ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN PHƯỢNG QUYÊN ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN PHƯỢNG QUYÊN
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
GIAI ĐOẠN 1996 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
TP Hồ Chí Minh, 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN PHƯỢNG QUYÊN
ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
GIAI ĐOẠN 1996 - 2010
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 602256
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THÙY DƯƠNG
TP Hồ Chí Minh, 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Những đánh giá, nhận định trong luận văn do cá nhân tôi nghiên cứu dựa trên những tư liệu xác thực
Tác giả
Trần Phượng Quyên
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
7 Kết cấu của đề tài 10
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NHỮNG LỢI THẾ, TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH VĨNH LONG 1.1 Lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 11
1.1.1 Quan niệm và những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp 11
1.1.2 Yêu cầu khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp 11
1.1.3 Nội dung và điều kiện tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp16 1.2 Đặc điểm lịch sử, địa lý tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long 18
1.2.1 Đặc điểm lịch sử, địa lý tự nhiên 19
1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội 26
1.3 Những lợi thế, tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long32 1.3.1 Những lợi thế về điều kiện tự nhiên 32
1.3.2 Lợi thế về nguồn nhân lực 38
1.3.3 Kinh nghiệm và sự sáng tạo trong sản xuất nông nghiệp 41
Trang 51.3.4 Vị trí, vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế của tỉnh 44 Tiểu kết chương 1 48
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG GIAI ĐOẠN 1996 – 2010
2.1 Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long đối với kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1986 – 1995 50
2.1.1 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1986 – 1995 50 2.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 1986 – 1995 53 2.1.3 Thực trạng nền kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 1986 – 1995 55
2.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1996 đến năm 2010 63
2.2.1 Chủ trương, đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1996 – 2010 63 2.2.2 Chủ trương, đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 1996 – 2010 67 2.2.3 Quá trình triển khai và kết quả thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 1996 – 2010 71 Tiểu kết chương 2 102
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1996 – 2010
3.1 Đánh giá chung 103
Trang 63.1.1 Về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh 103
3.1.2 Thành tựu và nguyên nhân thành tựu 104
3.1.3 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 115
3.2 Những kinh nghiệm rút ra từ sự lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 1996 – 2010 126
3.2.1 Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương một cách năng động, sáng tạo 126
3.2.2 Huy động và khai thác mọi nguồn lực để phát triển nông nghiệp 127
3.2.3 Tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả 129
3.2.4 Khai thác và phát huy truyền thống đoàn kết, lao động sáng tạo, tính nhạy bén với thị trường của nhân dân 129
Tiểu kết chương 3 132
PHẦN KẾT LUẬN 134
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ cấu kinh tế quốc dân của hầu hết các quốc gia trên thế giới, nông nghiệp luôn chiếm một vị trí quan trọng, và thực tiễn đã chứng minh rằng nếu không có một nền nông nghiệp phát triển bền vững, hiện đại làm nền tảng thì kinh
tế - xã hội sẽ gặp không ít khó khăn, trở ngại trong việc phát triển Đối với Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 80% dân số sống bằng nghề nông, do vậy, nông nghiệp càng có vị trí đặc biệt quan trọng hơn Trước yêu cầu phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa “ để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại ”[45, tr.169] nên đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là một yêu cầu tất yếu nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững
Vĩnh Long là một trong 13 tỉnh, thành thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, vì vậy, nông nghiệp đã, đang và sẽ còn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của tỉnh Trước năm 1996, khi chưa có chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, kinh
tế nông nghiệp ở Vĩnh Long mặc dù lạc hậu, nhỏ bé nhưng đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển, ổn định của địa phương và cả nước Tuy nhiên trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Long mà đa phần là kinh tế tiểu nông đã bộc lộ những yếu kém, cản ngại đối với sự phát triển Chính vì vậy, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là xu hướng phát triển tất yếu, là giải pháp cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương này
Thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp theo chủ trương chung của Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới sự lãnh, chỉ đạo cụ thể, sâu sát của Đảng bộ, Chính quyền địa phương, kinh tế nông nghiệp Vĩnh Long đã có những bước phát triển khả quan, từ một nền nông nghiệp thuần nông, độc canh cây lúa đã vươn lên phát triển đồng bộ, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại phát triển nhanh, khoa học kỹ thuật ứng
Trang 8dụng rộng rãi trong sản xuất, cơ giới hóa, thủy lợi hóa được tăng cường, công nghiệp chế biến nông, thủy sản phát triển, cơ sở vật chất hạ tầng được đầu tư xây dựng, thu nhập và đời sống nông dân được cải thiện rõ nét
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp như hiện nay, có những tỉnh đã triển khai thực hiện thành công và mang lại hiệu quả cao, có những tỉnh mới bắt đầu tiến hành, lại có những tỉnh vẫn đang loay hoay với việc thích ứng và tìm ra giải pháp, thì một tỉnh thuần nông như Vĩnh Long đã chuyển đổi thành công là một bài học có giá trị, là một điển hình tiêu biểu trong việc vận dụng chủ trương, đường lối của Trung ương vào địa phương một cách phù hợp, sáng tạo, đưa nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu của tỉnh vươn lên phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ những kết quả đã đạt được trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương, công tác nghiên cứu để đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế, tổng kết để tìm ra những kinh nghiệm thành công trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng, góp cơ sở cho công tác lãnh, chỉ đạo phát triển kinh
tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn tiếp theo Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 1996 - 2010 mang một ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nông nghiệp là ngành kinh tế chính và có quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử nước ta Nghiên cứu, tìm hiểu về nông nghiệp luôn được sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, nhà nghiên cứu khoa học, học giả từ trung ương đến địa phương
Các công trình nghiên cứu có nội dung đề cập đến nông nghiệp chung cả nước, có thể kể một số tiêu biểu sau:
Trước hết là tác giả Nguyễn Sinh Cúc với những công trình tiêu biểu như:
Nông nghiệp Việt Nam 1945 – 1975, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995; Nông nghiệp nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 -2002), Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003…
Các công trình nghiên cứu của mình với nhiều tư liệu cụ thể, tin cậy và những lập
Trang 9luận xác đáng, tác giả đã trình bày quá trình phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam qua các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Pháp, giai đoạn miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và thời kỳ đổi mới Tác giả đã phân tích và đánh giá những thành tựu, hạn chế của nông nghiệp Việt Nam qua các giai đoạn đồng thời đưa ra những giải pháp, kiến nghị để thúc đẩy nông nghiệp phát triển Đây là những công trình được đầu tư nghiên cứu công phu nên có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, cho chúng ta cái nhìn tổng thể và có hệ thống về nông nghiệp Việt Nam
cả trong quá khứ, hiện tại và cả triển vọng tương lai Các công trình nghiên cứu về nông nghiệp của tác giả Nguyễn Sinh Cúc là cơ sở để những người nghiên cứu sau
có thể tham khảo khi tiếp tục nghiên cứu về nông nghiệp
Tiếp theo là công trình nghiên cứu của tác giả Đặng Kim Sơn - Viện chính
sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam, Công nghiệp hóa từ
nông nghiệp – lý luận, thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, Nxb Nông
nghiệp, Hà Nội, 2001 Công trình này tác giả nghiên cứu dựa trên các tài liệu tổng hợp từ các lý thuyết kinh tế phát triển liên quan đến nông nghiệp nông thôn đang được sử dụng phổ biến trên thế giới và từ những công trình nghiên cứu các tác giả trong và ngoài nước về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam gần đây Trong tác phẩm, tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận phát triển liên quan đến nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, giới thiệu thực tiễn thành công, thất bại và kinh nghiệm của một số nền kinh tế Châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc trong quá trình phát triển nông nghiệp và trong bối cảnh tiến hành công nghiệp hóa Từ đó tác giả liên
hệ đến quá trình phát triển của nông nghiệp Việt Nam từ năm 1945 đến nay, những thách thức và cơ hội trong thời kỳ mới, trên cơ sở đó tác giả đưa ra những đề nghị
về chính sách và cách tiến hành để phát triển nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới Đây là một tác phẩm có giá trị lý luận và thực tiễn cao, là tài liệu tham khảo có giá trị khi nghiên cứu về phát triển nông nghiệp trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay
Tác giả Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (đồng chủ biên,1999) với tác
phẩm Phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện
Trang 10đại hóa ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách gồm sáu chương tập trung
vào những nội dung như: Lý luận về phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Thực trạng các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn trong 10 năm đổi mới; Phương hướng và giải pháp phát triển một số ngành nông nghiệp trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; Phát triển công nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Phát triển các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn; Phát triển nông thôn bền vững và đảm bảo công bằng xã hội; Một số thực tiễn phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sách là kết
quả của hội thảo với chủ đề : Phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa do Ban chính sách phát triển nông thôn thuộc Viện Nghiên
cứu quản lý kinh tế Trung ương phối hợp với tổ chức SIDA – Thụy Điển tổ chức vào ngày 9 - 10/12/1998
Cũng là tác giả Nguyễn Văn Bích với sách Nông nghiệp nông thôn Việt Nam
sau hai mươi năm đổi mới quá khứ và hiện tại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2007 Với tác phẩm này, tác giả chia làm 4 phần cơ bản: Phần thứ nhất: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến (1901 – 1945); Phần thứ hai: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam từ khi ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Phần thứ ba: Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước –
cả nước bước vào thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội (1976 – 1986); Phần thứ tư: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới (1986 – 2006) Qua phần trình bày của tác giả giúp người đọc hiểu rõ hơn về vấn đề nông dân, ruộng đất và nông thôn nước ta từ khi người nông dân phải sống dưới ách
đô hộ của thực dân, phong kiến đầu thế kỷ XX, đến khi có Đảng và trải qua các chặng đường cách mạng của đất nước, rồi tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Với cái nhìn khái quát, cuốn sách được coi như một bản tổng kết về lĩnh vực nông nghiệp nước ta Được chuẩn bị công phu, nghiêm túc, phản ánh khá đầy đủ, toàn diện, có thống kê số liệu qua các thời kỳ lịch sử xây dựng, phát triển kinh tế nông
Trang 11nghiệp nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, sách đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận
và thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Tác giả Hoàng Ngọc Hòa với sách Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong
quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2008 Sách gồm 8 chương tập trung vào các vấn đề: Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải bắt đầu từ nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là trọng tâm hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Phát triển hợp tác xã kiểu mới
để đẩy mạnh công nghiệp hóa và đưa nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại; Phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới; Kinh nghiệm quốc tế về chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn và những bài học có ý nghĩa đối với Việt Nam; Phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân ở nước ta; Một số giải pháp cơ bản và cấp bách nhằm đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đây là công trình nghiên cứu đầy đặn, công phu, là một tài liệu tham khảo có giá trị khoa học giúp người đọc có cái nhìn sinh động, cụ thể, toàn diện về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong suốt quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Tác giả Lê Quang Phi với tác phẩm Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007
Sách chia làm 3 chương: Chương 1: Sự lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta; Chương 2: Đảng lãnh đạo đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ 1996 đến 2006; Chương 3: Một số kinh nghiệm Đảng lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Sách giúp người đọc nhận thức đầy đủ và sâu sắc sự chỉ đạo của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông trong thời gian qua
Trang 12Những công trình, những bài viết có nội dung đề cập đến nông nghiệp ở Vĩnh Long có thể nêu tiêu biểu như:
Nguyễn Bách Khoa (2009), Những chuyển biến kinh tế - xã hội ở nông thôn
tỉnh Vĩnh Long thời kỳ đổi mới (1986 -2005), Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố
Hồ Chí Minh Trong luận án, tác giả có trình bày một số vấn đề liên quan đến nông nghiệp Vĩnh Long như: khái quát quá trình phát triển nông nghiệp Vĩnh Long đến trước khi thực dân Pháp xâm lược, truyền thống sản xuất nông nghiệp dưới thời Pháp thuộc, thực trạng nền nông nghiệp thuần nông, những vấn nạn của nông nghiệp thuần nông trên con đường phát triển, những sự thay đổi trong cơ cấu nền nông nghiệp trong giai đoạn mới, triển vọng hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở Vĩnh Long Nhìn chung, tác giả đã có những phác thảo về nền nông nghiệp Vĩnh Long, đưa ra những nhận định về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Long
Bùi Văn Sáu (2002), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Vĩnh Long, Luận án Tiến sĩ kinh
tế, chuyên ngành Kinh tế quản lý và kế hoạch hóa kinh tế quốc dân, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Trong luận án tác giả đi sâu vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Vĩnh Long giai đoạn 1991 – 2000, trong
đó tác giả cũng có đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp nhưng chủ yếu
là để minh chứng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Bên cạnh đó còn có một số khác như: Trương Văn Sáu (2009), Vĩnh Long
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí
Cộng sản, số 10 (178); Tỉnh Ủy - Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long (2000), Kinh tế
Vĩnh Long trong sự nghiệp phát triển ở thập niên đầu thế kỷ 21; Tỉnh ủy Vĩnh Long
(2000), Vĩnh Long 25 năm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội (1975 – 2000)
cũng có một số nội dung đề cập đến kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long
Như vậy, qua lịch sử nghiên cứu, đã có nhiều công trình nghiên cứu có nội dung đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, cho đến nay vẫn
Trang 13chưa có đề tài hay công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn 1996 - 2010 Ý thức được được điều đó, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, tác giả mạnh dạn chọn đề tài ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH LONG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 1996-2010 làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: Mục đích chính của đề tài là tìm hiểu quá trình lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Vĩnh Long trong phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1996 – 2010 Trên cơ sở những thành tựu đạt được và những mặt còn hạn chế, tìm ra nguyên nhân thành tựu và nguyên nhân hạn chế, tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo để tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của Đảng bộ trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới
Để thực hiện mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:
- Làm rõ lý luận về phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phân tích những lợi thế, tiềm năng trong phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long
- Đánh giá thực trạng nền kinh tế nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long trước năm
Trang 14- Đưa ra những đánh giá chung về sự lãnh đạo của tỉnh, về những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân thành tựu và hạn chế của nông nghiệp Vĩnh Long trong giai đoạn 1996 – 2010
- Tổng kết kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 1996 – 2010
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Trong đó bao gồm những chủ trương, đường lối, chính sách, chỉ thị, quyết định, quy hoạch, đề án mà Đảng bộ Vĩnh Long cũng như Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo, định hướng và ban hành trong suốt giai đoạn 1996 – 2010 nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng tích cực
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong địa bàn tỉnh Vĩnh Long hiện nay
- Về mặt thời gian: Thời gian nghiên cứu chính của luận văn là giai đoạn
1996 - 2010 Tuy nhiên để có cơ sở so sánh những kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, luận văn mở rộng thêm thời gian nghiên cứu từ 1986 – 1995
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Cơ sở lý luận: Đề tài thực hiện dựa trên những quan điểm, đường lối của
Đảng, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, kế thừa có chọn lọc những quan điểm của các tác giả về lĩnh vực kinh tế nông nghiệp trong những công trình nghiên cứu đã công bố mà bản thân có tham khảo
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, trong đó hai phương pháp được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đó là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
- Nguồn tư liệu: đề tài được hoàn thành chủ yếu dựa trên các nguồn tư liệu:
Trang 15Các văn kiện của Đảng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Các Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội X Các văn bản của Chính phủ để chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long từ khóa IV đến khóa VIII Các Nghị quyết của Hội nghị Đảng bộ tỉnh qua các nhiệm kỳ Đại hội
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Long qua các thời kỳ, các quyết định, chỉ thị, đề án nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành
Các báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Khoa học công nghệ, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài nguyên và môi trường
Các tài liệu của Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long công bố bao gồm niên giám thống kê và các cuộc điều tra về nông nghiệp, thủy sản, mức sống dân cư
Luận văn có kế thừa và sử dụng những tư liệu, số liệu, những nhận xét, đánh giá của các công trình khoa học có liên quan
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài làm rõ vai trò lãnh đạo của Tỉnh Đảng bộ Vĩnh Long trong phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1996 – 2010 Từ những thành tựu, hạn chế rút ra trong quá trình lãnh đạo
và công tác chỉ đạo của Đảng bộ và Chính quyền, đề tài mong muốn góp thêm cơ sở cho những giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh nhà
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài sẽ cung cấp tư liệu cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương
Luận văn có thể dùng để Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Vĩnh Long nghiên cứu, tham khảo nhằm phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới
Trang 16Luận văn có thể được dùng làm tư liệu cho học sinh, sinh viên, học viên và những người muốn nghiên cứu về công tác lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long tham khảo Đồng thời luận văn có thể được dùng làm
tư liệu để giảng dạy trong chương trình lịch sử địa phương
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được bố cục làm ba chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và những lợi thế, tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long
Chương 2: Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 1996 –
2010
Chương 3: Đánh giá chung và những kinh nghiệm rút ra từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long về phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1996 –
2010
Trang 17CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ NHỮNG LỢI THẾ, TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH VĨNH LONG
1.1 Lý luận về phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.1 Quan niệm và những đặc điểm cơ bản của nông nghiệp
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những ngành sản xuất có đối tượng tác động là những cây trồng, vật nuôi gắn liền tất yếu với tự nhiên; có thời gian sản xuất bằng thời gian lao động cộng với thời gian phát triển của cây trồng, vật nuôi dưới sự tác động của điều kiện tự nhiên [53, tr.40] Với cách hiểu về nông nghiệp như trên có tác dụng làm cho sản xuất nông nghiệp không bị phát triển một cách hạn hẹp, chia cắt để khi tiến hành nghiên cứu vấn đề phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ không phiến diện mà được tiến hành đầy đủ dựa trên các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội của nó
Từ quan niệm về nông nghiệp như trên cho phép chúng ta xác định được 3 đặc điểm cơ bản của nông nghiệp như sau:
Đặc điểm thứ nhất, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt của nông nghiệp
Đặc điểm thứ hai, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cây trồng, vật nuôi gắn liền và chịu sự tác động của điều kiện tự nhiên, nên có tính thời vụ cao
Đặc điểm thứ ba, chủ thể của sản xuất nông nghiệp về mặt xã hội là giai cấp nông dân; về đơn vị tổ chức kinh tế là hộ nông dân và hợp tác xã; địa bàn sinh sống
và tác động sản xuất nông nghiệp của nông dân là nông thôn [53, tr.41,43,46]
1.1.2 Yêu cầu khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 18Công nghiệp hóa là bước phát triển tất yếu mà mỗi dân tộc, mỗi đất nước phải trải qua, nó là quá trình thực hiện phương pháp công nghiệp trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế quốc dân, là quá trình phát triển kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong sản xuất – kinh doanh Trong thực tế, phạm trù công nghiệp hóa chứa đựng nhiều nội dung nên có rất nhiều định nghĩa khác nhau, theo tổng kết của UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp quốc) thì có đến 128 cách định nghĩa khác nhau về công nghiệp hóa, điều đó phản ánh sự phong phú về con đường
và hình thức của quá trình này đã diễn ra ở các nước khác nhau, trong các giai đoạn
và thời kỳ khác nhau [7, tr.3] Trong phạm vi luận văn, tác giả chọn khái niệm được Đảng đưa ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, theo đó công nghiệp hóa, hiện đại hóa được hiểu như sau: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [53, tr.140]
Với quan niệm trên, khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa được hiểu qua
3 khía cạnh:
Đây là một quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện, một sự thay đổi về chất của nền kinh tế diễn ra trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, các vùng và các thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân
Về mặt kỹ thuật, công nghệ có sự thay đổi trạng thái từ thủ công lạc hậu lên
cơ khí và hiện đại
Về mục tiêu là nhằm tăng năng suất lao động xã hội, bởi lẽ theo Lê nin, suy cho đến cùng xã hội sau chiến thắng xã hội trước, cái cốt lõi là chiến thắng về kinh
tế, chiến thắng bằng năng suất lao động [104]
Tóm lại, định nghĩa trên về cơ bản đã phản ánh được nội dung rộng lớn của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, xác định vai trò quan trọng của khoa học – công nghệ trong quá trình xây dựng, phát
Trang 19triển đất nước và chỉ ra vấn đề cốt lõi là cải biến lao động thủ công, lạc hậu, thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao Đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nhằm cải biến một xã hội nông nghiệp lạc hậu, thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ, ngày càng thể hiện đầy đủ hơn tính
ưu việt của chế độ xã hội mới
Tính tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, “mà đặc điểm
to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” [52, tr.13] Do vậy, yêu cầu cần thiết là chúng ta phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp bởi vì “sản xuất nông nghiệp là cơ sở của mọi xã hội và là tiền
đề của mọi lịch sử” [13, tr.722]
Ở nước ta, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là một yêu cầu tất yếu khách quan để tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở nước ta cần thiết phải được tiến hành xuất phát từ một số lý do như sau:
Thứ nhất, chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ
đã tác động to lớn tới Việt Nam
Chủ nghĩa xã hội từ khi ra đời và phát triển thành hệ thống, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được trên mọi lĩnh vực của đời sống thì do duy trì quá lâu mô hình chủ nghĩa xã hội cứng nhắc, chậm đổi mới về cơ chế, chính sách trong quản lý kinh tế, xã hội và ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất nên dần dần rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng và dẫn đến sụp đổ vào những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX Sự sụp đổ chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu tác động to lớn đến Việt Nam, phần nào đó làm ảnh hưởng đến niềm tin và mất đi nguồn viện trợ, giúp đỡ lớn về cơ sở vật chất, khoa học – kỹ thuật cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong hoàn cảnh
Trang 20như vậy, đòi hỏi Việt Nam phải nêu cao hơn nữa tinh thần độc lập tự chủ và ý chí
tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng, đẩy mạnh phát triển ngành kinh tế có nhiều thế mạnh để sớm đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thử thách
Ở Việt Nam, nông nghiệp là ngành kinh tế có nhiều thế mạnh và tiềm năng,
do đó cùng với những tiền đề do công cuộc đổi mới đem lại, phát huy truyền thống lao động cần cù sáng tạo của giai cấp nông dân, đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, đã trở thành yêu cầu cần thiết và cấp bách để đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, góp phần ổn định kinh tế - xã hội, tạo tiền đề vững chắc để tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thứ hai, tác động của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật trên thế giới Sự tác động này đã mở ra nhiều cơ hội lớn cho Việt Nam trong việc ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ mới, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, song những thuận lợi vốn có là sự dồi dào về tài nguyên đất, nước, lao động, thị trường Do đó, việc tiếp thu và ứng dụng những thành tựu của khoa học - công nghệ vào quá trình sản xuất như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin là điều kiện tiên quyết để khai thác và phát huy các lợi thế trong sản xuất nông nghiệp Đây vừa là nhiệm vụ tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp vừa là yêu cầu cấp thiết để nhanh chóng đưa nền nông nghiệp nước nhà thoát khỏi tình trạng thuần nông, lạc hậu, kém phát triển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn
Thứ ba, xuất phát từ thực trạng của nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Mặc dù nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của đất nước, nhưng nếu so sánh với khu vực và thế giới thì nông nghiệp nước ta đang trong tình trạng yếu kém, chậm phát triển, năng suất lao động thấp (1 lao động nông nghiệp nước ta chỉ nuôi được 2 người, trong khi đó 1 lao động nông nghiệp ở Mỹ nuôi được 80 người, ở Hà Lan nuôi được 60 người, ở Anh nuôi được
Trang 2155 người, ở Nhật nuôi được 20 người [70] hoặc ở 1 số nước khác 1 lao động nông nghiệp có thể cung cấp nông phẩm cho 6 - 7 - 8 thậm chí 20 - 30 - 40 người phi nông nghiệp, ở Mỹ chỉ có gần 2% số dân làm nông nghiệp trong 240 triệu người, ở
Hà Lan có 4 triệu héc ta đất nông nghiệp nhưng xuất khẩu nông phẩm tới 17 tỉ USD/năm, đạt bình quân giá trị xuất khẩu 4 triệu USD/ha đất canh tác, trong khi ở nước ta, mỗi lao động nông nghiệp chỉ cung cấp nông phẩm cho 2 - 3 người và vẫn đang phấn đấu xây dựng cánh đồng 50 - 100 triệu đồng/ha [67]), thêm vào đó với tốc độ tăng dân số nhanh như hiện nay, ruộng đất bình quân đầu người ngày càng giảm - bình quân mỗi người chỉ có 800m2, nhưng vẫn đang có nguy cơ giảm do quá trình đô thị hóa, mở rộng xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp, ruộng đất ngày càng nghèo dinh dưỡng, hiệu quả canh tác không cao dẫn đến hệ quả là đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, hiện nay có tới 75% số dân nông thôn đang có mức thu nhập dưới mức bình quân chung của xã hội [70], nên nếu không đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả thì không bao giờ nông nghiệp Việt Nam mới có thể bắt kịp tốc độ phát triển của các nước trong khu vực và quốc tế, cũng sẽ không đáp ứng được nhu cầu tích lũy cho quốc gia, không đảm bảo được an ninh quốc gia, bởi vì “một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ” [61, tr.497]
Thứ tư, nguy cơ tụt hậu giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng cao Mặc dù hiện nay đất nước đã chuyển sang thời kỳ mới, thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song khoảng cách tụt hậu giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới không những không được cải thiện
mà ngày càng lớn, do đó lựa chọn hướng đi, hướng phát triển đúng đắn là yêu cầu tất yếu của quá trình khắc phục sự chênh lệch này Trong tình hình đó đòi hỏi “các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia” [43, tr.17] Đối với mỗi quốc gia, ưu tiên phát triển kinh tế trong lĩnh vực nào là tùy thuộc vào khả năng và
Trang 22lợi thế của mỗi nước, riêng đối với Việt Nam, trong điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật còn lạc hậu, các ngành công nghiệp tuy có bước phát triển nhưng còn yếu, chưa đủ khả năng cải tạo và phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân Căn cứ vào tình hình cụ thể của nền kinh tế - xã hội, lợi thế của đất nước, tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là lựa chọn hàng đầu nhằm tạo nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển vững chắc, tạo tạo cơ sở cho công nghiệp phát triển, đưa đất nước vươn lên ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới
1.1.3 Nội dung và điều kiện tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Việc nghiên cứu tìm hiểu nội dung của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là một trong những vấn đề quan trọng mà các nhà nghiên cứu
muốn thực hiện, theo nghiên cứu các tác giả trong công trình “Phát triển nông
nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam”,
Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1999, thì nội dung của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp được xác định ở các điểm như sau:
- Tiên tiến về trình độ cơ giới hóa sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp
- Tăng tỷ trọng nông sản chế biến
- Sự hợp lý về công nghệ, quy trình canh tác nông nghiệp so với thế giới [71, tr.21]
Mặc dù đây có thể được coi là những nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nhưng chưa thật sự cụ thể và đầy đủ, nội dung
cụ thể và đầy đủ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp đến Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX mới được xác định như sau: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường [68, tr.132]
Trang 23Để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp cần thiết phải có các điều kiện về vốn, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực, điều kiện vật chất - cơ sở
hạ tầng và vai trò quản lý của nhà nước
Vốn: đây là điều kiện không thể thiếu để đầu tư xây dựng cũng như phát triển các trang thiết bị, công nghệ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, các nguồn vốn có thể huy động để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là vốn hộ gia đình, vốn doanh nghiệp, vốn nhà nước, vốn nước ngoài Trong quá trình thực hiện cần đặc biệt chú trọng vai trò quản lý của nhà nước trong việc phân bổ các nguồn vốn thích hợp để quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp thực hiện hiệu quả
Khoa học – công nghệ: Tiến bộ khoa học – công nghệ có vị trí đặc biệt đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp Trình độ khoa học – công nghệ được phản ánh bằng thực trạng cơ khí hóa, tự động hóa, hóa học hóa, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin Để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp cần phải đặc biệt chú trọng việc đào tạo và nâng cao trình độ khoa học công nghệ cho người lao động để họ có khả năng tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ ứng dụng vào phát triển nông nghiệp
Nguồn nhân lực: Vào khoảng giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, học thuyết về
“vốn con người” xuất hiện đã làm thay đổi cách nhìn nhận về vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế, người ta đã khẳng định rằng, với nguồn nhân lực con người càng sử dụng càng cho hiệu quả cao, vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “con người là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” Và thực tế đã cho thấy rằng nếu không có lực lượng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật, tay nghề thì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung
và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nói riêng sẽ khó đạt được hiệu quả cao, chính vì vậy công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những giải pháp quan trọng để góp phần thực hiện thắng lợi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Trang 24Điều kiện vật chất – cơ sở hạ tầng: Ở mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội
có một sự phát triển thích ứng của cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, đến lượt nó, với tư cách là những phương tiện vật chất – kỹ thuật và thiết chế kinh tế - xã hội, hệ thống
cơ sở hạ tầng cung cấp những dịch vụ cần thiết cho hoạt động kinh tế - xã hội Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, điều này liên quan đến các nguồn lực tự nhiên và kinh tế như nguồn tài nguyên thiên nhiên, các cơ sở chế tạo máy công cụ, các cơ sở nghiên cứu triển khai công nghệ mới, các cơ sở lai tạo giống mới, các cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường, thông tin Tất cả các điều kiện này đảm bảo đáp ứng được nhu cầu đầu ra và đầu vào của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Vai trò quản lý của nhà nước: Vai trò của nhà nước có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng Các Mác đã viết: một nhạc công chơi vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình Nhưng đã là một dàn nhạc thì tất yếu phải có sự chỉ huy của một nhạc trưởng [53, tr.256] Thực tế đã chứng minh là không thể phát triển kinh tế bền vững nếu không
có vai trò quản lý hữu hiệu của nhà nước Nội dung quản lý của nhà nước trong quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thể hiện như hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển; thực thi đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp phát triển; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật và kinh tế - xã hội cho nông nghiệp; ban hành hệ thống chính sách đòn bẩy để hỗ trợ, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Theo Diễn đàn kinh tế thế giới thì vai trò của nhà nước đóng góp tới 17% trong sự thành công của một nền kinh tế quốc gia, ngang với nhân tố tài chính, còn khoa học – công nghệ cũng chỉ đóng góp có 11%, nguồn nhân lực 16% [165, tr.41] Chính vì vậy sự quản lý hiệu quả, hợp lý của nhà nước là điều kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nói riêng
1.2 Đặc điểm lịch sử, địa lý tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long
Trang 251.2.1 Đặc điểm lịch sử, địa lý tự nhiên
Đặc điểm lịch sử
- Lịch sử hình thành tỉnh Vĩnh Long
Tỉnh Vĩnh Long nằm ở hạ lưu sông Tiền, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long Vào những thế kỷ đầu công nguyên một số nơi của khu vực này thuộc vương quốc Phù Nam Những vết tích còn lại như di tích ao hồ ở Vĩnh Thành, xã Vĩnh Xuân thuộc huyện Trà Ôn, di tích thành cổ giữa Trung Hiệp và Trung Hiếu thuộc huyện Vũng Liêm là bằng chứng về một nền văn hóa cổ hưng thịnh – văn hóa Óc
Eo đã từng tồn tại trên miền đất này, tuy nhiên trải qua thời gian, nền văn hóa ấy rơi vào cảnh suy tàn do tác động của những đột biến về địa lý - sinh thái và kinh tế - xã hội, mà theo nhiều nhà nghiên cứu thì “vùng đất phía Nam này đã diễn ra quá trình hoang hóa mà nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp là do những chuyển biến trong cơ cấu dân cư, sự không thích ứng với những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa dưới thời Chân Lạp, tình trạng chiến tranh liên miên giữa Chân Lạp và Champa trên địa bàn Trung Nam Bộ và Đông Nam Bộ và những đợt tấn công của đế quốc Nguyên Mông và các nước Đông Nam Á ” [91, tr.7] Đồng thời với sự suy tàn của nền văn hóa cổ, vùng lãnh thổ này cũng trở nên hoang vu Sau nhiều thế kỷ, vùng đất này lại được khai phá bởi những lưu dân người Việt, người Khơ me và người Hoa
Khi chúa Nguyễn lên nắm quyền, vấn đề thành lập một đơn vị hành chánh để kiểm soát vùng đất này trở thành một vấn đề có ý nghĩa chiến lược cả về mặt quân
sự lẫn kinh tế, bởi vì vùng sông Tiền và sông Hậu là nơi có vị trí quan trọng về mặt quân sự lẫn canh tác, nếu muốn dùng binh lên Cao Miên thì phải cho chiến thuyền
đi ngược dòng Tiền Giang để đến Ba Nam rồi Nam Vang Mặt khác, Tiền Giang là sông nhiều nhánh, gần vàm biển, mỗi nhánh khá rộng với bờ đất phù sa cao ráo, thuận lợi để trồng đậu, trồng khoai, đặc biệt là trồng dâu nuôi tằm, trồng cau, trồng trầu, trồng dừa, các loại cây ăn trái, đất còn lại là ruộng tốt, đây là vùng đất lý tưởng
“sông sâu nước chảy” Chính vì vậy, sau khi đặt phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn vào năm Mậu Dần (1698), năm Nhâm Tý (1732) chúa Nguyễn sai quan khổn súy Gia Định chia phần đất của Gia Định (sau này là Định
Trang 26Tường) lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ tại Cái Bè, gọi là Cái Bè dinh [91, tr.47] Đến năm 1756 và 1757, cuộc Nam tiến hoàn tất về mặt chính trị, Nguyễn Cư Trinh và Trương Phúc Du xin dời dinh Long Hồ từ Cái Bè qua đất Tầm Bào, tức là vùng chợ Vĩnh Long ngày nay, dinh Long Hồ kiểm soát Tiền Giang và hai bên bờ Hậu Giang, đồng thời dinh này cũng bao trùm luôn vùng biển Vịnh Xiêm La với Long Xuyên đạo (Cà Mau), Kiên Giang đạo (Rạch Giá) [91, tr.48]
Như vậy, với sự thành lập dinh Long Hồ, vùng đất phía Nam sông Tiền (trong đó có địa phận thuộc tỉnh Vĩnh Long ngày nay) chính thức trở thành một đơn
vị hành chánh dưới quyền cai quản của chúa Nguyễn Có thể nói, tỉnh Vĩnh Long được khai sinh khi dinh Long Hồ được thành lập [4, tr.38]
Trải qua gần ba thế kỷ hình thành và phát triển, tỉnh Vĩnh Long giờ đây đã trở thành một vùng đất trù phú, màu mỡ, phát triển về mọi mặt
- Tên gọi và địa giới hành chính qua các thời kỳ lịch sử có sự thay đổi
Từ khi thành lập cho đến nay, tên gọi của tỉnh Vĩnh Long có sự thay đổi liên tục Năm 1732, Chúa Nguyễn Phúc Chú đã lập đơn vị hành chính đầu tiên của tỉnh
là Châu Định Viễn, Dinh Long Hồ Đến năm 1779 thì đổi tên thành Hoàng Trấn Dinh Từ năm 1780 đến năm 1805 đổi tên thành Vĩnh Trấn Từ năm 1806 đến năm
1832 gọi là Trấn Vĩnh Thanh Từ năm 1832 đến năm 1950 gọi là tỉnh Vĩnh Long
Từ năm 1952 đến năm 1954 gọi là tỉnh Vĩnh Trà Từ năm 1954 đến năm 1975 là tỉnh Vĩnh Long Từ năm 1976 đến tháng 5/1992 gọi là tỉnh Cửu Long Từ ngày 5/5/1992 đến nay chính thức gọi tên là tỉnh Vĩnh Long
Ranh giới hành chính của tỉnh Vĩnh Long cũng có sự biến đổi qua các thời
Trang 27Trước năm 1948, hai huyện Cầu Kè, Trà Ôn thuộc tỉnh Cần Thơ Từ năm
1948 đến năm 1950, hai huyện này thuộc tỉnh Vĩnh Long Từ năm 1951 đến năm
1954 Vĩnh Long sáp nhập với Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Trà Từ năm 1954 đến năm
1975 tách tỉnh Vĩnh Trà thành hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh Năm 1957, tỉnh Vĩnh Long tiếp nhận huyện Chợ Lách (tỉnh Bến Tre) và 4 huyện Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành, Sa Đéc (tỉnh Sa Đéc), đồng thời giao huyện Vũng Liêm cho tỉnh Trà Vinh Đến năm 1966, giao trả huyện Chợ Lách về tỉnh Bến Tre Từ năm 1971 tách
4 huyện Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành, Sa Đéc ra khỏi tỉnh Vĩnh Long để thành lập tỉnh Sa Đéc, đồng thời nhận 2 huyện Vũng Liêm, Trà Ôn của tỉnh Trà Vinh về tỉnh Vĩnh Long
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), tỉnh Cửu Long được thiết lập trên cơ sở của hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh Năm 1992, tỉnh Cửu Long được tách thành 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh Đến năm 2010, đơn vị hành chính thống nhất của tỉnh Vĩnh Long gồm có 1 thành phố trực thuộc tỉnh và 7 huyện
Như vậy, trải qua gần ba thế kỷ, tên gọi và địa giới hành chính của tỉnh Vĩnh Long liên tục có sự biến đổi về tên gọi, trong việc cắt, nhập các đơn vị hành chính, trong việc hợp tỉnh, tách tỉnh gây ra những khó khăn, xáo trộn trong công tác quản
lý Đến năm 2010 với tên gọi chính thức là tỉnh Vĩnh Long, với 8 đơn vị hành chính
là thành phố Vĩnh Long và 7 huyện (Long Hồ, Mang Thít, Vũng Liêm, Tam Bình, Trà Ôn, Bình Minh, Bình Tân) đoàn kết, thống nhất, cùng nhau chung tay góp sức xây dựng nên một tỉnh Vĩnh Long ngày càng giàu mạnh
- Vĩnh Long có truyền thống cách mạng anh hùng
Người dân Nam bộ nói chung và Vĩnh Long nói riêng từ xưa đến nay đã có truyền thống yêu nước nồng nàn, anh dũng trong chiến đấu khắc phục những trở ngại thiên tai, ác thú, chống cường quyền áp bức bóc lột, chống thực dân xâm lược , từ khi có Đảng lãnh đạo, những bản chất tốt đẹp đó càng được phát huy thành truyền thống cách mạng
Trang 28Truyền thống cách mạng anh hùng của nhân dân Vĩnh Long thể hiện rất rõ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ Trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tỉnh Vĩnh Long đã được tuyên dương là đơn vị anh hùng, với 783 bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hơn 4.000 thương binh, gần 15.000 liệt sĩ [ 4, tr.15] chính là biểu tượng của lòng yêu nước mãnh liệt của nhân dân Vĩnh Long
đã đi theo chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta phải quét sạch nó đi” Truyền thống cách mạng còn được phát huy cao trong công cuộc xây dựng và phát triển địa phương, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân Vĩnh Long luôn đoàn kết một lòng cùng với Đảng
bộ từng bước đi lên cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở tỉnh nhà, xứng đáng với lời khen “4 được” của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn “được mùa, được lúa, được quân, lòng quân phấn khởi” [4, tr.16]
Đặc điểm địa lý tự nhiên
- Vị trí
Tỉnh Vĩnh Long có diện tích tự nhiên là 1.479,13 km2, nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, từ 9052’40’’ đến 10019’48’’ độ vĩ bắc và từ 105004’18’’đến 106017’03’’ độ kinh đông Vĩnh Long nằm giữa hai nhánh chính của sông Cửu Long là sông Tiền và sông Hậu, nhìn bao quát, tỉnh Vĩnh Long có dáng giống như hình thoi và lõm ở phía tây bắc, đường chéo từ đông sang tây dài 65km và từ bắc xuống nam dài 51km [4, tr.11] Phía bắc giáp với tỉnh Tiền Giang, lấy sông Tiền làm ranh giới Phía nam giáp với tỉnh Sóc Trăng, lấy sông Hậu làm ranh giới Phía đông giáp với tỉnh Bến Tre, lấy sông Cổ Chiên làm ranh giới Phía đông nam giáp với tỉnh Trà Vinh Phía tây giáp với tỉnh Cần Thơ, lấy sông Hậu làm ranh giới và phía tây bắc giáp với tỉnh Đồng Tháp
Vĩnh Long nằm giữa hai thành phố lớn là Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh, đây là hai trung tâm kinh tế lớn của vùng Nam bộ và cả nước Với cầu Mỹ Thuận và cầu Cần Thơ, Vĩnh Long đã phá vỡ được thế “ốc đảo” hàng ngàn đời nay,
có điều kiện giao thông dễ dàng với toàn bộ vùng đồng bằng mà trước hết là với hai thành phố lớn
Trang 29- Diện tích
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Vĩnh Long năm 2009 là 147.912,8 ha Diện tích đất nông nghiệp là 116.180,6 ha (78,55%); không có đất lâm nghiệp Đất phi nông nghiệp là 31.626,9 ha (21,38%) Đất chưa sử dụng là 105,3 ha (0,07%) Trong đất nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm là 71.553,2 ha chiếm 48,38% diện tích đất nông nghiệp, trong đó chủ yếu là đất lúa (69.835,1 ha, chiếm 47,21% ); đất trồng cây lâu năm là 43.782,3 ha (29,60%) và mặt nước nuôi trồng thủy sản là 837,0
ha (0,57%) [24, tr.20]
Bảng 1.2.1: Diện tích các loại đất có đến ngày 01/01/2010
Đơn vị: ha Huyện, thành phố Tổng số Đất nông
nghiệp
Đất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dụng Tổng số 147.912,74 116.180,54 31.626,93 105,27
- Địa hình
Vĩnh Long có địa thế trải rộng dọc theo sông Tiền và sông Hậu, thấp dần từ Bắc xuống Nam Địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 20, cao trình khá thấp so với mặt nước biển (62,85% diện tích có cao trình dưới 1,0 m) Ở trung tâm tỉnh có dạng lòng chảo và cao dần về hướng bờ sông Tiền, sông Hậu, sông Măng Thít và ven các sông rạch lớn Trên từng cánh đồng có những chỗ gò (cao trình 1,2 – 1,8m) hoặc trũng cục bộ (cao trình dưới 0,4m) Vĩnh Long có thể chia làm ba cấp địa hình như sau:
Trang 30+ Vùng có cao trình từ 1,0 – 2,0m chiếm 37,17% diện tích
+ Vùng có cao trình từ 0,4 – 1,0m chiếm 61,53% diện tích
+ Vùng có cao trình từ nhỏ hơn 0,4m chiếm 1,3% diện tích [152, tr.8]
- Thời tiết – khí hậu
Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế
độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào
+ Chế độ thời tiết: một năm chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô + Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25 – 270C, nhiệt độ cao nhất 36,90C, nhiệt độ thấp nhất 17,70C Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm bình quân 7,30C
+ Bức xạ: Bức xạ tương đối cao, bình quân số ngày nắng trong một ngày là
7,5 giờ Bức xạ quang hợp hàng năm đạt 79.600 cal/m2 Thời gian chiếu sáng bình quân từ 2.550 – 2.700 giờ/năm
+ Độ ẩm: Độ ẩm không khí bình quân 80 – 83%, tháng cao nhất (tháng 9) là
88% và tháng thấp nhất (tháng 3) là 77%
+ Gió: Vĩnh Long nằm trong khu vực có lượng gió lớn, thường có cấp 2, cấp
3, cấp 4 Hàng năm thường có ba hướng gió chính đi theo từng khoảng thời gian:
Từ tháng 5 đến tháng 10 chủ yếu là gió tây nam
Từ tháng 11 đến tháng giêng năm sau chủ yếu là gió đông bắc
Từ tháng 2 đến tháng 4 chủ yếu là gió đông nam
+ Chế độ mây và sương: diễn ra tương ứng với chế độ gió Mùa gió tây nam
nhiều mây (lượng mây che phủ khoảng 6/10 bầu trời mỗi ngày) Mùa gió đông bắc, mây giảm dần so với mùa gió tây nam (lượng mây che phủ khoảng 3/10 bầu trời mỗi ngày) Mùa gió đông nam, lượng mây lại tăng dần (che phủ khoảng 4 – 5/10 bầu trời mỗi ngày) Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, đôi lúc có sương mù vào sáng sớm
+ Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi bình quân năm của tỉnh khá lớn, khoảng
1.400 – 1.500mm/năm, trong đó lượng bốc hơi/tháng vào mùa khô là 116 – 179mm/tháng
Trang 31+ Mưa: Lượng mưa bình quân 1.450 – 1.504mm/năm Số ngày mưa bình
quân 100 – 115 ngày/năm Số lượng mưa tập trung 90% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm) Ngày bắt đầu mưa thường từ 12 đến 15/5 và ngày kết thúc
mùa mưa từ 4 đến 13/11 (tần suất 75%) [152, tr.8]
So với cả nước, Vĩnh Long là nơi có điều kiện khí hậu ưu đãi, rất hiếm khi
có hiện tượng khí hậu khắc nghiệt như ở miền Bắc, là điều kiện thuận lợi để sản xuất nông nghiệp
- Thủy văn
Vĩnh Long cách biển Đông gần 200km nên hầu như không có nước mặn Toàn tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông thông qua hai con sông chính là sông Tiền và sông Hậu, mực nước và biên độ triều khá cao, triều cường mạnh, biên độ triều vào mùa lũ khoảng 70 – 90cm và vào mùa khô dao động từ 140 – 144cm, kết hợp với hệ thống kênh rạch khá chằng chịt (mật độ 67,5m/ha) tạo tiềm năng tưới tự chảy cho cây trồng rất lớn, khả năng tiêu rút nước tốt
- Tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên khoáng sản: Vĩnh Long có lượng cát sông và sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào
Cát sông: Cát lòng sông có trữ lượng khoảng 100 – 150 triệu m3, cát được
sử dụng chủ yếu cho san lấp
Sét: Ở Vĩnh Long có loại đất sét rất đặc trưng đã tạo nên nghề gạch, gốm khá
nổi tiếng trong vùng Theo kết quả điều tra vào năm 2001 do Sở Công nghiệp tỉnh Vĩnh Long và Công ty Địa chất khoáng sản thực hiện thì Vĩnh Long có trữ lượng sét đến 69,55 triệu m3 Sét ở Vĩnh Long chất lượng tốt và điều kiện khai thác thuận lợi, phân bố hầu hết các huyện, thành phố trong tỉnh nhưng tập trung dọc theo sông
Cổ Chiên (gồm Thành phố Vĩnh Long và các huyện Long Hồ, Mang Thít, Vũng Liêm) Mặc dù được phân bố khắp các huyện, thành phố trong tỉnh nhưng đặc trưng nhất là sét ven sông Cổ Chiên Chính vì vậy mà dọc theo tuyến sét này từ lâu đã
hình thành làng gạch, gốm rất phát triển [59, tr.29]
Trang 32+ Tài nguyên sinh vật: Vĩnh Long có hệ động vật và thực vật phong phú, đa dạng, có nhiều loại quý hiếm
Tóm lại, với những đặc điểm địa lý tự nhiên nêu trên, Vĩnh Long có nhiều thuận lợi cho việc phát triển một ngành nông nghiệp theo hướng đa dạng, đa canh, thâm canh tăng vụ Khí hậu thuận lợi cho sản xuất quanh năm, nhất là sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới Đất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn so với tổng diện tích tự nhiên Mặt khác, đất đai được bồi đắp hàng năm do lũ để tái tạo độ phì nhiêu tự nhiên bằng lượng phù sa của sông Cửu Long, rất thuận lợi cho
đa dạng hóa cây trồng và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản nước ngọt, nước lợ Hệ thống sông, rạch chằng chịt vừa là nguồn cung cấp nước cho sản xuất
và sinh hoạt, vừa là hệ thống giao thông thủy vô cùng thuận lợi, và cũng là tiềm năng phát triển nguồn lợi tôm, cá Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng Đây chính là những điều kiện thuận lợi cho phép Vĩnh Long phát triển một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Tăng trưởng kinh tế
Nằm giữa hai trung tâm kinh tế lớn của Vùng là thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ nên Vĩnh Long có những điều kiện thuận lợi trong việc phát triển kinh tế Trong giai đoạn 2001 - 2010 kinh tế Vĩnh Long tăng trưởng nhanh và hài hòa Tổng giá trị tăng thêm trên địa bàn tỉnh năm 2010 đạt 7.787 tỷ đồng (giá so sánh 1994), gấp 2,57 lần so với quy mô kinh tế năm 2000 Tăng trưởng bình quân giai đoạn
2001 - 2010 đạt 11,2%/năm GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 20,2 triệu đồng, gấp 2,5 lần năm 2005, tương đương 1091 USD, cao hơn GDP bình quân đầu
người vùng Đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 890 USD) [153, tr.4] Đạt được
những thành tựu như trên là do các ngành trong tỉnh đều có tốc độ tăng trưởng khá
và nhanh
- Khu vực I (nông – lâm nghiệp – thủy sản)
Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển ổn định, tổng giá trị sản xuất toàn ngành nông lâm nghiệp, thủy sản năm 2010 (giá cố định 1994) đạt 6.147,7 tỷ
Trang 33đồng, tăng bình quân khoảng 5,3%/năm Thủy sản tăng trưởng mạnh, tăng bình quân 29,08%/ năm, đóng góp khoảng 40% cho tăng trưởng toàn khu vực, chủ yếu ở khâu nuôi trồng với sản lượng hàng hóa cao, cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu Về cơ cấu, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp giảm mạnh từ 89,9% năm
2005 xuống còn khoảng 81,5% vào năm 2010, thủy sản tăng từ 9,2% lên 17,8% trong cùng kỳ Lâm nghiệp chuyển biến không đáng kể
Trong nông nghiệp tuy chịu ảnh hưởng của dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng 3,47%/ năm và tăng ở cả 3 lĩnh vực: trồng trọt tăng 2,8%,
chăn nuôi tăng 6,34% và dịch vụ nông nghiệp tăng 12,70% [98, tr.2] Cơ cấu nội bộ
ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp Ổn định sản lượng lúa ở mức trên dưới 900 ngàn tấn/năm, đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu
Giá trị sản phẩm trồng trọt và nuôi trồng thủy sản bình quân năm 2010 đạt trên 92
triệu đồng/ha/năm, gấp 2,1 lần năm 2005 [98, tr.2] Chăn nuôi tuy gặp một số khó khăn
nhất định nhưng phục hồi và phát triển khá tốt Đàn bò tăng từ 14 ngàn con năm 2000 lên 68 ngàn con năm 2010, tăng bình quân 8,5%/năm Đàn gia cầm năm 2010 đạt 4,3 triệu con Sản lượng nuôi trồng và đánh bắt tăng từ 17,1 ngàn tấn năm 2000 lên 37,2 ngàn tấn năm 2005 và đạt 139,4 ngàn tấn năm 2010, tăng bình quân
30,24%/năm [153, tr.5] Thủy sản phát triển mạnh (tăng bình quân 28,33%/năm)
với sự tăng trưởng của hoạt động nuôi cá tra thâm canh và nuôi cá lồng bè, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng chung của khu vực này Cơ cấu nội bộ khu vực chuyển đổi theo hướng tăng mạnh tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản, từ 9,16% năm 2005
tăng lên 17,84% năm 2010 [98, tr.3], chủ yếu tăng mạnh ở lĩnh vực nuôi trồng với
sản lượng hàng hóa cao, cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu
Công tác giống vật nuôi cây trồng được chú trọng đầu tư để đảm bảo tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, ngày càng đáp ứng được yêu cầu của thị trường nông sản hàng hóa Chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản được đầu tư phát triển theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp với quy mô khá, tăng
Trang 34dần tỷ trọng vật nuôi có hiệu quả cao, công nghiệp chế biến, xuất khẩu cũng được phát triển góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế của tỉnh
- Khu vực II (công nghiệp và xây dựng )
Có tốc độ tăng trưởng khá cao, các khu công nghiệp của tỉnh như khu công nghiệp Hòa Phú, khu công nghiệp Bắc Bình Minh, tuyến công nghiệp Cổ Chiên đang phát triển, thu hút đầu tư lớn và hoạt động khá hiệu quả Tổng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng năm 2010 đạt 7.825,4 tỷ đồng (giá cố định 1994), trong đó giá trị sản lượng công nghiệp là 5.626 tỷ đồng, ngành xây dựng là 2.199,4 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 22,5%/năm trong 5 năm 2006 - 2010 Trong đó công
nghiệp - TTCN tăng 23,2%/năm [153, tr.5]
- Khu vực III (dịch vụ)
Khu vực dịch vụ phát triển nhanh, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân Tổng giá trị sản xuất khu vực dịch vụ năm 2010 đạt khoảng 6538,6 tỷ đồng (giá cố định 1994), tăng bình quân 15%/năm trong 5 năm 2006 - 2010 Tổng giá trị tăng thêm năm 2010 đạt 2880,6 tỷ đồng (giá
so sánh 1994), tăng trưởng bình quân 12,2%/năm trong 5 năm 2006 – 2010 [153,
tr.6] Nhiều ngành dịch vụ chất lượng và công nghệ cao đang phát triển mạnh mẽ, mang lại hiệu quả cao Đặc biệt là du lịch, thông tin truyền thông, tài chính ngân hàng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành: Cơ cấu kinh tế theo ngành
chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong GDP, giảm tỉ trọng khu vực nông, lâm, thủy sản Cơ cấu kinh tế của tỉnh năm 2010 chia theo 3 khu vực (nông, lâm, ngư nghiệp – công nghiệp, xây dựng – dịch vụ) tương ứng là 49,5 – 16,6 - 33,9 (%)[98, tr.2] Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2000 – 2010 là tỷ trọng khu vực I giảm 9,7%; tỷ trọng khu vực II tăng lên 4,67% và tỷ trọng khu vực III tăng 5,03%
Trang 35Bảng 1.2.2: Chuyển dịch cơ cấu GDP tỉnh Vĩnh Long theo giá hiện hành
Nguồn: Tính toán của tác giả [20], [98], [108]
- Chuyển dịch cơ cấu lao động: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã kích thích
chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang các khu vực phi nông
nghiệp
Bảng 1.2.3: Chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Vĩnh Long
Đơn vị tính:% Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Lao động nông nghiệp 67,67 66,98 65,54 63,55 62,46 61,02 Lao động phi nông nghiệp 32,33 33,02 34,46 36,45 37,54 38,98 Nguồn: Tỉnh ủy Vĩnh Long [98]
Trang 36- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần: Các thành phần kinh tế ở
tỉnh Vĩnh Long gồm có khu vực kinh tế trong nước và khu vực kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài
Bảng 1.2.4: Chuyển dịch cơ cấu GDP tỉnh Vĩnh Long
theo thành phần kinh tế (giá hiện hành)
Trang 37Bảng 1.2.5: Diện tích, dân số, đơn vị hành chính của tỉnh Vĩnh Long
Diện tích (km2)
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/km2)
Đơn vị hành chính
Phường và thị trấn
Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long [24]
Đặc điểm dân tộc, tôn giáo
Vĩnh Long là tỉnh có mật độ dân số cao so với các tỉnh trong khu vực và cả nước Tính đến thời điểm 01/4/2010, mật độ dân số của tỉnh là 693 người/km2, đứng hàng thứ 12 trong 63 tỉnh/thành phố trong cả nước và đứng thứ 2 trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, chỉ sau thành phố Cần Thơ Dân số trung bình của tỉnh đến năm 2010 là 1.026,5 ngàn người, trong đó nữ có 520,4 ngàn người, chiếm 50,7% dân số [157, tr.16]
Vĩnh Long cũng như một số tỉnh trong khu vực là địa bàn cộng cư của trên nhiều dân tộc đến làm ăn sinh sống, nhưng đông nhất là dân tộc Kinh chiếm
Trang 3897,37%, dân tộc Khơme chiếm 2,13%, dân tộc Hoa (Hán) chiếm 0,48%, còn lại một
số ít dân tộc khác (Chăm, Tày, Mường…)
Dân cư Vĩnh Long phần lớn sống ở khu vực nông thôn Theo thống kê năm
2009 thì dân cư sống ở nông thôn là 871.001 người, chiếm 84,58% dân số toàn tỉnh [157, tr.6] Trong đó người Việt phân bố trên khắp địa bàn tỉnh, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn làm một số nghề thủ công nghiệp và thương mại – dịch vụ Người Khơ me tập trung ở nông thôn, chủ yếu huyện Trà Ôn, huyện Tam Bình, huyện Bình Minh và huyện Vũng Liêm, họ sống thành phum sóc dưới sự lãnh đạo tinh thần của sư sãi Ảnh hưởng văn hóa Phật giáo Ấn Độ rất đậm trong đời sống của người Khơ me Họ sống chất phác, có truyền thống chống áp bức, bất công Người Hoa sống rải rác xen với người Kinh và người Khơ me nhưng chủ yếu sống ở thành thị, tập trung ở thành phố Vĩnh Long và các thị trấn Đại bộ phận người Hoa làm nghề buôn bán, tiểu thủ công nghiệp, y dược Ba dân tộc Việt, Khơ me, Hoa tuy có khác biệt về ngôn ngữ, tập quán nhưng đều có chung một hoàn cảnh, chung một nguyện vọng trong quá trình lâu dài của lịch sử Do đó, họ sống chan hòa, đoàn kết, chung sức giữ gìn và xây dựng mảnh đất Vĩnh Long giàu đẹp
Về tôn giáo, cũng như các tỉnh Nam bộ khác, phần đông dân số trong tỉnh Vĩnh Long đều có tập tục thờ cúng ông bà Bên cạnh đó, còn có nhiều tôn giáo có lịch sử phát triển lâu đời như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành và một số tôn giáo khác mang màu sắc của vùng Nam Bộ như đạo Cao đài, Hoà hảo đang hoạt động Tính đến thời điểm 01/4/2009, toàn tỉnh có 245.544 người theo đạo, chiếm 23,96% dân số Phổ biến nhất là Phật giáo có 155.580 người, chiếm 15,18%; Phật giáo Hoà Hảo có 34.921 người, chiếm 3,41%; Công giáo có 34.005 người, chiếm 3,32%; Cao đài 15.133 người, chiếm 1,48% Dân số tín ngưỡng Phật giáo, Công giáo, Cao đài… phân bố tương đối đều khắp các huyện trong tỉnh Riêng đạo Phật giáo Hoà Hảo tập trung nhiều ở 2 huyện Bình Minh và Bình Tân [157, tr.9]
1.3 Những lợi thế, tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long
1.3.1 Những lợi thế về điều kiện tự nhiên
Trang 39Vị trí địa lý và giao thông
Với cầu Mỹ Thuận và cầu Cần Thơ nối liền Vĩnh Long với hai trung tâm kinh tế lớn của vùng là thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, là một thế mạnh mà hiếm có tỉnh nào ở Đồng bằng sông Cửu Long có được Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để Vĩnh Long phát triển
Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy nên giao thông cũng trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn Vĩnh Long vốn có ưu thế lớn về giao thông thủy bởi mạng lưới sông, rạch, kênh đào chằng chịt, cho nên ghe tàu qua lại nhiều chiều, suốt ngày đêm, giao lưu với các địa phương khác trong khu vực và cả nước Hiện nay, từ địa bàn Vĩnh Long có một số tuyến đường thủy quan trọng đối với giao thông nội tỉnh và tỏa đến những vùng xa xôi ngoài tỉnh như các tuyến:
Thành phố Vĩnh Long đi Cầu Kè (Trà Vinh): 96km
Thành phố Vĩnh Long đi Hựu Thành (Trà Ôn): 78km
Thành phố Vĩnh Long đi Quới Thiện (Vũng Liêm): 40km
Huyện Vũng Liêm đi Mỹ Tho (Tiền Giang): 70km
Thành phố Vĩnh Long đi Cái Nhum (Mang Thít): 26km [4, tr.22]
Đặc biệt là tuyến đường sông Trà Ôn – Mang Thít nối từ các tỉnh miền tây với thành phố Hồ Chí Minh, là giao thông huyết mạch có ý nghĩa lớn đối với giao thông thủy trong tỉnh
Bảng 1.3.1: Mạng lưới đường thủy
Hạng mục Tổng đường thủy
(km)
Mật độ (km/km2)
Mật độ (km/1000 dân) ĐBSCL 4952 0,125 0,325
Vĩnh Long 731 0,491 0,708
Vĩnh Long/ ĐBSCL 14,7% 3,93 2,18
Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long [ 152]
Đường bộ cũng là một thế mạnh không kém, với sự thông thương liền mạch nhờ cầu Mỹ Thuận và cầu Cần Thơ, Vĩnh Long trở thành trạm trung chuyển giữa hai trung tâm kinh tế lớn và với các tỉnh lân cận Giao thông đường bộ chính vì vậy
Trang 40cũng phát triển và trở thành một thuận lợi to lớn cho sự phát triển của kinh tế Vĩnh Long
Quốc lộ số 1 là một trục giao thông chính của nước ta, chạy xuyên suốt dọc đất nước từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, đoạn đi qua địa phận Vĩnh Long khoảng 40
km Đoạn đường này được án ngữ bởi hai đầu cầu Mỹ Thuận và cầu Cần Thơ Thuận lợi này thúc đẩy việc giao thương kinh tế giữa Vĩnh Long với các tỉnh lân cận và với cả nước, tạo cơ hội cho kinh tế Vĩnh Long vươn ra khu vực và quốc tế
Ngoài ra, với 3 đường quốc lộ (53, 54, 57) và 7 tỉnh lộ (30,31,32,33,37,38,39) [4,
tr.24] đã nối liền tỉnh lỵ với các thị trấn Các tuyến đường liên xã hầu như hoàn thiện, hiện có 90/94 xã có đường ô tô tới trung tâm, 72/94 xã có đường liên ấp được nhựa hóa, trên 50% đường sá được bê tông hóa; 90% số ấp, khóm xe hai bánh lưu
thông suốt hai mùa mưa và mùa khô [75] đã tạo điều kiện giao thông đi lại thuận
lợi, dễ dàng hơn
Đất
Đất đai là yếu tố quyết định cho sản xuất nông nghiệp Theo Bách khoa nông
nghiệp Việt Nam đất là vật hình thành tự nhiên gồm những tầng lớp liên quan với
nhau theo phát triển của tầng sinh học, được tạo thành do kết hợp biến đổi của lớp mặt của vỏ Trái đất, dưới tác động tổng hợp của nước, không khí, sinh vật Còn
theo Từ điển bách khoa Việt Nam, đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ Trái đất tương
đối tơi xốp do các loại đá phong hóa ra, có độ phì trên đó cây cỏ có thể mọc được Đất hình thành do tác động tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ [57,
tr 344] Trong nông nghiệp, đất được phân thành nhiều loại tùy theo khả năng sử dụng như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản Ở Vĩnh Long, đất dành cho hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm
tỷ lệ cao, đất đai màu mỡ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
Đất đai ở Vĩnh Long được hình thành do kết quả trầm tích biển lùi Holocene (cách nay khoảng 5.000 – 11.200 năm) dưới tác động của sông Mekong Theo kết
quả điều tra, khảo sát thổ nhưỡng của Chương trình đất tỉnh Vĩnh Long (1990 –