡ ngàng trước

một sức bút kỳ lạ với vốn sống ngồn ngộn, tinh tế ; vừa đầy ắp liên tưởng bất ngờ, thú vị vừa nóng hổi tính thời sự Giai đoạn này, bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai

như lọt vào đúng tầm ngắm của Nguyễn Tuân Sự đối lập rõ rệt giữa truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta với dã tâm của kẻ thù tạo nên nguồn cảm hứng lớn cho sáng tác Ông đã nã những phát cực kỳ lợi hại, bóc trần bản chất xảo quyệt của

chúng, dù được chúng ngụy trang rất khéo léo; góp phần động viên và tăng cường

nhận thức của quần chúng về chiến tranh chống Mỹ, cứu nước

1.2 Sơ lược về phong cách và phong cách Nguyễn Tuân

1.2.1 Một số vấn đề chung về phong cách

Phong cách là một phạm trù lớn và có nhiều vấn đề cần tranh luận để đi

đến việc thống nhất nội hàm của khái niệm này Vậy chúng ta sẽ tìm hiểu những ý

kiến khác nhau xoay quanh khái niệm phong cách nói chung và phong cách cá nhân của nhà văn nói riêng

Trang 20

Theo viện sĩ Timôphiép, nguồn gốc của thuật ngữ phong cách bắt nguồn từ mẫu tự La Tinh Trước đây người Hy Lạp dùng chữ Stylos để chỉ một cái que một đầu nhọn, một đầu tù Người La mã thì gọi là Stylus cũng để chỉ cái que đó, đầu

nhọn dùng để viết, đầu tù dùng để xóa các chữ viết Về sau, người Pháp dùng chữ

Style với nghĩa ban đầu là nét chữ, và sau thì được dùng với nghĩa là bút pháp

Theo thời gian, đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về phong cách Đầu

tiên, Ar.Grigorian khẳng định: “Phong cách không thể vô can với phương pháp,

với thế giới quan, với bút pháp, với cá nhân nhà nghệ sĩ về thời đại, với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh ta… Phong cách là sự thống nhất cao nhất của tất

cả những phạm trù đó ”

Trong khi đó, lại có quan điểm lý giải phong cách từ góc độ ngôn ngữ học,

xem phong cách như một hiện tượng gắn liền với ngôn ngữ Trên tạp chí Những

vấn đề văn học số 10 năm 1959, V.Turbin viết : “Phong cách - đó là ngôn từ được xét trong mối quan hệ của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và những ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật”

Lại có những quan niệm cho rằng phong cách lại là sự tổng hợp, là hệ thống phương tiện miêu tả và biểu đạt, phong cách là hình thức toàn vẹn có tính

chất nội dung V.Đneprov nhận xét: “Phong cách là mối liên hệ của những hình

thức, mối liên hệ đó bộc lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật” Cùng ý kiến

với quan điểm trên Y.Exberg cho rằng, phong cách biểu hiện sự toàn vẹn của hình

thức có tính chất nội dung được hình thành trong sự phát triển, trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật, dưới ảnh hưởng của đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan của nhà văn và của phương pháp của nhà văn vốn thống nhất với thế giới quan; phong cách đó là sự thống trị của hình thức nghệ thuật, là sức mạnh tổ chức của nó

Ngoài ra, phong cách còn được nghiên cứu từ góc độ cấu trúc mà tiêu biểu

là W.Keyzer và R.Jakobson

Trang 21

Ở Việt Nam, cũng có nhiều người quan tâm tới khái niệm phong cách

Nguyễn Văn Tu đưa ra ý kiến: “Phong cách là tất cả mọi phương tiện biểu đạt,

tiêu chuẩn hóa mà xã hội hiểu được, do mục đích và đặc điểm của việc trao đổi quy định Cơ sở của phong cách là truyền thống chọn lọc từ, thành ngữ và phương tiện ngữ pháp dùng cho mục đích thông tin nhất định.[ 77:216, 217] Nhà nghiên

cứu Phan Ngọc cho rằng: “Phong cách là một hiện tượng thuộc văn hóa, lịch sử

chứ không phải thu lại trong một vài quy tắc về hình thức… Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả [53:22, 23] Có người đưa ra khái niệm tương

tự, phong cách là những biểu hiện khác nhau của mỗi nhà văn khi xây dựng chủ

đề, nhân vật, trong khi xây dựng hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ văn học Mỗi nhà văn trong quá trình sáng tạo nghệ thuật phải tự tạo cho mình một phong cách

riêng, một điệu cảm xúc riêng Nhà văn Tô Hoài cũng nhận xét thêm: “Phong

cách là một hiện tượng thuộc văn hóa lịch sử chứ không phải thu lại trong một vài quy tắc về hình thức”

Qua những quan niệm về phong cách mà chúng tôi nêu ra ở trên, tuy là rất nhỏ so với tất cả các ý kiến mà các nhà nghiên cứu đã nêu ra, chúng ta có thể thấy những định nghĩa về phong cách rất đa dạng, phong phú và rất khó đồng thuận để đưa ra một khái niệm chung về phong cách Tuy nhiên, qua đó chúng tôi có thể rút

ra một vái nhận định sau đây

Trước hết, phong cách cá nhân là những điểm riêng, độc đáo thể hiện cách

thức của từng nhà văn trong việc phản ánh miêu tả, xây dựng hình tượng thông qua việc sử dụng ngôn ngữ văn học Phong cách nhà văn là toàn bộ các yếu tố

phong cách cơ bản có mặt ổn định trong các tác phẩm của một tác giả nào đó trong một giai đoạn sáng tạo nhất định hay phổ biến ở tất cả quá trình sáng tạo nói chung của tác giả đó; đặc điểm các thủ pháp sử dụng từ ngữ, các kết cấu… đặc trưng cho ngôn ngữ nói (hay viết) của một cá nhân, không phụ thuộc vào quan hệ của nhà văn đối với hoạt động văn chương

Trang 22

Phong cách cá nhân của nhà văn có tác dụng thể hiện tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm Mỗi nhà văn đều muốn có phong cách riêng của mình nhưng

không phải nhà văn nào cũng đạt được mong muốn đó Phải có tài năng, bản lĩnh,

ý thức sâu sắc và tính chủ động sáng tạo theo cách riêng của mình thì mới tạo được cho mình một phong cách riêng Dù ở thể loại nào, phong cách cũng bắt

nguồn từ yêu cầu của đời sống văn học và từ thực tiễn sáng tác Nhưng khi đã hình thành phong cách thì mỗi nhà văn phải có những đặc điểm ổn định mang sắc thái độc đáo trong một giai đoạn nhất định khác hẳn với các nhà văn khác Phong cách của một nhà văn cũng phát triển theo sự trưởng thành của bản thân nhà văn

Phong cách có thể hiểu là biểu hiện của những đặc điểm cá tính sáng tạo của nhà văn, là nhận thức của nhà văn về cuộc sống, đó là cách nhìn và sự cảm thụ thẩm mỹ của nhà văn đối với thế giới, là sự tổng hợp của các đặc điểm của hình thức nghệ thuật trong sự thống nhất với nội dung Tìm hiểu phong cách của một nhà văn chúng ta không nên chỉ nghiên cứu riêng về các vấn đề như thể loại, ngôn ngữ, tư duy nghệ thuật,… mà nên xem xét chúng trong sự thống nhất, toàn vẹn của thế giới nghệ thuật, bởi các yếu tố lặp đi, lặp lại như một quy luật này không tồn tại một cách độc lập mà có sự thống nhất hữu cơ với nhau để tạo nên một hình thức nghệ thuật hoàn chỉnh

Mặt khác, nhiều ý kiến đều thống nhất cho rằng, phong cách một mặt do tài

năng bẩm sinh của người nghệ sĩ, bên cạnh đó điều quan trọng là kết quả của quá trình rèn luyện lâu dài, gian khổ, xông pha vào thực tế cuộc sống Phong cách là

chất tổng hợp của tâm hồn, trí tuệ, kiến thức học hỏi và làm việc ở cá nhân mỗi nghệ sĩ Cho nên, mọi quan điểm cho rằng phải tạo lập cho mình một cá tính, một phong cách trước khi cầm bút chỉ là một phong cách gượng ép, đưa đến sự giả tạo Thực tế cho thấy, không phải nhà văn nào cũng tạo lập cho mình được một phong

cách riêng Bởi phong cách không phải ngẫu nhiên mà có Phong cách là phẩm

chất sáng tạo cao nhất của người nghệ sĩ trong quá trình đi tìm cái đẹp Tác phẩm

đi đến đỉnh cao nghệ thuật là tác phẩm phải thể hiện được dấu ấn riêng của mình trong việc nhận thức và thể hiện tác phẩm nghệ thuật Nhà văn Nam Cao cho rằng,

Trang 23

mỗi nhà văn phải tạo cho mình một tiếng nói, một giọng điệu riêng: “không nên

thấy người ta ăn khoai mình cũng vác mai đi đào” Nhà văn M.Gorki cũng đã

khuyên những người viết văn trẻ: “Bạn hãy giữ lấy cái gì là của riêng mình, hãy

chăm sóc làm sao cho nó phát triển tự do Là một người không có cái gì của riêng mình thì phải thấy rằng người đó chẳng có cái gì hết”

Phong cách được thể hiện trong suốt quá trình hoạt động của nhà văn

Phong cách được coi như là một cá tính, sở thích và cao hơn nữa là nguyên tắc tổ chức hình thức của tác phẩm Phong cách toát lên từ hệ thống nhân vật toàn vẹn, nghĩa là đặc trưng của phong cách không phải ở yếu tố riêng lẻ này, hay yếu tố riêng lẻ khác Do đó, việc tìm hiểu phong cách chỉ có thể kết quả khả quan khi chúng ta đặt các yếu tố cấu thành phong cách trong mối tương tác để tạo thành

một thể thống nhất Nhà thơ Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Mỗi nhà thơ có tâm hồn

riêng cũng như mỗi con người có một nét mặt, một tính nết Có nhà thơ là tiếng kèn xung trận, có nhà thơ là tiếng sáo véo von Có nhà thơ là dòng suối thầm thì,

có nhà thơ là dòng thác dữ xô đẩy”

Vậy phong cách có đặc trưng gì nổi bật ? Trước hết, phong cách vừa có tính bền vững, vừa có tính kế thừa Trước đây đã có người quan niệm một cách

máy móc khi cho rằng, khi hoàn cảnh xã hội và thế giới quan của nhà văn thay đổi thì phong cách cũng buộc thay đổi theo Nhưng thực tiễn sáng tạo nghệ thuật lại không đúng như vậy Khi tư tưởng thế giới quan nhà văn thay đổi thì tư tưởng nghệ thuật chỉ thay đổi theo một quy luật riêng Phong cách nghệ thuật gắn bó chặt chẽ với thế giới quan, nhưng nó cũng có tính độc lập tương đối của nó Nói một

cách khác thì khi thế giới quan thay đổi thì chỉ những nét phong cách nào tỏ ra đối

lập, đối kháng với thế giới quan mới sẽ thay đổi, còn những nét phong cách nào phù hợp thì sẽ tiếp tục tồn tại

Có người cho rằng, phong cách thì phải thống nhất nhưng thật ra với phong

cách thì càng đa dạng, càng phong phú càng thì càng thể hiện tài năng của người

nghệ sĩ V.I Lê Nin khi bàn về văn học đã khuyến khích sự sáng tạo cá nhân trong

văn học nghệ thuật Ông cho rằng, trong sự nghiệp văn học tuyệt đối phải đảm bảo

Trang 24

phạm vi hết sức rộng rãi cho các sáng kiến cá nhân, cho khuynh hướng cá nhân, cho tư tưởng và sức tưởng tượng, trong lĩnh vực này không thể nói đến chủ nghĩa công thức Phong cách, do đó không chỉ là dấu hiệu trưởng thành của một nhà văn,

mà khi nó phát triển nở rộ thì còn là sự phát triển của một trào lưu văn học

Rõ ràng phong cách phải được coi như một phạm trù thẩm mỹ trong sáng tạo nghệ thuật Nhờ nó mà chúng ta có thể phân biệt nhà văn này với nhà văn khác Nhà văn bằng tài năng và quá trình phấn đấu gian khổ sẽ tạo nên một phong cách văn chương cho riêng mình và chính phong cách ấy sẽ làm nên tên tuổi cho các nhà văn

Phong cách cá nhân không chỉ thể hiện phong cách nhà văn mà nó còn thể hiện thời đại của nhà văn với những biến cố lịch sử của thời đại đó Bởi nhà văn

M Gorki từng nói: “Nhà văn là tiếng vang của thời đại và nhân dân mình” Bởi

vậy, khi nói đến tính bền vững và độc đáo của phong cách thì chúng ta cần chú ý đúng mức đến tính năng động của phong cách Phong cách không phải là cái gì khép kín, bất di bất dịch Sự thay đổi trong phong cách đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa hai yếu tố khách quan và chủ quan

Chúng ta cũng cần nói thêm về mối quan hệ giữa phong cách và phương

pháp Phong cách và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng có mối

quan hệ mật thiết với nhau Sự thay đổi về phương pháp sẽ dẫn tới những thay đổi

vể phong cách, và ngược lại, phong cách trong quá trình hình thành và phát triển của mình cũng tác động trở lại phương pháp Có nghĩa là khi thực hiện một nhiệm

vụ này hay một nhiệm vụ khác trong lĩnh vực nghệ thuật, nó yêu cầu phương pháp phải tìm ra những cách thức mới mà khi tìm được thì sẽ có những ảnh hưởng lại đến phong cách

Chúng ta cũng cần phân biệt giữa phong cách nói chung và phong cách học ngôn ngữ nói riêng Phong cách học ngôn ngữ là phong cách với tư cách là

một trong các tiểu hệ thống của hệ thống ngôn ngữ, khác với phong cách lời nói là cách vận dụng, sử dụng tiểu hệ thống vào những phạm vi điển hình của cách sử dụng lời nói Nghiên cứu phong cách văn học không nên tách rời khỏi ngôn ngữ,

Trang 25

vì ngôn ngữ là “yếu tố đầu tiên của văn học” (M.Gorki), là phương tiện biểu thị nội dung và tư tưởng của tác phẩm văn học Theo Cù Đình Tú “Phong cách học

ngôn ngữ có nhiệm vụ khảo sát các phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ ” [71:80]

Còn nhà nghiên cứu Nguyễn Hàm Dương nhận xét: “Phong cách ngôn ngữ có

nhiều loại, có phong cách phát âm, phong cách dùng từ, phong cách ngữ pháp, phong cách ngữ nghĩa Mỗi phong cách có vị trí và tầm quan trọng khác nhau Tuy nhiên, cái đa dạng về phong cách không làm cho cái chuẩn chung của ngôn ngữ mất đi tính thống nhất của nó” [15:29] Đào Thản lại nhấn mạnh hơn về mối

quan hệ giữa phong cách nhà văn và ngôn ngữ mà nhà văn sử dụng: “Phong cách

thường được hiểu là những nét biến hóa riêng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ nhằm mục đích diễn đạt nội dung Nó bao gồm các yếu tố luôn luôn được tái hiện và hình thành bền vững trong ngôn ngữ của tác giả Đối với ngôn ngữ nghệ thuật thì phong cách tác giả là kết quả của sự làm chủ các phương tiện ngôn ngữ khác nhau nhằm thể hiện nội dung tư tưởng với hiệu quả cao nhất” [82:51]

Như vậy yếu tố nào đã ảnh hưởng tới phong cách của nhà văn ? Những sự

kiện có tính chất bước ngoặt đối với lịch sử của một dân tộc chắc chắn sẽ ảnh hưởng và tác động tới đời sống xã hội và tư tưởng phong cách của nhà văn Tìm hiểu thực tế về phong cách của các nhà văn trong và ngoài nước ở quá khứ và hiện tại chúng ta sẽ thấy rõ điều đó Phong cách nhà thơ Puskin trước và cuối Cách mạng tháng Chạp (1825), của Hainơ trước và sau khi gần gũi với nhà cách mạng Các Mác có nhiều thay đổi quan trọng Ở nước ta, sau Cách mạng tháng Tám đã

có một dòng chảy từ lãng mạn, hiện thực sang hiện thực xã hội chủ nghĩa của nhiều nhà văn có thể coi là những minh chứng hùng hồn cho mối quan hệ giữa thế giới quan, phương pháp sáng tác và phong cách nhà văn

Ở Việt Nam, cách mạng đã cứu sống cả một thế hệ nhà văn, nhà thơ, dẫn họ tới những chân trời nghệ thuật đích thực - nghệ thuật phục vụ cho cuộc sống

Từ sau thời kỳ nhận đường lần thứ hai (1956 – 1958), đã diễn ra quá trình chuyển biến về chất của nhiều nhà văn, nhà thơ như Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… Họ đã đi theo cách mạng với tất cả nhiệt huyết

Trang 26

của một công dân có trách nhiệm và trên hết là một người nghệ sĩ giàu tâm huyết

và cống hiến Các nhà văn được phát triển sự sáng tạo trong một nền văn học mới, nền văn học vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đường lối văn nghệ của Đảng là một nhân tố quan trọng tạo nên một nền văn học thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, thống nhất về tổ chức và về quan niệm nhà văn

kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của lịch sử, vì mục tiêu

chung của toàn dân tộc, các nhà văn sáng tác các tác phẩm theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của toàn dân tộc Lúc này, ý thức, trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao Gắn bó với dân tộc, với nhân dân, với đất nước, dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu là đòi hỏi, yêu cầu của thời đại, đồng thời cũng là tình cảm, ý thức tự giác của nhà văn Và chính hiện thực đời sống cách mạng và kháng chiến đã đem nguồn cảm hứng lớn,

những phẩm chất mới cho văn học: “Văn nghệ phục vụ kháng chiến, nhưng chính

kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới Sắt lửa mặt trận đang đúc nên văn nghệ mới cho chúng ta” (Nguyễn Đình Thi)

Nhiều nhà văn, nhà thơ như : Huy cận, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Xuân Diệu… Họ đã đi theo cách mạng và trở thành những văn nghệ sĩ hiện thực xã hội chủ nghĩa với tất cả niềm say mê, cống hiến Các nhà văn đã hồ hởi bước vào cuộc chiến đấu đầy gian khổ của nhân dân, thâm nhập đời sống kháng chiến, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để có những sáng tác kịp thời những tác phẩm phục vụ cho công cuộc kháng chiến nói chung và sự nghiệp văn học nói riêng Cách mạng đã tạo điều kiện cho những tài năng không ngừng đâm hoa kết trái với những phong cách muôn hình, muôn vẻ Nhiều tác phẩm có tiếng vang và

tạo được sự lôi cuốn, hấp dẫn như Ra trận, Máu và hoa của Tố Hữu, Hoa ngày

thường - chim báo bão và Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên, Hai đợt sóng, Bài ca chim báo bão của Xuân Diệu, Dòng sông xanh của Nguyễn Đình Thi, Vầng trăng quầng lửa và Thơ một chặng đường của Phạm Tiến Duật, Gió lào cát trắng của Xuân Quỳnh, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng xà nu của

Trang 27

Nguyễn Trung Thành, Hòn Đất của Anh Đức, Mẫn và tôi của Nguyễn Quang

Sáng…

Cách mạng không chỉ giải thoát cho họ khỏi thân phận của những người dân mất nước mà còn mở ra cho họ một chân trời nghệ thuật tươi sáng, rộng mở Hiện tượng các nhà văn lãng mạn, hiện thực phê phán đi theo cách mạng là bằng chứng hùng hồn cho sự tác động lớn lao của hoàn cảnh lịch sử tới tư tưởng cũng như lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn Trong quá trình thay đổi phong cách cũng như phương pháp sáng tác chắc chắn không thể không có những khiếm khuyết nhưng các nhà văn đã thực sự nghiêm khắc nhìn nhận con người cũ của mình để cải tạo

tư tưởng và đào thải những quan điểm thẩm mỹ không phù hợp còn rơi rớt lại, đồng thời chiếm lĩnh phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, phong cách nói chung cũng như phong cách cá nhân, phong cách ngôn ngữ là những vấn đề lớn, phức tạp được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Qua những ý kiến trên, chúng ta thấy tất cả các ý kiến liên quan đến phong cách đều có cơ sở lí luận và khoa học cụ thể Những kiến thức ấy đều có liên đới và có mối liên hệ bổ sung cho nhau giúp chúng tôi có thể định hình được những vấn đề lí luận khoa học để tiến hành nghiên cứu đề tài trong luận văn này

1.2.2 Phong cách Nguyễn Tuân

1.2.2.1 Ý thức sáng tạo ngôn ngữ

Ngôn ngữ nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng trong việc hình thành và xác định phong cách của từng nhà văn Nó nằm trong hệ thống hình thức nghệ thuật của tác phẩm và đóng một vai trò lớn tạo nên vẻ đặc thù của những tác phẩm ấy Thậm chí nhiều khi việc tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu như chính bản thân phong cách nghệ thuật V.Trubin–một nhà nghiên cứu Liên Xô

nhận xét: “Phong cách - đó là ngôn từ được xét trong mối quan hệ của nó với hình

tượng, là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và những ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn được đặt vào một văn cảnh nghệ thuật” Qua ý kiến

Trang 28

trên, chúng ta có thế thấy ngôn ngữ có vai trò quan trọng như thế nào đối với phong cách văn chương

Chúng ta thấy ngôn ngữ nhà văn bao giờ cũng có tính chất riêng, cụ thể Ở Nguyễn Tuân, tính chất riêng biệt ấy được thể hiện một cách rõ nét Nhà văn Anh Đức đã có một nhận xét sâu sắc và tinh tế về ngôn ngữ văn chương Nguyễn Tuân:

“Một nhà văn mà khi ta gọi là bậc thầy của nghệ thuật ngôn từ, ta không hề thấy

ngại miệng Một nhà văn độc đáo vô song mà mỗi dòng, mỗi chữ tuôn ra đầu ngòi bút đều như có đóng một dấu triện riêng” Đó là một dấu triện khẳng định tài

năng độc đáo, riêng biệt của nhà văn

Nguyễn Tuân là một nhà văn luôn có ý thức giữ gìn và trân trọng sự trong

sáng và giàu đẹp của tiếng Việt –thứ tiếng mà ông nghĩ rằng “ không thể nào quên

được cái tiếng Việt Nam hữu cơ, cái tiếng nói Việt Nam linh diệu ấy Có đến chết cũng không quên được Có chết càng vẫn nhớ” [86:403] Ông nhấn mạnh: “Tiếng nói hàng ngày của anh chị em rất phong phú về hình ảnh và cảm xúc, về từ ngữ Tiếng nói ý nhị sinh động và thuần phác của giai cấp, cái tiếng nói lành mạnh của nông dân lao động có nhiều khả năng diễn tả và biểu hiện ấy, sẽ đủ chữ đủ sức chép ghi lại về sau tất cả những tinh tế muôn vẻ, tất cả những sáng kiến của anh chị em từ trước tới nay và từ nay trở đi” [86:474]

Nhà văn Nguyễn Tuân luôn quan niệm “Nghề văn là nghề của chữ ” Ông cũng từng nói: “Nghệ thuật là một sự khổ hạnh” Như vậy, là ông đã thừa nhận

rằng, phải đổ mồ hôi trên từng trang bản thảo mới có thể tạo được dấu ấn riêng của mình trong lĩnh vực nghệ thuật Mỗi một trang viết là thành quả của sự khổ luyện, của những giây phút trăn trở, lựa chọn Ông từng tâm sự, mỗi lần đứng trước trang

giấy ông có cảm giác như đứng trước “pháp trường trắng” Trong khi cầm bút nhà văn luôn xác định rõ ràng: “Cái điều mình nghĩ được và cái điều mình cảm thấy,

nay đều đã viết ra xong, đúng như mình đã cảm nghĩ, và lại viết ra bằng một thứ ngôn ngữ mình tin là khá nhiều hiệu năng Đã nghĩ kĩ rối mới cầm bút vào mà viết

ra Nhưng khi đã viết rồi chưa có nghĩa là xong hẳn Viết ra nhưng mà phải đọc

Trang 29

lại Đọc lại để mà hoàn chỉnh cái đã viết tới Đọc lại bằng mắt, đọc lại bằng tai Đọc thầm bằng mắt, và đọc to lên bằng miệng để cho tai nó cũng đọc” [86:409]

Qua những trích dẫn ở trên, chúng ta thấy đó thực sự là trách nhiệm, là ý thức của một nhà văn luôn khao khát vươn tới những chân trời sáng tạo, những đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ

Tìm hiểu tác phẩm của Nguyễn Tuân ta mới thấy thực sự ông là một nghệ

sĩ bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ Việt Nam Ông là nhà người luôn làm chủ vốn chữ nghĩa phong phú của mình và sử dụng chúng một cách tài hoa, thuần thục, tinh tế và điêu luyện Nguyễn Đình Thi từng nhận xét rằng, Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ bậc thầy của tiếng Việt Nam và ông làm công việc tạo ra những cái chưa có, sự sáng tạo ấy là do tự học, tự tìm tòi trong trường đời, ngay trong nội tâm mình và trong văn hóa của dân tộc ta và các dân tộc khác

Trong bài viết Tán về ngôn ngữ nhà văn Nguyễn Tuân tự cho rằng ông

không phải là nhà ngôn ngữ học Nhưng qua tác phẩm của ông, ta thấy Nguyễn Tuân hiểu sâu sắc thấu đáo tiếng Việt và vận dụng chúng vào tác phẩm một cách tinh tế, khéo léo, điêu luyện như thế nào Nguyễn Tuân đạt được những thành công trong nghệ thuật vừa do tài năng bẩm sinh, vừa do nỗ lực sáng tạo không ngừng, cũng như quá trình tự học, tự khám phá

Nguyễn Tuân quan niệm rằng nghề văn phải là nghề của chữ Theo ông, một nhà văn về mặt chuyên môn mà bàn thì giá trị của người đó là ở chỗ “Ông ta

đã mở mang thêm vốn liếng dân tộc về tiếng nói được tới mức nào, và đã góp phần sáng tạo của mình vào ngôn ngữ Việt Nam ra sao” Cho nên, ông có đưa ra

một số tiêu chí cần có của ngôn từ văn học cần phải có trong sáng tạo nghệ thuật

Trước hết, ngôn ngữ văn học phải trong sáng Trong sáng trong cách cảm,

trong cả cách nghĩ và nhất là trong cách nói ra những cảm nghĩ đó Mà muốn có

ngôn ngữ trong sáng thì cần phải nghĩ chín, nghĩ sâu: “Tâm mình thành, trí mình

sâu, thì lời mình mới sáng mới đẹp.” Bên cạnh đó, theo nhà văn, ngôn ngữ văn chương cần phải thực sự phong phú và giàu có Đã là nhà văn thì chữ nghĩa phải

dồi dào Tuy đã có vốn từ dồi dào vẫn phải tích lũy “vốn chữ”, phải “đóng góp

Trang 30

thêm cho kho tàng tiếng nói” Cuối cùng, nhà văn phải có tấm lòng nồng nhiệt, có

khối óc minh mẫn, dày công khổ luyện ngôn từ “mỗi chữ phải biết đặt đúng vào vị

trí của nó” Ngoài ra, còn phải biết dùng các giác quan thích hợp để rà xoát kĩ, đọc

đi đọc lại, cả “đọc thầm bằng mắt”, “ đọc to bằng miệng” Người viết văn phải biết

khai thác, tinh luyện cái quặng thô chữ nghĩa thành những sản phẩm độc đáo, sắc bén

Có thể khẳng định, Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn có tình cảm

đặc biệt thiết tha với tiếng Việt – một thứ tiếng “có những đặc sắc của một thứ

tiếng đẹp, một thứ tiếng hay” (Đặng Thai Mai) Trong tác phẩm Thiếu quê hương,

ông đã từng gửi nỗi lòng mình qua nhân vật Bạch và Sương: “Ở nơi xa xứ anh

luôn cảm thấy hạnh phúc giữa xứ người được nói với nhau tiếng mẹ đẻ với những độc âm say sưa và chân thành” Nguyễn Tuân đã từng xúc động “lặng cúi xuống mặt trang giấy trắng tinh đang om xòm những tiếng mời chào kia mà nói bật lên những lời biết ơn đối với đất nước, ông bà tiên tổ Nay mỗi lần đụng tới di sản nhiệm màu ấy thấy bổi hổi bồi hồi, như vấn vương với một cái gì thiệt là thiêng liêng vô giá, mà tất cả trữ kim trữ ngân của tất cả các ngân hàng thế gian cũng không sao đánh đổi được” [86:402,403]

Nguyễn Tuân luôn say sưa theo “thứ nhịp sáu tám lỗi lạc lâng lâng của

Nguyễn Du” Giữa đại hội hòa bình thế giới năm 1955, nhà văn đã không nén hết

được sự xúc động, khi nghe chính cái tiếng nói dân tộc mình, khi nghe “cái tiếng

nói Việt Nam sắc huyền hỏi ngã nặng rất nhiều nhạc điệu và khí phách dan tộc sang sảng cất lên giữa hội trường” Ông muốn ngôn ngữ phải giàu có mà không

vẩn đục Ông ghét mọi ngôn từ sáo rỗng, những “cánh bướm phù phiếm mà không

làm nên chút mật gì”

Nhà văn có lần chia sẻ với chúng ta rằng, mỗi khi ngồi trước trang viết nhà

văn cần phải huy động cả “năm giác quan” để kiểm nghiệm, gọt giũa sao cho phát huy được cái tiềm lực của chất nhạc trong văn xuôi: “Ngoài việc soi lắng, hình

như phải còn ngửi lại, nếm lại cái lời mình viết ra kia, trước khi bưng nó cho người khác thưởng thức.” [86:410]

Trang 31

Trong một bài viết về ngôn ngữ ông có nói: “Chao ôi, nghe đến những âm

như khai, khú, kháng, khắm, khẳn, khai mò mò, khắm lằm lặm, khét lèn lẹt, người Việt nam yêu nước chân chính nào (yêu nước hiểu theo nghĩa cơ bản yêu tiếng nói dân tộc và ngôn ngữ văn tự của mình) mà không nổi da gà lên, mà da mình không nổi gai lên Ấy là sự kỳ diệu của ngôn ngữ Tiếng nói của dân tộc nào nói chung cũng đều có cái linh diệu của nó Và tiếng ta lại càng có cái linh diệu rất đáng quý đáng yêu của tiếng Việt Có lẽ vì thế nữa mà mặc dầu vô vàn khó khăn (nghề nào phát triển mà chẳng có cái khó khăn của nó) chúng ta vẫn đắm đuối với nghề văn, ngày càng chuốt thêm văn tự, ngày càng làm óng tốt dẻo bền hơn lên nữa cái tiếng nói Việt Nam cổ truyền của mình” [86:427]

Ta thấy rõ Nguyễn Tuân là nhà văn luôn có trách nhiệm với những ngôn từ

của mình trong tác phẩm với một tấm lòng rung cảm, yêu mến tiếng mẹ đẻ Nguyễn Tuân là nhà văn, một nhà thực hành tài hoa và sáng tạo với một ý thức

sâu sắc về vai trò và trách nhiệm của người cầm bút trong sáng tạo văn chương

1.2.2.2 Phong cách ngôn ngữ độc đáo

Ngông là biểu hiện của sự chống trả mọi thứ phép tắc, định kiến cứng nhắc,

hẹp hòi của xã hội bằng cách làm ngược lại với thái độ ngạo đời Nguyễn Đăng

Mạnh đã nhận định về phong cách ngôn ngữ Nguyễn Tuân như sau: “Hạt nhân

của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể gói gọn trong một chữ ngông Cái ngông vừa có màu sắc cổ điển, kế thừa truyền thống tài hoa bất đắc chí của những Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Ðà, và trực tiếp hơn là cụ Tú Lan, thân sinh nhà văn; vừa mang dáng vẻ hiện đại, ảnh hưởng từ các hệ thống triết lý nổi loạn của xã hội tư sản phương Tây như triết lý siêu nhân, quan niệm về con người cao đẳng, thuyết hiện sinh ”

Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân chơi ngông một cách cực

đoan Mọi sở thích, quan niệm riêng đều được đẩy lên thành các thứ chủ nghĩa : chủ nghĩa duy mỹ, chủ nghĩa xê dịch, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa ẩm thực,

Thực ra, chủ nghĩa độc đáo trong đời sống cũng như trong nghệ thuật mà biểu hiện

là thú chơi ngông của Nguyễn Tuân không chỉ đơn thuần là phản ứng tâm lý của

Trang 32

một cá nhân trước tấn kịch xã hội Nó còn bao hàm cái khí khái của người trí thức

yêu nước không cam tâm chấp nhận chế độ thực dân, tự đặt những nghịch thuyết

để tách mình ra và vượt lên trên cái xã hội của những kẻ xu thời, thỏa mãn với thân phận nô lệ Như vậy, từ bản chất, cái ngông đó bao hàm một nội dung luân lý

đạo đức truyền thống Sau 1945, Nguyễn Tuân không còn lý do để mà gây sự, mà ném đá vào đời như trước nữa Cái ngông tự mất đi phần cực đoan, chỉ giữ lại cái cốt cách vốn tạo nên nét độc đáo cho trang biết Thói quen và sở thích tìm cách nói mới lạ, không giống ai khiến ngòi bút ông luôn tràn đầy sáng tạo và có sức hấp

dẫn mạnh mẽ Do đó, hoàn toàn có thể khẳng định: cái ngông tồn tại như hạt

nhân, chi phối toàn bộ các phương diện khác của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân ; từ đề tài, hệ thống nhân vật cho đến thể loại, giọng điệu, ngôn ngữ

Mới, lạ, không giống ai - là những đặc điểm dễ nhận thấy ở hệ thống đề tài

Mọi thứ Nguyễn Tuân bày biện đều có hương vị đặc sản, từ những nguồn “chưa ai

khơi” nên thường tạo được cảm giác rất mạnh, ấn tượng rất sâu Đến với những

trang viết của ngòi bút tài hoa ấy một mặt người đọc thấy say sưa trước cảnh, tình

và tri thức phong phú các các loại được bày biện một cách đẹp đẽ ; mặt khác, khi cảm giác nhất thời qua đi, bao giờ người ta cũng thấy như quý yêu thêm một chút,

tự hào thêm một chút về dân tộc mình, về thời đại mình đang sống Hóa ra những điều tưởng chừng tủn mủn, lặt vặt kia được Nguyễn Tuân gọi về để làm sống dậy trong chúng những ý nghĩa có tính tư tưởng cao cả, chứ không nhằm thỏa mãn cảm giác hiếu kỳ, hời hợt

Hệ thống nhân vật của Nguyễn Tuân bao giờ cũng mang dáng vẻ riêng, độc đáo và rất đẹp - vẻ đẹp của tài hoa, của nhân cách Ở cả hai giai đoạn sáng tác, nhà

văn luôn trân trọng những “đấng tài hoa” và say mê miêu tả, chiêm ngưỡng họ

Mỗi nhân vật thường sành hơn người ở một thú chơi hoặc một ngón nghề nào đó, đầy tính nghệ thuật Ðó là cụ Kép, cụ Sáu, cụ Nghè Móm, ông Phó Sứ, ông Cử Hai, những nghệ sĩ bậc thầy của nghệ thuật uống trà, uống rượu, chơi đèn kéo

quân và đánh bạc bằng thơ (trong Vang bóng một thời) Là ông Thông Phu lắm tài nhiều tật, cuối cùng đã gục chết trên một ván cờ đất vì uất ức (trong Chiếc lư đồng

Trang 33

mắt cua) Tài hoa, một khi đi kèm với nhân cách cao thượng thì càng đáng kính

trọng Nhân vật Huấn Cao tài hoa với khí phách, nghị lực phi thường là một tính cách tiêu biểu, được Nguyễn Tuân rất mực yêu thích

Sự chuyển dịch của ý thức nghệ thuật theo hướng đưa văn học về với cuộc sống, phục vụ công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước đã dẫn tới việc mở rộng thế giới nhân vật của trang viết Nguyễn Tuân Nhưng không vì thế mà nhà văn đánh mất tính độc đáo, bất biến của phong cách Đó là niềm say mê phát hiện và ngợi ca

những vẻ đẹp của tài hoa, khí phách, của văn hóa dân tộc: “Có cái như là Hoa Kỳ

vừa đánh Hà Nội, vừa thử tài sức và trí lực Hà Nội Trong cuộc đọ súng đọ lửa với giặc Hoa Kỳ, quân và dân thủ đô càng đánh càng phát huy truyền thống chống xâm lược của dân tộc mình Chắc tay súng, đúng tầm đạn, chiều 5 tháng 5 vừa qua, tất cả cỡ súng Hà Nội có nòng và tên lửa không nòng đã quần cho một trận tơi bời ( ) Chợ Ngọc Hà không phải vỡ chợ, mà chính là xác thù đã vỡ tan trên một buổi chợ chiều : mớ rau, xóc cua đồng, mẹt tôm riu đều nhấp nhánh mảnh vụn đuy ra F.105 Cô gái trại hàng hoa vứt đó cái ô-doa sắp tưới vườn chiều, cầm vội tay súng và theo dõi trận mưa đuy-ra đang phá vườn hoa hợp tác” [92:503]

Hình ảnh người lao động mới trong “Sông Đà” (1960) cũng thật đẹp đẽ,

lung linh giữa vùng hào quang của tài hoa Chính họ, chứ không ai khác, là những

kỹ sư, nghệ sĩ đang tự nguyện tự hào góp cái tài cái trí của mình để đắp xây cuộc sống mới, nền văn hóa nghệ thuật mới

Tìm đến với tùy bút cũng là con đường tất yếu của cá tính và phong cách Nguyễn Tuân Dường như ông chỉ có thể gắn bó với lối văn nào thật sự tự do và

chấp nhận những cảm xúc đậm màu sắc chủ quan Trong tay ông, thể tùy bút đã đạt đến đỉnh cao của khả năng ghi nhận và thể hiện đời sống

Xét đến cùng, cái duyên riêng không lẫn lộn, không ai bắt chước được của tùy bút Nguyễn Tuân chính ở sự linh hoạt, phong phú đến thần tình của giọng điệu văn chương Có nhiều chi tiết tưởng rất bình thường nhưng bằng giọng điệu độc đáo, khả năng quan sát sắc sảo, thông minh, hóm hỉnh cộng với hệ thống lý lẽ khúc triết, những triết lý có chiều sâu - nhà văn đã khiến nó trở nên lung linh kỳ

Trang 34

ảo, gợi mở nhiều liên tưởng mới lạ Giọng điệu của tùy bút Nguyễn Tuân thường

là giọng kể Người dẫn chuyện luôn đóng vai trò quan trọng, trực tiếp tham gia vào câu chuyện và có quan hệ thân mật, tin cậy với các nhân vật khác Người ấy thường có giọng lịch lãm, đôi khi tỏ ra hoài nghi, đùa bỡn nhưng vẫn đảm bảo độ mãnh liệt của cảm xúc và tầm cao tư tưởng bằng rất nhiều từng trải

Đặc điểm nổi bật của giọng điệu tùy bút Nguyễn Tuân chính là sự phong phú, đa thanh, thỏa mãn đến hoàn hảo những sắc thái tình cảm tinh tế nhất Trong mọi tình huống nhà văn luôn có cách nói phù hợp, không chung chung, tạo được không khí cần thiết cho ý đồ nghệ thuật của mình Dường như một khi đã bắt đúng giọng thì không còn giản đơn là viết nữa, nhà văn trở thành nghệ sĩ, mặc sức vẫy

vùng múa lượn trên đỉnh cao sáng tạo nghệ thuật Như dòng sông Đà "vừa hung

bạo vừa trữ tình", mạch văn có lúc cuồn cuộn, ầm ào, gân guốc ; có lúc đằm thắm,

sâu lắng, thiết tha : “Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước

réo gần mãi lại, réo to mãi lên Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa

nổ lửa, đang phá tung rừng lửa, rừng lửa càng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng Tới cái thác rồi Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá” [92:593]

Nguyễn Tuân có lối ví von, so sánh thật chính xác, mới lạ ; sự vật được miêu tả trong trường liên tưởng, cảm giác chuyển đổi tinh tế, bất ngờ Nhà văn như mê mẩn trong ma lực của ngôn từ và truyền được trọn vẹn đến người đọc chất men say nhiều khi kỳ quái ấy Nguyễn Tuân có một kho từ vựng hết sức phong phú do cần cù tích lũy cả đời, với lòng yêu say mê tiếng mẹ đẻ Không chỉ góp nhặt những từ sẵn có, ông còn luôn có ý thức sáng tạo từ và cách dùng từ mới, lạ Rất nhiều từ ngữ tưởng như đơn nghĩa hoặc cũ mòn, nhưng khi vào tay ông, chợt trở nên dồi dào sức biểu hiện

Vốn từ vựng ấy, có lúc Nguyễn Tuân dùng để chơi ngông với đời, hoặc để

trêu ghẹo thiên hạ và xót xa cho thân mình Ông tự nhận xét: “Ngôn ngữ của

Trang 35

Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng Ðọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được”

Từ sau Cách mạng tháng Tám, không còn cực đoan nữa, Nguyễn Tuân dùng ngôn từ như công cụ đắc lực để cất cao lời ngợi ca tổ quốc, ngợi ca nhân dân mình và giáng những đòn thật cay độc vào bản chất tàn bạo của kẻ thù

Trang 36

Chương 2

MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ NGÔN NGỮ

CỦA NGUYỄN TUÂN

Ngôn ngữ là tài sản chung của một cộng đồng nói một thứ tiếng nhất định Tuy nhiên, với tư cách là một nhà văn thông qua cách sử dụng từ ngữ, cách đặt câu, cách dùng các thủ pháp nghệ thuật, cách tổ chức văn bản, chúng ta có thể khái quát thành những đặc điểm phong cách cá nhân của nhà văn đó Chương này sẽ tìm hiểu sự thể hiện về mặt ngôn ngữ của Nguyễn Tuân trên một số cấp độ

Quá trình này diễn ra rất phức tạp, trong suốt các triều đại phong kiến nhà Hán đô hộ Việt Nam Lần thứ nhất, sau khi xâm chiếm nước ta, nhà Hán chia Việt Nam thành 9 quận và lấy Long Biên là thủ phủ Dưới ách đô hộ bạo tàn của nhà Hán, Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa nhưng thất bại Lúc ấy, tiếng Hán (Hán cổ) đã du nhập vào nước ta Sau thời kỳ đó, nước ta rơi vào ách thống trị của nhà Đường Bấy giờ chữ Hán đã xâm nhập vào đời sống nhân dân ta một cách toàn diện qua con đường khẩu ngữ và con đường sách vở Những từ Hán này chịu sự chi phối của quy luật ngữ âm tiếng Việt, do vậy chúng có nhiều thay đổi về ngữ

âm Tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt có thể chia làm ba loại :

Trang 37

Trước hết là các từ Hán cổ Đó là những từ du nhập từ thời kỳ Triệu Đà và

nhà hán thống trị đất nước ta Cho tới đời Đường, những từ gốc Hán có sự biến đổi

về mặt ngữ âm

Thứ hai là toàn bộ hệ thống từ Hán du nhập vào nước ta từ đời Đường Thứ ba là những từ Hán đã được Việt hóa Đó là những từ Hán đã biến đổi theo khẩu ngữ của tiếng Việt Theo tác giả Bùi Đức Tịnh: “Từ Hán Việt là những

tiếng Hán phát âm theo lối Việt, ban đầu đó là những chữ Hán mà khi học trong sách Trung Hoa, các nhà trí thức ta đọc trại đi theo giọng Việt.”[82:369] Còn

theo các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong cuốn

Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt thì cho rằng “Từ Hán Việt là những từ gốc Hán

du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn hai, mà người Việt đã đọc âm chuẩn của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình” [82:371]

Điều đáng chú ý là trong cuộc đấu tranh giữa từ Hán và từ Việt, ông cha ta

đã khéo léo tạo ra những từ mới bằng việc lợi dụng vốn từ của tiếng Hán Những

từ mới được tạo ra có thể bằng việc kết ghép hai từ tố Hán, hoặc có thể gồm một

từ tố Hán với một từ tố Việt Điều này giúp cho vốn từ Việt phát triển phong phú đáp ứng được các yêu cầu trao đổi tư tưởng tình cảm của xã hội

Có thể nói, ảnh hưởng của từ Hán đối với tiếng Việt là rất lớn Vì vậy ta không thể tránh khỏi việc lạm dụng từ Hán một cách thái quá Trước đây ông cha

đã nhận thức rất rõ điều ấy, bằng chứng là việc sáng tạo ra chữ Nôm trên cơ sở chữ Hán Đó là biểu hiện của tinh thần tự cường dân tộc Từ khi cách mạng tháng

Tám thành công, Hồ chủ tịch đã chú ý vấn đề sử dụng chữ Hán Trong cuốn Sửa

đổi lối làm việc Bác đã viết: “Chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy đủ thêm” nhưng “chúng ta phải chống cách mượn không phải lối, mượn đến nỗi bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu”

Khảo sát các tác phẩm của Nguyễn Tuân chúng tôi thấy việc sử dụng từ

Hán Việt trong các tác phẩm của nhà văn là một đặc điểm nổi bật Nguyễn Tuân là

một nhà văn tinh tường Hán học, vốn từ vựng gốc Hán của ông rất phong phú Do

vậy ta thấy một số lượng lớn các từ gốc Hán trong các tác phẩm của nhà văn (nhất

Trang 38

là trong các truyện ngắn trong Vang bóng một thời) được vận dụng rất phổ biến

(Trong phần này chúng tôi không chỉ quan tâm tới các từ Hán Việt mà còn quan tâm tới các ngữ cố định Hán Việt) Tuy nhiên, đặc điểm này giữa hai thời kỳ trước

và sau Cách mạng tháng Tám có sự khác biệt Và nhiệm vụ của chúng tôi là phải lí giải tại sao có sự khác biệt ấy

Về cách thức nhận diện các đơn vị từ Hán Việt trong tác phẩm của nhà văn

để tìm hiểu, chúng tôi dựa vào khả năng hoạt động và sự khác biệt về phong cách

giữa các từ Hán Việt với các từ Việt Bao giờ các từ Hán Việt cũng có sắc thái

biểu cảm đặc thù là cổ kính, trang nhã và trừu tượng hơn các từ thuần Việt Thứ

hai, cách đơn giản và chắc chắn nhất là căn cứ trên mẫu tự bởi chữ và âm các từ

Hán Việt mà người Việt tiếp nhận đều có mẫu tự chữ Hán của nó Do vậy, khi tiến hành phân loại và nhận diện các từ ngữ Việt và các từ Hán Việt theo lý thuyết

ngôn ngữ chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu các từ này theo các cuốn Tự điển

Hán Việt của Thiều Chửu và Từ điển Hán – Việt của Nguyễn Thị Thanh Liêm

Trước cách mạng tháng Tám, rất nhiều tác phẩm đã thu hút sự chú ý của độc giả Trong đó, tác phẩm đặc sắc nhất phải kể đến chính là tập truyện ngắn

Vang bóng một thời Vốn là một con người tài hoa, Nguyễn Tuân đi tìm cái đẹp,

thể hiện cái tài hoa trong quá khứ, cái quá khứ đã vang bóng như hình ảnh cụ đồ

“Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ ” (Vũ Đình Liên) Tất cả những

con người, những sự việc được ông tái hiện lại bằng một giọng nuối tiếc, ngậm

ngùi lẫn thán phục Chúng ta bắt gặp hình ảnh những “ nhà nho cuối mùa”, “gặp

lúc Hán học suy vi” như cụ Kép làng Mọc “nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý” trong Hương Cuội, hình ảnh cụ

nghè Móm, ông Phó Sứ với thú chơi thả thơ, đánh thơ, hình ảnh ông cụ Sáu, sư cụ

chùa Đồi Mai, cả “người ăn mày cổ quái” với câu chuyện thú vị về nghệ thuật uống trà tàu trong những truyện Những chiếc ấm đất, Thả thơ, Đánh thơ Chúng ta còn bắt gặp cả hình ảnh người đao phủ Bát Lê với tài chém treo ngành, hay những

kẻ giang hồ với ngón đòn bút chì có một không hai trong Bữa rượu máu, Một đám

bất đắc chí

Trang 39

Có thể nói chưa có nhà văn nào mà viết về quá khứ lại có thể phục chế được cái không khí xa xưa một cách tài hoa như Nguyễn Tuân Ông kể chuyện

chơi hoa, ngâm thơ, thả thơ, đánh cờ, uống trà như người trong cuộc vậy Ông phục chế y nguyên cái thần thái, cung cách, lời ăn tiếng nói, cử chỉ, điệu bộ của những con người “ vang bóng” ấy rất tài tình

Việc vận dụng các từ Hán Việt đã giúp Nguyễn Tuân tạo nên sắc thái cổ kính, trang nhã cho không khí của tác phẩm Trong truyện Những chiếc ấm đất,

nhà văn đã dựng lại câu chuyện về cuộc đời của ông cụ Sáu xoay quanh cái đam

mê “phong vị trà Tàu” Trong câu chuyện có cái không khí của những cuộc nói

chuyện nơi cửa chùa Giúp cho độc giả sống lại cái không khí ấy Nguyễn Tuân đã

vận dụng những từ Hán Việt đặc trưng liên quan đến nhà Phật như : trai phòng,

tam cấp, nón tu lờ, thụ trai, thỉnh chuông, tăng xá, thụ lộc, xuất gia, chúng sinh, nghiệp chứng, tụng kinh nhật tụng, lộc Phật, trụ trì, phương trượng, phả khuyến,

tu hành Đó là những từ Hán Việt có sắc thái cổ kính, chúng tạo nên cái không khí

trang nghiêm, đặc thù nơi cửa Phật Hay trong truyện Chém treo ngành, cái không

khí rờn rợn nơi cửa quan hay pháp trường với những cuộc hành hình kẻ tử tội

được nhà văn phục chế lại với những từ Hán Việt như thanh quất, cấm địa, khai

đao, pháp trường, xử trảm, tư thất, sung chức, tử tù, thị kiến, mã tấu, tín bài, huyết chiến, võ trường, nội cỏ, dinh quan, ngũ hành, sinh khí, bát âm, binh phục, phạm thượng, an vị, hành hình, phiến loạn, hồng phúc, đao phủ, hạ thủ, tội nhân, cáo từ,

tử thi, bát phẩm, thị kiến, hạ thủ, trị an, phiến loạn

Bên cạnh việc dựng lại không khí, khung cảnh xưa việc nhà văn sử dụng các từ ngữ Hán Việt đã tạo nên sắc thái trang trọng cho lời nói của nhân vật

Chúng ta hãy xem cụ Ấm vãn chuyện với một vị khách trong Chén trà trong

sương sớm: “Các cụ cứ suy cái lẽ một bộ trà chỉ có bốn chén quân thì các cụ đủ biết cái thú uống trà tầu không có thể ồn ào được Lối giao du của cổ nhân đạm bạc chứ không huyên náo như bây giờ Chỉ có người tao nhã, cùng một thanh khí, mới có thể ngồi bên một ấm trà Những lúc ấy, chủ nhân phải tự tay mình chế nước, nhất nhất cái gì cũng tự làm lấy cả, không dám nhờ đến người khác, sợ làm

Trang 40

thế thì mất hết cả thành kính.” [94:148, 149] Hay trong truyện Một cảnh thu muộn, cụ Thượng đã nói với người con cả của mình là ông huyện Thọ Xương khi

ông này muốn đón cha về ở với mình: “Thầy thì ở đâu cũng thế Miễn là được tĩnh

mạc, yên ổn là hơn cả Anh cũng rõ cái tính tôi vốn sợ bọn lính hầu cận và lại hay tránh sự giao thiệp Tôi tưởng vào ở tư thất một huyện nhà nó phiền nhiễu lắm Thôi anh cứ để tôi ở ngoài này” [94:160]

Nhà văn đã lựa chọn tinh luyện trong kho từ vựng của mình những từ ngữ

đặc trưng để ca ngợi cuộc sống thanh bạch của lớp người thời xưa như: tao nhã,

phong lưu, thuần khiết, đạm bạc, từ tốn, kính biếu, tài tử, thi lễ, thành tâm

Có một điều khá thú vị về việc sử dụng từ Hán Việt của nhà văn đó là việc

định danh các sự vật một cách khác lạ Những cái tên ấy đã gợi lại một nền văn

hóa xưa, thanh lịch mang màu sắc cổ Từ việc đặt tên cho nhân vật của mình như

cụ Thượng, cụ Ấm, cụ Điều, cụ Cử, cụ Kép, cụ Tứ, ông Ấm Hai, ông Phó Sứ, cô

Tú, cậu Chiêu, Mộng Liên, bé Ngộ Lang, bé Tố Tâm cho đến việc gọi tên các loài

hoa lan Tiểu Kiều, Đại Kiều, Nhất Điểm, Mặc Lan, Loạn Điểm, Yên Từ, Bạch

Ngọc cho đến những loại trà thơm ngát hương sen, hương thuỷ tiên trong những

vườn thanh mộc như trà Bạch Mao Hầu, trà Trảm Mã, trà Vũ Di Sơn, Lý Tú

[94:122,123]

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w