1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức nho giáo với việc xây dựng các giá trị đạo đức gia đình việt nam hiện nay công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học euréka lần thứ 11 năm 2009

112 33 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng đã đề cập tới vấn đề đạo đức, vai trò và ý nghĩa của nó đối với cá nhân và xã hội, chính vì thế ngay từ thời đó, các nhà tư tưởng đã đặc biệt chú tr

Trang 1

ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

CÔNG TRÌNH DỰ THI GiẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC-EURÉKA

LẦN THỨ 11 NĂM 2009

TÊN CÔNG TRÌNH:

ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VỚI VIỆC XÂY DỰNG CÁC

GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

Người hướng dẫn: TS HÀ THIÊN SƠN

Lĩnh vực chuyên môn: TRIẾT HỌC

Đơn vị công tác: ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1

CẤP THÀNH PHỐ - 2009 1

PHẦN MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 : ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIÁO 13

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận 13

1 2 Khái quát chung về trường phái triết học Nho giáo 18

CHƯƠNG 2 : NỘI DUNG VÀ THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIÁO 29

2.1 Khái niệm đạo đức và quan niệm đạo đức của trường phái triết học Nho giáo 29

2.2 Những vấn đề của đạo đức Nho giáo 32

2.3 Đạo đức trong gia đình theo quan niệm của Nho giáo 52

2.4 Về giá trị và hạn chế của đạo đức Nho giáo 59

CHƯƠNG 3 : VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO VỚI VIỆC XÂY DỰNG CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY 66

3.1 Vai trò của các giá trị đạo đức gia đình Việt Nam trong tiến phát triển hiện nay 66

3.2 Thực trạng các giá trị đạo đức gia đình Việt Nam giai đoạn hiện nay 71 3.3 Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức Nho giáo trong phát triển các giá trị đạo đức gia đình Việt nam hiện nay 83

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Chương 1: chúng tôi trình bày một cách khái quát về những điều kiện kinh

tế - xã hội và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng đạo đức của Nho giáo, gồm 2 tiết:

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận

Đó là khoảng thế kỉ XII tr.CN bộ tộc Chu nổi lên và tới thế kỉ XI tr.CN Chu Vũ Vương đã diệt vua Trụ và lập nên nhà Chu, xã hội nhà Chu trải thời kì

hưng thịnh cho tới thời kỳ Chu mạt là thời kì suy yếu của nhà Chu, chiến tranh

triền miên, tàn khốc, trật tự xã hội đảo lộn, lòng dân ly tan Đây cũng là lúc mà đạo lý, nhân luân bị đảo lộn Chính trong bối cảnh ấy Nho gia ra đời

1.2 Khái quát triết học Nho giáo và tư tưởng đạo đức Nho giáo

Triết học Nho giáo ra đời gắn liền với tên tuổi của Khổng tử Tư tưởng chủ

đạo của ông chịu sự chi phối của thế giới quan mà ông đã hấp thụ của người Trung Quốc cổ đại Đó là vũ trụ lúc đầu chỉ là cõi hỗn mang, mênh mông, mờ mịt Trong cái hỗn mang ấy có cái lý gọi là thái cực Cái đầu mối giải quyết mọi vấn đề của

xã hội loạn lạc đương thời, theo Khổng Tử chính là đạo đức

Trang 5

Chương 2: chúng tôi trình bày về nội dung và thực chất tư tưởng đạo đức

của Nho giáo, gồm 4 tiết nhu sau:

2.1 Khái niệm đạo đức và quan niệm đạo đức của Nho giáo

Chúng tôi trình bày các khái niệm về đạo đức và quan niệm đạo đức của Nho giáo như sau: theo Khổng Tử thì đạo chính là con đường phải theo, đạo gồm năm mối quan hệ cơ bản giữa con người: “Quân thần dã, phụ tử dã, phu phụ dã,

côn đệ dã, bằng hữu chi giao dã, ngũ dã thiên hạ chi đạt đạo dã” (Trung dung)

Đức là trí, nhân, dũng, sau này được mở rộng thành ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Tam cương liên kết với ngũ thường là năm đức: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín

2 2 Các vấn đề của đạo đức Nho giáo

2 2 1 Đạo đức xã hội

Nổi bật với thuyết “Chính danh”, ở đây theo Khổng Tử có nghĩa là cần phải xác định rõ địa vị, danh phận của mỗi người trong xã hội, kèm theo đó là những quyền lợi và nghĩa vụ mà địa vị đó đem lại Khổng Tử giải thích, “chính danh là làm cho mọi việc ngay thẳng”, là “vua phải làm trọn đạo vua, bề tôi phải làm trọn đạo bề tôi, cha phải làm trọn đạo cha, con phải làm trọn đạo con…(quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử)

2.2.2 Đạo đức cá nhân

Gồm đức Nhân, đức Lễ, đức Nghĩa, đức Trí, đức Tín

2.3 Đạo đức trong gia đình theo quan niệm của Nho giáo

Nho giáo xây dựng nên những mối quan hệ chặt chẽ trong gia đình “Cha ra

cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, thế là Nho gia đạo chính” (Kinh dịch) Trong ba mối quan hệ ấy, thì quan hệ cha con, anh em tiêu biểu bằng chữ hiếu và chữ đễ

Trang 6

2.4 Về giá trị và hạn chế của đạo đức Nho giáo

Giá trị: tư tưởng Nho giáo đã đưa xã hội trở về với con đường hữu đạo, có

tôn ti trật tự trong bối cảnh nhiễu nhương, rối loạn của xã hội đương thời, đặc biệt

là thuyết chính danh

Hạn chế: tư tưởng Nho giáo còn bị chi phối bởi tư tưởng “thiên mệnh” Hiếu

trong quan niệm của Nho giáo còn biến thành vị kỉ và hẹp hòi khi chỉ biết yêu thương và đùm bọc những thành viên trong giòng họ gây ra sự tranh giành và đấu

đá giữa các dòng họ làm mất đoàn kết giữa nội bộ các gia đình, dòng họ…

Chương 3: chúng tôi trình bày về vai trò đạo đức của Nho giáo với việc xây

dựng các giá trị đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay, gồm 3 tiết như sau:

3.1 Vai trò của đạo đức gia đình Việt Nam trong tiến phát triển xã hội

Gia đình và đạo đức gia đình có vai trò quan trọng trong việc xây dựng thành công nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời xây dựng một xã hội trật tự, ổn định và bền vững

3.2 Thực trạng đạo đức gia đình Việt Nam giai đoạn hiện nay

Nổi bật đầu tiên trong vấn đề đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay là trong hôn nhân nổi lên tính thực dụng, vụ lợi Biểu hiện thứ hai nữa là hiện tượng đạo đức trong gia đình ở nước ta hiện nay là lối sống thiếu trách nhiệm, thiếu gương mẫu trong quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái và ngược lại Biểu hiện thứ ba là hiện trạng tiêu cực của chữ hiếu trong gia đình Việt Nam hiện nay

3.3 Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức của Nho giáo trong việc phát triển các giá trị đạo đức gia đình Việt nam hiện nay

Thứ nhất, chúng ta tiếp thu tư tưởng hiếu đễ ở giá trị đạo đức của trường phái Nho giáo Thứ hai, tiếp thu quan điểm giáo dục đạo đức gia đình theo tưởng

lễ và chính danh

Như vậy học thuyết Nho giáo đã đưa xã hội bấy giờ trở về con đường hữu đạo nhằm thoát khỏi cảnh loạn lạc, nhiễu nhương do cương thường, lễ nghĩa bị

Trang 7

dụng vào việc xây dựng mô hình gia đình chồng vợ hòa thuận, cha từ con hiếu,

anh em biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau Đó là thành trì vững chắc ngăn chặn

sự xâm hại những tư tưởng thực dụng, vị kỉ, lối sống gấp chỉ biết tới hôm nay mà không biết tới ngày mai./

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức và vai trò của nó là một vấn đề đã được đề cập và bàn luận tới rất nhiều trong lịch sử tư tưởng nhân loại, đặc biệt là ở các triết gia phương Đông Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng đã đề cập tới vấn đề đạo đức, vai trò và

ý nghĩa của nó đối với cá nhân và xã hội, chính vì thế ngay từ thời đó, các nhà tư tưởng đã đặc biệt chú trọng tới vấn đề đạo đức con người, xem vấn đề đạo đức con người là cơ sở và là nền tảng trong việc hướng tới xây dựng một xã hội yên bình thịnh trị

Đối với Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong thời kì hội nhập thì bên cạnh những thuận lợi do quá trình toàn cầu hóa đem lại thì vấn đề đạo đức nói chung, đạo đức gia đình nói riêng đang là một vấn đề được quan tâm và đồng thời nó cũng là một trong những vấn đề được đặt ra một cách cấp thiết, thậm chí đây được xem là một trong những vấn đề chính yếu có vai trò quyết định sự thành bại của chúng ta trong công cuộc xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Do đó vấn đề đạo đức, đặc biệt là các giá trị đạo đức gia đình luôn được Đảng, nhà nước và nhân dân ta đặc biệt quan tâm, xem nó như là một trong những nền tảng quan trọng để thiết lập một xã hội bền vững

Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của đạo đức và đạo đức gia đình - nền tảng của đạo đức xã hội trong chiến lược xây dựng đất nước giai đoạn hiện nay và mai sau, Đảng, nhà nước ta đã đề ra những chủ trương và chính sách

cụ thể, đồng thời kết hợp với toàn bộ các đoàn thể và các lực lượng xã hội tích cực tham gia vào chiến lược giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc,

mà trước hết là các giá trị đạo đức trong gia đình Đồng thời qua đó vận dụng và phát huy một cách sáng tạo có chọn lọc các giá trị tinh hoa đạo đức của nhân loại

Trang 9

trong chiến lược bảo tồn và phát huy các giá trị đạo đức trong chiến lược phát triển đất nước giai đoạn hiện nay và mai sau

Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu các giá trị tư tưởng đạo đức của nhân loại, bên cạnh rất nhiều trường phái, học giả với các học thuyết về đạo đức của mình thì trường phái Nho giáo đã nổi lên với hệ thống tư tưởng đạo đức của mình Với hệ thống những tư tưởng đó, trường phái triết học Nho giáo đã góp phần đặt nền móng cho luân lý ở Trung Quốc thời kì cổ đại với một hệ thống chặt chẽ nhằm hướng tới một xã hội lý tưởng Việt Nam trong thời kì hội nhập, thuận lợi có nhiều song khó khăn cũng không phải ít Chính vì vậy, vấn đề giữ gìn

và bảo vệ và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đặc biệt là các giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam - một trong những cơ sở vững chắc đồng thời là nền tảng của đạo đức xã hội sẽ là điều vô cùng quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị nhân văn của dân tộc và quan trọng hơn hết là giữ gìn và phát huy các giá trị tốt đẹp, thuần phong mỹ tục trên bước đường xây dựng đất nước lên sánh vai cùng với nhân loại và thời đại

Chính từ trên cơ sở nhận thức đó, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đối với

xã hội, gia đình là một tế bào, là một trong các tổ chức cơ sở để thực hiện chủ trương chính sách và pháp luật của nhà nước về tất cả các mặt như kinh tế, chính trị, giáo dục văn hóa, dân số, môi trường…, đối với mỗi thành viên, gia đình là cái nôi thân yêu, nuôi dưỡng và nâng đỡ mình suốt đời, là môi trường để hình thành và phát triển nhân cách trong cả cuộc đời, là nơi để thế hệ trẻ rèn luyện lối sống có tình nghĩa, có đạo lý để làm hành trang cho cuộc đời, là nơi để thế hệ già có thể di dưỡng tinh thần, đem kinh nghiệm sống truyền lại cho con cháu Dù đối với xã hội hay với cá nhân thì gia đình đếu có vai trò to lớn, cần phải chăm lo xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc”1

1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb

Sự thật, Hà Nội, 1991

Trang 10

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam lại một lần nữa khẳng định: “Nâng cao trách nhiệm của gia đình trong việc bồi dưỡng các thành viên có lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và

là tế bào lành mạnh của xã hội”2 Chính vì vậy, nếu chúng ta biết tiếp thu và kế thừa các giá trị trong hệ thống tư tưởng đạo đức của Nho giáo sẽ là điều cần thiết

và bổ ích trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức tốt đẹp của hệ thống giá trị đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay và mai sau Đó cũng chính là lý do thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Triết học của trường phái Nho giáo nói chung và tư tưởng đạo đức của trường phái Nho giáo nói riêng đã được khá nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập nghiên cứu Có thể khái quát các tác phẩm nghiên cứu thành hai nhóm sau:

Thứ nhất, đó là các tác phẩm nghiên cứu về văn hóa phương Đông nói chung

và lịch sử triết học Trung Quốc nói riêng, trong đó có đề cập tới các vấn đề thuộc

về đạo đức trong tư tưởng đạo đức của trường phái Nho giáo, các tác phẩm tiêu biểu là:

Tác phẩm Đại cương triết học Trung Quốc, quyển 1 và 2 của Giản Chi

Nguyễn Hiến Lê, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1992 Trong tác phẩm này, tác giả đã phân tích một cách khá sâu sắc các nguyên lý trong hệ thống tư tưởng của trường phái Nho giáo trong sự đan xen, so sánh với các học thuyết triết học khác của Trung Quốc qua các giai đoạn lịch sử khác nhau

Tác phẩm Phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu của Cao xuân Huy,

Nxb Văn học, 1995 Trong phần thứ nhất chủ toàn và chủ biệt, hai ngã rẽ trong triết học Đông – Tây, tác giả đã trình bày sự khác nhau cơ bản giữa các học thuyết triết học phương Đông và phương Tây Phần thứ hai tác giả đã phân tích những tư

Trang 11

tưởng cơ bản của trường phái triết học Nho giáo và một số trường phái triết học Trung Quốc thời kì cổ đại

Tác phẩm Đại cương triết học Trung Quốc của Doãn Chính (chủ biên), Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1977 Trong phần hai, chương 2 Nho giáo, tác giả đã phân tích điều kiện lịch sử và những tiền đề lý luận nảy sinh ra các học thuyết triết học của Trung Quốc, đồng thời tác giả cũng đã trình bày có hệ thống những quan điểm triết học của trường phái Nho giáo, sự kế thừa và phát triển của các học thuyết qua các giai đoạn lịch sử khác nhau

Tác phẩm Lịch sử triết học Trung Quốc của Hà Thúc Minh, Nxb TP Hồ Chí

Minh, 1996 Trong chương 1, phần 2, 4, 6 và chương 2, phần 2 tác giả đã phân tích những nội dung cơ bản của hệ thống các học thuyết của trường phái triết học Nho giáo

Tác phẩm Lịch sử triết học phương Đông của Nguyễn Đăng Thục, Nxb.TP

Hồ Chí Minh, 1991, tập 2, từ chương 2 đến chương 8, tác giả đã tập trung trình bày triết lý trong hệ thống tư tưởng của triết học Khổng giáo về các vấn đề thuộc về vũ trụ, nhân sinh quan Tập 4 phần chiết trung Nho giáo tác giả đã khái quát các vấn

đề thuộc về nhân sinh quan, triết học đạo đức trong hệ thống tư tưởng của phái Nho giáo

Tác phẩm Đạo Đức phương Đông cổ đại của Vũ Tình, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 1998 Trong chương 1, phần 1, tác giả đã phân tích những mặt tích cực và hạn chế trong hệ thống tư tưởng đạo đức của trường phái Nho Giáo trong tổng thể đão đức Phương Đông nói chung

Tác phẩm Tích hợp văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai

của Nguyễn Hoàng Phương, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995 Bằng phương pháp tiếp cận đặc biệt là toán học, tác giả đã chứng minh sự huyền bí đặc sắc của Kinh Dịch – kho tàng triết học phương Đông Qua chứng minh trên, tác giả cho thấy sự tích

Trang 12

hợp của đa văn hóa Đông – Tây và định hướng cho một số vấn đề giáo dục trong tương lai

Thứ hai, một số tác phẩm nghiên cứu những nguyên lý cơ bản trong tư tưởng

triết học của trường phái Nho giáo, quá trình du nhập tư tưởng của Nho giáo vào Việt Nam và sự ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam như:

Tác phẩm Khổng học đăng của Phan Bội Châu, Nxb Anh Minh, Huế, 1957

Tác giả đã đúc kết những tinh hoa của Khổng học và nêu rõ những bước thăng trầm của Khổng học qua các triều đại Trung Quốc Qua đó chứng minh tư tưởng Khổng học mang tính nhân văn sâu sắc

Tác phẩm Nho giáo của Trần Trọng Kim, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1992 Tác

giả đã trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản của trương phái Nho giáo từ thời kì Khổng Tử cho tới nhà Thanh

Tác phẩm Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm, Nxb Văn hóa, 1994 Tác

giả đã phân tích khá sâu sắc những nội dung cơ bản trong hệ thống tư tưởng của trường phái Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó tới Việt Nam

Tác phẩm Nho giáo và sự phát triển của Nho giáo ở Việt Nam của Vũ Khiêu,

Nxb Khoa học xã hội, 1997 Tác giả đã phân tích quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam, đặc biệt là vấn đề cần khai thác Nho giáo trong sự nghiếp đổi mới hiện nay, qua đó chỉ rõ kinh nghiệm vận dụng Nho giáo ở các nước như Nhật Bản

và Singapore

Tác phẩm Nho học và Nho học ở Việt Nam của Nguyễn Tài Thư, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội, 1977, tác giả đã khái quát những nội dung cơ bản của Nho học, vai trò của nó trong lịch sử và hiện tại ở Trung Quốc và Việt Nam Tác giả nêu rõ cần phải phát huy truyền thống Nho học để xây dựng con người trong giai đoạn công nghiếp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay

Tác phẩm Một số vấn đề Nho giáo ở Việt Nam của Phan Đại Doãn, Nxb

Trang 13

Nho giáo ở Việt Nam từ thế kỉ XV tới thế kỉ XIX đồng thời vạch rõ những yếu tố hợp lý của nó cần được khai thác, phát huy trong quá trình đổi mới

Ngoài ra còn có các tác phẩm nước ngoài nghiên cứu về tư tưởng triết học Nho giáo như:

Tác phẩm Lịch sử văn minh Trung Hoa của Will Durant, Trung tâm thông tin

đại học Sư Phạm, TP Hồ Chí Minh, 1990 (Nguyễn Hiến Lê dịch) Trong chương một, phần hai, tác giả đã lý giải những tư tưởng của trường phái Nho giáo và coi đó

là những đóng góp quý báu trong lịch sử văn minh Trung Quốc

Tác phẩm Nho giáo với Trung Quốc ngày nay của Vi Chính Thông (sách

tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tác giả đã phân tích những nguyên lý cơ bản của Nho giáo, đồng thời vạch rõ những tích cực và hạn chế của

nó trong xã hội Trung Quốc ngày nay

Tác phẩm Đại cương triết học sử Trung Quốc của Phùng Hữu Lan (Pung Yu

Lan), (bản dịch của Nguyễn Văn Đương), Nxb Thanh niên, trung tâm nghiên cứu quốc học, 1999, trong chương 4, tác giả đã phân tích những quan niệm cơ bản của Nho giáo

Qua quá trình tìm hiểu, chúng ta nhận thấy rằng, các tác phẩm của các nhà khoa học trong nước và ngoài nước thường chỉ dừng lại ở các vấn đề như: Nội dung cơ bản của các học thuyết trong hệ thống tư tưởng của trường phái Nho giáo, hoặc đi sâu vào một số vấn đề cụ thể hoặc tìm hiểu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đối với xã hội Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử, tuy nhiên vấn đề đạo đức và việc kế thừa những tư tưởng về đạo đức gia đình chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa có chuyên sâu, chính vì vậy, đề tài này không mong muốn sẽ bao quát toàn bộ nội dung tư tưởng của các học thuyết trong triết học Nho giáo mà chỉ làm rõ các phạm trù, quan điểm về đạo đức và đạo đức gia đình trong hệ thống các học thuyết của trường phái Nho giáo Từ đó xem xét và liên hệ vấn đề này

Trang 14

trong quá trình xây dựng và phát triển hoàn thiện hơn các giá trị đạo đức gia đình Việt Nam thời kì hội nhập cũng nhu trong tương lai một cách thiết thực hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài

Đề tài làm rõ quan điểm của trường phái Nho giáo về vần đề đạo đức Từ đó xem xét vai trò và ảnh hưởng của nó tới việc xây dựng và hoàn thiện các giá trị đạo đức trong gia đình ở Việt Nam hiện nay

Nhiệm vụ của đề tài

Đề tài lý giải các quan niệm của Nho giáo về các vấn đề của đạo đức Xem xét nhận định, đánh giá vai trò của đạo đức và phương hướng giải quyết vấn đề đạo đức ra sao? Trên cơ sở đó nhóm tác giả sẽ cố gắng chỉ ra những yếu tố tích cực nhằm vận dụng vào giải quyết một số vấn đề thực trạng suy thoái đạo đức, đặc biệt

là đạo đức trong gia đình ở nước ta giai đoạn hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Để nghiên cứu đề tài, nhóm tác giả dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là vấn đề lý luận về đạo đức

và vai trò của đạo đức trong đời sống

Phương pháp nghiên cứu

Dùng phương pháp sưu tập, so sánh, phân tích, tổng hợp nhằm tìm hiểu quan niệm của Nho giáo về vần đề đạo đức và đạo đức trong gia đình

5 Đóng góp mới của đề tài

Trên cơ sở luận giải những quan niệm và phương pháp của trường phái Nho giáo về vấn đề của đạo đức và đạo đức gia đình, nhóm tác giả sẽ cố gắng vạch ra những tích cực và hạn chế trong hệ thống tư tưởng đạo đức của trường phái Nho giáo, từ đó tạo cơ sở cho việc xây dựng các chính sách và đường lối thích hợp

Trang 15

trong quá trình bảo vệ, xây dựng và hoàn thiện các giá trị đạo đức trong gia đình trước những tác động của thời kì hội nhập ở nước ta hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa lý luận

Trên cơ sở làm rõ quan niệm của trường phái Nho giáo về vấn đề đạo đức, vai trò và ảnh hưởng của nó đố với vấn đề giữ gìn, bảo vệ và phát triển các giá trị đạo đức gia đình Việt Nam trước chuyển biến của thời đại, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu triết học, xã họi học, giáo dục học, tâm

lý học…

Ý nghĩa thực tiễn

Từ những vấn đề lý luận trên, nhóm tác giả sẽ cố gắng chỉ ra những vấn đề góp phần tạo ra nội lực nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông qua việc giải quyết đúng đắn vai trò và ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với vấn đề đạo đức gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của đề tài

Phù hợp với mục đích và nhiệm vụ đã nêu, đề tài được kết cấu gồm: phần mở đầu, ba chương, chín tiết, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 16

CHƯƠNG 1 : ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA NHO GIÁO

Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, tư tưởng của con người cũng khác nhau và được xem như là biểu trưng của tinh hoa, tinh thần của thời đại đó Sự ra đời của một học thuyết một tư tưởng không phải là sự ngẫu nhiên mà chính là kết quả phản ánh những điều kiện lịch sử xã hội và cũng chính là sự kế thừa của những học thuyết lý luận trước đó Nó không ra đời trên mảnh đất trống không mà bao giờ cũng trên mảnh đất hiện thực, kế thừa những giá trị hợp lý tinh túy của thời đại trước đó Ph.ĂngGhen đã nhận xét: “Tư tưởng lý luận của thời đại là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử do đó trong những thời đại khác nhau thì nó cũng có hình thức hoàn toàn khác nhau chính vì vậy mà cũng có nội dung hoàn toàn khác nhau” Như vậy, có thể nói rằng tư tưởng của con người chính là sản phẩm của thời đại, là sự phản ánh thời đại lịch sử nhất định Nó chịu sự quy định và chi phối của thời đại và đạo đức học Nho giáo cũng không nằm ngoài sự quy định ấy Chính vì vậy, để tìm hiểu tư tưởng đạo đức của trường phái triết học Nho giáo thì chúng ta không thể không tìm hiểu những điều kiện kinh tế chính trị xã hội và tiền đề lý luận tôn giáo cho sự ra đời của tư tưởng đạo đức trong trường phái Nho giáo

1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận

Lịch sử xã hội luôn là tiền đề quan trọng để cho những tư tưởng triết học phát triển Lịch sử triết học Trung Quốc luôn gắn liền với lịch sử xã hội Trung Quốc Lịch sử triết học Trung Quốc cổ đại bắt đầu với quá trình xã hội Trung Quốc bước vào thời kì Xuân Thu – Chiến Quốc Đây cũng là thời kỳ tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ bắt đầu từ thời kỳ phong kiến sơ kỳ Chế độ chiếm hữu nô lệ đã tồn tại

và phát triền từ triều Hạ sang triều Thương và đến cuối thời tâ Chu thì khủng hoảng và tan rã Xã hội Trung Quốc trải qua thời kỳ giao thời chuyển từ chế độ tông tộc sang chế độ gia trưởng, các giá trị tư tưởng đạo đức cũng bị băng hoại,

Trang 17

những giá trị tư tưởng còn manh nha đang trên con đường xác lập Sự biến đổi của

xã hội trên tất cả các mặt như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… đã tạo tiền đề cho con người thoát khỏi sự chi phối của thế giới quan thần thoại tôn giáo, thần bí truyền thống, cũng chính vì vậy mà tư tưởng triết học cũng bị ảnh hưởng và bị chi phối

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, sự phát sinh và phát triển của tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại gắn liền với quá trình biến đổi của điều kiện kinh tế, xã hội và sự phát triển của khoa học ở Trung Quốc đương đại

Xuất phát từ quan niệm tôn giáo khi cho rằng trời người hợp nhất, người Chu cho rằng, tổ tiên của mình là các vua trước đó có đức mà sáng cùng Thượng đế, nhận được mệnh trời mà “hưởng nước”, “hưởng dân”… Vì vậy các vua sau phải kính đức đó, phải bồi đắp để con cháu được hưởng lâu dài Hiếu là nhớ tổ tiên, biết giữ gìn khuôn phép cho tổ tiên để nhận mệnh hưởng dân mãi mãi Đó chính là quan niệm đạo đức nhằm tuyên truyền và cũng cố địa vị của giai cấp quý tộc, bảo

vệ nhà nước chuyên chính thị tộc Song sự ổn định của nhà Chu chẳng được bao lâu thì những mâu thuẫn nội tại của nhà Chu đã nãy sinh đặc biệt là mâu thuẫn giữa những người lao động có cuộc sống nghèo khổ, lam lũ với đẳng cấp thượng lưu, sa đọa và những kẻ nắm quyền hành tranh tước với nhau

Thế kỷ IX tr.CN, nội bộ nhà Chu ngày càng lục đục lại phải tiến hành những cuộc chiến tranh triền miên với các bộ tộc Kinh Man, Nghiêm Doãn Khương, Nhung ở biên giới, nhân dân lao động ngày càng lầm than cơ cực, xã hội nhà Chu

đã phân hóa thì nay lại càng bị phân hóa sâu sắc dẫn tới những xung đột

Năm 770 tr.CN, Hạo Kinh bị các tộc Nghiêm Doãn, Nhung tàn phá Chu Bình Vương buộc phải dời đô về Lạc Ấp đánh dấu một giai đoạn mới của nhà Chu

mà sử sách gọi là Chu mạt thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc

Thời kỳ Chu mạt là thời kì suy yếu của nhà Chu, mọi quyền lực đều bị lung lay tới tận gốc, chiến tranh triền miên, tàn khốc, trật tự xã hội đảo lộn, lòng dân ly

Trang 18

tan Khắp Trung Quốc rộng lớn diễn ra cảnh: “đánh nhau tranh thành thây chết đầy thành, đánh nhau giành đất thì thây chết đầy đồng” Đây cũng là lúc mà đạo lý, nhân luân bị đảo lộn, mặc cho thần dân bị khuynh gia, bại sản vua chúa chỉ lo nới rộng quyền vương, truyền bá và hưởng lạc bất chấp đạo lý, đúng là cảnh “vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con”

Chính trong thời đại lịch sử chuyển biến sôi động đó đã đặt ra một loạt vấn

đề xã hội và triết học mới, buộc các nhà tư tưởng phải quan tâm và lý giải Đó cũng chính là nguyên nhân làm xuất hiện hàng loạt các trường phái triết học Họ đấu tranh với nhau hết sức gay gắt trên lĩnh vực tư tưởng tạo nên một không khí sôi động thời kì này Lịch sử gọi thời kì này là “bách gia chư tử” trăm nhà trăm thầy,

“bách gia tranh minh” trăm nhà đua tiếng

Sự đa dạng và phong phú của các học thuyết triết học thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc đã thực sự trở thành đỉnh điểm của toàn bộ đời sống tinh thần Trung Quốc thời kỳ cổ đại Các nhà tư tưởng thời kỳ bấy giờ đã đưa ra nhiều học thuyết tìm cách lý giải và đề xuất các biện pháp với mong muốn ổn định lại trật tự xã hội như:

Mặc gia cho rằng chiến tranh là đau khổ vì con người không thương yêu nhau, do đó họ đã chủ trương kiêm ái, thượng đồng, thượng hiền Với Pháp gia thì

họ lại cho rằng xã hội loạn lạc là do pháp luật không có phổ biến và không có nghiêm minh, do đó họ đã chủ trương dùng pháp trị nhằm bình ổn xã hội…

Khác với các trường phái triết học khác, Nho giáo chủ trương “nhân trị” cho tất cả mọi người để thiên hạ trở về con đường hữu đạo Có thể nói rằng qua các thời kì hình thành và phát triển khác nhau, tuy quan điểm có khác nhau nhưng nét chung nhất ở học thuyết của Nho giáo chính là học thuyết về chính trị đạo đức Bàn về con người, về đạo làm người Nho giáo dùng nhân trị, đức trị để tổ chức nhà nước và quản lý xã hội

Trang 19

Trong quan niệm của Nho giáo, chính trị và đạo đức thường xuyên thống nhất và gắn kết với nhau, đạo đức cũng là chính trị Đối nhân xử thế có đạo đức đồng thời cũng có nghĩa là làm chính trị Vì vậy, Nho giáo trước hết là học thuyết

về đạo đức Nhà nghiên cứu Cao Xuân Huy cho rằng: “Cả thế giới quan Nho giáo cũng nhuốm màu luân lý, Nho giáo có luân lý cả vũ trụ, cả Thượng đế trong học thuyết đạo đức chính trị của nó”3

Trong quan niệm về thế giới, xuất phát từ tư tưởng chu dịch, Khổng Tử cho rằng: “trời chỉ là giới tự nhiên trong đó có bốn mùa thay đổi, trăm vật sinh trưởng, tuy nhiên ông lại cũng cho rằng trời là một lực luợng có thể chi phối cả số phận và hoạt động của con người do đó con người phải sợ mệnh trời” Theo Khổng Tử thì người quân tử có ba điều phải sợ đó là: “sợ mệnh trời, sợ lời thánh nhân và sợ bậc đại nhân4

Tuy nhiên, Khổng Tử lại không tán thành quan điểm, con người cứ nhắm mắt phải dựa vào thiên mệnh Đối với quỷ thần một mặt ông tỏ thái độ hoài nghi khi cho rằng quỷ thần không có tác dụng chi phối đời sống con người Ông kêu gọi mọi người hãy chú trọng vào việc làm của mình bởi: “đạo thờ người chưa biết thì sao biết đạo thờ quỷ Không hiểu được con người khi sống thì không có tư cách nói chuyện con người khi đã chết”5 Theo Khổng Tử, trí thông minh, khôn ngoan của con người đối lập với mê tín quỷ thần, nhưng mặt khác ông lại rất coi trong việc cúng tế và ông cho rằng: “cúng tế xem như có thần”

Như vậy, trong quan niệm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có tính chất mâu thuẫn, khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương thời Ông thừa nhận, sự vật hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn vận động và biến đổi, không phụ thuộc vào mệnh lệnh của trời nhưng mặt khác ông lại cho rằng trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh con người, đó là bước thụt lùi trong tư tưởng triết học của

Trang 20

ông Cũng như thế một mặt Khổng Tử tuyên truyền sức mạnh của quỷ thần, nhưng mặt khác ông lại nhấn mạnh tới vai trò của hoạt động con người trong đời sống Thực chất những mâu thuẫn trong tư tưởng, tâm trạng, và thái độ của Khổng Tử là phản ánh những mâu thuẫn của đời sống hiện thực Xu thế phát triển của lịch sử -

xã hội đã giúp cho Khổng Tử có quan điểm tiến bộ, thoát ly khỏi chủ nghĩa thần bí, duy tâm, đặt ra vấn đề con người lên hàng đầu để giải quyết nhưng do hiện trạng

xã hội và lợi ích giai cấp, Khổng Tử đã quay lại với chủ nghĩa duy tâm, tuyên truyền sức mạnh của trời, thần thánh hóa quyền lực của thế lực cầm quyền trên mặt đất, duy trì trật tự xã hội theo lễ nghĩa nhà Chu

Trái với Khổng Tử trong quan niệm về thế giới, phát triển quan điểm thiên mệnh của Khổng Tử và đẩy thế giới quan ấy lên tới đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm, Mạnh Tử cho rằng: “chẳng có việc gì xảy ra mà không do mệnh trời, mình nên tùy thuận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy”6 Mạnh Tử cho rằng, vũ trụ, vạn vật đều tồn tại trong ý thức của con người, quan niệm đạo đức trời phú cho con người Ông đưa ra quan điểm: “vạn vật đều có đầy đủ trong ta, ta tự xét mình mà thành trật tự thì có vui thú nào lớn hơn nữa”7 Ông dạy mọi người không phải đi tìm chân lý ngoài thế giới khách quan mà chỉ cần suy xét trong tâm “tận tâm” của mình mà thôi Tâm là cái chủ thế trong tinh thần, là cái thần linh trời phú cho ta để suy nghĩ Nhờ tâm mà ta có thể phân biệt được mọi điều phải trái, thiện ác, để ứng phó với vạn vật, vạn sự, vì thế ông khuyên con người phải “tu tâm dưỡng tính” Tuân Tử trong quan điểm về thế giới, ông đã khẳng định quy luật phát triển khách quan của tự nhiên và khắc phục những thiếu sót của quan điểm mục đích luận và định mệnh luận của các nhà triết học trước kia Không những thế, ông đã giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Ông cho rằng con người có thể cải tạo tự nhiên và con người không nên chờ đợi vào tự nhiên ban phát một cách bị động Phải vận dụng khả năng, tài trí của mình, dựa vào

Trang 21

quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra của cải, sản vật để phục vụ cho đời sống con người

Tóm lại, xây dựng học thuyết đạo đức xử thế của mình, trong khuôn khổ và hình thái kinh tế xã hội nhà Chu do “thành hiền” lập ra, Nho giáo đã trình bày, biểu

lộ một vũ trụ quan, nhân sinh quan phù hợp rõ ràng với hình thái ấy Đi vào quan

hệ tam cương ngũ thường, đi vào quan hệ giữa người với người, giữa người với gia đình và xã hội…vũ trụ quan và nhân sinh quan ấy ngày càng chi phối, khống chế chặt chẽ ý thức con người cùng hệ tư tưởng Nho giáo trong tâm hồn mình từ một mức tối thiểu nào đó trở lên “cái chính của quan niệm Nho học là quan niệm trời người hợp nhất, lý luận nhân đạo lấy trung dung làm nguyên tắc, căn cứ vào dịch đạo để thuyết minh nhân đạo, căn cứ vào đạo đức để thuyết minh luân lý, căn cứ vào luân lý để thuyết minh tư tưởng nhân văn lấy con người làm gốc

1 2 Khái quát chung về trường phái triết học Nho giáo

Nho giáo là một trong những trường phái triết học lớn thời Xuân Thu - Chiến Quốc Từ lâu nay khi nghiên cứu và tìm hiểu về tư tưởng triết học của trường phái Nho giáo đã có rất nhiều tài liệu cho rằng Nho gia hay Nho giáo được bắt đầu từ Khổng Tử song về thực chất thì Nho giáo có cội nguồn từ xa xưa trong lịch sử Trung Quốc thời cổ đại

Xét về nguồn gốc của ngôn ngữ thì chữ nho được tạo bởi chữ nhân và chữ nhu Nhân là người còn nhu chính là cần dùng, là chờ đợi Như vậy chữ nho ở đây chính là muốn nói đến những người mà xã hội đang cần dùng, đang chờ đợi Bàn

về chữ nho sách thuyết văn giải tự có viết “nho là tên gọi của các thuật sĩ”còn sách Hán thư có viết: “người có đạo thuật gọi là nho” Cách giải thích của Hán thư hợp với thuyết văn giải tự Nho ở đây được hiểu là người có đạo thuật để dạy những người khác Sách pháp môn của Dương Hùng có viết: người thông thiên địa thì được gọi là nho, còn sách Luận Hoành của Vương Sung thì lại viết: người có thể giảng được một kim gọi là nho

Trang 22

Với quan điểm thiên nhân tương dữ đồng thời trên cơ sở coi đạo đức của các bậc đế vương thời trước là chính đạo, “ thực chất chữ nho ở đây chính là chỉ những người thông thạo sách thánh hiền, thông thạo lẽ tự nhiên của trời đất, giúp người đời có thể thực hiện đúng đạo trong xử lý nhân tình thế thái”

Trước thời Xuân thu, những nhà nho thường được gọi là sĩ, sĩ thông thạo văn chương, lục nghệ, nên được dùng vào việc trị nước Sĩ chịu sự cai quản trực tiếp của các quan tư đồ nên đã có thời người Trung Quốc gọi Nho giáo là do tư đồ mà

ra Đến thời mình, Khổng Tử đã hệ thống lại những tư tưởng của Nho giáo, nâng

nó lên thành học thuyết mà trong đó ông đã định rõ những vấn đề như: Sự biến hóa của trời đất có liên quan tới vận mệnh của con người,nghi lễ trong tế tự, các quy định về luân thường đạo lý trong xã hội Cũng chính từ đây, Nho gia hay Nho giáo cũng bắt đầu gắn với tên tuổi của Khổng Tử, người đời sau còn gọi là Nho giáo hay Khổng giáo

Sau khi Khổng Tử qua đời, Nho giáo được chia làm nhiều phái, mỗi phái khai thác tư tưởng của Khổng Tử ở những khía cạnh khác nhau và ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, các nhà tư tưởng cũng đến với Nho giáo một cách khác nhau, tuy nhiên ở bình diện đạo đức thì nổi lên Mạnh Tử và Tuân Tử

Khổng Tử tên là Khổng Khâu, tự Trong Ni, sinh năm 551 tr CN tại nước Lỗ, cha là Thúc Lương Ngột, một võ quan triều đình Năm 549 tr.CN, Thúc Lương Ngột qua đời để lại một người vợ góa và một đứa con thơ với gia tài không lấy gì làm sung túc

Khi còn nhỏ, do gia cảnh nghèo túng, Khổng Khâu phải làm lụng vất vả nhiều, tuy vậy, Khổng Khâu vẫn có điều kiện học sớm và học nhiều, tiếp xúc với các tầng lớp trên đương thời Ham học hỏi và ham hiểu biết lễ nghĩa là những nét nổi bật trong toàn bộ hình ảnh con người ấy hồi còn ít tuổi Sử sách có chép rằng, hồi mới ba tuổi cậu bé họ Khổng đã tỏ ra hứng thú với trò cúng tế, ham học và học nhiều, hiểu biết sâu rộng là một ưu thế của Khổng Khâu, người đương thời khâm

Trang 23

lòng nói ra sự hào hứng ấy: “một ấp mười nhà ắt phải có người trung tín như Khâu này thôi, song không có ai ham học như Khâu đâu” (thập nhất chi ấp tất hữu trung tín như Khâu giả yên, bất như Khâu chi hiếu học giả) Luận ngữ, thiên công dã tràng

Tinh thần ham học như trên không chỉ biểu hiện rõ đối với các sách kinh điển, Khổng Khâu nhắc nhủ mọi người bắt đầu học phải học lễ (lễ nghi), nhạc (âm nhạc),

xạ (bắn cung nỏ), ngự (cưỡi ngựa, đánh xe), thư (viết), sộ (tính toán) Trong trường hợp của mình, đối với các đồ đệ bậc cao, Khổng Khâu phân thành bốn khoa: đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự và văn học Là người nước Lỗ, Khổng Khâu tìm hiểu nước Lỗ nhiều nhất Trong đời mình ông học ở nước Lỗ, dạy ở nước Lỗ và cũng muốn hành đạo ở nước Lỗ trước hết bởi vì nước Lỗ là nước cha mẹ (phụ mẫu chi bang) của họ Khổng Tuy nhiên, nước Lỗ vẫn còn một ý nghĩa đặc biệt nữa đó là ngoài chính nước Chu ra, nước Lỗ là nước gần gũi với nhà Chu hơn cả Xưa kia khi thừa kế sự nghiệp của Văn Vương mà diệt Ân Trụ, giành được thiên hạ mà lập

ra nhà Chu thì vua Vũ đem nước Lỗ cấp cho em ruột là Chu Công Đán, từ đó nước

Lỗ trở thành nước con cháu Chu Công, một thần tượng mà Khổng Khâu suốt đời sùng bái và “thỉnh thoảng lại được gặp lại trong giấc mơ”

Khổng Khâu được sử sách cổ Trung Quốc coi là nhà hiền triết đầu tiên mở trường dạy học, thu nhận học trò nhiều nơi đến càng học càng đông, học trò học say sưa, Khổng Khâu dạy cũng say sưa Thầy đã nói sự say sưa, tận tụy của mình trong hai công việc đó : “học không chán, dạy người không mỏi (học nhân bất yếm, hối nhân bất quyện - Luận ngữ, thiên thuật nhi) và ý chí phấn đấu hành động cũng thật kiên trì Chính thầy cũng đã tự đánh giá: “nếu bảo là thánh và nhân thì ta đâu dám nhận, phải chăng là làm không biết chán, dạy người không mỏi thì cũng có thể nói như thế được đấy (nhược thánh dự nhân tắc ngô khởi cảm, ức vi chi bất yếm, hối nhân bất quyện, tắc khả vị văn dĩ nhi hĩ – luận ngữ thiên thuật nhi) Ngày 18 tháng 2 năm 479 trước công nguyên Khổng Tử mất

Trang 24

Tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử chịu sự chi phối của thế giới quan mà ông

đã hấp thụ của người Trung Quốc cổ đại Đó là :Vũ trụ lúc đầu chỉ là cõi hỗn mang, mênh mông, mờ mịt Trong cái hỗn mang ấy có cái lý gọi là thái cực Thái cực vô hình, huyền diệu chứa đựng hai mặt tiềm ẩn đối lập nhau là âm và dương Âm – dương tương tác chuyển hóa dẩn đến mọi sự biến đổi vô cùng vô tận gọi là đạo Theo đạo âm – dương sẽ sinh ra con người và vạn vật Như vậy tính đa dạng của

vũ trụ đều có chung nguồn, chung gốc mà Khổng Tử gọi là “nhất dĩ quán chi” tức

là một đầu mối Cái đầu mối giải quyết mọi vấn đề của xã hội loạn lạc đương thời, theo Khổng Tử chính là đạo đức, ông đã từng nói: “dẫn đạo nhân bằng chính lệnh, làm cho nhân dân nhất tề nghe theo bằng hình phạt, dân có thể tránh khỏi tội nhưng không biết hổ thẹn Dẫn đạo nhân dân bằng đạo đức, làm cho nhân dân nhất tề nghe theo bằng lễ độ, dân biết hổ thẹn mà trở về đường chính “ Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ lễ, hữu sĩ thả cách” Vì vậy “người làm đạo đức để làm chính trị chẳng khác

gì một ngôi sao Bắc Đẩu chỉ đứng một chổ mà các ngôi sao khác đều phải hướng về” (Vi chính dĩ đức, thí như bắc thần, cư kì sở nhi, chúng tinh cũng chi)

Nhìn vào sự nghiệp của Khổng Tử trên lĩnh vực học thuật và đạo lý, ngoài việc san định học thuật và đạo lý, ngoài việc san định các cuốn thi thư, dịch lễ và viết cuốn Xuân Thu còn có nhiều câu thầy nói, viết do các đệ tử ghi lại ở sách này, sách khác, nhưng không thành những trước tác riêng hoàn chỉnh Khổng Khâu cũng từng giới thiệu mình là một học giả thuật lại chứ không tự mình làm ra “thuật nhi bất tác, luận ngữ, thiên thuật nhi” Về sau các đồ đệ của thầy Khổng so sánh thầy với thánh khác từ thời Tây Chu trở về trước Đã ca ngợi thầy là vị thánh, là đại thành, tức là gộp được những thành tựu của các vị khác “tập kì đại thành” Cả hai cách nói trên làm toát ra ý nghĩa rõ ràng là Khổng Khâu không sáng tạo ra cái

gì hẳn riêng mình Lần lượt tìm hiểu vũ trụ quan, nhân sinh quan, thái độ với cuộc đấu tranh xã hội, nhận thức luận và phương pháp luận của Khổng Khâu, chúng ta

có thể kết luận rõ thêm về vấn đề ấy

Trang 25

Trải qua những tháng, năm dạy người không mệt mỏi, Khổng Khâu trước sau thu nhận gần ba ngàn đệ tử Trường tư đầu tiên ấy cũng là một trường học lớn Các nước ấy khi thì đặt bên giòng sông Tứ của nước Lỗ, khi thì đi triền miên gần khắp vùng trung tâm Hoa Hạ, có nơi nghe vang tiếng hát, tiếng đàn, có nơi nhốn nháo cảnh tượng giặc giã

Trong ba nghìn đệ tử, có 72 người được gọi là hiền bao gồm cả những người gọi là triết Xuất sắc nhất có Nhan Uyên và Tăng Sâm Nhan Uyên chết sớm nên không thấy để lại trước tác gì Tăng Sâm vào học sau nhưng lại được coi là người lĩnh hội tốt nhất của thầy Khổng Viết cuốn Đại học, Tăng Sâm gắn chặt triết học với chính trị và đồ đệ của Tăng Sâm hình thành một trường phái triết học có uy tín Sau thế hệ Tăng Sâm, trong hàng ngũ học trò của Tăng Sâm, người được các nhà Nho đề cao nhất là Khổng Cấp, thường được gọi là Tử Tư nhiều hơn, Tử Tư là cháu đích tôn của Khồng Khâu, con của Khổng Lý tức Bá Ngư Từ thế hệ Tăng Sâm tới thế hệ Khổng Cấp sự phân hóa của Khổng giáo thành những trường phái khác nhau ít nhiều càng ngày càng rõ dần Tử Tư được gọi là đích phái và những sách do Tử Tư viết sau này được gọi là chân truyền

Sang thời Chiến Quốc sự bất đồng giữa các hiền triết làm nổ ra cuộc tranh luận sôi nổi và rộng rãi Bản thân các nhà nho cũng có quan điểm, những đạo lý chống nhau Từ bên ngoài, Dương Chu, Mặc Địch và các triết gia khác đưa ra các luận điểm bài xích Nho giáo, giữa lúc ấy nổi lên một ngọn cờ mới là Mạnh Kha, thường được gọi là Mạnh Tử Ông là người nước Lỗ, sinh ở huyện Trâu vào năm thứ tư đời Liệt Vương nhà Chu, Mạnh Kha thuộc dòng đồ đệ của Tử Tư, cũng đi nhiều nước, gặp vua này, vua nọ trong hàng ngũ chư hầu nhà Chu, Mạnh Kha ra sức bảo vệ và đề cao Nho giáo, thường xuyên tỏ thái độ tôn sùng vương đạo, khinh

bỉ bá đạo, tôn sùng nhân nghĩa, khinh bỉ thói mưu lợi Thuyết tính thiện, quan điểm dân vi quý và lập trường chống chiến tranh là điểm nổi bật của tư tưởng Mạnh Kha Các nhà Nho thường ca ngợi Mạnh Kha là một nhà Nho hiền triết, biện luận hùng hồn và sắc sảo về triết học cũng như về chính trị, nhưng do đòi hỏi nóng bỏng của

Trang 26

xã hội đương thời, Mạnh Kha chú ý đề cập tới những vấn đề nóng bỏng của đời sống chính trị và đời sống kinh tế nhiều hơn thầy trò Khổng Khâu thời Xuân Thu

Về công trình trước tác, Mạnh Kha có một tập bản thiên ghi lại những cuộc biện luận của mình trong mấy mươi năm giảng dạy và hoạt động Tập ấy thường có tên gọi là “Bảy thiên Mạnh tử” cũng là cuốn Luận ngữ, cuốn Đại học và cuốn Trung dung hợp lại thành bộ Tứ thư (bốn sách) hoặc Tứ truyện (bốn truyện) có giá trị là những tài liệu kinh điển chính thức của Nho giáo đi liền với năm Kinh: Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân thu Cùng với Tăng Sâm, Khổng Cấp, rõ ràng Mạnh Kha

đã góp phần rất quan trọng và rất đắc lực vào việc truyền bá học thuyết của Khổng Khâu trong xã hội Do đó các nhà Nho đặt Mạnh Kha vào cùng hàng với Nhan Uyên, Tăng Sâm, Khổng Cấp và gọi cả bốn người này là Đại Hiền hoặc Á Thánh được thờ cúng gần kề Khổng Phu Tử trong Văn Miếu (Tứ phối)

Kể từ khi Khổng Khâu san định các kinh Thi, Thư, Lễ, Dịch và viết cuốn Xuân Thu cho đến khi Bảy thiên Mạnh Tử hoàn thành, sự phát triển của Nho giáo

đã trải qua trên dưới hai trăm năm lịch sử Chỉ khi Khổng Khâu qua đời chưa bao lâu, trong hàng ngũ đồ đệ của Phu Tử đã có người đi hướng này, kẻ đi hướng kia Tăng Sâm, Khổng Cấp, Mạnh Kha là một trường phái mà hầu hết các nhà Nho đời sau coi là “đích phái” chính thống, kế thừa lao lý Khổng Khâu một cách trung thực Bên cạnh trường phái ấy, còn có trường phái khác hơn nữa Trong các trường phái này nổi bật nhất là trường phái Bốc Thương, thường có tên gọi quen thuộc là Tư

Hạ, một “thầy” trong hàng ngũ 72 vị thầy và 10 vị triết gần Khổng Khâu nhất Tử

Hạ truyền bá học thuyết của mình cho nhiều nhà tư tưởng và lý luận trong các triết gia gọi là “Bách khoa chư tử” (các thầy trăm nhà), thời Xuân Thu Chiến Quốc Tới Tuân Huống, thường quen gọi là thầy Tuân (Tuân Tử) ra đời sau Mạnh Kha khoảng bốn mươi năm thì hình thành sự trái ngược về quan điểm, trái với trường phái kia trong một số vấn đề cơ bản, đặc biệt là trong vấn đề tính của con người vốn là thiện hay ác Chúng ta đã thấy Mạnh Kha khẳng định rằng tính của con người vốn là ác, cái thiện ở tính không phải là cái tự nhiên mà là do con người làm

Trang 27

khác với tự nhiên mới có Trong các danh Nho đời sau thuyết tính thiện của Mạnh Kha chiếm ưu thế rõ rệt Cũng có người bênh vực thuyết tính ác của Tuân Huống

Và cũng không ít người cho rằng hai thầy “Mạnh và Tuân chỉ khác nhau ở khía cạnh nhận xét và trình bày chứ không khác nhau về cội gốc và mục đích Dù sao quan điểm của hai thầy không hoàn toàn là những quan điểm phản ánh trạng thái đầy mâu thuẫn của hệ tư tưởng xã hội nước Trung Hoa cổ đại thời Xuân Thu - Chiến Quốc Trong hoàn cảnh thiên hạ “vô đạo” vị thầy “chí thánh” Khổng Khâu

và Á Thánh Nhan, Tăng, Tư, Mạnh đã tìm hết cách làm cho thiên hạ đi theo đạo lớn của mình Nhưng thiên hạ lại có vẻ đi theo một “thiên mệnh” hoặc “thiên đạo” nào khác với nhận thức và tin tưởng của Khổng – Mạnh

Thời Đông Chu kéo dài trong cảnh rối ren của Xuân Thu - Chiến Quốc Toàn

bộ triều đại nhà Chu và hình thái kinh tế - xã hội, hình thái phong kiến cát cứ đã từng bước đẩy hình thái kia đi vào dĩ vãng cũng phải kết thúc Xu thế chung đòi hỏi Nho giáo muốn tồn tại và tiếp tục hoạt động cũng không thể không vượt qua cuộc khủng hoảng, tìm lối vươn lên, không thể không có những thêm bớt, thay đổi nhỏ hoặc lớn, hoặc ít hoặc nhiều nào đó

Đạo lý Nho giáo không chấm dứt được tình trạng cát cứ và loạn lạc, thì đạo

lý khác gánh lấy công việc ấy Vương đạo bất lực và vô hiệu thì phải nhường chỗ cho bá đạo Lễ trị bất lực và vô hiệu thì phải nhường chỗ cho pháp trị Cái quan trọng hơn cả là sau khi đã có những nhân tố mới mạnh mẽ thúc giục xã hội đi tới một sự tập quyền thống nhất trên những cơ sở mới, thì rốt cuộc phải có chuyển biến ấy bằng bạo lực và bằng sự cưỡng chế kiên quyết Ở thời Tam đại, các “thiên tử” nhà Hán, nhà Ân (hoặc Thương) và nhà Chu đã được coi là “Vâng mệnh trời trị vì cả thiên hạ” Nhưng thực ra nước Trung Hoa còn chia thành quá nhiều nước nhỏ Đến đầu nhà Chu, sử sách ghi chép tới 1800 nước Vào thời Xuân Thu còn lại hơn 70 nước Sang thời chiến quốc cuộc ganh đua sống còn càng gay gắt Các bá

và hùng lớn mạnh nuốt dần các nước nhỏ và yếu Về sau, chỉ 7 nước còn lại Và cuối cùng Tần Doanh Chính đã diệt 6 nước Hàn, Ngụy, Vệ, Yên, Sở và Tề Cả

Trang 28

thiên hạ bao gồm hàng nghìn, hàng trăm nước nhường chổ cho một nước thống nhất bao gồm nhiều quận, huyện v.v Cả trong một gia đình và trong xã hội, cả về kinh tế và về chính trị, những nền nếp, thể chế do Văn Vương, Võ Vương, Chu Công… để lại thành những vật chướng ngại cản trở bước tiến của xã hội và đều không có lý do hợp thời để tiếp tục tồn tại nữa Những học thuyết và đạo lý làm vũ khí tinh thần bảo vệ các nền nếp, thể chế ấy cũng phải chịu sự phán quyết dứt khoát của thế lực đang lên Nho giáo của Khổng Mạnh chính là hệ thống học thuyết về đạo lý bảo vệ đến cùng và cố sức phục hồi hình thái kinh tế - xã hội nhà Chu, cho nên nó không phải là một làn gió mát mẻ xuôi chiều đối với thế lực mới nổi lên theo xu thế chung của thời Xuân Thu – Chiến Quốc Nhiều trường phải triết học – chính trị chống lại nó, lớn hoặc nhỏ, mạnh hoặc yếu đã xuất hiện Đại biểu cho xu thế phong kiến tập quyền, Doanh Chính đã giành được ưu thế tuyệt đối ở nước Tần và từ nước Tần mở rộng phạm vi thống trị ra khắp các nước chư hầu của nhà Chu trước kia, thống nhất cả thiên hạ vào một nước Tần, xóa bỏ thể chế phong kiến cũ của các triều đại trước Doanh Chính, chia nước thành 36 quận Không tự xưng là “Vương” Doanh Chính tỏ ra cảm thấy một chữ “Hoàng” hoặc một chữ

“Đế” đều chưa nói lên ý nghĩa thâu tóm uy quyền to lớn thật rộng khắp và thật toàn diện cho nên đã ghép cảc hai chữ lại thành một từ và tự xưng là “Hoàng Đế” Tiến hành nhiều sự thay đổi táo bạo, nhà Tần không thể không vấp phải sự chống đối của các thế lực luyến tiếc nền nếp cũ Lực lượng chống đối có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong xã hội là lực lượng Nho giáo dưới ngọn cờ Khổng Mạnh Mũi nhọn bạo lực của Tần Thủy Hoàng chỉa vào con người và Kinh điển đạo Nho Câu chuyện đốt sách chôn Nho (phần thư khanh Nho) thỉnh thoảng được nhắc đi nhắc lại hơn hai nghìn năm nay diễn ra trong khung cảnh trấn áp như thế hoàn toàn không phải một câu chuyên kỳ quái, mặc dầu sự thuật lại và bàn tán thường có những điều thêm bớt nhất định Ngọn lửa đốt sách và cái hố chôn Nho của nhà Tần quả có làm cho đạo Nho lao đao, điêu đứng một thời gian

Trang 29

Ra sức triệt đạo Nho bằng bạo lực và pháp trị, thế lực nhà Tần đã không có được một học thuyết hay đạo lý mới có thể ổn định tư tưởng và đời sống thiên hạ Nhưng sự tố cáo trở lại, buộc tội và lên án trở lại không những không làm dịu mà còn làm bùng lên ngày càng mạnh, có những vụ mưu sát nhằm diệt bản thân Tần Thủy Hoàng, có những hành động bạo loạn của bọn thống trị các nước vừa bị diệt vong Nguy hiểm khác cho nhà Tần là những lực lượng khác cũng đại biểu cho xu thế mới xã hội: tập đoàn Lưu Bang và tập đoàn Hạng Vũ, cùng với chiến tranh nổ

ra giữa Lưu Bang (Hán) và Hạng Vũ (sở) Lưu Bang toàn thắng và triều đại nhà Hán bắt đầu Khi mới lên ngôi, Lưu Bang nghĩ là mình ngồi trên lưng ngựa mà lấy được thiên hạ thì cần gì đạo nghĩa nữa Nhưng ngồi trên lưng ngựa mà được thiên

hạ là một chuyện, còn ngồi trên ngai rồng mà trị nước, bình thiên hạ lại là một chuyện khác Lòng dân có ổn định không, cuộc sống có ổn định không, binh hùng tướng mạnh, gươm sắc, dáo nhọn không thể đủ sức giải quyết vấn đề Do vậy đạo

lý lễ nghĩa là không thể thiếu Bát cơm, không thể không tỉnh ngộ Trong hàng ngũ công thần mở nước của Lưu Bang, tấm áo càng không thể thiếu Đứng trước thời thế cuộc đời, Lưu Bang không ít người tuấn kiệt vốn là những nhà Nho sừng sỏ đã tác động mạnh vào sự tỉnh ngộ ấy So sánh các học thuyết lớn đương thời, người ta thấy thuyết vô vi của lão Đam, thuyết vị ngã của Dương Chu, thuyết Kiêm ái của Mặc Địch đều không vừa lòng vị hoàng đế mới Theo ý muốn của hoàng đế thì toàn thể thiên hạ phải luôn luôn hữu vi đúng như mệnh lệnh của hoàng đế, phải sống và chết vì hoàng đế, tôn sùng hoàng đế hơn ai hết, sẳn sàng vì hoàng đế, tôn thất và triều đình của hoàng đế mà liều bỏ mạng mình hoặc trừ diệt bất cứ ai Khổng giáo không đáp ứng được yêu cầu ấy nhưng Khổng giáo cũng có lợi cho hoàng đế về mặt sắp xếp trật tự tôn ti, khép chặt thần dân vào các mặt, các khâu trong cái lưới thống trị bao la của hoàng đế, có thêm những điểm mới, những điều được sửa đổi ít nhiều, hoặc được giải thích lại và chắc chắn có những phần nào đó

bị cắt xén đi, Nho giáo lại dần dần trở thành vũ khí tinh thần của nhà Hán, trở thành quốc giáo chính thống

Trang 30

Hán Nho nổi lên với Đổng Trọng Thư là một danh nhân như Tư Mã Thiên, Dương Hùng, Vương Thông…phần thêm vào rõ nhất là phần nói về trời đất, âm dương, ngũ hành mà Khổng Tử cố tránh hoặc lướt qua Sự bổ sung ấy làm cho học thuyết của Khổng – Mạnh được bổ sung một cách tương đối hoàn chỉnh hơn trước, vừa nhằm làm cho quân quyền và thần quyền gắn bó với nhau một cách chặt chẽ hơn, toàn diện hơn Điều đáng chú ý là sự sửa đổi về đạo đức, đức trung với vua dần dần được tuyệt đối và nâng lên cao nhất so với các đức tính khác

Sang thời nhà Tống sau một thời gian hầu như chỉ có chuyện “soi kinh nấu sử” để thi cử, đỗ đạt đã nổi lên những ngọn cờ mới của đạo Nho, trước hết thời bắc Tống là Chu Đôn Di, Thiệu Ung, Trương Tái, và anh em Trình Hạo và Trình Di Sang thời Nam Tống, nét nổi bật nhất trong hoạt động Nho giáo là sự chú giải các sách kinh điển do Chu Hy tiến hành, danh nho này đã giữ một vai trò rất là lớn trong việc giảng giải, chú thích ấy Có thể nói rằng tất cả các trước tác ấy và các tài liệu kinh điển của Khổng Khâu, Tăng Sâm, Khổng Cấp, Mạnh Kha đều được Chu Hy chú giải kỹ Mặc dù không có sáng tạo đặc sắc gì nhưng ông cũng được đánh giá rất cao, được công nhận là làm được một việc lớn “tập đại thành” Thời gian triều đại Nguyên Mông thống trị toàn bộ nước Trung Hoa, chỉ gần một thế kỉ, có lẽ chỉ đủ cho kẻ chinh phục, bị chinh phục bởi nền văn minh cao hơn của nhân dân các nước mà họ nô dịch Đối với Nho giáo, công việc giảng dạy, thi

cử vẫn được các nhà nho thuộc tộc Hán đảm nhiệm theo con đường của đời Tống Giành lại ngôi hoàng đế về người tộc Hán, nhà Minh tạo điều kiện cho nhiều danh nho nổi lên, tuy nhiên con đường hoạt động chủ yếu của nho giáo chủ yếu vẫn là hoạt động giảng dạy và thi cử, theo tinh thần học không chán, dạy không mỏi và theo phương châm, học giỏi thì làm quan, làm quan giỏi thì phải học Đến đầu thế kỷ XVI Nho giáo có một bước phát triển mới của một trường phái khác và với trường phái Hán Nho và Tống Nho, ngọn cờ nổi lên bước phát triển mới này là Vương Thủ Nhân hay còn gọi là Vương Dương Minh

Trang 31

Như vậy có thể nhận thấy rằng, tuy thể hiện quan điểm của mình ở nhiều chổ khác nhau nhưng nhìn chung tư tưởng đạo đức của trường phái Nho giáo được phân thành hai mảng tương đối rõ nét, đó là đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân

Trang 32

CHƯƠNG 2 : NỘI DUNG VÀ THỰC CHẤT TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC

CỦA NHO GIÁO

2.1 Khái niệm đạo đức và quan niệm đạo đức của trường phái triết học Nho giáo

Loài người tồn tại trong tính cộng đồng xã hội Để duy trì sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội mình, con người phải sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hoạt động nhằm duy trì trật tự kỉ cương, ổn định xã hội của mình Theo đó đạo đức xuất hiện như một phương thức cơ bản nhằm điều chỉnh các hành vi ứng

xử của con người trong xã hội

Với tư cách là một hiện tượng xã hội thuộc đời sống tinh thần – thực tiễn đặc biệt, đạo đức xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người Đạo đức tồn tại ở mỗi con người, trong ý thức, hành vi với tư cách là phẩm chất tinh thần cơ bản của nhân cách, một “lực lượng bản chất người” Nó được dùng làm thước đo cho trình độ phát triển của con người Con người chân chính, đích thực luôn được đánh giá trước hết thông qua phẩm chất đạo đức Đạo đức tiến bộ góp phần sáng tạo ra các giá trị văn hóa phổ quát như: chân - thiện - mỹ - một bộ phận quan trọng trong nền tảng tinh thần của nhân loại Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức cả ở phương Đông và phương Tây như:

Ở phương Tây, khái niệm đạo đức được bắt nguồn từ chữ mos trong từ vựng

La Tinh, có nghĩa là lề thói, Moralis có nghĩa là thói quen Ngoài ra, trong tiếng

Hy Lạp còn có khái niệm ethicos cũng có nghĩa là tập tục gắn với thói quen Cả hai

từ này đều chỉ đạo đức của xã hội, tức nói về tập quán tập tục, lề thói trong các quan hệ giao tiếp giữa con người và con người

Trang 33

Ngay từ thời cổ đại, nhà triết gia Hy lạp cổ đại là Democrite đã quan niệm

“Đạo đức là đi tìm khoái lạc vì sự thiện là khoái lạc, còn sự ác là đau khổ Để mang lại sự thiện thật sự, khoái lạc phải là sự hoan hỉ dài và trường tồn”

Với Socrate thì ông cho rằng: “con người có thể tìm hiểu những điều thuộc đời sống thực tiễn để tìm thấy những chân lý khách quan về một đạo đức thực tiễn Ông tin vào nhân đức, vào công lý vì coi đó là cách sống hợp với ý muốn của thần thánh” Con người theo ông chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc – điều mà con người luôn khao khát tìm kiếm – khi con người sống đúng đắn, nghĩa là sống hợp với những quy tắc đạo đức, còn nếu không thì con người chỉ có thể chuốc lấy khổ nhục

Vì lý do đó ông thà chịu chết chứ không đi ngược lại với chân lý – điều ông coi là quy tắc đạo đức phải sống Một con người sống có đạo đức theo Socrate phải là một con người có tri thức (khôn ngoan), sống điều độ, sống kỷ luật (can đảm), có lòng kiên trì và biết làm việc nữa

Với Hegel, trong “nhà nước pháp quyền”, Hegel đã phân biệt hai khái niệm moralis (luân lý) va ethicos (đạo đức) như sau: luân lý là đạo đức chủ quan, còn đạo đức là luân lý khách quan8

Theo Martin Heigdegger thì: “đạo đức là lĩnh vực của con người mà hành vi, các mối quan tâm, những tình cảm được chia sẻ giữa người này và người khác theo những mục tiêu và tiêu chí nhất định có liên quan tới tự do và trật tự phức tạp của cộng đồng”9 Nhà nghiên cứu đạo đức học nổi tiếng người Nga là G.Bandzeladze

đã viết: “đạo đức của con người là năng lực phục vụ một cách tự giác và tự do những người khác và xã hội…nơi nào không có những hành vi tự nguyện, tự giác của con người thì nơi ấy không có nhân phẩm, không thể có đời sống xã hội Đặc trưng của đời sống con người và của bản thân tính người là đạo đức và nội dung

Trang 34

của đạo đức chính là năng lực phục vụ tự nguyện, tự giác lợi ích của người khác và toàn thể xã hội”10

Ở phương Đông, đạo đức cũng là một trong những vấn đề nổi bật được quan tâm và bàn tới từ rất sớm với nhiều nhận định và đánh giá khác nhau về nó Trong

đó nổi bất nhất là Nho giáo Mặc dù chưa hề đưa ra một định nghĩa mang tính tổng quát thế nào là đạo đức nhưng nội hàm của vấn đề này lại được thể hiện khá rõ và đặc sắc trong các quy tắc và chuẩn mực đạo đức của trường phái triết học Nho giáo Theo Khổng Tử thì đạo chính là con đường phải theo, đạo gồm năm mối quan hệ cơ bản giữa con người: “Quân thần dã, phụ tử dã, phu phụ dã, côn đệ dã, bằng hữu chi giao dã, ngũ dã thiên hạ chi đạt đạo dã”, (Trung dung) Trong năm mối quan hệ này về sau Hán nho tôn lên ba mối quan hệ đầu gọi là tam cương (cương là giường mối) Vua làm giường mối cho tôi, cha làm giường mối cho con, chồng làm giường mối cho vợ

Đức là trí, nhân, dũng đó là ba phẩm chất quan trọng nhất mà con người phải

có để thực hiện tốt năm mối quan hệ cơ bản nói trên Khổng Tử nói: nhân, trí dũng, tam giả thiên hạ chi đạt đức dã (Trung dung) Sau này qua Mạnh tử rồi tới Đổng Trọng Thư, ba đức tính nói trên được mở rộng thành ngũ thường bao gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Tam cương liên kết với ngũ thường là năm đức: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín thành ra tam cương, ngũ thường Cương thường là nguyên tắc chi phối mọi hành động của con người, đó là cái cốt lõi của tư tưởng đạo đức Nho giáo

Như vậy có thể nói rằng, mới đầu Khổng Tử đề ra “nhân trí dũng, tam dã, thiên hạ chi đức dã” (đức nhân trí tuệ, lòng dũng cảm, thiên hạ đạt được ba điều đó

là đức vậy) Dần Khổng Tử đã bổ sung thêm những đức khác như đức lễ, đức nghĩa, đức tín Về sau Mạnh Tử thay đổi lại trật tự và bỏ đi đức dũng, thứ tự thành

ra nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Những phạm trù đức của Nho giáo sau này hậu thế coi là đức của thánh hiền vậy

Trang 35

2.2 Những vấn đề của đạo đức Nho giáo

Có thể nói rằng, Khổng Tử nói riêng và trường phái Nho giáo nói chung chưa

hề đưa ra một định nghĩa, hay khái niệm mang tính chất tổng quát về đạo đức, mà

tư tưởng đạo đức của trường phái triết học Nho giáo được thể hiện rải rác, đan xen trong hệ thống các tư tưởng triết học Nho giáo nói chung

Xét về đại thể thì đạo đức của trường phái triết học Nho giáo được phân ra làm hai mảng lớn đó là: đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân

2.2.1 Đạo đức xã hội

Đạo đức xã hội phản ánh tồn tại xã hội trong một cộng đồng người nhất định

và là phương thức điều chỉnh hành vi của từng cá nhân với cộng đồng ấy Đạo đức

xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của các cá nhân thuộc cộng đồng Trong quá trình sinh sống của mỗi cộng đồng người, những nguyên tắc và những chuẩn mực, những quan niệm và lý tưởng đạo đức… được hình thành như một hệ thống giá trị chung được mọi thành viên tin tưởng và noi theo

xã tắc cũng không tránh khỏi suy sụp

Như chúng ta đã biết, Khổng Tử sống trong thời kỳ lịch sử Trung Quốc có nhiều sự biến đổi lớn lao, chiến tranh liên miên, máu chảy thành sông, xác chết đầy thành, các vương triều ra sức tranh giành quyền lực, còn nhân dân thì lâm vào cảnh lầm than Trong gia đình, ngoài xã hội, trật tự lễ nghĩa cương thường bị đảo lộn,

Trang 36

băng hoại Cảnh con giết cha, tôi hại vua… thường xuyên xảy ra Trước thời cuộc như vậy, với chức năng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị và với sự trăn trở của một thánh nhân trước những biến cố lớn lao của lịch sử, Khổng Tử đã cố gắng đưa

ra những giải pháp nhằm đưa xã hội trở lại yên bình, thịnh trị, tức đưa xã hội trở về con đường hữu đạo, một xã hội đúng với chính nó

Muốn làm được điều đó thì trước hết phải tìm cho được nguyên nhân của tình trạng trên Theo Khổng Tử thì nguyên nhân sâu xa chính là sự băng hoại trật tự, lễ nghĩa, cương thường, do đó chỉ có đưa xã hội trở về hữu đạo thông qua thực hiện chính danh

Sách Luận Ngữ chép rằng: “Quý Khang Tử hỏi Khổng Tử về cách trị nước: Như giết kẻ vô đạo để dẫn dân đến chỗ có đạo thì như thế nào? Khổng Tử đáp: cần

gì phải giết chóc, nếu ngài làm điều thiện thì dân sẽ làm điều thiện theo, đức của quân tử như gió, đức của tiểu nhân như cỏ, gió thổi trên cỏ, cỏ ắt rạp xuống” (Quý Khang tử vấn chính ư Khổng Tử viết: “như sát vô đạo, dĩ tự hữu đạo hà như?

“Khổng Tử đối viết: “Tử vi chính, yên dụng sát, tử dục thiện, nhi dân thiện hỹ, quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo, thảo nhượng chi phong tất yền” Hoặc: “nếu ông lãnh đạo bằng đạo chính, thì ai dám chẳng chính” (Tử suật dĩ chính, thục cảm bất chính” Chính vì danh bất chính nên Khổng Tử đã chủ trương dùng chính danh để thiệt lập lại trật tự kỉ cương xã hội

Vậy thế nào là chính danh, yêu cầu của nó là gì mà Khổng Tử lại cho rằng thông qua việc thực hiện chính danh thì có thể thiết lập lại trật tự kỉ cương xã hội Chính danh ở đây theo Khổng Tử có nghĩa là cần phải xác định rõ địa vị, danh phận của mỗi người trong xã hội, kèm theo đó là những quyền lợi và nghĩa vụ

mà địa vị đó đem lại Khổng Tử giải thích, “chính danh là làm cho mọi việc ngay thẳng”, là “vua phải làm trọn đạo vua, bề tôi phải làm trọn đạo bề tôi, cha phải làm trọn đạo cha, con phải làm trọn đạo con…(quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử)

Trang 37

Chúng ta có thể thấy rõ điều này thông qua cuộc đối thoại giữa Khổng Tử và

Tử Lộ Tử Lộ hỏi: “vua nước vệ có ý mong thầy đến làm chính sự, thầy sẽ làm gì trước hết?” – Phu tử đáp: trước hết phải chính danh đã ! thầy thật viển vông, chính làm gì? – Phu Tử nói: do kia thật quê kệch người quân tử đối với những điều mình không biết hãy để trống đấy, danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc không thành, việc không thành thì mọi điều lễ nhạc không gây lại được, không gây lại được lễ nhạc thì hình phạt sẽ sai trật cả, hình phạt không đúng thì dân sẽ bị bó tay chân, cho nên người quân tử có danh rồi tất phải nói, nói rồi tất phải làm” Như vậy đối với Nho giáo chính danh là điểm then chốt đưa xã hội trở lại với trật tự nề nếp

Theo Nho giáo, thì trật tự xã hội rối loạn luôn có nguồn gốc từ trên, trên không nghiêm thì dưới mới loạn Sự không nghiêm đó được biểu hiện ở chỗ danh không chính, nói và làm không đúng với chức phận của mình Chính vì thế mà vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con… Nho giáo tin rằng, nếu mỗi người tự chính được bản thân mình thì chẳng cần hạ lệnh, mọi việc vẫn cứ tiến hành, còn nếu bản thân mình không chính được thì dù có hạ lệnh cũng chẳng ai theo

Khi Quý Khang Tử hỏi Khổng Tử về chính sự, Khổng Tử đã trả lời: “việc chính sự là ngay thẳng vậy, ngài cứ làm gương về sự ngay thẳng còn ai dám không ngay thẳng nữa”

Thuyết chính danh phản ánh thái độ tôn ti của Khổng Tử mà một phần được khai thác thông qua quan niệm luân Sách thuyết văn cho là con đường, sách Khúc

lễ giảng đó là loại, Mạnh Tử thì là trật tự, một số nhà nghiên cứu về sau này giải thích là thứ tự, thứ bậc, đạo cư xử Có thể hiểu luân là quan hệ do các danh tạo thành, mỗi một thứ quan hệ thì gọi là một luân Cuộc sống có nhiều danh tạo nên rất nhiều luân, nhưng theo Nho giáo chỉ có ngũ luân phản ánh năm mối quan hệ cơ bản trong xã hội, đó là các mối quan hệ như vua – tôi, cha – con, anh – em, chồng – vợ, bằng – hữu Sách Trung Dung viết: “Vua tôi, cha con, anh em, chồng vợ bầu

Trang 38

bạn kết giao đó là năm bậc thông thường của đời người trong thiên hạ” (thiên hạ chi đạt đạo ngũ… quân thần dã, phụ tử dã, phu phụ dã, côn đồ)

Chính danh của ngũ luân là: quân nhân – thần trung – tử hiếu, phu nghĩa – phụ thích, huynh lương – đệ dễ và trưởng tuệ - ấu thuận Có thể nói đây chính là xương sống đạo đức xã hội của người sáng lập ra Nho giáo

Sau Khổng Tử, học thuyết Nho giáo đã được học trò của ông là Mạnh Tử tiếp tục phát triển Mạnh Tử tên thật là Mạnh Kha, tự Tử Dư, dòng dõi Lỗ Công sinh năm 372 tr.CN và chết năm 289 tr.CN

Ngay từ thuở nhỏ, Mạnh Tử đã được theo học Tử Tư cháu nội của Khổng Tử

Vì vậy Mạnh Tử sớm chịu ảnh hưởng của Nho giáo Lớn lên cùng như Khổng Tử, Mạnh Tử đã bôn ba nhiều nước để bảo vệ và phát triển hệ tư tưởng của Nho giáo đồng thời muốn đem tài trí của mình để làm ổn định trật tự xã hội, song cũng giống như Khổng Tử, Mạnh Tử không được trọng dụng Cuối cùng ông trở về quê dạy học và cùng học trò viết bộ Mạnh Tử, ghi chép lại những điều ông đã đàm luận với vua các nước chư hầu để bày tỏ quan điểm của mình “về nhân tình thế thái “cũng như các học thuyết khác

Tương truyền rằng Tề Vương hỏi: Thành Thang đuổi kiệt Võ Vương đánh Trụ, điều đó có thật không? Mạnh Tử đáp: thật sử sách chép như vậy Tề Tuyên Vương hỏi tiếp: bề tôi giết vua nên chăng? Mạnh Tử đáp: kẻ làm hại đến nhân gọi

là tặc, kẻ làm hại đến nghĩa gọi là tàn Kẻ tàn, kẻ tặc chẳng qua chỉ là giết vua mà chỉ nghe nói Võ Vương giết một người là Trụ (Tề Tuyên Vương vấn viết: Thang phóng kiệt, Võ Vương phạt trụ hữu Chu? Mạnh Tử đối viết: “ ư truyện hữu chi viết: thần thí kỳ quân khả hồ viết: tặc nhân giả, vi chi tặc, tặc nghĩa giả, vi chi tàn tặc chi nhan, vi chi nhất phu Văn trù chất phu Trụ kỹ, vi văn trí quân dã)

Ở đây và nhiều chổ khác nữa, Mạnh Tử cũng như Khổng Tử nói đến chính danh chủ yếu là ở góc độ chính danh tự định danh phận

Trang 39

Vào cuối thời kỳ chiến quốc, tư tưởng của Khổng Tử đã được Tuân Tử nâng lên một nấc thang mới Tuân Tử họ Tuân tên là Thống, tự Khanh Sống vào khoảng từ năm 315 trước công nguyên tới 230 trước công nguyên sinh tại nước Triệu Đương thời ông du học tại nước Tề và sau đó cũng đi bôn ba nhiều nước Gần cuối đời ông là quan nước Sở và chết tại đó Là người sống vào giai đoạn các học thuyết xã hội Trung Quốc đang rất thịnh và phát triển rực rỡ, ông đã theo Nho giáo, ông có công phát triển học thuyết này nhưng nhiều quan điểm của ông đã khác so với Khổng Tử và Mạnh Tử Tác phẩm của ông được hậu thế thu thập, sắp đặt, chỉnh lý thành bộ Tuân Tử

Tuân Tử đã đề cập nhiều đến chính danh và đã dành hẳn một thiên luận bàn

về vấn đề này: thiên chính danh, trong đó ông đã lý giải về chính danh, công dụng của danh, cơ sở tạo ra danh và người tới loạn danh Ông viết: “Danh là oai dùng để chỉ cái thực, nhờ danh mà con người hiểu được thực hoặc: “Vạn vật hình thể khác nhau thấy khác hình thì hiểu chúng không phải cùng một vật, nếu không định ra cái danh để phân biệt vật này với vật khác thì danh và thực trở nên rối ren, lúc đó mới

gở ra, sang hèn không rõ, giống khác không phân Như vậy sự hiểu biết sẽ mập mờ, việc làm sẽ bỏ trễ Người trí giả đặt ra danh để chỉ vai, trước hết là làm rõ rạng sang – hèn, sau đó phân biệt giống khác Một khi sang hèn đã rõ, giống khác đã phân thì không lo sự hiểu biết thiếu rõ ràng, không sợ công việc bị trể nãi…” (Dị hình ly tâm, giao dụ di vật, danh thực truyền nữa, quý tiện bất minh, đồng dị bất biệt, như trị tắc chỉ tất hữu bất dụ chi hoạn, nhi sự tất hữu khốn phế chi hội cố trị giả vi phân biệt, chế danh dĩ chi thực, thượng dĩ minh quý tiện, hạ dĩ biệt dị đồng Quý tiện minh, đồng di biệt, như thị tắc chí vô bất dị chi hoạn, sự vô khống phế chi họa…”

Như vậy, việc đặt ra danh là cực kỳ quan trọng đối với cuộc sống xã hội Song danh không thể sinh ra một cách tùy tiện mà danh phải do pháp luật của quốc gia chế định và nó phải được xã hội hóa, phải được quảng đại quần chúng thừa nhận

Trang 40

Tuân Tử viết: “Đã là nghị luận thì phải đặt ra lòng chính cái đại lòng trong thiên hạ là phong giới của phải trái những chức phận, danh tượng đều do đó mà sinh ra, đấy là vương chế Phàm ngôn, nghi, kỳ, mệnh đều phải lấy bậc thánh vương làm thầy” còn tự ý đặt ra danh khiến dân không hiểu, nghi hoặc thì đấy là làm loạn danh, là đại gian, đại tặc Bởi vậy, giữ cho danh chính, cũng như giữ cho sơn hà, xã tắc ổn định, cũng là mức cùng cực của việc làm chính trị

Có thể nói, sau gần 150 năm kể từ khi Khổng Tử mất, Tuân Tử là người diễn đạt tư tưởng của Nho giáo về chính danh một cách chặt chẽ, mạch lạc nhất Với các tác phẩm của mình, Tuân Tử đã đem lại cho người đời cách hiểu về chính danh không chỉ ở góc độ lý luận mà cả ở góc độ luân lý

Chính danh là nền tảng mà trên đó tư tưởng đức trị và những tư tưởng khác

về xã hội của Nho giáo được hình thành và phát triển Chính danh cũng là cơ sở để định hình những nội dung cơ bản của đạo đức với cá nhân

2.2.2 Đạo đức cá nhân

Đạo đức cá nhân là biểu hiện của đạo đức xã hội trong những cá nhân riêng biệt, cụ thể Nói cụ thể hơn đạo đức cá nhân là sự lĩnh hội, nội tâm hóa các yêu cầu đạo đức xã hội, biếm chúng thành định hướng giá trị trong đời sống cá nhân Do vậy, có thề nói rằng quá trình hình thành đạo đức cá nhân là sự xã hội hóa cá nhân

về mặt đạo đức

Trên cơ sở thấm nhuần quan điểm thiên – nhân tương dữ của người Trung Quốc cổ đại, Nho giáo cho rằng: trời có tứ đức là: nguyên, hanh, lợi, trinh thì người có tứ đoan là nhân, lễ, nghĩa, trí Nhân là đức nguyên, lễ là đức hạnh, nghĩa

là đầu mối, cũng là nghĩa lớn Hanh là thông thái cũng có nghĩa là thuận tiện, lợi có nghĩa là thỏa thích cũng có nghĩa là nên, phải Trinh có nghĩa là chính cũng có nghĩa là bền chặt Nếu nguyên, xét về nghĩa là đầu mối, đứng đầu trong tứ đức của trời thì ứng với nó sẽ là nhân đứng đầu trong tứ đoan của con người Vậy nhân là đức tính cội nguồn, là đức tính bao trùm mọi đức tính khác trong cuộc sống

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w