Đọc văn bản tiếng nước ngoài hiện nay được coi như một phần của đối tượng học tập ngoại ngữ, bởi việc đọc văn bản bằng tiếng nước ngoài giúp tạo điều kiện, không chỉ bảo đảm hình thành b
Trang 1Daydoctnga
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NĂM HỌC 2010-2011
DẠY KỸ NĂNG ĐỌC TIẾNG NGA TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
Ở KHOA NGỮ VĂN NGA
(TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH)
Chủ nhiệm đề tài: TRƯƠNG VĂN VỸ
Năm học 2010-2011
Trang 2MỤC LỤC
DẪN LUẬN 1
Chương I 6
DẠY KỸ NĂNG ĐỌC 6
TRONG GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ 6
1.1 Vai trò của kỹ năng đọc trong giảng dạy ngoại ngữ 6
1.2 Mục đích và chức năng của dạy đọc Những đặc trưng của đọc ngoại ngữ giỏi 8
1.3 Những đặc thù trong dạy kỹ năng Đọc tiếng Nga 12
1.4 Một số nguyên tắc cơ bản trong việc dạy kỹ năng đọc 22
Chương II 26
VĂN BẢN 26
TRONG VIỆC HÌNH THÀNH KỸ NĂNG ĐỌC 26
2.1 Văn bản như một đơn vị lời nói 26
2.2 Các giai đoạn làm việc với văn bản và quá trình hình thành các kỹ thuật lấy thông tin từ văn bản 28
2.3 Các đặc điểm nội dung và cấu trúc của văn bản và cấu tạo lời nói trên văn bản 32
2.4 Những yêu cầu đối với các văn bản giáo khoa 34
2.5 Sử dụng các văn bản “chính gốc” 35
2.6 Các bước tiến hành cho việc đọc một văn bản 37
Chương III 39
DẠY KỸ NĂNG ĐỌC TIẾNG NGA 39
TRONG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ Ở KHOA NGỮ VĂN NGA 39
3.1 Vị trí môn Đọc tiếng Nga trong chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ của Khoa Ngữ văn Nga 39
3.2 Văn bản dạy Đọc tiếng Nga hiện nay ở Khoa Ngữ văn Nga 40
3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong dạy kỹ năng Đọc tiếng Nga hiện nay 45 3.4 Đề xuất một số định hướng trong việc dạy đọc theo Bộ giáo trình “Đọc tiếng Nga” trong đào tạo tín chỉ hiện nay 47
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 3DẪN LUẬN
Đọc là một trong các hình thức của hoạt động lời nói, nhằm lấy được thông tin có trong văn bản viết Mục đích của đọc là mở ra các mối liên hệ ngữ nghĩa, là hiểu thấu ý nghĩa của thông báo lời nói được tiếp nhận bằng thị giác
Đọc bằng ngoại ngữ đang học đã trở thành một bộ phận quan trọng và không thể tách rời của quá trình học ngoại ngữ Tự thân khái niệm “đọc” đòi hỏi một sự tư duy mới, còn hiện thực hóa việc đọc như một phần nội dung học tập ngoại ngữ thì phải phân tích một loạt những vấn đề liên quan đến phương pháp cũng như cách thức tổ chức và thực hiện
Đọc văn bản tiếng nước ngoài hiện nay được coi như một phần của đối tượng học tập ngoại ngữ, bởi việc đọc văn bản bằng tiếng nước ngoài giúp tạo điều kiện, không chỉ bảo đảm hình thành bền vững các loại kỹ năng và năng lực giao tiếp, mà còn giải quyết những nhiệm vụ đòi hỏi bối cảnh nội dung và yêu cầu riêng trong quá trình học tập ngoại ngữ
Đọc bằng ngoại ngữ đang học tạo điều kiện phát triển khẩu ngữ - phát triển
kỹ năng nói, làm giàu và phong phú thêm khối lượng từ vựng, làm quen với nền văn hóa và văn học của đất nước có ngôn ngữ đang học, hiểu biêt thêm nhiều một thế giới mới thông qua ngôn ngữ đang học Đọc còn giúp phát triển khả năng tư duy phân tích
Song để việc đọc trở thành một hoạt động mang tính tạo sinh, cần phải tiến hành làm việc với văn bản, trước khi đọc cũng như sau khi đọc văn bản, từ đó có thể giúp người học hiểu được văn bản và nội dung văn bản và sử dụng được những hiện tượng ngôn ngữ mới xuất hiện trong văn bản
Trang 4Thêm nữa, thầy giáo dạy ngoại ngữ cần phải biết những kiểu bài tập khác nhau khi làm việc với văn bản Đọc và thực hiện các bài tập liên quan đến văn bản giúp sinh viên làm quen với những hiện tượng ngôn ngữ và lời nói mới, làm quen với những sự kiện cuộc sống và văn hóa của đất nước của ngôn ngữ đang nghiên cứu Trong quá trình đọc sinh viên học cách tư duy phê phán, kiểm tra tính chính xác của sự kiện và tính kế tục logic của văn bản, tìm hiểu trong văn bản ngữ cảnh
và các luận chứng cho quan điểm của riêng mình, nghiên cứu lựa chọn các giải pháp khác nhau cho vấn đề liên quan
Học cách đọc phân tích trên văn bản tiếng nước ngoài giúp người học cảm thấy tự tin trong tìm kiếm các kiểu thông tin khác nhau Những sinh viên biết làm việc với các kiểu văn bản khác nhau sẽ biết tương tác tích cực và thích hợp với các nguồn thông tin
Như vậy, tính cấp bách của đề tài nghiên cứu là phải xác định cho rõ ĐỌC
như một hình thức hoạt động lời nói độc lập, văn bản được xem như một đơn vị của lời nói và tầm quan trọng của vấn đề học các phương pháp đọc các văn bản ngoại ngữ Thêm nữa, thực tế vấn đề dạy kỹ năng đọc tiếng Nga trong đào tạo theo
hệ thống tín chỉ ở Khoa Ngữ văn Nga – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh) còn có nhiều bất cập, không đạt hiệu quả cần thiết
Trong nội dung nghiên cứu đề tài, trước khi đi vào tìm hiểu việc dạy môn
Đọc tiếng Nga trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Khoa Ngữ văn Nga – Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh), chúng tôi sẽ đề cập đến các vấn đề liên quan đến đọc như một hình thức hoạt động lời nói độc lập, các phương pháp đọc văn bản ngoại ngữ, học cách làm việc với các kiểu văn bản khác nhau
Trang 5Khách thể nghiên cứu trong đề tài này là học đọc văn bản ngoại ngữ trong
hệ thống giáo dục đại học nói chung, và học đọc văn bản ngoại ngữ bằng tiếng Nga trong đào tạo tiếng Nga ở Khoa Ngữ văn Nga
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài nghiên cứu của chúng tôi là dạy kỹ
năng đọc trong học tập ngoại ngữ nói chung và trong giảng dạy tiếng Nga nói riêng, vấn đề văn bản trong việc hình thành kỹ năng đọc và phát triển các kỹ năng làm việc với văn bản khoa học bằng tiếng nước ngoài và bằng tiếng Nga, và cuối cùng là tìm hiểu việc dạy đọc tiếng Nga hiện nay ở Khoa Ngữ văn Nga
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi là xem xét và phân tích các tài liệu văn
bản cùng hệ thống các bài tập để hình thành kỹ năng đọc, đặc biệt là kiểu đọc phân tích, trong dạy đọc tiếng Nga hiện nay ở Khoa Ngữ văn Nga
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong đề tài là trên cơ sở các tài liệu
được tập hợp và hệ thống hóa, cùng với thực tế giảng dạy tiếng tại Khoa Ngữ văn Nga, chúng tôi tiến hành tổng hợp và phân tích các vấn đề liên quan và phân tích thực trạng việc dạy kỹ năng đọc tiếng Nga ở Khoa Ngữ văn Nga trong đào theo hệ thống tín chỉ hiện nay
Liên quan đến nhiệm vụ trong nghiên cứu đề tài, xuất phát từ mục đích
nói trên, chúng tôi cần phải giải quyết những nhiệm vụ sau:
1 Vai trò của kỹ năng đọc trong giảng dạy ngoại ngữ;
2 Nghiên cứu đọc như một hoạt động lời nói;
3 Xem xét các phương pháp đọc cơ bản các kiểu văn bản bằng tiếng nước ngoài khác nhau;
4 Xác định các tiêu chí lựa chọn văn bản và các giai đoạn làm việc với văn bản;
Trang 65 Dạy kỹ năng đọc tiếng Nga ở Khoa Ngữ văn Nga;
6 Văn bản cho dạy kỹ năng đọc tiếng Nga ở Khoa Ngữ văn Nga
7 Những thuận lợi và khó khăn, cùng những định hướng trong dạy kỹ năng đọc ở Khoa Ngữ văn Nga
Cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi là các công trình
nghiên cứu về phương pháp giảng dạy ngoại ngữ và phương pháp giảng dạy tiếng Nga của các tác giả trong và ngoài nước, của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu hàng đầu về phương pháp giảng dạy và phương pháp giảng dạy ngoại ngữ
Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu là việc giảng dạy tiếng Nga, trong đó
có dạy kỹ năng đọc tiếng Nga hiện nay ở Khoa ngữ văn Nga – Trường Đại học Khoa hoc xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh)
Cấu trúc công trình nghiên cứu của chúng tôi gồm Phần mở đầu, 03
chương chính, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo
Chương đầu trong phần nội dung chính chúng tôi tiến hành tìm hiểu “Dạy
kỹ năng đọc trong học tập ngoại ngữ”, trong đó chúng tôi chỉ ra vai trò quan trọng của đọc trong học ngoại ngữ, nêu lên những đặc thù của đọc như một kỹ năng độc lập trong giảng dạy ngoại ngữ
Chương hai trình bày ngững vấn đề liên quan đến “Văn bản trong giảng dạy
và hình thành kỹ năng đọc ngoại ngữ”, trong đó khẳng định văn bản như một đơn
vị lời nói và nêu lên các giai đoạn làm việc với văn bản và quá trình hình thành các kỹ thuật lấy thông tin từ văn bản
Chương ba trình bày việc “Dạy kỹ năng đọc trong hệ thống đào tạo tín chỉ
ở Khoa Ngữ văn Nga hiện nay”, phân tích các vấn đề liên quan đến việc dạy đọc tiếng Nga hiện nay ở Khoa ngữ văn Nga – Trường Đại học Khoa hoc xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh)
Trang 7Đề tài được xác định là công trình nghiên cứu khoa học cấp trường Hi vọng kết quả của việc nghiên cứu đề tài này sẽ ít nhiều đóng góp trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ nói chung, và đặc biệt là, trong giảng dạy tiếng Nga nói riêng Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp trong và ngoài trường, các em sinh viên trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Trang 8Chương I
DẠY KỸ NĂNG ĐỌC TRONG GIẢNG DẠY NGOẠI NGỮ
1.1 Vai trò của kỹ năng đọc trong giảng dạy ngoại ngữ
Đọc là một trong các hình thức/ dạng của hoạt động lời nói Các hình thức của hoạt động lời nói bao gồm nghe – nói – đọc – viết Đọc là chuyển mã (code) chữ viết qua mã âm thanh, mà được thể hiện hoặc bằng lời nói bên trong (nội tại – đọc thầm), hoặc bằng lời nói bên ngoài (đọc to)
Đặc trưng của đọc là sự hiểu thấu văn bản được tiếp nhận bằng thị giác để giải quyết nhiệm vụ giao tiếp đã được xác định: nhận rõ và tái hiện suy nghĩ của người khác chứa trong văn bản, từ đó người đọc bằng cách nào đó phản ứng lại suy nghĩ này Tiếp đó, nhờ đọc con người hiện thực hóa những khả năng của cái gọi là giao tiếp gián tiếp: sự tiếp thu và hiểu rõ văn bản chứng tỏ sự tác động lẫn nhau của người đọc với tác giả văn bản, các quá trình tư duy phức tạp mà chúng song hành với nhận thức của tác giả văn bản
Tiếp thu văn bản và xử lý tích cực thông tin nhận được từ văn bản là những thành tố quan trọng của đọc Vì vậy, học đọc như một trong số các hình thức của hoạt động lời nói là nhiệm vụ học tập quan trọng nhất mà người thầy dạy ngoại ngữ phải giải quyết trong giờ dạy và học đọc ngoại ngữ
Đọc đóng vai trò rất quan trọng trong học ngoại ngữ, trước đây cũng như hiện nay, và ngày nay còn quan trọng nhiều hơn trước đây Đọc, như mọi người đều biết, là một trong các dạng hoạt động lời nói, mà mỗi người học ngoại ngữ đều cần phải nắm vững Đọc càng trở nên cần thiết khi người học ngoại ngữ ở môi trường ngoài ngôn ngữ như học tiếng Nga ở Việt Nam
Mục đích của học đọc là hình thành các kỹ năng, kỹ xảo, cho phép tiếp nhận và thu nhân nguồn thông tin bằng tiếng Nga và từ tiếng Nga Song, ngoài mục đích quan trọng nêu trên, đọc còn có thể là phương tiện, bởi vì nhờ việc đọc
Trang 9người học có tài liệu, có dữ liệu, có kiến thức để hình thành các kỹ năng trong các lĩnh vực của hoạt động lời nói khác Mức độ hình thành kỹ năng trong lĩnh vực nghe, nói và viết phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hình thành kỹ năng đọc, đặc biệt
là trong học tập ngoại ngữ
Vì vậy, đọc không thể đứng độc lập hay tách rời các hình thức hoạt động lời nói khác Đọc là môi trường giáo khoa tích cực, trên cơ sở đó phát triển các kỹ năng khác như nghe, nói và viết Xác định đúng đắn vai trò của đọc tạo điều kiện tăng cường hóa quá trình học ngoại ngữ và kích thích tính tích cực của người học trong quá trình học ngoại ngữ
Khi phân tích mối liên hệ giữa đọc với các hình thức hoạt động lời nói khác, thì đọc được xem như một hình thức của hoạt động lời nói mà tạo điều kiện phát triển các kỹ năng, kỹ xảo trong nghe, nói và viết Khi đọc sinh viên thường đọc to để có thể kiểm tra được phát âm, trọng âm, ngữ điệu, khả năng diễn cảm Đây chính là mối liên hệ chặt chẽ giữa đọc và nghe, đặc biệt trong giai đoạn đầu khi bắt đầu học ngoại ngữ, vì vậy ở giai đọan này thầy giáo thường yêu câu sinh viên đọc to bằng ngoại ngữ lên là xuất phát từ lý do này Cả thầy giáo và sinh viên cùng tham gia vào sự kiểm tra này và hiệu quả học tập sẽ được tăng lên rõ rệt
Sau khi đọc xong toàn bộ nội dung văn bản, sinh viên có thể kể lại ngắn gọn thông tin vừa đọc dưới hình thức khẩu ngữ - và đây chính là mối liên hệ gắn
bó giữa đọc và nói Đọc xong văn bản và chuyển qua nói sinh viên sẽ phải vận dụng tất cả sự hiểu biết về ngôn ngữ của mình, sử dụng tất cả vốn liếng từ vựng của mình để truyền đạt lại thông tin nhận được từ đọc Nói là một hoạt động có tính tích cực cao nhất trong số các hoạt động lời nói và cũng là hình thức lời nói thể hiện rõ nhất năng lực học tập ngoại ngữ của sinh viên Như vậy, đọc đã có một ích lợi rất to lớn để giúp phát triển kỹ năng nói
Còn viết lại thông tin đã đọc, hay truyền đạt lại thông tin đã đọc dưới dạng viết – thì đó chính là mối quan hệ cũng gắn bó và chặt chẽ giữa đọc và viết Viết đòi hỏi sự hiểu biết về ngôn ngữ ở một trình độ rất cao “Bút sa thì gà chết”, như vậy, khi viết người học ngoại ngữ cũng phải vận dụng tất cả khả năng và sự hiểu
Trang 10biết về ngôn ngữ đang học để viết cho đúng, cho chính xác Đọc góp phần cung cấp thông tin cho người học để tạo nên nội dung trong văn bản viết
Như vậy, đọc đã đồng thời góp phần phát triển tất cả các dạng kỹ năng, kỹ xảo khác nhau trong học ngoại ngữ Trong trường hợp này đọc trở thành yếu tố kích thích để thể hiện ý nghĩ và tư duy cá nhân Đọc đã trở thành một nội dung không thể thiếu được và đóng vai trò quan trọng trong học tập và giảng dạy ngoại ngữ
Hoạt động lời nói là sự thống nhất của hai quá trình – quá trình tạo sinh (продуктивные процессы) và quá trình tạo sẵn (рецептивные процессы) Nói và viết – là những hình thức giao tiếp lời nói tạo sinh, còn đọc và nghe – là những hình thức giao tiếp lời nói tạo sẵn Tất cả các quá trình và các hình thức lời nói này đều nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trong quá trình học ngoại ngữ nói chung, cũng như học tiếng Nga nói riêng, sinh viên không chỉ cần phải biết mối liên hệ này, mà còn phải biết kết hợp chúng lại với nhau Và chỉ khi đó việc học ngoại ngữ và tiếng Nga mới đạt hiệu quả cao nhật và tốt nhất
Như vậy, việc nghiên cứu độc lập các hình thức của hoạt động lời nói, tất nhiên rất cần thiết trong mối tương quan lý thuyết Nó giải thích những sự khác biệt đang tồn tại giữa nhận thức và sự tái hiện của tư duy Song trong quá trình học tập ngoại ngữ, cũng như học tiếng Nga thật khó mà có thể hình dung việc dạy và học đọc lại không có mối liên hệ với nghe, nói và viết
1.2 Mục đích và chức năng của dạy đọc Những đặc trưng của đọc ngoại ngữ giỏi
Mục đích của dạy đọc ngoại ngữ (trong đó có dạy đọc tiếng Nga) là dạy
sinh viên những cách thức hợp lý tiếp nhận và xử lý thông tin chứa trong các loại
văn bản có đặc điểm khác nhau và tùy thuộc vào nội dung và nhiệm vụ giao tiếp
Tiếp theo, trong dạy đọc, người thầy phải nhận thức rõ ràng nhiệm vụ giao tiếp, mà nó sẽ xác định đặc tính tiếp thu văn bản của sinh viên Nhiệm vụ giao tiếp
Trang 11trong trường hợp này được hiểu là xác định việc đọc này được thực hiện với mục đích gì, thông tin được lấy ra từ văn bản sẽ sử dụng ở đâu, khi nào và để làm gì Trong vấn đề này cần phải cân nhắc đến các chức năng, mà chúng vốn dành cho đọc như một hình thức hoạt động lời nói, mà chúng được hiện thực hóa trong quá trình giao tiếp gián tiếp của người đọc với tác giả văn bản
Thông thường người ta hay nói đến 3 chức năng cơ bản của đọc: chức
năng nhận thức, chức năng điều tiết và chức năng định hướng giá trị
Chức năng nhận thức được hiện thực hóa trong quá trình tiếp nhận thông tin về thế giới, con người, các sự kiện, các hiện tượng trong hiện thực Chức năng
này gọi là “đọc để biết”
Chức năng điều tiết hướng đến sự điều khiển hoạt động thực tiễn của người học, đến sự phát triển kinh nghiệm của họ: hành động phù hợp với thông tin nhận được, hoàn thiện kinh nghiệm sống của mình, những kỹ năng cá nhân trong lĩnh
vực này hay lĩnh vực khác Chức năng này gọi là “đọc để biết làm”
Chức năng định hướng giá trị của đọc gắn với phạm vi cảm xúc trong cuộc sống con người Trong trường hợp này diễn ra sự tác động, ảnh hưởng đến cảm xúc, tình cảm của người đọc, từ đó dẫn đến việc hoàn thiện nhân cách con người,
nâng cao trình độ văn hóa của con người Chức năng này gọi là “đọc để thưởng
Tốc độ cao và tính uyển chuyển của đọc là cơ sở hình thành nhiều kỹ năng khác mà cần thiết để thực hiện quá trình đọc Đó là những kỹ năng như kỹ năng tập trung chú ý đến các vấn đề nội dung đã xác định; kỹ năng nhìn thấy trước cái
sẽ được nói tiếp theo trong quá trình đọc; kỹ năng xác định những chỗ then chốt
Trang 12trong văn bản; kỹ năng biết tách ra ý chính trong phát ngôn; kỹ năng phân biệt cái quan trọng từ cái không quan trọng trong thông tin được tiếp nhận; kỹ năng xác định những chi tiết thông tin thừa thãi; kỹ năng đặt câu hỏi trong quá trình tiếp thu văn bản; kỹ năng xác định tính logic, cấu trúc của phát ngôn; kỹ năng biết kết luận
và tạo lập chúng bằng lời nói của chính mình; biết đánh giá có tính phê phán và phản ứng với thông tin nhận được và biết sử dụng chúng trong các tình huống đời sống thích hợp
Người học ngoại ngữ có thể học cách sử dụng nhiều kiểu đọc khác nhau Một số người đọc và hiểu văn bản rất nhanh, trong khi một số khác lại đọc rất chậm và khó khăn để hiểu cái mình đang đọc
Vậy điều gì làm nên một người đọc ngoại ngữ giỏi?
Karl Krahnke – một chuyên gia nghiên cứu phương pháp giảng dạy ngoại ngữ, trong cuốn sách “Principles of Language Instruction” đã đưa ra lời giải thích cho câu hỏi này như sau:
Thứ nhất, người đọc giỏi không đọc từng từ trong văn bản, giống như
người nghe giỏi không cố gắng nghe từng từ một, mà phải biết tập trung vào những từ quan trọng trong văn bản Người đọc giỏi sẽ đọc từng đoạn nhỏ trong văn bản và cố gắng hiểu điều chính yếu từ những đoạn nhỏ này Người đọc giỏi sẽ học cách chú ý vào những từ quan trọng Bằng cách chỉ đọc những từ được coi là quan trọng này anh ta có thể hiểu phấn lớn cả một trích đoạn trong văn bản, và cứ như vậy từng bước đọc nhanh hơn
Thứ hai, người đọc giỏi luôn đọc trong im lặng – đọc thầm, mà không “lẩm
bẩm” các từ trong khi đọc Đọc to hay “lẩm bẩm” như vậy sẽ làm người đọc chậm lại và bắt buộc người đọc phải đọc từng từ, và có thể trên thực tế nó làm người đọc
bị kéo ra khỏi hay bị phân tâm trong việc hiểu trích đoạn đang đọc
Thứ ba, một người đọc giỏi sẽ luôn cố gắng dự đóan cái gì sẽ đến tiếp theo,
cái gì sẽ xảy ra sau đó trong văn bản Nếu người đọc không hiểu cái mà anh ta vừa đọc xong, thì người đó sẽ nhanh chóng và ngay lập tức quay lại đoạn vừa đọc và
Trang 13đọc lại Và như vậy sẽ làm quá trình đọc chậm đi rất nhiều, và như vậy cũng đồng nghĩa với việc mất rất nhiều thời gian đọc, dễ tạo nên sự mệt mỏi và chán nản trong học tập Người đọc giỏi sẽ sử dụng những kiến thức của chính mình để giúp hiểu dược cái anh ta đang đọc Để hiểu được văn bản, người đọc giỏi đầy khôn khéo sẽ nhớ lại những điều anh ta đã biết được liên quan đến chủ đề của văn bản Luôn suy nghĩ về chủ đề văn bản sẽ giúp người đọc hiểu văn bản đầy đủ và kỹ lưỡng hơn
Và cuối cùng, người đọc giỏi sẽ học cách đoán nghĩa của những từ mới Họ
xem xét ngữ cảnh (context) của từ và các tiếp tố (affixes) của từ - tiền tố, trung tố, hậu tố trong cách cấu tạo từ để có thể đoán ra nghĩa của từ mới Bằng cách này người đọc vẫn có thể tiếp tục đọc văn bản, thậm chí ngay cả khi không biết nghĩa của mỗi từ Người đọc giỏi trước hết tập chung vào nghĩa chính, nghĩa tổng quát của từ, sau đó mới đến các nghĩa đặc trưng, các nghĩa riêng biệt Đầu tiên họ cố gắng nắm được ý chính của trích đoạn văn bản Ý chính và những điểm thiết yếu của văn bản quan trọng hơn những từ ngữ và câu nói trong văn bản có tính riêng biệt Người đọc giỏi sẽ sử dụng tất cả các kỹ năng có được khi đọc bằng tiếng mẹ
đẻ Một lẽ tự nhiên là đọc bằng ngoại ngữ thì khó hơn nhiều so với đọc bằng tiếng
mẹ đẻ, song những sinh viên mà đọc bằng ngoại ngữ giỏi nhất định phải biết tận dụng những kỹ năng đọc trong tiếng mẹ đẻ của mình, thậm chí là nếu không biết thì phải tìm cách học thành thạo những kỹ năng đọc trong tiếng mẹ đẻ này
Để có thể trở thành người đọc ngoại ngữ giỏi hãy nghe theo những lời khuyên sau đây:
1 Hãy đọc nhiều giờ – không ít hơn 9 tiếng trong một tuần!
2 Hãy đọc thường xuyên – tốt nhất là đọc mỗi ngày! Trong bất kỳ trường
hợp nào cũng không ít hơn 3 ngày trong một tuần
3 Hãy đọc lâu dài - ở mức độ ít nhất, đọc 2 tháng liên tiếp!
Trang 141.3 Những đặc thù trong dạy kỹ năng Đọc tiếng Nga
1.3.1 Đọc như một hình thức hoạt động lời nói độc lập và như là
phương tiện hình thành các kỹ năng và kỹ xảo ngôn ngữ khác (nghe, nói và viết)
Đọc được xem như một hình thức hoạt động lời nói độc lập trong trường
hợp khi chúng ta đọc để lấy thông tin cần thiết từ văn bản Trong việc này cần phải giải thích rõ là việc nhận thông tin đầy đủ và chính xác có thể rất khác nhau tùy thuộc vào từng tình huống khi chúng ta lấy thông tin
Như vậy, nhiệm vụ dạy đọc như một hình thức hoạt động lời nói độc lập là dạy người học hoặc sinh viên lấy thông tin từ một văn bản với khối lượng cần thiết
để giải quyết một nhiệm vụ lời nói cụ thể, bằng cách sử dụng những kỹ thuật đọc nhất định nào đó
Đọc có thể được xem như là phương tiện hình thành và kiểm tra các kỹ xảo lời nói và các kỹ năng ngôn ngữ khác, bởi vì:
- sử dụng việc đọc cho phép người học tối ưu hóa quá trình nắm bắt
tài liệu ngôn ngữ và lời nói;
- các bài tập định hướng giao tiếp được đưa ra để kiểm tra từ vựng
và ngữ pháp, kiểm tra nghe, viết và nói, và chúng được xây dựng trên cơ sở của các văn bản và chỉ dẫn mà được thể hiện dưới dạng viết hoặc bằng hình thức viết;
- các bài tập hình thành và hoàn thiện tất cả các kỹ năng, kỹ xảo
ngôn ngữ và lời nói cũng được xây dựng dựa vào văn bản và các bài tập thiết kế bằng viết thành văn bản
Khuynh hướng hiện nay trong giảng dạy ngoại ngữ là dành sự chú ý to lớn cho phát triển kỹ năng khẩu ngữ (hay kỹ năng nói) Điều này là hoàn toàn có thể lý giải được, bởi với chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là giao tiếp, biểu hiện đầu tiên của học ngoại ngữ là phải nói ra được Nhưng cũng chính vì thế nhiều
Trang 15giáo viên giảng dạy ngoại ngữ đã vô tình, hoặc không chủ tâm biến toàn bộ giờ học đọc để giải quyết nhiệm vụ phát triển kỹ năng nói này Giờ học đọc trên lớp dường như đã bị mất đi tính độc lập của mình và biến thành một giờ học mang tính của khẩu ngữ, còn tài liệu để đọc đã biến thành tác nhân kích thích cho phát triển kỹ năng nói Đây là một sai lầm to lớn và đang rất phổ biến hiện nay trong cả nhận thức và cả trong quá trình giảng dạy các kỹ năng hoạt động lời nói, trong đó
có cả kỹ năng đọc, của thầy cô giáo dạy ngoại ngữ
Dạy đọc như dạy một quá trình lấy thông tin từ nguồn gốc các văn bản in
ấn đã bị biến đổi bằng cách “điều chỉnh” đọc tài liệu to lên, bằng hình thức làm việc hỏi-đáp, bằng dịch, bằng kể lại, v.v… Đọc đã không được dạy như một hoạt động lời nói, nó luôn bị trượt khỏi tầm mắt, tầm nhìn, tầm quan tâm của giáo viên dạy ngoại ngữ Nói và đọc là hai hình thức khác nhau của hoạt động lời nói Mặc
dù giữa chúng có mối quan hệ lẫn nhau rất chặt chẽ, nhưng chúng cũng có những đặc trưng riêng, đặc thù riêng của mình Đọc là một hình thức hoạt động lời nói có tính độc lập của mình, vì vậy nó cũng có đặc thù riêng của chính mình Thật sẽ không công bằng nếu như dạy khẩu ngữ (dạy nói) chỉ trên cơ sở của những văn bản in ấn, mà không áp dụng nhiều những phương tiện và tài liệu khác có thể khuyến khích phát ngôn, khuyến khích nói, cũng như sẽ không hợp lý và không hiệu quả nếu dạy đọc chỉ trên cơ sở để đọc!
Như vậy, cần phải nhận thức một cách hết sức rõ ràng và đầy đủ, rằng đọc
là một hình thức hoạt động lời nói độc lập, đọc là một môn học hoàn toàn có tính độc lập, giống như nhiều môn học độc lập khác Là môn học độc lập, nên đọc cũng có đối tượng, có nội dung kiến thức, có các đặc thù, đặc trưng, có các phương pháp giảng dạy và học tập riêng biệt của mình Biết rõ điểu này mới thấy được vai trò quan trọng của đọc trong học ngoại ngữ, từ đó mới có thể giảng dạy
và học tập hiệu quả môn học này
Trang 161.3.2 Kỹ thuật đọc Những đặc trưng hình thành kỹ thuật đọc
Dạy đọc được bắt đầu từ việc hình thành kỹ thuật đọc, từ kỹ năng đọc lên văn bản viết bằng chữ, mã hóa các chữ cái, kết hợp các chữ cái, các từ, cụm từ, câu thành các âm thanh tương đương Giai đoạn này thường trùng với việc hình thành các kỹ năng, kỹ xảo đầu tiên ở các hình thức hoạt động lời nói khác
Theo truyền thống, trong phương pháp giảng dạy ngoại ngữ người ta hay nói về việc hình thành các kỹ năng ngôn ngữ và các kỹ xảo lời nói Người ta cho rằng, trong giảng dạy bất kỳ hình thức hoạt động lời nói nào giáo viên cần phải hình thành không chỉ đơn giản các kỹ năng ngôn ngữ, mà còn là các kỹ xảo lời nói, được xác định bởi chương trình học tập cụ thể và phù hợp với các yêu cầu giáo dục thực tế và phát triển nhân cách Trong vấn đề này, như đã từng được đề cập, còn lâu mỗi người dạy mới có thể nắm được toàn bộ tổ hợp các kỹ xảo lời nói Bất kỳ một kỹ xảo lời nói nào cũng phải có được những kỹ năng nhất định, tức là những hành động mà con người thực hiện hoàn toàn tự động, không cần phải suy nghĩ xem là cần phải làm như thế nào và làm cái gì
Nếu nói về đọc, thì đối với các kỹ xảo lời nói trong trường hợp này có thể
có liên quan với việc nắm vững các công nghệ lấy thông tin khác nhau từ văn bản, việc sử dụng thích hợp chúng (các công nghệ này) tùy thuộc vào nhiệm vụ đặt ra Tuy nhiên, trên cơ sở của tất cả các kỹ xảo này đó chính là kỹ thuật đọc Nếu không hình thành kỹ thuật đọc ở mức độ tương đối, thì không thể đạt được mức độ
tự động hóa của kỹ năng này, và như thế tất cả các công nghệ và các kiểu đọc đều
sẽ bị đe dọa
Người ta nói về đọc như nói về sự thống nhất của bình diện nội dung và bình diện quy trình Bởi vì kỹ năng ngôn ngữ là cái có trước, còn kỹ xảo lời nói là cái có sau, nên rõ ràng là khi dạy đọc thì đầu tiên phải là hình thành kỹ thuật đọc, tức là bình diện quy trình
Trang 17Người học có thể không cần biết cái gì là cơ sở của kỹ năng này hay kỹ năng khác, nhưng thầy giáo hoàn toàn cần thiết phải hiểu điều này để lựa chọn con đường tối ưu nhất đạt được những nhiệm vụ giảng dạy thực tiễn đặt ra
Sự hình thành kỹ thuật đọc trước tiên gắn với việc nắm vững bảng chữ cái
và các quy tắc đọc Các quy luật của sự tương ứng chữ viết và âm thanh được người học nắm bắt tùy theo mức độ làm quen với các từ vựng tương ứng, bởi vì mỗi quy tắc cần phải được chứng minh bằng một số lượng các ví dụ về từ vựng đầy đủ và thích hợp
Trên cơ sở hình thành kỹ thuật đọc có những thao tác sau đây:
- thao tác thứ nhất, mối liên quan giữa hình dung thị giác/ chữ viết
của đơn vị lời nói với hình dung dòng ngữ lưu thính giác (1);
- thao tác thứ hai, mối liên quan giữa hình dung dòng ngữ lưu thính
giác của đơn vị lời nói với ý nghĩa của chúng (2)
Đơn vị lời nói có thể là một từ, một hệ hình (câu), và cả một đoạn văn Người ta đã phân ra 3 thành tố cơ bản của kỹ thuật đọc:
1 Hình dung thị giác của đơn vị lời nói
2 Hình dung dòng ngữ lưu của đơn vị lời nói
Nhiệm vụ của thầy giáo khi hình thành kỹ thuật đọc bao gồm những yếu tố sau:
1 càng nhanh càng tốt bỏ qua giai đoạn trung gian lẩm bẩm này và
thiết lập sự tương ứng trực tiếp giữa hình dung chữ viết của đơn
vị lời nói với ý nghĩa của nó
Trang 182 tăng liên tiếp đơn vị văn bản tiếp nhận và đạt tới mức tối thiểu là
từ và ngữ pháp của ngoại ngữ, ghi nhớ cách viết các từ, ý nghĩa của từ, cụm từ, và như vậy, hoàn thiện kiến thức của mình về ngoại ngữ đang học Vì vậy, đọc vừa là mục đích cuối cùng, vừa là phương tiện để đạt mục đích này
Để hình thành kỹ thuật đọc thường người ta hay sử dụng các bài tập sau đây:
đọc lên các từ, các âm tiết, các câu;
đọc to các các câu có các cấu trúc ngữ điệu khác nhau;
thầy giáo giơ lên vài giây một tấm bìa khổ lớn mà trên đó có viết các
từ, kết hợp từ, các câu cho sinh viên đọc;
đọc các câu với số lượng các từ tăng dần, sau đó nhắc lại chúng mà không nhìn vào văn bản;
đọc và nhắc lại với số lượng các câu được tăng dần mà không nhìn vào văn bản;
đọc diễn cảm, đọc thuộc lòng các bài thơ hoặc các trích đoạn văn học;
đọc thầm văn bản với một khoảng thời gian giới hạn
Một cách hợp lý là xem đọc như một hình thức hoạt động độc lập, mà trong
đó đọc “thầm” với mục đích lấy thông tin chính từ các văn bản được đọc chiếm
Trang 19một vị trí đặc biệt Trong dạy đọc cần phải biết sử dụng cả những cơ chế của nó, bởi vì việc hiểu văn bản được đọc phụ thuộc vào điều này Thuộc vào các cơ chế
cơ bản của đọc là sự phán đoán ngôn ngữ, dự đoán điều có thể xảy ra, tăng tốc độ đọc, tái hiện văn bản ở dạng nói và viết với sự đánh giá sau đó thông tin nhận được Trong việc đọc văn bản và lấy thông tin chính và cần thiết sinh viên đụng chạm đến hàng loạt các khó khăn Nhiệm vụ của thầy giáo là phối hợp hoạt động của các sinh viên và kéo dần họ đến việc đọc, gần giống như đọc tiếng mẹ đẻ Với mục đích này người thầy cần phải phối hợp rõ ràng công việc của người học và đề xuất cho họ sự chỉ dẫn của mình để có thể làm nhẹ đi việc hiểu tổng thể văn bản
Chỉ dẫn đề xuất sau đây có thể coi như một ví dụ:
1 Đọc tựa đề và cố gắng theo tựa đề này xác định ý chính của văn
bản
2 Nghiên cứu kỹ các bài tập trước và sau khi đọc để có thể giúp
hiểu được nội dung
3 Đọc lướt qua toàn bộ bài khóa, không cần để ý đến các từ mới và
những khó khăn ngôn ngữ khác Cố gắng hình dung nội dung của bài đọc
4 Đọc lại bài khóa, tránh dùng từ điển để tìm nghĩa của mỗi từ mới
5 Hãy cố gắng đoán nghĩa của từ mới theo ngữ cảnh hoặc (nếu có
thể) theo các quy tắc cấu tạo từ
6 Chỉ dùng đến từ điển trong trường hợp khi từ mới có thể giúp
hiểu được ý chung của toàn bài
7 Hình dung trong đầu nội dung chung của bài đã đọc Tách ra cho
mình thông tin mà bạn vừa lấy từ bài đọc
8 Cố gắng hình dung “bài đọc” riêng của mình được xây dựng trên
cơ sở những thông tin nhận được Hãy xem tương quan bài đọc của bạn với những kiến thức mà bạn có và hãy nhận xét cho mình những kiến thức mới có thêm
Trang 209 Hãy chú ý đến những chỗ khó trong bài đọc và các từ mới và cố
gắng xác định xem chúng có những nghĩa chính để hiểu chung ý nghĩa toàn bài (nhiệm vụ này có thể được thực hiện trong trường hợp nếu như người học đã bỏ qua những chi tiết quan trọng của bài đọc hoặc là đã nhận được những thông tin thú vị và cần thiết trong một khối lượng không đầy đủ)
1.3.3 Các kiểu đọc văn bản
Hiện nay trong giảng dạy ngoại ngữ đang tồn tại rất nhiều cách phân loại các hình thức (kiểu) đọc khác nhau Mỗi kiểu đọc như vậy lại có các nguyên tắc khác nhau Tồn tại nhiểu kiểu đọc như vậy là do trong quá trình đọc phải giải quyết nhiều nhiệm vụ giao tiếp khác nhau
Ví dụ như, một số tác giả phân chia đọc thành các kiểu dựa trên cơ sở những đặc trưng tâm lý của việc tiếp nhận chúng: đọc dịch – đọc không dịch, đọc phân tích – đọc tổng hợp Một số tác giả khác lại phân chia các kiểu đọc dựa trên những điều kiện thực hiện chúng: tự mình đọc hay không tự mình đọc, đọc có chuẩn bị - đọc không chuẩn bị Còn dựa trên sự phong phú của tài liệu đọc người
ta chia thành đọc quảng canh hay đọc tăng cường
Các nhà phương pháp giảng dạy ngoại ngữ Xô-viết thường chia thành các
kiểu đọc sau: - Đọc phân tích; - Đọc nghiên cứu; - Đọc lướt qua; - Đọc tìm kiếm; -
nội dung, mà còn cả ý nghĩa của nó
Trang 21Nhiều nhà nghiên cứu phương pháp cho rằng, đó chỉ là những mục đích khác nhau của đọc Cũng có ý kiến cho rằng, không nên phân chia qúa nhiều kiểu đọc thu nhận thông tin như vậy, và chỉ cần chia thành kiểu đọc nghiên cứu và kiểu đọc tìm kiếm là đủ
Đọc tổng hợp là kiểu đọc mà sự chú ý của người đọc chủ yếu là tập trung
vào nội dung, thêm nữa, nội dung này được tiếp nhận một cách tổng hợp hóa và nhanh chóng
Đọc phân tích là kiểu đọc mà sự chú ý của người đọc bị ngắt từng đoạn
theo bố cục ngôn ngữ của văn bản, từ lý do đó kiểu đọc này diễn ra rất chậm chạp
Đọc tổng hợp giúp dạy đọc hiểu những bài khóa đơn giản, không cần áp dụng phân tích hay dịch giải Còn đọc phân tích là phương tiện giúp đọc hiểu những bài khóa phức tạp hơn, bao gồm trong đó những khó khăn ngôn ngữ mà chỉ
có thể vượt qua được nhờ đọc và dịch
Trước đây người ta cho rằng, bắt đầu học đọc cần học cách đọc phân tích,
và cho nó là cơ sở cho đọc tổng hợp Nhưng quan điểm như vậy không được hưởng ứng do không đạt hiệu quả cao, bởi trong trường hợp này người học không thể học đọc mà không có từ điển, không tin vào kiến thức của mình, dịch ngay toàn bộ bài đọc, thậm chí cả những câu đơn giản mà không biết sử dụng những phán đoán ngôn ngữ
Bắt đầu dạy đọc bằng đọc tổng hợp hóa ra hiệu quả hơn, bởi vì người học nắm được kỹ năng hiểu từng đoạn của bài khóa, tránh dùng đến từ điển, và như vậy việc đọc những bài khóa phức tạp hơn sẽ diễn ra bình thường, không cần phải dịch giải đầy khổ sở Tài liệu ngôn ngữ xa lạ có thể gặp cả trong quá trình đọc tổng hợp mà không hề cản trở sự hiểu Tiền đề cho việc hiểu trong trường hợp này được bảo đảm như sau:
1 Việc nắm vững ngôn ngữ tối thiểu chắc chắn sẽ làm số lượng từ mới
ít ỏi nhanh chóng nhập vào số lượng từ vựng quen biết
2 Biết phân biệt những từ mới và hiểu chúng hoặc là trên cơ sở ngữ cảnh, hoặc là trên cơ sở phân tích cấu tạo từ
Trang 223 Biết bỏ qua những đoạn đọc ít quan trọng cho việc hiểu nội dung bài khóa
Tuy nhiên ở giai đoạn đầu cần tiến hành dần dần việc đọc với các yếu tố phân tích Với mục đích này có thể đưa vào trong các bài đọc những từ mới nào
đó Khối lượng từ mới trong các văn bản đọc phân tích chiếm khoảng 2% so với từ mới
Không nên cho rằng sự phân tích xuất hiện chỉ khi có các từ mới Nó có thể xuất hiện cả trong việc hiểu bài khóa mà không cần phải dịch giải, ví dụ như khi tiến hành việc phân chia những đặc trưng ngôn ngữ nào đó của bài khóa hay nội dung của nó Việc tiếp nhận phân tích có thể xuất hiện liên quan với cả việc đọc sơ
bộ văn bản
Dấu hiệu quan trọng của đọc phân tích là sự có mặt của mục đích phân tích trong suốt quá trình đọc, tức là có sự tiếp nhận chi tiết hóa Trong quá trình đọc với các yếu tố phân tích sinh viên học cách vượt qua những trở ngại ngôn ngữ, và như vậy, sẽ nắm được nội dung văn bản Mối quan hệ qua lại giữa đọc tổng hợp và đọc phân tích như sợi chỉ đỏ diễn ra suốt tất cả các giai đoạn của đọc phân tích Sự phân tích không bao giờ tồn tại tách biệt khỏi sự tổng hợp
Thực chất chúng ta thường đụng chạm đến đọc tổng hợp hơn, bởi vì quá trình đọc diễn ra qua 3 giai đoạn tiếp nhận: tổng hợp lấn thứ nhất, phân tích và tổng hợp lần thứ hai Người học đọc bài khóa mới, dựa vào tài liệu ngôn ngữ đã biết làm sáng tỏ ý nghĩa chung của bài khóa Sau đó họ phân tích những đơn vị ngôn ngữ chưa quen biết, và sau đó lại diễn ra việc đọc tổng hợp, bởi vì kết quả của sự phân tích đã tạo các tiền đề cho việc hiểu trực tiếp điều đang đọc Sự hiểu ở cấp độ này, một lẽ đương nhiên, sẽ sâu hơn và chính xác hơn nhờ sự phân tích
Hiện nay, người ta thường hay nói đến 3 kiểu đọc đang rất phổ biến Đó là
đọc nghiên cứu, đọc tìm hiểu và đọc lướt qua Trong phương pháp giảng dạy ngoại
ngữ hiện nay vẫn còn đang tranh cãi về việc bắt đầu dạy đọc theo kiểu nào trước, đọc nghiên cứu hay đọc tìm hiểu Quan điểm được nhiều người chấp nhận hơn cả
Trang 23đó là dạy song song cả hai kiểu đọc trên, nhưng ở giai đoạn đầu nên đọc kiểu nghiên cứu trước
Đọc nghiên cứu đòi hỏi sự hiểu biết chính xác và đầy đủ tới mức tối đa
thông tin có trong văn bản và sự tái hiện thông tin tương ứng trong các mục đích học tập khác nhau Và như vậy, người đọc cần phải nắm được toàn bộ nội dung văn bản thật đầy đủ, hiểu thấu ý nghĩa của từng từ tạo nên văn bản
Để tiến hành việc đọc nghiên cứu cần phải chọn những văn bản mà khối của chúng nhỏ hơn nhiều so với văn bản đọc tìm hiểu, và nên sử dụng các văn bản dạng miêu tả Độ thông tin trong các văn bản này phải rất cao và người đọc phải hướng tới tiếp thu chính xác và đầy đủ ở mức độ tối đa thông tin có trong văn bản Trong các văn bản đọc nghiên cứu không nên có các cấu trúc ngữ pháp xa lạ với người học Số lượng từ mới có thể nhiều hơn kiểu đọc tìm hiểu, và sinh viên có thể sử dụng từ điển để tra cứu, song cũng không nên quá nhiều so với trình độ của sinh viên
Đọc tìm hiểu được sử dụng tới nếu như người đọc đặt nhiệm vụ tìm ý
chính trong văn bản, làm rõ cái gì được thông báo trong vấn đề đang được quan tâm, hoặc là nắm được nội dung từng phần của văn bản ở dạng chung nhất
Đọc tìm hiểu có thể sử dụng những văn bản có độ dài tương đối lớn Thích hợp hơn cả cho kiểu đọc này là các văn bản tường thuật, có chủ đề Độ thông tin trong các văn bản không cần cao lắm, có thể cho phép bỏ qua các thông tin phụ
Cứ liệu ngôn ngữ không nên quá phức tạp Từ mới không quá 5-7 từ trên một trang và không ảnh hưởng đếnthông tin chính của văn bản
Đọc lướt qua được dùng để đọc văn bản nếu như người đọc đặt ra nhiệm
vụ nhận biết sự hình dung chung nhất về nội dung văn bản, hiểu những nét chung nhất của văn bản được đọc
Đọc lướt qua đòi hỏi người đọc có nhiều kinh nghiệm đọc và nắm vững khối lượng lớn cứ liệu ngôn ngữ Vì vậy kiểu đọc này ít khi dạy trong các giai đoạn đầu Ngay từ những bước ban đầu trong việc dạy đọc kiểu này, người học cần quen dần đến khả năng đọc văn bản với các kiểu khác nhau, học cách áp dụng
Trang 24các phương thức mà thích hợp với các mục đích đọc khác nhau Chỉ có đọc theo kiểu này mới giúp tiết kiệm chi phí sức lực và thời gian, và mang đến cho người đọc sự thỏa mãn, hài lòng
Như vậy, khi đọc văn bản người học cần biết, anh ta đọc với mục đích gì,
và nhận thức được những mục đích và nhiệm vụ này, anh ta sẽ đọc được văn bản khi sử dụng những cách thức của một trong các kiểu đọc trên
1.4 Một số nguyên tắc cơ bản trong việc dạy kỹ năng đọc
Đọc, cũng giống như nghe, là một kỹ năng mang tính tiếp nhận Chúng ta nghe một ngôn ngữ được nói hoàn thiện trên truyền hình, truyền thanh, qua điện thoại hay một cuộc đối thoại trực tiếp Khi chúng ta đọc chúng ta cũng có thể hiểu ngôn ngữ được viết trong sách, trong các bản ký hiệu, trong thư từ và nhiều thứ khác nữa Bởi vì đây là kỹ năng mang tính tiếp nhận, đọc cũng có nhiều đặc điểm giống như nghe
Trong việc dạy kỹ năng đọc trong học ngoại ngữ thường người ta hay đề cập đến các nguyên tắc cơ bản sau đây:
1 Khi dạy đọc văn bản, sẽ rất có lợi khi thông báo mục đích đối với văn bản sẽ được đọc Hãy nói cho sinh viên biết, chúng ta đọc văn bản này để làm gì Đọc lướt qua để tìm ý chính? Liếc nhanh tìm thông tin đặc trưng? Hay đọc để phê phán? Mục đích của nhiệm vụ đọc nên thông báo cho sinh viên trước khi tiến hành đọc vào văn bản
2 Chuẩn bị cho sinh viên đến việc đọc bằng cách giới thiệu chủ đề của đọan văn bản sẽ đọc Nếu văn bản nói về du lịch, hãy cho sinh viên thảo luận về họ đã đi du lịch ở đâu, hoặc người ta thường đi du lịch bằng phương tiện gì: bằng ngựa, xe hơi, máy bay hay tàu thủy, v.v… Nếu chủ đề văn bản quá khó thì phải cung cấp cho họ những thông
Trang 25tin nền tảng Có như vậy, khi sinh viên chuẩn bị đọc họ sẽ tập trung vào văn bản tốt hơn và sẽ hiểu văn bản được đọc nhiều hơn
3 Trước khi sinh viên đọc văn bản, hãy cho họ đọc những câu hỏi về văn bản trước tiên, để giúp họ tập trung vào ý nghĩa nội dung văn bản Nếu văn bản không có câu hỏi đi kèm, hãy đặt một hay hai câu hỏi mà giúp sinh viên tập trung hơn vào văn bản trước khi đọc Sẽ giúp được sinh viên rất nhiều nếu như bắt họ trả lời các câu hỏi này trước khi đọc văn bản
4 Không dạy trước và giải thích từ vựng trong văn bản, trừ trường hợp thật cần thiết Một trong những kỹ năng mà người đọc cần phải học
là đoán nghĩa của những từ mới Nếu tất cả các từ được giảng giải trước, điều đó sẽ làm sinh viên mất khả năng phán đoán từ dựa trên ngữ cảnh Thêm nữa, dạy ngay một loạt từ vựng có thể làm cho sinh viên vừa chán, vừa không hiệu quả Thay vì dạy trước các từ, hãy bày cho sinh viên những kỹ năng mà có thể giúp sinh viên phán đoán từ một cách trí tuệ và thông minh Sau đó, nếu sinh viên vẫn không hiểu sau khi đã đọc văn bản, thầy giáo có thể giải thích nghĩa của những từ mà sinh viên cần phải biết trong tương lai Nếu một từ
mà hiếm khi dùng thì không cần thiết phải giải thích nghĩa của nó
5 Hãy yêu cầu sinh viên đọc thầm mà không nên lẩm bẩm hay nhấp nháy đôi môi đánh vần các từ Điều này sẽ giúp họ đọc nhanh hơn và tập trung hơn đến các từ quan trọng Thêm nữa, đọc to chỉ là một dạng luyện nói bài tập cho phát âm Người học có thể đọc to và không hiểu được điều mà họ đang đọc Đọc thầm giúp họ chú ý nhiều đến nghĩa hơn là hình thức của từ hay của âm
6 Hãy chỉ thảo luận những từ khó sau khi đọc xong văn bản Nếu sinh viên không thể hiểu một số từ nhất định nào đó bằng cách phán đoán nghĩa của từ thông qua ngữ cảnh, thì thầy giáo hãy giúp họ bằng cách giải thích nghĩa thông qua định nghĩa hoặc là đưa ra ví dụ
Trang 267 Khi thảo luận trả lời các câu hỏi đọc hiểu hãy đảm bảo việc thường xuyên quay trở lại văn bản Điều này giúp sinh viên thực hành bằng cách tự mình tìm kiếm trong văn bản những câu trả lời thích hợp Nếu thầy giáo cứ luôn luôn nói câu trả lời, thì sinh viên có thể hình thành thói quen phủ nhận hay bác bỏ cái họ đang đọc, từ đó tạo cho
họ tính thụ động và ỷ lại, chờ đợi câu trả lời của thầy giáo
8 Cuối cùng, hãy nhớ chú ý đến việc phát triển các kỹ năng của người đọc Mục đích của dạy đọc không chỉ giúp sinh viên hiểu được văn bản trong ngày học hôm nay, mà còn phải giúp họ tự mình đọc sao cho đạt hiệu quả, đọc cho chính bản thân mình và công việc trong tương lai Để làm điều này, người đọc-sinh viên cần phải phát triển nhiều kỹ năng đọc cụ thể như đọc lướt, đọc liếc qua, đọc dự đoán, phán đoán nghĩa từ ngữ cảnh, và đọc để hiểu tổng thể
Một lý do khác mà các kỹ năng đọc khác nhau trở nên quan trọng là bởi vì không phải tất cả các văn bản đọc đều gống nhau Mỗi kiểu văn bản sẽ có kỹ năng đọc khác nhau Ví dụ như, khi đọc báo chí hay các văn bản quảng cáo thì cần đến
kỹ năng đọc lướt để tìm những thông tin chính hay hay những sản phẩm mình đang quan tâm, còn đọc từ điển, lịch tàu chạy hay xem các bản đồ chỉ dẫn thì cần đọc liếc nhanh để tìm những từ riêng biệt, những chuyến đi cho mình hay tìm những chốn, những nơi mà mình cần đến Đọc các chỉ dẫn hay hướng dẫn, thì cần
kỹ năng đọc hiểu tổng thể, còn đọc quảng cáo thì cần kỹ năng đọc dự đoán những giá cả hay hàng hóa thích hợp
Trang 27Kết luận Chương I
1 Đọc được coi như hình thức hoạt động lời nói độc lập và như là phương tiện hình thành và kiểm tra các kỹ năng, kỹ xảo lời nói khác (nghe, nói và viết) Đọc là một trong những kỹ năng ngôn ngữ quan trọng nhất mà người học phải nắm vững trong quá trình học ngoại ngữ
2 Trong số các kiểu đọc cơ bản có đọc tổng hợp và đọc phân tích Đọc tổng hợp giúp đọc hiểu những văn bản đơn giản, không cần sự phân tích và dịch giải Đọc phân tích là phương tiện giúp hiểu những văn bản phức tạp hơn, bao gồm những khó khăn mà có thể vượt qua được phải nhờ đến đọc và dịch giải
3 Dấu hiệu quan trọng của đọc phân tích là tồn tại mục đích phân tích trong suốt quá trình đọc, tức là có sự tiếp nhận chi tiết hóa Trong quá trình đọc với các yếu tố phân tích sinh viên học cách vượt qua những trở ngại ngôn ngữ, và như vậy, sẽ nắm được nội dung văn bản
4 Một người đọc giỏi là người, thứ nhất, không đọc từng từ trong văn bản mà phải biết tập trung vào những từ quan trọng; thứ hai, phải biết đọc thầm mà không “lẩm bẩm” từng chữ một; thứ ba, phải biết dự đoán cái gì sẽ xảy ra tiếp theo trong văn bản; và cuối cùng, phải biết đoán nghĩa của từ mới, dựa trên ngữ cảnh và phân tích cấu tạo từ
5 Các nguyên tắc cơ bản trong dạy kỹ năng đọc bao gồm việc thông báo mục đích đọc, giới thiệu chủ đề đọc, đọc trước câu hỏi liên quan đến văn bản, không dạy và giải thích trước nghĩa của từ, biết cách đọc thầm, chỉ giải thích từ sau khi đọc văn bản và chú ý phát triển các kỹ năng đọc
Trang 28Chương II
VĂN BẢN TRONG VIỆC HÌNH THÀNH KỸ NĂNG ĐỌC
2.1 Văn bản như một đơn vị lời nói
Nói đến đọc và học đọc không thể không đề cập đến vấn đề văn bản Hay nói cách khác, thiếu văn bản chúng ta không thể tiến hành việc giảng dạy cũng như học đọc – một môn học cụ thể, và trong học tập ngoại ngữ nói chung
Học ngoại ngữ là đồng nghĩa tiếp xúc với văn bản – là các bài đọc với các quy mô lớn nhỏ khác nhau Bài đọc đóng vai trò quan trọng trong quá trình học,
nó giúp người học làm quen với cuộc sống của người bản ngữ, với lịch sử, truyền thống và văn hóa của nước có ngôn ngữ mà chúng ta đang học, nghĩa là cung cấp những thông tin về đất nước học Trên cơ sở bài đọc, từ vựng, ngữ pháp cần thiết cho người học được đưa vào để tạo dựng nền tảng mang tính định hướng cho hoạt động lời nói Các bài đọc còn là cơ sở để phát triển một cách toàn diện và tổng thể các kỹ năng hoạt động lời nói là nghe-nói-đọc-viết
Văn bản (text) là trình tự của những phát ngôn được kết nối bằng mối liên
kết ngữ nghĩa, mà những đặc tính cơ bản của nó là tính độc lập, tính mục đích,
tính mạch lạc và tính thống nhất
Tính độc lập của văn bản gắn liền với giới hạn của nó trong không gian và
thời gian và phụ thuộc vào một tác giả Tính độc lập của văn bản không phải là tuyệt đối, bởi vì văn bản trong thực tế thực hiện được chức năng của mình chỉ trong mối quan hệ qua lại với người tiếp nhận nó Một phần văn bản (đặc biệt của các văn bản lớn) có thể có tính độc lập chỉ trong những điều kiện nhất định trở thành một văn bản riêng biệt, ví dụ như một chương hay một mục của một chuyên khảo mà công bố dưới dạng bài báo Trong trường hợp này văn bản xuất phát của chương (hay mục) có thể có vài sự thay đổi trong cấu trúc
Trang 29Tính mục đích của văn bản thể hiện qua việc bất kỳ văn bản nào cũng
nhằm đến một mục đích giao tiếp nhất định Thiếu mục đích này sẽ không có văn bản nào được tạo lập
Tính mạch lạc của văn bản thể hiện trong sự hòa hợp về ngữ nghĩa và sự
hợp lý (logic) của các phát ngôn và các phần của văn bản
Tính thống nhất của văn bản thể hiện trong văn bản cần có tổ chức nội tại
và bố cục nội dung, cũng như sự trình bày bắt đầu và kết thúc của tác phẩm, sự cân đối trong việc phân chia các đoạn, sự thể hiện các mối liên hệ và sự chuyển tiếp giữa các đoạn, tính thông nhất về phong cách, việc sử dụng các nguyên tắc lựa chọn các đơn vị ngôn ngữ nhất định
Thường người ta chia ra 3 kiểu (types/ типы) văn bản:
Miêu tả;
Tường thuật;
Nghị luận
Miêu tả - đó là lời nói xác nhận, thường tạo một bức tranh tĩnh, cho khái
niệm về thành phần và các đặc điểm của đối tượng bằng cách liệt kê các dấu hiệu của chúng Trong miêu tả đối tượng, hiện tượng không được phát triển, ví dụ như miêu tả nơi phạm tội trong lời nói của tòa án
Tường thuật – đó là kể về các sự kiện, các hành động và tình trạng đang
phát triển Tường thuật phản ánh các tình huống động
Nghị luận – đó là kiểu văn bản, trong đó nghiên cứu các đối tượng hay các
hiện tượng, mở ra, khám phá các dấu hiệu bên trong của chúng, chứng minh một vài tình huống
Văn bản có các thể loại (жанры) sau:
Văn bản mệnh lệnh;
Văn bản hồi tưởng;
Văn bản đánh giá;