Tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo huyện, bên cạnh những thành tựu là những hạn chế, yếu kém trong công tác lãnh đạo và quá trình thực hiện bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Đó sẽ là
Trang 1LÊ THỊ KIM NHUNG
TÊN ĐỀ TÀI: ĐẢNG BỘ HUYỆN DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CNH-HĐH ( 1999-2009)
(LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM)
MÃ SỐ 602256
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS VÕ VĂN SEN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2010
Trang 21 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn
5 Kết cấu luận văn
6 Những đóng góp của luận văn
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG KINH TẾ HUYỆN DĨ AN TRƯỚC NĂM 1999
1.1.1 Vị trị địa lý, địa hình, khí hậu, địa giới hành chính 10
Trang 31.2.5 Đời sống xã hội 19 1.3 Thực trạng cơ cấu kinh tế huyện Dĩ An trước năm 1999 20
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN DĨ AN GIAI ĐOẠN 1999 ĐẾN 2009
2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng bộ Tỉnh Bình Dương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1999 – 2009
Trang 43.3 Một số kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện giai đoạn 1999 đến 2009
91
3.4.1 Quy hoạch phát triển các ngành, các vùng kinh tế 93
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả theo như trong luận văn là trung thực
Tác giả
Lê Thị Kim Nhung
Trang 61 ĐVT Đơn vị tính
2 BOT Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (Build – Operate
- Transfer)
3 BT Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (Build – Transfer)
4 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment)
5 GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product)
5 ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)
6 ATM Máy rút tiền tự động (Automated Teller Machine)
7 VACB Vườn-Ao-Chuồng-biogas
8 THCS Trường trung học cơ sở
9 IPM Quản lý dịch hại tổng hợp (intergrated Pest Managerment)
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Lịch sử nước ta trải qua một quá trình dài đấu tranh gian khổ nhằm chống lại âm mưu xâm lược của các nước đế quốc và giành lại nền độc lập dân tộc Quá trình đó là một thử thách lớn, rèn luyện cho dân tộc ta một quyết tâm lớn là xây dựng nên một xã hội mới mà trong đó nhân dân ta thể hiện được quyền làm chủ của mình Ngay từ khi miền Bắc giải phóng, quyết tâm lớn của Đảng ta là khẳng định đường lối công nghiệp hóa đất nước với nội dung cụ thể là “Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Xã hội” Sau khi đất nước thống nhất, đường lối công nghiệp hóa của Đảng ta càng được cụ thể hóa qua các thời kỳ khác nhau
Với truyền thống lâu đời về nền kinh tế thuần nông và đi lên Chủ nghĩa Xã hội từ một nền sản xuất nhỏ là phổ biến, trong khi đó xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tạo ra những thách thức lớn đối với nước ta bên cạnh những mặt thuận lợi với những cơ hội mới Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa đã buộc chúng ta phải cạnh tranh trong quá trình hội nhập
và cuộc cách mạng khoa học công nghệ yêu cầu chúng ta phải rút ngắn thời gian phát triển kinh tế, tránh sự tụt hậu về kinh tế đất nước
Trong bối cảnh đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một nhiệm vụ cần thiết để phát triển nền kinh tế đất nước Với yêu cầu đó, ở nước ta hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nhiều địa phương đã
có những bước chuyển dịch kinh tế mang lại hiệu quả cao, góp phần phát triển nền kinh tế, xã hội và ổn định chính trị
Huyện Dĩ An một vùng đất ở phía nam của tỉnh Bình Dương, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ Huyện đã lập nên những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược và chống Mỹ cứu nước Hòa bình lập lại với bao nhiêu khó khăn thử thách đang chờ trước mắt nhưng với lòng kiên nhẫn, tinh thần cần cù sáng tạo của con người nơi đây cùng với những thuận lợi cơ bản về tài nguyên thiên nhiên đã giúp cho vùng đất này trở nên đổi mới với những thay đổi đáng kể về mọi mặt Sau khi có quyết định tái lập vào tháng 8 năm 1999, huyện chỉ còn số diện tích đất tự nhiên là 5.819 ha với số dân 96.005 người nhưng nhờ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những thành tựu to lớn trên
Trang 8các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch và nông nghiệp nên nền kinh tế, chính trị nơi đây có những bước chuyển biến tích cực, góp phần mang lại thắng lợi cho cả nước nói chung, tỉnh Bình Dương nói riêng trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo huyện, bên cạnh những thành tựu là những hạn chế, yếu kém trong công tác lãnh đạo và quá trình thực hiện bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Đó sẽ là bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần làm giàu hơn nữa kho tàng lý luận của Đảng, Nhà nước trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng ở giai đoạn mới
Với lý do trên, tác giả chọn huyện Dĩ An để hoàn thành đề tài: “Đảng bộ huyện Dĩ
An lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1999 đến năm 2009”
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Dĩ An trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện giai đoạn 1999 đến năm 2009
Trong đó luận văn đi sâu vào việc giải quyết các vấn đề sau:
Khái quát đặc điểm tự nhiên – xã hội và thực trạng kinh tế huyện trước năm 1999 nhằm tạo ra những tiền đề cần thiết và tạo động lực cho Đảng bộ huyện Dĩ An tiến hành quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm mang lại hiệu quả cao kể từ năm 1999 đến năm 2009
Khái quát những quan điểm của Đảng bộ tỉnh Bình Dương và huyện Dĩ An về nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn 1999 đến năm 2009
Nêu ra diễn biến quá trình thực hiện nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện và nhận xét, đánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra ý kiến đề xuất về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn mới
3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cho đến hiện nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu về tỉnh Bình Dương trên nhiều phương diện với những nội dung phong phú và có ý nghĩa thiết thực như:
Trang 9“Thực trạng và giải pháp chiến lược phát triển khu công nghiệp tỉnh Bình Dương đến năm 2010” của tác giả Phạm Văn Sơn Khanh, Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên
ngành quản trị kinh doanh, Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000
“Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương đến năm 2010” của
tác giả Bùi Minh Trí, Luận văn thạc sĩ kinh tế ngành Quản trị kinh doanh, trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002
“Quá trình hình thành và phát triển khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương 2003)” của tác giả Huỳnh Đức Thiện, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt
(1993-Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh năm
2005
“Chuyển biến kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương giai đoạn 1945-2005” của tác giả
Nguyễn Văn Hiệp, Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thành phố Hồ Chí Minh năm 2007
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã nêu bật những nội dung về quá trình hình thành và phát triển, đánh giá những thành tựu và hạn chế đồng thời đưa ra những giải pháp cho sự phát triển ngành công nghiệp, khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương và cho thấy được vai trò lãnh đạo của Tỉnh Bộ đối với sự phát triển đó
Tuy nhiên, tác giả chưa nhận thấy vai trò lãnh đạo của cấp Đảng Bộ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển nền kinh tế tỉnh Bình Dương, đồng thời các công trình nghiên cứu đó chưa đi sâu vào việc tìm hiểu vai trò của các ngành dịch vụ, thương mại, du lịch vốn còn rất mới mẽ và kể cả trong nông nghiệp Đề cập tới vấn đề trên, phải kể đến công trình nghiên cứu của thạc sĩ Nguyễn Thị Minh Phương trong đề tài:
“Đảng bộ huyện Thuận An lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1991-2006” năm 2009 Tuy nhiên, đề tài này chưa đi sâu vào nghiên cứu quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong các thành phần kinh tế cũng như vùng kinh tế Hơn thế nữa, chỉ với đề tài này thì vai trò của Đảng bộ huyện trong bước chuyển mình của nền kinh tế ở Bình Dương ở các huyện chưa được khai thác hết
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài “Đảng bộ huyện Dĩ An lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1999 - 2009” nhằm tìm hiểu được vai trò của Đảng bộ huyện trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ở huyện Dĩ An
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 10Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, các phương pháp được luận văn sử dụng nghiên cứu là: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp so sánh, phân tích, chứng minh…
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Chương 1: Luận văn nêu khái quát đặc điểm tự nhiên- xã hội và thực trạng kinh tế
huyện trước năm 1999 nhằm làm tiền đề lãnh đạo huyện thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn tiếp theo
Chương 2: Luận văn đi sâu vào tìm hiểu những quan điểm của tỉnh Bình Dương và
huyện Dĩ An về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1999 đến năm 2009 và tìm hiểu về quá trình thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn trên
Chương 3: Nhận xét, đánh giá những thành tựu và hạn chế đồng thời đưa ra ý kiến, đề
xuất về quá trình lãnh đạo huyện Dĩ An thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn
1999 đến năm 2009
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Đã tập hợp hệ thống hóa được một lượng lớn tư liệu, qua đó làm rõ quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một huyện khá điển hình của tỉnh Bình Dương
Đề tài còn nêu một số đề xuất có thể tham khảo để góp phần vào việc đưa nền kinh tế huyện đi lên theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 11CHƯƠNG 1:
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG KINH TẾ
HUYỆN DĨ AN TRƯỚC NĂM 1999
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu và địa giới hành chính:
- Vị trí địa lý:
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ với diện tích tự nhiên là 2.695,54 km2 chiếm 0,83% diện tích cả nước và xếp thứ 42/61 tỉnh thành Hiện nay tỉnh có một thị xã, 6 huyện, 8 thị trấn và 75 xã Tỉnh lỵ là thị xã Thủ Dầu Một là Trung tâm Hành chính - Kinh tế - Chính trị - Văn hóa Xã hội của tỉnh Dĩ An là một huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Bình Dương được tái lập trên cơ sở tách ra từ huyện Thuận An và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 09 năm 1999 theo nghị quyết số 58/NĐ-CP ngày 23/07/1999 Phía Bắc giáp với huyện Tân Uyên và Thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai, phía Đông và Đông nam giáp với một phần tỉnh Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh, phía Tây giáp với huyện Thuận An và phía Nam giáp với thành Phố Hồ Chí Minh, huyện có diện tích nhỏ nhất tỉnh (5.819 ha) và
có mật độ dân số cao nhất tỉnh
Huyện nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia và quốc tế, nối với Sân bay Tân Sơn Nhất, cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu đồng thời nằm trên trục giao thông Quốc lộ 1A, Quốc lộ 1K, đường sắt Bắc Nam Cùng với huyện Thuận An và thị xã Thủ Dầu Một, Dĩ An là một trong ba huyện
có nền kinh tế phát triển mạnh nhất tỉnh Bình Dương, không những thế Dĩ An còn là vùng đệm cho sự ổn định về chính trị và an ninh quốc phòng cho ba tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh
Hiện nay huyện có 7 đơn vị hành chính gồm một thị trấn và 6 xã là Tân Bình, Tân Đông Hiệp, Bình An, Bình Thắng, Đông Hòa, An Bình
Với vị trí trên, Dĩ An có những thuận lợi lớn là nằm tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm kinh tế, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, khoa học công nghệ, đầu mối giao thông và giao lưu thương mại lớn nhất nước Đồng thới do nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và được coi là những vùng năng động nhất tỉnh, Dĩ
An đã và đang có sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Tuy nhiên,
Trang 12dĩ An vẫn có những mặt hạn chế do xuất phát điểm còn thấp về các mặt như kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng và vấn đề kỹ thuật còn thiếu đồng bộ, vấn đề bảo vệ môi trường chưa thực sự được giải quyết thông suốt
- Địa hình, địa mạo:
Kể từ khi sát nhập hai huyện Lái Thiêu và Dĩ An vào năm 1977, huyện Dĩ An trước đây có tên gọi là Thuận An gồm 16 xã nhưng theo quyết định số 58/1999 của chính phủ ngày 23 tháng 07 năm 1999, huyện Dĩ An được tái lập với 5.819 ha diện tích đất
tự nhiên và 96.005 nhân khẩu [5, 390]
Địa hình Dĩ An tương đối bằng phẳng với độ dốc thấp (trung bình từ 2-5%) và nền dốc cao từ 25-30m so với mực nước biển biến đổi dần từ Tây sang Đông với hai bật thềm chính là bật thềm bằng có độ cao từ 20 đến 40m, có khả năng thoát nước tốt, kết cấu địa chất vững chắc phù hợp với việc xây dựng các khu dân cư, khu công nghiệp, trung tâm hành chính, thương mại và bật thềm đồng bằng thấp với độ cao từ 2 đến 5m,
có độ chịu nén kém nên phù hợp với việc phát triển nông nghiệp và chăn nuôi, ít thuận tiện cho việc xây dựng các công trình
- Khí hậu:
Dĩ An nằm ở vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo và có nhiệt độ quanh năm trung bình dao động từ 25,80C đến 26,90C Thời tiết cũng ổn định với hai mùa rõ rệt Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 kéo dài đến tháng 4, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 Trong các tháng mưa, độ ẩm không khí là 76,7% và trong các tháng nắng là
65 đến 80%, độ ẩm thấp nhất là 35 đến 45%
Lượng bức xạ dồi dào và ít biến động giữa các mùa và tương đối ổn định giữa các năm Hàng tháng, chế độ bức xạ tổng cộng từ 10,2 Kcal đến 14,2 Kcal và cường độ bức xạ của tháng 2, 3, 4 lên đến 1 Kcal/cm
Vào khoảng tháng 2, 3, 4 là mùa nắng nhất trong năm với mức nắng từ 8 đến 10 giờ trong ngày và khoảng 2.500-2.800 giờ/năm, lượng bức xạ trong những tháng này lớn, lượng nước bốc hơi cao chiếm 75 đến 80% cả năm Tháng 9 là tháng có mưa nhiều nhất, có giờ nắng ít nhất khoảng 4 đến 6 giờ trong ngày
Trong năm, lượng mưa tương đối ổn định, tính mức trung bình hàng năm khoảng 1.600-1.700 mm/ năm, cao nhất là 2.683mm, thấp nhất là 1.376mm Lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm khoảng 85 đến 95% lượng mưa toàn năm Tuy nhiên trong các tháng mưa ít xảy ra ngập lụt vì huyện đã đầu tư hệ thống thoát nước để
Trang 13xử lý Hướng gió chủ yếu ở hướng Tây Nam và hầu như không có bão trong năm [36, 10]
- Thủy văn:
Huyện Dĩ An có hệ thống sông suối thuộc hệ thống sông Đồng Nai và có nguồn nước ngầm hạn hẹp do vậy mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp đều phải dựa vào hệ thống sông Đồng Nai Sông Đồng Nai chạy dọc theo hướng Đông Bắc của huyện và mang theo hệ thống sông rạch nhỏ như Rạch Ông Tích, Rạch Bà Lo có nguồn nước mặt phục vụ tốt cho công tác tướu tiêu, sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư Ngoài ra, Huyện Dĩ An có mạng lưới sông ngòi, ao hồ phân bố không đều chủ yếu là ở hướng Đông Nam của huyện, do đó ở các vùng này thuận tiện cho việc nuôi trồng thủy sản và tưới tiêu hoa màu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên:
- Tài nguyên đất:
Huyện Dĩ An có cấu trúc đất gồm 4 loại chính là đất nâu vàng, đất phù sa, đất xám
và đất xói mòn trơ sỏi đá
Loại đất có diện tích lớn nhất là đất nâu vàng với 4.609,57 ha, chiếm 76,4% tổng diện tích tự nhiên, là loại đất có quy mô lớn nhất trong các loại đất được tạo thành từ hai loại phiến đá và mẫu chất phù sa cổ và được phân bố đều ở các xã Đất nâu vàng có giá trị sử dụng tương đối cao đối với nông nghiệp do có nhiều dưỡng chất thích hợp với trồng cây lâu năm như cao su, hồ tiêu, cây ăn quả
Đất phù sa có diện tích là 956 ha được chia làm 3 loại: đất phù sa không được bồi, chưa phân hóa phẫu diện, đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng và đất phù sa Gley Ba loại đất này được hình thành do sự bồi đắp của các sông suối được phân bố chủ yếu ở các xã Tân Bình, Bình An và hầu hết diện tích đều được sử dụng cho nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao nên không nên sử dụng cho việc xây dựng các công trình xây dựng
Đất xám có diện tích 314ha được chia làm 3 loại đất là đất xám trên phù sa cổ, đất xám trên phù sa cổ có kết von và đất xám Gley được phân bố tập trung ở các xã Bình
An, Đông Hòa và thị trấn Dĩ An, được hình thành trên bật thềm phù sa cổ, có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dưỡng chất, có phản ứng chua, giữ nước kém nên không phù hợp với việc phát triển nông nghiệp, chỉ có thể thích hợp với các cây họ đậu
Trang 14Đất xói mòn trơ sỏi đá có diện tích là 77ha được phân bố chủ yếu ở xã Bình An trên núi Châu Thới Loại đất này đã bị bào mòn và rửa trôi các dưỡng chất
Nhìn chung tài nguyên đất của huyện Dĩ An thuận lợi cho việc xây dựng và phát triển công nghiệp hơn là phát triển nông nghiệp do diện tích đất phù sa cổ chỉ chiếm một diện tích nhỏ là 956 ha và phân bố rời rạc, còn lại là các loại đất có kết cấu rời rạc, giữ nước và giữ phân kém, nghèo dưỡng chất và dễ bị bào mòn rửa trôi nhưng lại có khả năng chịu nén tốt [36, 12]
- Tài nguyên nước:
Huyện Dĩ An có hai loại nước là nước mặt và nước ngầm Nguồn nước mặt được cung cấp bởi sông Đồng Nai và một số kênh rạch ven sông Tổng lưu lượng chảy của
hệ thống sông này có thể đủ cho công ty cấp thoát nước phụ vụ sinh hoạt cho nhân và tưới tiêu trong nông nghiệp, đồng thời đủ cho việc xử lý chất thải của các khu công nghiệp Nguồn nước ngầm ở huyện gồm nước ngầm sâu và nước ngầm mạch nông Nước ngầm sâu có chất lượng nước tốt, không bị nhiễm mặn có xuất phát liên quan tới nguồn nước ngầm có áp lực từ Bến Cát qua thị xã Thủ Dầu Một và thị trấn Dĩ An, có
độ sâu chứa nước từ 30 đến 39 độ Nguồn nước ngầm mạch nông được phân bố gần mặt đất, không có áp lực và phụ thuộc vào lượng mưa [36, 13]
- Tài nguyên rừng:
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005, diện tích đất lâm nghiệp có rừng của huyện
Dĩ An là 3.07ha, rừng sản xuất chiếm 0.05ha tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, giảm 138.27 do chuyển một phần sang đất có di tích lịch sử văn hóa (khu di tích Hố Lang xã Tân Bình) Tính đến nay, diện tích đất rừng tự nhiên ở huyện không còn, kể cả rừng trồng tập trung và diện tích đất rừng khoanh nuôi cũng còn rất ít
- Tài nguyên khoáng sản:
Nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện không phong phú và đa dạng chủ yếu là khoáng sản phi kim loại gồm khoáng sản Séc gạch ngói, tập trung ở xã Bình An, Đông Hòa với tổng tài nguyên khoáng sản là 250 triệu m3 Loại Sec này có khả năng chịu lửa cao thích hợp với công nghiệp luyện kim Đá xây dựng tập trung ở Núi Châu Thới thuộc xã Bình An và xã Đông Hòa với tổng tài nguyên khoáng sản khoảng 150 triệu
m3, trong đó đã khai thác 12 triệu m3
Nhìn chung, nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện không có trữ lượng lớn nhưng cũng đủ để phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong huyện [36, 13]
Trang 151.2 ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI:
1.2.1 Dân cư:
Tỉnh Bình Dương nói chung và huyện Dĩ An nói riêng trên vùng đất Đông Nam Bộ
đã có một khu dân cư sinh sống, tuy nhiên trước khi người Việt đến khẩn hoang khai phá, địa bàn huyện Dĩ An còn là vùng đất của rừng rậm, đầm lầy với nhiều thú dữ Đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII khi ngươì Việt xuất hiện thì vùng đất này trở nên thay đổi, lúc đầu chỉ xuất hiện một số dân tộc sinh sống như dân tộc Châu ro, dân tộc Stiêng, dân tộc Khơ me, dân tộc Mạ, dân tộc Mnông với số lượng còn rât ít, sống chủ yếu bằng nghề săn bắn, hái lượm, du canh, du cư
Ngoài ra, dân cư nơi đây còn bao gồm cả những người nông dân bần cùng, cơ cực đến từ mảnh đất miền trung xa xôi Từ thế kỷ XVII trở đi, ngoài cộng đồng người Việt sinh sống, người Hoa từ nhiều nguồn gốc khác nhau Tiếp đến là những cuộc di dân có
tổ chức của triều đình nhà Nguyễn và đầu thế kỷ XIX sau khi Nguyễn Hữu Cảnh đi kinh lược vào Nam để chia thôn lập ấp vào năm 1698
Lúc đầu một số nhóm dân cư đến khẩn hoang lập ấp chủ yếu sống bằng nghề nông hoặc vài nghề thủ công khác nhưng sau đó khi người Hoa xuất hiện, các hoạt động mua bán trở nên tấp nập hơn, nhất là khi một số người Hoa làm nghề gốm sứ tìm
về Dĩ An, Lái Thiêu
Vào đầu thế kỷ XX khi thực dân Pháp thực hiện kế hoạch khai thác thuộc đia lần thứ hai, những người dân đang trong cảnh bần cùng cơ cực đã trở thành những người làm thuê trong các nhà máy xí nghiệp của thực dân Pháp và trở thành giai cấp công nhân hoặc giai cấp nông dân làm thuê cho địa chủ phong kiến
Nhìn chung Dĩ An từ ngàn xưa đã là nơi hội tụ nhiều nền văn hóa khác nhau với tập tục và lề lối sống khác nhau đã tạo nên những sắc thái riêng trong cộng đồng dân
cư dưới tinh thần đoàn kết và phát triển Điều này góp phần thuận lợi cho việc hình thành nên những cơ cấu kinh tế, vùng kinh tế và thành phần kinh tế khác nhau về sau phát triển từ những vùng trồng cây ăn trái, những làng nghề thủ công mỹ nghệ, Theo số liệu thông kê Dĩ An ngày trước với tên gọi Thuận An có số dân là 141.854 người [30, 17]
1.2.2 Giáo dục:
Có thể nói sự nghiệp giáo dục đóng một vai trò to lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực nhằm thích ứng với nhu cầu phát triển của xã hội
Trang 16Với vai trò to lớn đó đã thúc đẩy Đảng bộ huyện Dĩ An ngày càng chăm lo tích cực đến sự nghiệp giáo dục Ngay từ năm 1987, tình trạng học 3 ca đã bị xóa bỏ, số trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 95% trên địa bàn huyện, từ 9-15 tuổi vào cấp II đạt trên 90% Sau khi cả nước thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, bằng nguồn kinh phí vận động nhân dân và các doanh nghiệp trên địa bàn cùng với ngân sách huyện, việc tu sửa, đầu
tư xây dựng mới và mua sắm máy móc, trang thiết bị mới đã từng bước thực hiện nhằm đáp ứng cho nhu cầu dạy và học theo hướng hiện đại hóa cơ sở vật chất Ngoài
ra đội ngũ giáo viên đã và đang được chuẩn hóa, số lượng trường tiên tiến, giáo viên dạy giỏi ngày càng tăng Các biện pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục được thực hiện toàn diện, phương châm học đi đôi với hành kết hợp chặt chẽ với ba môi trường giáo dục là gia đình, nhà trường, xã hội ngày càng thực hiện tốt hơn [5, 373]
Trong 10 năm qua, ngành giáo dục Dĩ An đã không ngừng phấn đấu vươn lên đưa ngành giáo dục huyện thành một đơn vị luôn dẫn đầu về phong trào thi đua dạy tốt và học tốt Nếu năm 1999 khi vừa tách huyện, Dĩ An chỉ có 19 trường học nhỏ với cơ sở vật chất còn nghèo nàn thì đến nay đã có 30 trường học được xây dựng khang trang, trong đó có 10 trường đạt chuẩn quốc gia Bên cạnh các trường công lập, trên địa bàn huyện đã hình thành được 46 cơ sở trường giáo dục tư thục mầm non, giải quyết cho nhu cầu học tập của trẻ mẫu giáo, nhà trẻ Tỷ lệ học sinh có độ tuổi đến trường hàng năm đạt 98-100%, hàng năm có 90% tỷ lệ tốt nghiệp THCS Hiện nay số lượng nhà giáo ưu tú ở huyện đạt 21%, chiếm 1/4 tổng số nhà giáo ưu tú trong toàn tỉnh [27, 56]
1.2.3 Y tế:
Bên cạnh việc chú trọng tới sự nghiệp giáo dục, Đảng bộ huyện Dĩ An cũng còn quan tâm tới nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân Sau khi công cuộc đổi mới đất nước được tiến hành, toàn huyện đã tăng cường củng cố mạng lưới y tế, ngoài các bệnh viện, các trạm y tế xã được xây dựng và tu bổ với trang thiết bị ngày càng hiện đại hơn Huyện còn thực hiện các chương trình y tế quốc gia cho nhân dân, thực hiện công tác phòng ngừa dịch bệnh, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng dân cư
Ngoài ra, công tác truyền thông dân số cũng được thực hiện tốt giúp mọi người nhận thức tốt chiến lược kế hoạch hóa gia đình Hội Chữ Thập Đỏ, Hội Y Học cổ truyền cũng luôn quan tâm đến sức khỏe của người dân thông qua các hoạt động thiết
Trang 17thực tận các cơ sở Chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng được thực hiện tốt đặc biệt là chương trình chăm sóc sức khỏe dành cho trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi
Hiện nay, toàn huyện có 2 bệnh viện công lập là bệnh viện Dĩ An và bệnh viện Công Đoàn 4 và 11 phòng khám đa khoa do tư nhân thành lập và một bệnh viện có quy mô lớn đang được khởi công xây dựng là bệnh viện đa khoa quốc tế Việt Anh Đức Huyện còn có 469 cơ sở y tế tư nhân đang hoạt động
Bên cạnh đó, việc thực hiện các chính sách xã hội cũng được huyện quan tâm sâu sắc như công tác đền ơn đáp nghĩa đối với người có công với cách mạng, gia đình thương binh, liệt sĩ, cán bộ nghỉ hưu [5, 373]
1.2.4 Văn hóa thông tin, thể dục thể thao:
Hiện nay trên địa bàn huyện, các hoạt động văn hóa xã hội, đặc biệt là công tác truyền thông ngày càng được đẩy mạnh với sự trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cho ngành văn hóa thông tin Các hoạt thông tin cổ động phổ biến các chính sách chủ trương của Đảng, Nhà nước và giới thiệu các mô hình tiên tiến điển hình đến nhân dân được thực hiện có hiệu quả Đa dạng hóa các dịch vụ kinh doanh văn hóa phẩm và nội dung của các hoạt động văn nghệ, tác phẩm nghệ thuật, khuyến khích các hoạt động thi đua lành mạnh về phong trào thể dục thể thao nhằm động viên tinh thần tự chăm sóc sức khỏe của nhân dân đồng thời cổ vũ mạnh mẽ cho nhân dân nhất là lớp trẻ phát huy tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc
Hiện nay có 95 câu lạc bộ thể dục, thể thao và 40 câu lạc bộ văn nghệ thu hút sự tham gia của nhiều người Số người tập luyện thể thao thường xuyên đạt tỷ lệ 24,5%
so với tổng số dân, số gia đình thể thao trong huyện chiếm 17,5% so với tổng số hộ hiện có Hoạt động Internet cũng diễn ra rầm rộ, với tỷ lệ người sử dụng Internet trên địa bàn chiếm 1,54 máy/ 100 dân Tỷ lệ gia đình văn hóa hàng năm đạt 85 đến 95%, khu phố - ấp văn hóa đạt 36-60%, cơ quan văn hóa đạt 90-95% [20, 6]
Tuy nhiên, bên cạnh việc đẩy mạnh các hoạt động kể trên, huyện còn hạn chế trong việc chưa đáp ứng kịp thời cho nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân do chậm thực hiện các tiến độ xây dựng công trình văn hóa
1.2.5 Đời sống xã hội:
Trang 18Chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo luôn được các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ngành và đoàn thể quan tâm sâu sắc như đào tạo nghề cho lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ và giới thiệu việc làm cho người lao động Thực hiện việc cho vay vốn sản xuất cho các đối tượng nghèo thông qua các nguồn vốn cũng được chú ý thực hiện góp phần làm giảm tỷ lệ nghèo trên địa bàn huyện Nhờ
đó tỷ lệ hộ nghèo trong huyện giảm được đáng kể từ 763 hộ năm 2000 và còn 118 hộ năm 2005, đến năm 2008 chỉ còn hai hộ nghèo trong huyện theo tiêu chí của tỉnh (500.000đồng/người/tháng) Hiện nay số hộ nghèo chỉ còn 0,58% và huyện, các xã, thị trấn được tỉnh công nhận là địa phương làm tốt công tác chính sách xã hội [27, 10]
1.3 THỰC TRẠNG CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN DĨ AN TRƯỚC NĂM 1999
1.3.1 Cơ cấu ngành kinh tế:
- Một là, đối với ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Sau khi cả nước tiến hành công cuộc đổi mới đất nước để thoát khỏi tình trạng sự khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội, cả nước nói chung và Dĩ An nói riêng vẫn còn nằm trong tình trạng khó khăn về mọi mặt Vì vậy nhiều ngành nghề truyền thống cũng không có đủ khả năng phát huy thế mạnh của nó
Huyện Dĩ An (trước đây tên gọi Thuận An gồm cả huyện Lái Thiêu) nổi tiếng với các làng nghề truyền thống lâu đời với những sản phẩm gốm có kiểu dáng, mẫu mã đa dạng, men màu tinh xảo, đa dạng về chủng loại và có mặt ở nhiều nơi trong và ngoài nước (chủ yếu tập trung ở Lái Thiêu) Bên cạnh đó là các làng nghề tiểu thủ công mỹ nghệ như đan lát, nấu đường, mộc … cũng xuất hiện ở nhiều nơi
Các làng nghề trên được bao cấp về nguồn vốn, vật tư nên khi chuyển sang cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước, các doanh nghiệp chưa bắt nhịp được với tình hình mới nên chịu thua lỗ, giải thể hoặc huyển sang hình thức sở hữu khác
Do thiếu vốn, nguyên liệu, giá cả luôn biến đọng và công nghệ lạc hậu và bị ràng buộc bởi cơ chế quản lý nên các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh sản xuất gốm mặc dù sản phẩm có nhiều mẫu mã đa dạng nhưng vẫn khó có chỗ đứng trên thị trường thế giới
Tuy nhiên sau khi Bộ chính trị ban hành nghị quyết số 16/BCT, ngày 15/07/1988
về đổi mới các chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế quốc doanh, các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh được khôi phục dần, một số cơ sở được xây dựng và mở rộng Sản phẩm
Trang 19làm ra được đầu tư về trang thiết bị có trình độ kỷ thuật cao hơn, chất lượng hơn và thị trường xuất khẩu được mở rộng Nhờ đó giá trị sản lượng năm 1998 đã đạt 31.560 triệu đồng [12, 12]
Khi đất nước bước vào giai đoạn mới quyết tâm thực hiện những nội dung của cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ huyện Dĩ
An đã nhanh chóng thực hiện quyết tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,
du lịch và nông nghiệp Trong đó tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và du lịch, dịch
vụ và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Với chủ trương đó, cơ cấu ngành ngày càng đa dạng, ngoài các ngành công nghiệp truyền thống như gốm sứ, vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm và đồ uống thì các ngành mới như chế biến thực phẩm, công nghệ thông tin, phần mềm, điện tử, thực phẩm cao cấp … có xu hướng tăng cao Tuy nhiên hiệu quả sản xuất của nhiều ngành còn thấp, hầu hết nguyên liệu vẫn còn nhập từ nhiều nước và có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường như các ngành công nghệ hoá chất, cao su, nhựa Các sản phẩm giày da, dệt may thì thiếu nguyên vật liệu để gia công lại phải thông qua nhiều doanh nghiệp trung gian nên thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế không được khẳng định Các sản phẩm điện tử, điện, viễn thông chủ yếu là gia công, lắp ráp và chịu sự cạnh tranh cao trên thị trường Mặt dù vậy giá trị sản lượng ngành công nghiệp trong các năm luôn tăng dần Năm 1991 đạt 71.067 triệu đồng, năm 1995 đạt 284.055 Năm 1999 đạt 1.896 triệu đồng [39,1]
- Hai là, đối với ngành nông nghiệp:
Từ khi đất nước thống nhất đến khi cả nước tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước, nông nghiệp được coi là yếu tố hàng đầu, là nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội nhằm giải quyết trước mắt những khó khăn về lương thực, thực phẩm cho nhân dân và sau đó là xuất khẩu Vì vậy, ngay từ đầu huyện đã chú trọng tới việc đầu tư về khoa học kỹ thuật, tiến hành thâm canh tăng vụ, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi Trong đó huyện chú trọng tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi và các hoạt động dịch vụ nông nghiệp Do đó, các hoạt động xây dựng đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng được đầu tư kinh phí một cách hiệu quả để thực hiện Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp liên kết, hợp tác trong nông thôn để cùng nhau tiếp cận với các mô hình quản lý mới cũng như những tiến bộ mới về khoa học kỹ thuật Huyện còn tạo điều kiện thuận lợi để ưu đãi về vốn,
Trang 20thuế để tiếp tục chuyển đổi và thành lập các hình thức hợp tác xã mới, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để thích ứng với cơ chế thị trường Ngoài ra, huyện còn ra sức phối hợp với các ban ngành tiến hành nạo vét kênh mương, thực hiện các biện pháp phòng chống ngập úng, hạn hán
Trong giai đoạn này sản phẩm chính trong nông nghiệp là chăn nuôi công nghiệp
và trồng rau xanh nên cần chiếm một diện tích đáng kể, số diện tích kể trên được hình thành từ chủ trương khai khẩn ruộng đất hoang bằng nhiều biện pháp như tích cực phá
gở bom mìn do Mỹ Ngụy để lại trong các ấp, thu hồi bớt đất của công trường quốc doanh hoặc thực hiện các biện pháp giải quyết các tranh chấp, cho dân mượn đất để sản xuất Vì vậy diện tích đất tăng lên đáng kể Năm 1986 diện tích gieo trồng là 8.425ha với sản lượng nông nghiệp quy ra thóc là 15.936 tấn Năm 1988 diện tích gieo trồng đạt 9.227ha với sản lượng quy ra thóc là 17.499 tấn, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 20 tỷ đồng/năm Lương thực theo đầu người đạt 135kg/người, trong đó diện tích trồng lúa là 3.241 ha với năng suất gần 3 tấn/ha, đạt sản lượng 9.688 tấn Đến năm
1999, diện tích trồng lúa là 1.016ha Năng suất lúa cả năm là 33,1 tạ/ha, đạt sản lượng
cả năm là 3.368 tấn, sản lượng lương thực theo đầu người là 35,3kg/người
Trong những năm này Dĩ An đã tận dụng được lợi thế về điều kiện tự nhiên rất nhiều Do vùng địa hình được hình thành trên cơ sở hai vùng đất khác nhau đó là vùng đất gò, đồi với chất đất là đất các pha và một phần ferlit hóa thuận lợi cho việc trồng các loại cây lương thực, hoa màu và một số cây công nghiệp lâu năm như cao su, điều
và vùng đất phù sa được bồi đắp từ các con sông và hệ thống kênh rạch chằng chịt, thuận tiện cho việc tưới tiêu, nên phù hợp với các loại cây ăn trái, mía, lúa, hoa màu Hai loại đất đó đã tạo cho huyện hình thành hai vùng sản xuất nông nghiệp tập trung [30, 23] Xem bảng 1.1
Diện tích đất nông nghiệp và năng suất cây trồng năm 1988
Trang 21Tuy nhiên, khi cả nước bước vào giai đoạn mới với chủ trương thực hiện giai đoạn quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội như trong cương lĩnh xây dựng đất nước năm 1991
đã nêu, huyện Dĩ An đã nhanh chóng chuyển hướng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước với chủ trương tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp thì diện tích đất nông nghiệp đã dần dần được thay thế cho sự xuất hiện các khu, cụm công nghiệp, công trình giao thông đô thị Diện tích đất nông nghiệp năm
1991 là 10.850ha, năm 1995 là 9.940ha [30, 62]
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm dần nhưng do chủ trương đầu tư kỹ thuật cao và chuyển đổi sang một số cây trồng có giá trị kinh tế cao nên giá trị sản lượng ngày càng tăng Năm 1991 giá trị sản lượng đạt 13.101 triệu đồng, năm 1995 đạt 13.785 triệu đồng, năm 1999 đạt 31,0 triệu đồng
Tuy nhiên khi chuyển sang cơ chế mới từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường huyện không thể vấp phải những khó khăn lớn làm ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp
Do tiền vốn, vật tư không đáp ứng kịp thời với nhu cầu mới người dân thiếu vốn nhưng nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ thiết thực, giá cả luôn biến động theo từng loại cây trồng một cách thất thường Người dân còn hoang mang về giá cả và điều kiện vận chuyển về nguyên vật liệu phục vụ cho nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, giống, đặt biệt là sự bất ổn định về giá cả nông sản khiển cho nông dân không chủ đông đầu tư
Khi chưa tách huyện Thuận An thành huyện Dĩ An và Thuận An, người dân nơi đây đã tận dụng được những lợi thế về sông nước để nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên do chỉ dựa vào sông Sài Gòn và hệ thống kênh mương chằng chịt với diện tích nhỏ nên hiệu quả kinh tế không cao, chủ yếu là nuôi và khai thác tôm, cá nước ngọt, cá giống Đối với hoạt động chăn nuôi, mặc dù huyện có đầu tư, mở rộng mô hình nhưng phát triển còn khá chậm và không ổn định do hàng năm liên tiếp bị các đợt dịch bệnh kéo dài, thị trường tiêu thụ thì không ổn định mà giá thức ăn gia súc tăng ngày càng nhanh, chủ yếu là nuôi gà, vịt, bò sữa, bò
Trong lâm nghiệp, diện tích đất rừng tự nhiên đã được thay thế dần diện tích trồng rừng với quy mô nhỏ để lấy gỗ sản xuất kinh doanh Tuy nhiên nguồn lâm sản chủ yếu
là khai thác gỗ tạp, củi, tầm vông, trúc, măng, lá dừa … chưa thực sự đầu tư cho các
Trang 22loại gỗ có giá trị kinh tế cao, vì vậy huyện không cung cấp đủ nguyên, vật liệu cho các khu công nghiệp chế biến gỗ mà phải nhập nguyên vật liệu từ các nước khác
- Thứ ba, đối với ngành thương mại, dịch vụ, du lịch:
Sau khi đất nước thống nhất, nước ta nói chung và Dĩ An nói riêng tồn tại hai hệ thống thị trường là thị trường quốc doanh, mua bán hợp tác xã và thị trường tự do Vì vậy hoạt động thương mại và dịch vụ bị xáo trộn, hoạt đông buôn bán, phân phối lưu thông diễn biến phức tạp [30, 24]
Hàng hóa khan hiếm, giá cả leo thang do một số tư thương đã tìm cách mua hàng hóa vật tư của doanh nghiệp nhà nước để bán với giá cao và kiếm lời, điều này đã gây nên sự khó khăn trong công tác quản lý Sự bất ổn này là nguyên nhân của tình trạng doanh nghiệp nhà nước có giá tương đối ổn định và thường thấp hơn giá cả thị trường
tự do vì được sự quản lý của nhà nước nhằm thực hiện chính sách phân phối theo kế hoạch phục vụ đời sống nhân dân và sản xuất, tuy nhiên nguồn hàng hóa phân phối không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân kể về số lượng, chất lượng và chủng loại
Tình trạng trên đã dần được xóa bỏ khi cả nước áp dụng cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tồn tại, hàng hóa được lưu thông thuận lợi giữa trong và ngoài tỉnh, hàng nông sản thuận tiện hơn để lưu thông và đa dạng hơn Nhờ đó, sự chênh lệch giá cả không còn nhiều giữa các vùng trong tỉnh và huyện
Năm 1988 doanh số mua của hoạt động nội thương đạt 6,14 tỷ đồng, doanh số bán
ra đạt 6,5 tỷ đồng, tiền vốn quay vòng 6 đến 9 lần trong một năm Hoạt động ngoại
thương đạt doanh số 7,1 tỷ đồng, trong đó xuất khẩu đạt 5,4 tỷ đồng Tuy nhiên, một
thực tế vẫn còn tồn tại là các doanh nghiệp quốc doanh do không nắm được một số những mặc hàng quan trọng sản xuất tại địa phương nên chưa nắm giữ vai trò chủ đạo Điều này còn thể hiện rõ khi các hợp tác xã không còn gắn với sản xuất và đổi mới kịp thời nên một số mặc hàng quan trọng bị tư thương lũng đoạn, đầu cơ buôn lậu gây nên
sự tan rã trước sự cạnh tranh của các tư thương gây thiệt hại cho nhà nước và nhân dân
mà chưa được khắc phục
Trước sự biến động giá cả thị trường trong nước nhiều công ty, xí nghiệp đã tìm hướng đi riêng cho mình bằng cách hướng ra các nước để đẩy mạnh xuất khẩu nhằm thoát ra khỏi tình trạng khó khăn và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, công tác xuất khẩu còn bộc lộ nhiều yếu kém do nhu cầu của thị trường cao hơn
Trang 23kim ngạch xuất khẩu trong khi đó hàng xuất khẩu chưa được đầu tư đúng mức để nâng cao chất lượng và mẫu mã, hoạt động còn phân tán, nhỏ lẻ, chưa tập trung trong công tác quản lý và sử dụng ngoại tệ
Sau khi chủ trương của huyện là tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại và du lịch và giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, hoạt động của các lĩnh vực đều có bước tiến bộ vượt bậc, góp phần thúc đẩy nền kinh
tế huyện phát triển nhanh chóng Tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại thể hiện những yếu kém đáng kể, phương tiện giao thông vận tải lạc hậu, cũ kỹ chưa được thay thế, các hình thức liên doanh, liên kết với khu công nghiệp chưa thực hiện có hiệu quả nên
chưa phát triển ở quy mô lớn và ổn định
Hoạt động du lịch được huyện chú trọng để khai thác nhưng vẫn còn nhỏ lẻ, chưa đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật đủ để phát huy thế mạnh, nhiều khu du lịch có tiềm năng nhưng lại chưa khai thác đầu tư
Về tài chính, lãnh đạo huyện đã chú trọng đến việc đảm bảo cân đối thu chi ngân sách, tuy nhiên còn nhiều vấn đề bất cập do tổng thu ngân sách còn thấp so với nhu cầu chi thực tế, nạn thất thu ngân sách vẫn còn tồn tại mà không được giải quyết căn bản, nhiều xí nghiệp, công ty vi phạm luật pháp trong vấn đề nộp thuế, việc quản lý thu chi ngân sách còn lỏng lẻo, kỷ luật tài chính chưa nghiêm
Về hoạt động ngân hàng, trước năm 1991 vẫn chưa đi vào quy củ do lượng tiền mặt đưa ra lớn hơn tiền thu về tạo áp lực thường xuyên cho các ngân hàng về vốn đề thanh toán, nhưng sau khi chuyển sang cơ chế hoạch toán kinh doanh, hệ thống tín dụng phát triển, nguồn vốn được huy động để tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặt biệt là nguồn vốn huy động cho ngành nông nghiệp được chú ý phát triển, góp phần đẩy nhanh sự tiến bộ ở nông thôn so với thành thị [30, 26]
Tóm lại, bên cạnh những thành tựu đạt được, trước năm 1999 huyện còn nhiều hạn chế khi nền kinh tế có phát triển nhưng chưa thật sự vững mạnh, lợi thế về đất đai, tài nguyên chưa được sử dụng tốt, nhiều cơ sở sản xuất chưa theo quy hoạch Giá cả biến động, hiệu quả sản xuất chưa cao nên chưa khuyến khích được nông dân mạnh dạn đầu
tư Đời sống của một đại bộ phận nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những vùng sản xuất thuần nông với điều kiện tưới tiêu không thuận lợi vẫn chưa thoát nghèo
1.3.2 Cơ cấu vùng kinh tế:
Trang 24Nhìn chung cơ cấu vùng của huyện Dĩ An trước năm 1991 đến năm 1999 khi chưa tách thành huyện Dĩ An và Thuận An chưa được xác định rõ do cơ cấu vùng chưa được quy hoạch cụ thể và định hình một cách rõ ràng giữa các vùng trong huyện Trong giai đoạn này các cụm dân cư hoạt động mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp đã phát triển nông nghiệp ở những vùng có điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu và loại đất phù hợp như các xã vùng ven sông Sài Gòn và sông Đồng Nai Ngoài ra, các khu công nghiệp và các hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề phát triển tự phát và nằm đang xen lẫn nhau trong các khu dân cư, vùng nông thôn
1.3.3 Sự phát triển các thành phần kinh tế:
Sự tồn tại của các thành phần kinh tế là chủ trương đúng đắn của Đảng ta sau khi thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng trầm trọng về nền kinh tế, xã hội ở những năm 80 Vì vậy trong giai đoạn thử nghiệm trên thực tế sự tồn tại các thành phần kinh tế này trong giai đoạn 1986 -1990 cũng như khi bước chân vào giai đoạn nền kinh tế thị trường, nhà nước đã dùng nhiều biện pháp hữu hiệu để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển Nhờ đó, các Luật đầu tư nước ngoài (1988), Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty (1990) đã ra đời và được thực thi hiệu quả góp phần thúc đẩy nền kinh tế thị trường trên cả nước nói chung và huyện Dĩ An nói riêng nhanh chóng ổn định và phát triển với sự tham gia của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh
tế tư nhân (bao gồm cả kinh tế cá thể) và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Kinh tế nhà nước:
Trong hoàn cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn, nền kinh tế quốc doanh đóng vai trò quan trọng góp phần đẩy nhanh sự tăng trưởng nền kinh tế trên địa bàn huyện nên huyện chủ trương đầu tư trang thiết bị, xây dựng cơ bản để đảm bảo cho các ngành mũi nhọn như chăn nuôi, khai thác khoáng sản, xuất nhập khẩu cũng như những hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm phục vụ cho nhu cầu hàng ngày, tuy nhiên do thiếu vốn, giá cả thất thường, công nghệ lạc hậu nên loại hình kinh tế này gặp phải sự khó khăn đáng kể
Sau khi bước vào giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường, hàng năm tỉnh có chủ trương tiến hành sắp xếp, củng cố lại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn huyện thông qua các hình thức sáp nhập, giải thể, cổ phần hóa, cho thuê, khoán hoặc bán Vì vậy các doanh nghiệp nhà nước vốn tồn tại vốn tồn tại với số lượng ít lại càng giảm hơn Tuy vậy, kinh tế nhà nước cũng đóng vai trò quan trong trong việc nắm vững các
Trang 25lĩnh vực cơ bản trên thị trường như điện, nước, tín dụng ngân hàng, khai thác khoáng sản Trong giai đoạn 1991-1995, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đối với doanh nghiệp nhà nước tăng 18,9% [369, 29]
- Kinh tế tập thể:
Kinh tế tập thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần đẩy lùi những khó khăn sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra ở nước ta trong những năm 80, cải thiện đời sống nhân dân Năm 1988 khối kinh tế tập thể có 21 đơn vị sản xuất với giá trị tổng sản lượng là 49,2 triệu đồng chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ (chiếm 85%) Tuy nhiên, khi chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, thành phần kinh tế này không thể hiện được thế mạnh của nó để có chỗ đứng trên thị trường do nguồn vốn ít, phương thức hoạt động đơn giản, trình độ quản lý thấp và chậm đổi mới
- Kinh tế tư nhân (gồm cả hộ doanh nghiệp tư nhân và hộ sản xuất kinh doanh
cá thể phi nông nghiệp):
Kinh tế tư nhân thực sự được khởi đầu từ khi có Luật về Doanh nghiệp Tư nhân, Luật Doanh nghiệp và Luật Công ty ra đời góp phần đáng kể tạo nên bộ mặt mới cho nền kinh tế phát triển Năm 1988 có 673 đơn vị sản xuất đạt 224 triệu đồng với các ngành chủ yếu là gốm sứ, vật liệu xây dựng và hàng thủ công mỹ nghệ Đồng thời lao động trong các doanh nghiệp tư nhân cũng tăng lên khá mạnh
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:
Sau khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài, bắt đầu ở những năm 90 thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã xuất hiện và phát triển tương đối mạnh so với các thành phần kinh tế khác góp phần bổ sung nguồn vốn, công nghệ, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng trưởng xuất khẩu, tăng thu ngân sách nhà nước, tăng trưởng GDP Đồng thời sự ra đời thành phần kinh tế này đã tạo đà thúc đẩy sự chuyển giao công nghệ, giúp cho nền công nghiệp Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với nền công nghệ thế giới, đẩy nhanh sự phát triển về quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, văn minh đô thị và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Với chính sách “trải chiếu hoa mời gọi các nhà đầu tư” của tỉnh, huyện đã nhanh chóng triển khai các dự án đầu tư của các nước và sớm gặt hái được nhiều thành công đáng kể Toàn huyện luôn được công nhận là huyện dẫn đầu về sức thu hút đầu tư nước ngoài Năm 1991 chỉ có 6 dự án đầu tư nước ngoài chưa được triển khai, nhưng
Trang 26đến năm 1995 trên địa bàn huyện đã có 31 dự án đầu tư với tổng số vốn là 327,5 triệu USD Hầu hết đầu tư nước ngoài tập trung ở các khu công nghiệp, chủ yếu dưới hình thức công ty vốn 100% vốn nước ngoài và công ty liên doanh, chiếm phần lớn về vốn kinh doanh trong tổng số vốn kinh doanh của toàn huyện và chiếm tỷ trọng trên 70% GDP của toàn huyện với các ngành đầu tư có sử dụng số người lao động cao và thời gian thu hồi vốn nhanh như giày da, chế biến lâm sản, cơ khí công nghiệp nhựa, hóa chất, cao su [30, 379]
Trang 27CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ CỦA
ĐẢNG BỘ HUYỆN DĨ AN GIAI ĐOẠN 1999 ĐẾN 2009
2.1 QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƯƠNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
Sau 10 năm tiến hành công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội trên phạm vi cả nước, bên cạnh những thành tựu đáng kể về mọi mặt là những hạn chế gây ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế xã hội của nhân dân Qua thực tiễn đó, một yêu cầu cấp bách được đặt ra là phải tiến hành đổi mới đất nước toàn diện trên tất cả các lĩnh vực với vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam Thực hiện các chủ trương đổi mới của Đảng, Tỉnh Ủy, Ủy Ban nhân dân tỉnh Bình Dương đã sớm triển khai chủ trương tiến hành xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp để hình thành chế quản lý mới nhằm phát huy hết sức mạnh về tiềm năng kinh tế
Quá trình đó gắn liền với việc đề ra và thực hiện các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ IV, V, VI và nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VI, VII với chủ trương đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội
Quan điểm chung của Đảng bộ là: Thứ nhất, phát huy mạnh các lợi thế mọi mặt trong tỉnh để tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhằm thu hút vốn đầu tư ngoại tỉnh
và nước ngoài, hình thành nền kinh tế mở theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước trên cơ sở mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài và hội nhập với các vùng kinh
tế trọng điểm
Thứ hai là phát huy cao nội lực và tranh thủ khai thác, vận dụng nguồn lực bên ngoài nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng dần tỉ trọng công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ cụ thể để phát triển các thành phần kinh tế là động viên, khuyến khích các thành phần kinh tế trong tỉnh phát triển đồng thời tạo môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh vực
Đảng bộ tỉnh Sông Bé đã nhanh chóng đưa ra chủ trương định hướng xây dựng nền kinh tế Sông Bé trên cơ sở phân tích những mặt mạnh và yếu của tỉnh
Trang 28Theo đó, Đại hội Đảng bộ của tỉnh lần thứ V năm 1991 nhấn mạnh cần nhanh chóng tiến hành theo cơ cấu: Nông - Công nghiệp chế biến - Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ [15, 50]
Tăng trưởng kinh tế trên cơ sở thực hiện kết quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa đồng thời thực hiện cơ cấu kinh tế Công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ và tạo ra thế phát triển vững chắc trên cơ sở tích cực khai thác các tiềm năng trong dân, các doanh nghiệp nội tỉnh, chọn đúng trọng tâm phát triển, thu hút nguồn lực ngoại tỉnh và nước ngoài là nội dung được Đại hội đại biểu lần thứ VI năm 1996 của Đảng bộ tỉnh đề ra Đại hội cũng nhấn mạnh phát triển kinh tế phải đi đôi với việc giải quyết tốt các vấn đề
xã hội như văn hóa, giáo dục, xóa đói giảm nghèo nhằm tạo tiền đề vững chắc cho các bước phát triển tiếp theo [16, 38]
Sau khi Sông Bé tách thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước vào năm 1997, Đại hội lần thứ VI Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã nhận định Bình Dương có nhiều lợi thế do nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, có nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực dồi dào lại nằm tại vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu kinh
tế, văn hóa, tiến bộ khoa học kỷ thuật đồng thời kế thừa được những thành tựu mà tỉnh Sông Bé trước đây để lại Trên cơ sở đó, Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ phát triển mơí là: “Tạo môi trường thuận lợi, phát huy mạnh hơn nữa các lợi thế vị trí địa lý, nguồn lực, tiềm năng trong dân, các doanh nghiệp trong tỉnh và nước ngoài, tạo động lực để phát triển, hình thành nền kinh tế mở, cơ chế thị trường có sự quản lý cả nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, mở rộng kinh tế với bên ngoài, hội nhập với vùng kinh tế trọng điểm” [17, 35]
Đại hội còn nhấn mạnh ưu tiên phát triển công nghiệp sạch, kỹ thuật cao, ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ mũi nhọn phục vụ công nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, tránh gây ô nhiễm môi trường, hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý, đa dạng ngành nghề đa dạng về quy mô sản xuất, các dịch vụ tiên tiến Đến Đại hội đại biểu lần thứ VII năm 2001 của Đảng bộ tỉnh Bình Dương, sau khi phân tích tình hình kinh tế xã hội trong tỉnh và nêu ra những thời cơ thuận lợi và thách thức lớn đan xen cùng với những biến động kinh tế - chính trị - văn hóa khu vực và quốc tế phức tạp Đại hội nhấn mạnh: “Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế với vùng và khu vực, biến tiềm năng thành lợi thế so sánh để thu hút đầu tư, chú trọng phát triển công nghệ hiện đại, tiên
Trang 29tiến, sản xuất hàng hóa có sức cạnh tranh cao, giữ vững và nâng cao vai trò và vị trí của tỉnh trong công cuộc phát triển của vùng kinh tế động lực Song song với tăng trưởng kinh tế, chú trọng chăm lo xây dựng và phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội Đảm bảo giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng an ninh trong quá trình phát triển” [18, 36]
Với chủ trương trên, toàn tỉnh đã có những thành tựu đáng kể với nhiều khu công nghiệp và cụm công nghiệp được hình thành và hoạt động có hiệu quả Cơ sở hạ tầng được chú trọng đầu tư tạo nên nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, các ngành kinh tế có năng lực và trình độ sản xuất tăng nhanh đáng kể Theo chủ trương trên, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh, trong đó các ngành sản xuất được đầu tư và nâng cao về trình độ công nghệ, các loại hàng hóa ngày càng đa dạng và thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng
Trong nội dung của Đại hội lần thứ VIII của Đảng bộ tỉnh Bình Dương năm 2005 cũng tiếp tục nêu rõ nhiệm vụ mục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân cả về vật chất lẫn tinh thần Đại hội nêu rõ: “Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng mạnh tỷ trọng dịch vụ, ổn định tỷ trọng công nghiệp và giảm tỷ trọng nông nghiệp Chú trọng công nghệ hiện đại, tiên tiến trong sản xuất công nghiệp;
Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, hình thành các thị trường tài chính, bất động sản …
Mở rộng thị trường xuất khẩu đến nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ với nhiều chủng loại hàng hóa đủ sức cạnh tranh quốc tế; ứng dụng công nghệ sinh học và các mô hình nông nghiệp kỹ thuật cao vào sản xuất nông nghiệp Phát huy tiềm năng lợi thế và những thành quả đã đạt được vận động thu hút đầu tư Đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng knh tế - xã hội đồng bộ theo hướng hiện đại, tiên tiến Thực hiện tốt cải cách hành chính, đẩy lùi tham nhũng, xây dựng môi trường thông thoáng, linh hoạt và minh bạch tạo thuận lợi thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có chính sách phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, đưa nhanh công nghệ vào sản xuất, kịp thời đáp ứng nhu cầu về kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ mới” [19, 94]
2.2 QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN DĨ AN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ:
2.2.1 Giai đoạn 1991-1999:
Trang 30Quán triệt nghị quyết Trung ương của Đảng và nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng
bộ tỉnh Sông Bé, huyện Thuận An đã thể hiện quan điểm của mình thông qua việc đề ra phương hướng, nhiệm vụ mới thể hiện trong nội dung của Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ IV (vòng 1) nhiệm kỳ 1991-1995 Đại hội nhấn mạnh cần tiếp tục tăng trưởng kinh tế trên cơ sở phát huy thế mạnh về tiềm năng sẵn có và nguồn lực trong và ngoại tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong báo cáo tình hình nhiệm kỳ V (1986-1990) và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ VI (1991-1995) đã nêu rõ: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ, du lịch - nông nghiệp nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát các ngành, các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện phát triển đều đặn và liên tục với tốc độ tăng trưởng nhanh” [12, 13]
- Để thực hiện được mục tiêu trên đại hội đã đề ra nhiệm vụ cụ thể là:
Thứ nhất là trên cơ sở khuyến khích và sử dụng các thành phần kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh, hình thành các cụm kinh tế kỹ thuật giải quyết việc làm cho người lao động tiếp tục phát huy thế mạnh về công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ, du lịch
Thứ hai là giải thể các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể hoạt động không hiệu quả đồng thời làm tinh gọn bộ máy hoạt động của các doanh nghiệp quốc doanh
Thứ ba là giải quyết những khó khăn vướng mắc về tài chính, làm lành mạnh hóa tình hình tài chính bằng cách thóa gỡ những phần nợ đọng giữa các xí nghịêp, công ty nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động bình thường
Thứ tư là khuyến khích các thành phần kinh tế sau khi đã giải phóng sức sản xuất tiếp tục sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghịêp
Thứ năm là gắn liền mục tiêu phát triển kinh tế thực hiện tốt các chính sách xã hội nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là địa phận các vùng nông thôn và vùng kháng chiến cũ [12, 14]
Trong nội dung của Đại hội Đảng bộ tiếp theo đã thông qua báo cáo tình hình nhiệm kỳ VI (1991-1995) và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ VII (1996-2000) nhấn mạnh tiếp tục tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm tạo thành một trung tâm công nghiệp lớn của tỉnh nhà trên cơ sở phát huy sức mạnh trong tỉnh và ngoại tỉnh Đại hội nhấn mạnh: “Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu kinh tế công
Trang 31nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp Chú trọng đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất và công nghệ sẵn có, kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại” [13, 13]
- Đại hội nêu rõ nhiệm vụ phương hướng cụ thể đối từng ngành như sau:
+ Đối với phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghịêp:
Cần tiến hành điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp để thu hút các nhà đầu tư trong nước và quốc tế xây dựng phát triển sản xuất kinh doanh
Hình thành các khu công nghiệp cao có công nghệ hiện đại trên tinh thần kêu gọi các nhà đầu tư bao gồm khu công nghịêp: Bình Đường, Sóng Thần, Bình Hòa, Thuận Giao, An Phú, An Thạnh
Mở rộng hợp tác kinh doanh để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường đối với các ngành gốm sứ, vật liệu xây dựng đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp lạc hậu về công nghệ chuyển đổi ngành nghề, thu hẹp các doanh nghiệp tiêu tốn năng lượng nhiều và dẹp bỏ các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường [13, 14]
- Đối với phát triển dịch vụ và du lịch:
Huyện cần quy hoạch sơ đồ ngành trên địa bàn, các hoạt động dịch vụ cần gắn liền với các khu công nghiệp, các vùng dân cư, thị trấn, xã với mô vừa và nhỏ để phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
- Đối với việc phát triển nông nghiệp:
Cần tập trung phát triển chăn nuôi, cải tạo vườn cây ăn trái, ổn định diện tích lúa nước có năng suất cao vì với chính sách mới là tập trung cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nên diện tích đất nông nghiệp sẽ ngày càng thu hẹp Đối với những địa phương có vị trí đất không thuận lợi cho việc quy hoạch thành khu công nghiệp thì cần ra sức chú trọng đến cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm hoặc các vùng rau chuyên canh phục vụ cho các khu dân cư trong huyện và các khu công nghiệp, thậm chí nếu đầu tư công nghệ cao để nâng cao năng suất lao động thì có thể phục vụ trong phạm vi cả nước Đối với những vùng ven sông, cây lúa nước là phù hợp nhất nếu ổn định diện tích tổ chức thâm canh, tăng vụ
Ngoài ra, trong vấn đề này Đại hội còn nhấn mạnh xây dựng và cải tạo vườn cây ăn trái, vườn cây phục vụ cho nhu cầu du lịch bằng các phương pháp kỹ thuật hiện đại và
Trang 32hình thức cung ứng giống cây trồng Phát triển chăn nuôi với mô hình chuồng trại có quy mô lớn theo các hộ gia đình như trại gà, heo, cá…
Vấn đề thủy lợi cũng được nhấn mạnh với những tiến bộ về kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu chăn nuôi, tưới tiêu Bên cạnh đó, các dịch vụ nông nghiệp về vật tư, thú y, bảo vệ thực vật, trạm kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm, kiểm dịch động vật cần được chú trọng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của cây trồng và vật nuôi
2.2.2 Giai đoạn 1999 đến giai đoạn 2009:
Sau khi tách huyện, Dĩ An có điều kiện thuận lợi để tiếp tục chiến lược phát triển kinh tế do kế thừa những thành tựu đạt được của huyện giai đoạn trước đó Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Dĩ An lần thứ VIII được tổ chức đã nêu cao quyết tâm là phải giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và tương đối ổn định với tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng 40,1%, thương mại dịch vụ tăng 30,15% và nông nghiệp tăng 2,11% đồng thời xác định mục tiêu chung cho thời kỳ 2000-2005 là:
Khai thác và phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực trong và ngoài huyện để thúc đẩy nhanh sự phát triển nhanh sự phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa Hoàn thiện tiếp tục cơ cấu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - thương mại, dich vụ, du lịch và nông nghiệp, trong đó tăng dần tỷ trọng công nghiệp - thương mại - dịch vụ
Tạo động lực đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội, chăm lo cải thiện đời sống nhân dân trên cơ sở thực hiện có hiệu quả các chính sách kinh tế, xã hội
Gắn mục tiêu phát triển kinh tế với giữ vững sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự
xã hội, kiềm chế các tệ nạn xã hội và tăng cường tiềm lực quốc phòng
Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu quả quản lý của nhà nước để từng bước hoàn thiện bộ máy chính trị nhà nước [5, 408]
Đảng bộ huyện Dĩ An đã nhanh chóng đề ra những nhiệm vụ, phương hướng cụ thể trong từng giai đoạn trên tất cả các ngành cần thiết cho sự tăng trưởng kinh tế cụ thể như sau:
- Về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Ngay khi tách huyện, Đảng bộ huyện đã đưa ra chủ trương quy hoạch 100% diện tích khu công nghiệp Tân Đông Hiệp, 25% khu công nghiệp Tân Bình, Vĩnh Thiện, đồng thời thành lập hiệp hội ngành nghề, khuyến khích và tạo điều kiện ổn định phát triển và đầu tư theo chiều sâu nhằm giải quyết việc làm tăng sản phẩm lao động Động
Trang 33viên nhân dân trong vùng quy hoạch và các doanh nghiệp mua cổ phiếu trong chương trình cổ phần hóa, hợp tác hóa Hình thành quy chế quản lý khu công nghiệp, quản lý các ngành, thực hiện luật môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội Thực hiện các chính sách đền bù giải tỏa đối với 106ha khu công nghiệp Tân Bình, 281ha khu công nghiệp Tân Đông Hiệp, 34ha Khu Sóng Thần trong năm 2002
Khuyến khích các ngành nghề sản xuất truyền thống đầu tư công nghệ mới và tìm kiếm thị trường xuất khẩu nhằm góp phần ổn định đời sống nhân dân như: mây tre, gạch ngói, cơ khí chế tạo máy, chế biến lâm sản, thực phẩm Khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các thành phần kinh tế tư nhân đầu tư công nghệ, nâng cao sản lượng khơi dậy nguồn nội lực ở địa phương
Tạo điều kiện cho các ngành kinh tế có thế mạnh như chế biến gỗ, giày da, giấy, may mặc, điện tử mở rộng sản xuất
Triển khai các hoạt động đáp ứng cho nhu cầu thực hiện luật doanh nghiệp, lao động, công đoàn và bảo vệ môi trường và xử lý các doanh nghiệp thi hành trái với các luật đã nêu
Đối với các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp cần có chương trình hỗ trợ về vay vốn, đào tạo cán bộ quản lý để khuyến khích phát triển đồng thời tạo môi trường cho các chủ sản xuất kinh doanh có môi trường liên kết trên địa bàn
Trong những năm gần đây, Đảng bộ huyện đã nhanh chóng tiến hành các chủ trương phối hợp với Sở Tài nguyên môi trường và cảnh sát môi trường tỉnh tăng cường thanh kiểm tra việc vận hành hệ thống xử lý chất thải của các khu và cụm công nghiệp,
xử lý các khu công nghiệp nằm xen kẻ trong các khu công nghiệp gây ô nhiễm môi trường
- Về lĩnh vực dịch vụ, du lịch:
Dựa trên những vùng quy hoạch để hình thành các khu, cụm công nghiệp, huyện
đã thực hiện chương trình xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp, công nhân, công nhân viên chức như xây dưng các mô hình nhà chung cư, hộ gia đình đồng thời tập trung khuyến tạo quỹ nhà ở và dịch vụ về nhà ở bằng nhiều nguồn vốn và hình thức đầu tư để tạo nền tảng cho việc phân bố lại dân cư theo hướng phát triển đô thị bền vững
Khuyến khích đầu tư các loại hình dịch vụ phục vụ cho sản xuất như điện, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, ngân hàng và các dịch vụ công ích Năm 2007,
Trang 34dự kiến giá dịch vụ thương mại tăng 50%, trong báo cáo tình hình hoạt đông năm 2007
và phương hướng nhiệm vụ năm 2008, Đảng bộ huyện Dĩ An còn: “Khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ cao cấp: đầu tư tài chính, tín dụng ngân hàng, dịch vụ vận tải, vé máy bay, tàu hỏa Thực hiện chủ trương của chính phủ về hạn chế lượng tiền mặt giao dịch trên thị trường, phát triển dịch vụ ATM” [47, 12]
Hình thành các trung tâm thương mại ở nhiều nơi trên địa bàn, đầu tư nâng cấp một
số chợ, đảm bảo cho nhu cầu dân sinh gắn liền với quá trình chỉnh trang đô thị ở các
xã Phấn đấu hoàn thành chợ Dĩ An, quyết tâm tạo điều kiện cho các chủ đầu tư khai thác các trung tâm thương mại dịch vụ gắn với các khu đô thị đã được phê duyệt như: Khu trung tâm thương mại An Bình, khu trung tâm thương mại Sóng Thần, trung tâm siêu thị Đông Hòa rộng 77ha Năm 2007 phải hoàn thành nâng cấp chợ Nội Hóa, Đông Hòa
Ngoài ra lãnh đạo huyện còn đưa ra chủ trương hình thành và quản lý các trung tâm dịch vụ dạy nghề và giới thiệu việc làm, tư vấn pháp lý cho nhân dân
Huyện còn đưa ra chủ trương phát triển du lịch thông qua quá trình vận động các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tham gia khai thác phát triển du lịch để tranh thủ nguồn vốn nhằm góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế và tận dụng được thế mạnh và tiềm năng du lịch Năm 2001, huyện đưa ra chủ trương phấn đấu hoàn thành
hồ sơ dự án bảo tồn khu di tích Suối Lang, Hố Sâu, triển khai dự án Núi Châu Thới Năm 2004, huyện đề ra chủ trương triển khai giai đoạn hai khai thác khu du lịch mạch
Bà Giọt, khu vui chơi Bình An, khu thể thao Bình Thắng, khu siêu thị Đông Hòa
- Về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn:
Tăng cường công tác quản lý đất đai, thanh kiểm tra và xử lý các tình hình bỏ hoang đất đai hoặc sử dụng không có mục đích đồng thời tạo điều kiện thuận lợi thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất Tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng đối với vùng nông thôn, mở rộng và nâng cấp các công trình giao thông để gắn kết các vùng trong và ngoài quy hoạch công nghiệp
Thông qua các tổ chức câu lạc bộ khuyến nông, tổ ngành nghề trong sản xuất nông nghiệp thực hiện chương trình khuyến nông với việc tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào trong quá trình sản xuất, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng hình thành các vùng chuyên canh Bên cạnh đó phải gắn sản xuất với người tiêu dùng nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp và cải thiện đời sống nhân dân
Trang 35Thông qua Hội nông dân tạo điều kiện cho nông dân vay vốn với lãi xuất thấp để sản xuất và hình thành các mô hình trang trại trồng trọt, chăn nuôi Đầu tư hơn nữa khoa học công nghệ, kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp và tiến hành đào tạo, tập huấn cho các cán bộ chuyên môn đồng thời tổ chức các lớp chuyển giao kỹ thuật cho nông dân nhằm cập nhật những kiến thức, phương pháp khoa học mới trong sản xuất và quá trình phòng ngừa dịch bệnh
Duy trì các công tác thủy lợi, nạo vét để thông kênh, mương, suối phục vụ cho công tác tưới tiêu và giảm ngập úng, thoát nước vào mùa mưa
Trong báo cáo năm 2000 đã nêu ra phương hướng phấn đấu trong năm 2001 thực hiện giá trị sản lượng ngành nông nghiệp 44 tỉ đồng, thực hiện diện tích trồng cây các loại là 1.842ha; trong năm 2002 đầu tư cho chương trình phát triển kinh tế theo mô hình kinh tế VACB (mỗi xã là 10 đến 20 hộ); trong năm 2003 phấn đấu 1ha đất nông nghiệp đạt 20 triệu đồng mỗi năm; trong năm 2004 phấn đấu đạt 35,2 tỷ giá trị sản xuất nông nghiệp, trong đó chăn nuôi và các sản phẩm khác đạt 31,19 tỷ; năm 2005 phải đạt 32 tỷ tăng 1,9% so với năm 2004, năm 2006 phải đạt 34,4 tỷ, tăng 1,5% so với năm 2005; năm 2007 phấn đấu đạt 30,3 tỷ, trong đó trồng trọt 5 tỷ - chiếm 18%, chăn nuôi đạt 24 tỷ - chiếm 79%, dịch vụ đạt 0,8 tỷ chiếm 3% và diện tích gieo trồng phải đạt (giảm 287ha); năm 2009 đạt 29,2 tỷ, trong đó trồng trọt chiếm 5 tỷ, chăn nuôi 23
tỷ, và dịch vụ chiếm 1,2 tỷ
- Xây dựng cơ sở hạ tầng:
Cải tạo nâng cấp các tuyến đường phục vụ cho việc chỉnh trang đô thị, đẩy mạnh phong trào xây dựng đường giao thông nông thôn, phát triển các hình thức giao thông nội đồng và thực hiện các dự án thủy lợi
Tiếp tục đầu tư hạ tầng cở sở phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn Thực hiện các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cho các chương trình giáo dục trong huyện, đầu tư các trạm y tế, trạm xá chuẩn quốc gia, xây dựng các khu văn hóa xã, khu hành chính huyện Dĩ An và các công trình chỉnh trang đô thị
Trong báo cáo tình hình kinh tế xã hội năm 1999 và phương hướng năm 2000, huyện sử dụng tổng số vốn đầu tư 42.927 triệu đồng để xây dựng các công trình điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế và trụ sở Bình An Báo cáo năm 2000 và phương hướng năm 2001, Đảng bộ huyện đưa ra chủ trương năm 2001 phấn đấu sử dụng tổng số vốn đầu tư từ 25 đến 30 tỷ tập trung cho các công trình xây dựng đường
Trang 36Cô Giang, Cô Bắc, đường Trần Hưng Đạo - Tân Hòa, đường Mả 35, trại heo Đông Á
và các trường PTTH Dĩ An (giai đoạn 2), trường tiểu học Dĩ An, trường tiểu học Lê Quý Đôn ở xã Bình An, trường mầm non Võ Thị Sáu Xây dựng trung tâm y tế huyện, trụ sở xã Bình An, đầu tư điện chiếu sáng các tuyến đường nhựa, xây dựng 1 đến 2 khu văn hóa xã; Năm 2002 phải hoàn thành 4 công trình chuyển tiếp, 16 công trình khởi công mới, 17 dự án chuẩn bị đầu tư và năm dự án quy hoạch với tổng gía trị là 78.108
tỷ đồng, đồng thời hoàn thành bê tông hóa hẻm, khu phố, khu vui chơi, nạo vét kênh mương … với số vốn 4,2 tỷ, xây dựng hệ thống giao thông khu công nghiệp Tân Bình
và khu siêu thị Đông Hòa Năm 2003 phải sử dụng nguồn vốn thu từ 5% đất công phục
vụ để đầu cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các công trình phúc lợi phục vụ cho nhân dân Năm
2004 sử dụng vốn ngân sách đạt 49,72 tỷ để đầu tư cơ bản, trong đó vốn hiện các công trình do huyện làm chủ đầu tư là 27,5 tỷ, do các ngành làm chủ đầu tư là 20,42 tỷ và vốn sự nghiệp kinh tế mang tính chất đầu tư của huyện là 8 tỷ Năm 2005 dự kiến dùng vốn ngân sách đạt 74 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách tỉnh đầu tư tập trung là 64,7 tỷ, vốn ngân sách tỉnh bổ sung ngân sách huyện là 5 tỷ, vốn sự nghiệp kinh tế 1,9 tỷ, vốn giao thông nông thôn phấn đấu thực hiện vốn ngân sách hỗ trợ là 2,5 tỷ Năm 2006 phấn đấu thực hiện khối lượng đầu tư cơ bản từ vốn ngân sách là 100 đến 120 tỷ đồng gồm vốn ngân sách tỉnh đầu tư tập trung là 90 tỷ, vốn ngân sách tỉnh bổ sung ngân sách huyện là 5 tỷ, vốn sự nghiệp kinh tế là 7 tỷ, vốn giao thông nông thôn phấn đấu thực hiện vốn ngân sách hỗ trợ 2 tỷ đồng, vốn chương trình mục tiêu nước sạch 300 triệu đồng Năm 2007 phấn đấu đầu tư cơ bản với vốn 121,47 tỷ đồng tập trung cho các công trình giáo dục như xây dựng trường THCS Bình An,THCS Tân Đông Hiệp, THCS Võ Trường Toản, Trung học bán trú Đông Hòa; công trình đường số 10, đường
Mả 35, trụ sở làm việc của khối Đảng, khối nhà nước, khối đoàn thể, trung tâm thể dục thể thao, khu du lịch Hô Lang, trụ sở làm việc tại các khu, ấp Ngoài ra cũng trong năm này phải xây dựng công trình giao thông nông thôn đạt 12,644 tỷ cho 17 công trình Năm 2008 dự kiến sử dụng 145,6 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách cấp tỉnh là 102,3 tỷ đồng, vốn ngân sách cấp tỉnh từ nguồn thu xổ số kiến thiết là 35,5 tỷ, vốn ngân sách kinh tế thuộc ngân sách huyện là 7,8 tỷ, các xã, thị trấn thực hiện các công trình giao thông nông thôn và chỉnh trang đô thị với tổng số vốn dự kiến là 18,567 tỷ đồng đồng thời tiếp tục thực hiện các công trình giao thông, khu trung tâm, các nghĩa trang Liệt
sĩ, thực hiện đền bù giải tỏa…
Trang 37- Về lĩnh vực thu chi ngân sách - tín dụng ngân hàng:
Trong lĩnh vực này huyện chủ trương tập trung quản lý nguồn thu và tổ chức thu có
hiệu quả, chống thất thu và nợ động thuế Khi có nguồn thu cần khai thác lợi thế để tìm nguồn thu khác, đảm bảo tính chủ động cân đối ngân sách từng cấp Khi chi ngân sách, cần tập trung chi tiêu cho những mục tiêu chủ yếu ngoài việc đảm bảo chi cho các hoạt động của bộ máy nhà nước theo quy định Trong việc chi tiêu ngân sách cần tiến hành thực hành tiết kiệm gắn liền với việc bố trí vốn dự phòng ở mức cần thiết
Trong việc quản lý ngân sách, các cấp cần ổ chức thực hiện luật ngân sách, dự toán quyết toán đúng quy định, thiết lập sổ sách chặc chẽ, nghiêm cấm lập quỹ ngoài quy định
Với chủ trương trên, năm huyện phấn đấu đạt 22 tỷ năm 2001, tăng 10% so với năm 2000; năm 2002 phấn đấu thu tăng 10% và chi tăng 5% so với năm 2001; Năm
2003, thu ngân sách tăng 5- 10% và chi tăng 3 đến 5% so với năm 2002 Năm 2005 phấn đấu thu ngân sách tăng 10% so với năm 2004 Năm 2006 thu và chi ngân sách tăng 15% so với năm 2005 Năm 2007 thu ngân sách tăng 15,5 và chi ngân sách tăng 14,63 so với năm 2006 Đến năm 2008 thu ngân sách tăng vượt bậc 137% và chi tăng 63,73% so với năm 2007
- Đảng bộ huyện đề ra phương hướng nhiệm vụ mới năm 2010 như sau:
Một là: Duy trì thực hịên có hiệu quả các nghị quyết của Trung ương, chương trình
hành động của Huyện ủy và kế hoạch của Ủy ban nhân dân huyện về phát triển kinh tế
xã hội nhanh bền vững, về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa, về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn và về vấn đề bảo vệ môi trường
Hai là: Phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp tăng 20% so với năm 2009 (đạt
31,672 tỷ đồng) Ưu tiên thu hút các ngành, lĩnh vực có sử dụng công nghệ cao, ít và hạn chế phát triển kinh doanh sản xuất ngoài khu, cụm công nghiệp Kiến nghị tỉnh có chủ trương về ô nhiễm môi trường và lộ trình di dời các doanh nghiệp nằm xen kẻ trong khu dân cư gây ô nhiễm môi trường Hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục cưỡng chế đình chỉ hoạt động đối với các mỏ than đá trên địa bàn xã Bình Thắng và Đài hỏa táng Thuận An thuộc xã Bình An
Thứ ba: Phấn đấu giá trị dịch vụ thương mại tăng 40% đạt 8,701 tỷ đồng, tạo điều
kiện cho các thành phần kinh tế nhất là các trung tâm thương mại, siêu thị được mở
Trang 38rộng và phát triển Đẩy nhanh tiến độ chuyển giao chợ Đông Hòa và Nội Hóa cho doanh nghiệp đầu tư khai thác Quan tâm củng cố, kiện toàn nâng cao hiệu quả và phát triển thêm các laọi hình kinh tế hợp tác Tăng cường thực hiện công tác quản lý thị trường, kiểm soát giá cả, chống hàng gian, hàng giả và gian lận thương mại
Thứ tư: Phấn đấu giá trị sản xuất thương mại tăng 5% so với năm 2009 đạt 32,7 tỷ
đồng Duy trì công tác thủy lợi nội đồng, nạo véc khơi thông dòng chảy các mương, suối phục vụ tốt cho nhu cầu tưới tiêu và hạn chế ngập úng vào mùa mưa Tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động, chất lượng của sản phẩm và thu nhập của người dân Quan tâm thực hiện tốt công tác chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật và kiểm soát chặc chẽ việc giết mổ gia súc, gia cầm Rà soát, bổ sung phương án phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại về người và tài sản trong hoàn cảnh có bão lũ
Thứ năm: Hoàn tất công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn
2010-2020, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2010-2015 và công tác quy hoạch đô thị chi tiết về
xã, thị trấn Thực hiện chặt chẽ công tác quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng và kiên quyết xử lý đối với các trường hợp phân lô, bán nền, sử dụng đất không đúng mục đích
và xây dựng sai phép, không phép
Thứ sáu: Tập trung cho công tác đền bù giải tỏa để đẩy nhanh tiến độ thực hiện
các dự án nhất là các dự án lớn của Trung ương, tỉnh và các dự án trọng điểm của huyện nhằm làm thay đổi diện mạo đô thị của đơn vị hành chính Thị xã Dĩ An ngay trong năm 2010
Thứ bảy: Phấn đấu tổng thu ngân sách đạt 2.487,504 tỷ đồng, trong đó nguồn thu do
huyện quản lý đạt 436,764 tỷ đồng và chi ngân sách đạt 502,489 tỷ đồng ưu tiên chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, giao thông nông thôn, chỉnh trang đô thị, công trình đô thị, giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường Phấn đấu vốn xây dựng cơ bản đạt 266,070 tỷ đồng và thực hiện 32 công trình giao thông nông thôn với tổng số vốn là 31,834 tỷ đồng Tăng cường công tác hậu kiểm chống thất thu ngân sách, nhất là chống nợ đọng thuế trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và giao thông vận tải Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí mà trước hết là trong công tác quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản công
Trang 39Thứ tám: Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu
tư xây dựng nhà ở xã hội dành cho người có thu nhập thấp đồng thời nghiên cứu xây dựng nhà ở cho giáo viên và nhân viên y tế
Trong báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Dĩ An tại Đại hội đại biểu Đảng
bộ huyện lần thứ X (nhiệm kỳ 2010-2015) còn nêu rõ hơn nữa mục tiêu phấn đấu, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể trên các lĩnh vực như sau:
Đối với sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ
2015 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 88.997 tỷ đồng Trước mắt cần phải tập trung giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong công tác đền bù giải tỏ mặt bằng, tái định
cư và hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Phú Mỹ, Kiến nghị tỉnh thu hồi chủ trương xây dựng khu công nghiệp Tân Bình do không còn phù hợp về cơ cấu sử dụng như trung tâm thương mại Tân Bình, siêu thị Đông Hòa, khu thương mại Nội Hóa, khu
du lịch Hồ Bình An … và xây mới sửa chữa các chợ xã - thị trấn
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, phấn đấu đến năm 2015 giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 33 tỷ đồng Tổ chức rà soát lại quy hoạch phát triển nông nghiệp một cách hợp lý phù hợp với đơn vị hành chính cấp thị xã Thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ trong nông nghiệp, khuyến khích phát triển các nghề trồng nấm, rau sạch và sinh vật cảnh Đầu tư để kiên cố hóa hệ thống kênh rạch, suối phục vụ cho nông nghiệp và giải quyết tình trạng ngập úng trên địa bàn, trồng cây xanh trong các khu dân cư, khu công nghiệp để cân bằng hệ sinh thái
2.3 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN VÀ KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1999 ĐẾN 2009:
Sau khi tái lập tỉnh Bình Dương năm 1997, Chính phủ ban hành nghị định số 58 về điều chỉnh địa lý hành chính ngày 23 tháng 7 năm 1999, tái lập 3 huyện thuộc tỉnh Bình Dương là Phú Giáo, Dầu Tiếng và Dĩ An Huyện Dĩ An được tách từ huyện Thuận An nên diện tích đất tự nhiên còn tương đối nhỏ với 5.819 ha, có dân số thấp 96.005 người với mật độ trung bình 1.649 người/km2 Do vậy, Huyện Dĩ An phải đối mặt với nhiều khó khăn trước mắt trên con đường phát triển Tuy nhiên với vị trí địa lý thuận lợi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và nằm giáp với các đầu mối giao thông quan trọng của quốc gia và quốc tế như Sân bay Tân Sơn Nhất, cảng Sài Gòn, cảng Vũng Tàu và diện tích đất tương đối thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp, xây dựng các khu công nghiệp và đô thị mà ít ảnh hưởng đến diện tích đất
Trang 40nông lâm, đất trồng lúa nên Huyện ủy huyện Dĩ An đã nhanh chóng hoạch định những chủ trương, chính sách cho sự phát triển kinh tế Chủ trương của Huyện năm 2000 là:
“Công nghiệp hóa với tốc độ cao, ổn định vững chắc, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thủ công nghiệp: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ - thương nghiệp, du lịch - nông nghiệp; từng bước nâng cao đời sống nhân dân” [5, 393]
2.3.1 Về cơ cấu ngành kinh tế:
Phát huy những tiềm năng thế mạnh của địa phương, Đảng bộ huyện Dĩ An không ngừng đề ra và thực hiện những mục tiêu cụ thể trong cơ cấu ngành kinh tế một cách đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể với xu hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, thương mại, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Trong đại hội Đảng bộ huyện Dĩ An lần thứ VIII đã xác định mục tiêu nhiệm kỳ năm 2000-2005 là: “Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 20% đến 25%, nông nghiệp tăng 2 đến 3%, thương mại, dịch vụ tăng bình quân 12,25%, thu ngân sách bình quân tăng 10% hàng năm” [5, 409] Với chủ trương đó, huyện đã đạt những thành công đáng kể về các ngành kinh tế
Về giá trị sản lượng công nghiệp và tiểu công nghiệp tăng bình quân 25%: Năm
1999 sau khi tách huyện, giá trị sản xuất ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt 1.896 tỷ đồng, tăng 25,5% với năm 1998 Năm 2001 hoạt động của các ngành kinh
tế đạt được hiệu quả cao, nhất là các ngành hàng có sản lượng cao như sản xuất các sản phẩm từ kim loại, chế biến thực phẩm, phương tiện vận tải, các ngành hàng truyền thống như thêu, đan, chế biến gỗ … Hoạt động của các thành phần kinh tế đều có mức tăng trưởng, trong tăng nhiều nhất là loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (54%), doanh nghiệp tư nhân (22,23%), công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (23,3%), hộ cá thể tăng 29% Nhờ đó giá trị sản lượng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ước đạt 4.484,7 tỷ đồng (Theo gia cố định năm 2004), tăng 36,7% so với năm 2000 Năm 2003, giá trị sản xuất đạt 9.147,4 tỷ đồng (Theo giá cố định năm 2004), tăng 42,6% Trong đó các cơ sở cá thể tăng 101,9%, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài tăng 48,97%, doanh nghiệp tư nhân tăng 23,54%, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần tăng 31,99%, doanh nghiệp nhà nước tăng 4,79% so với năm 2002 Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 14.858,8 tỷ đồng tăng 33,7% so với năm 2004 Trong đó doanh nghiệp nhà nước đạt 442,7 tỷ đồng, doanh nghiệp tư nhân đạt 4.320 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11.729 tỷ đồng