Trong những năm qua, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đã rất quan tâm và chỉ đạo sát sao quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP
Trang 1-
PHÙNG THẾ ANH
ĐẢNG BỘ HUYỆN CẦN GIỜ LÃNH
ĐẠO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
GIAI ĐOẠN 1996 - 2009
LUẬN VĂN THẠC SĨ: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
12 quyen mau do man, 290 trang, thu bay lay
GAY: PHÙNG THẾ ANH - LUẬN VĂN THẠC SĨ: LỊCH SỬ ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM - 2010
HOANG GIA
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2010
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS THÁI NGỌC TĂNG
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA VÀ XÃ HỘI CỦA HUYỆN CẦN GIỜ GIAI ĐOẠN 1996 – 2009 11
1.1 Điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của huyện Cần Giờ 11
1.1.1 Về kinh tế 11
1.1.2 Về chính trị 16
1.1.3 Về văn hóa – xã hội 18
1.2 Thực trạng cơ cấu kinh tế của huyện Cần Giờ trước năm 1996 22
1.2.1 Giai đoạn 1986-1990 22
1.2.2 Giai đoạn 1991-1995 28
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CẦN GIỜ VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1996 – 2009 37
2.1 Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế 37
2.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh 37
2.1.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam 48
2.1.3 Quan điểm của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 61
2.2 Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996-2010 74
2.2.1 Giai đoạn 1996 – 2000 75
2.2.2 Giai đoạn 2000 – 2005 98
2.2.3 Giai đoạn 2005 – 2009 117
2.3 Những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm và một số giải pháp để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn hiện nay 149
Trang 42.3.1 Những thành tựu và hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn
1996 – 2009 149
2.3.1.1 Những thành tựu đã đạt được trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996-2009 149 2.3.1.2 Những hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 171
2.3.2 Những bài học kinh nghiệm và một số giải pháp để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trong giai đoạn hiện nay 175
2.3.2.1 Những bài học kinh nghiệm 175 2.3.2.2 Một số giải pháp để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn hiện nay 178
KẾT LUẬN 190 TÀI LIỆU THAM KHẢO 198
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tăng trưởng và phát triển quyết định sự thịnh vượng của xã hội ở mỗi quốc gia Nói tới tăng trưởng và phát triển kinh tế, người ta nghĩ ngay tới nền kinh tế với tư cách là một hệ thống Cơ cấu kinh tế là thuộc tính cơ bản của nền kinh tế, nó có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành và phát triển của hệ thống kinh tế
Cơ cấu kinh tế ở nước ta là cơ cấu thống nhất, trong đó mỗi tỉnh, thành phố là một bộ phận cấu thành, mỗi huyện là một đơn vị kinh tế dựa trên tiềm năng của địa phương và sự giúp đỡ của Trung ương nhằm vừa bảo đảm nhu cầu phát triển của kinh tế địa phương vừa góp phần phát triển kinh đất nước
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình cải biến kinh tế xã hội từ tình trạng lạc hậu, mang nặng tính chất tự cấp tự túc từng bước đi vào chuyên môn hoá hợp lí, trang bị kĩ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó, tạo ra năng suất lao động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói chung Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm việc cải biến cơ cấu kinh tế theo ngành, theo vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và là một quá trình đi lên từng bước dựa trên sự kết hợp mật thiết các điều kiện chủ quan, các lợi thế về kinh tế,
xã hội, tự nhiên trong nước, trong vùng, trong đơn vị kinh tế với các khả năng đầu tư, hợp tác, liên kết, liên doanh về sản xuất, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm của các nước, các vùng và đơn vị kinh tế khác nhau [83]
Trang 6Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại và mục tiêu là đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Với định hướng đó thì các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội bằng các chủ trương, biện pháp đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tế và tiềm năng của địa phương để phát huy nội lực, tranh thủ thời cơ phát triển Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, một vấn đề luôn được các lãnh đạo địa phương quan tâm và chú ý là vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đây là một vấn đề rất quan trọng và giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của các địa phương
Trong những năm qua, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh đã rất quan tâm
và chỉ đạo sát sao quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại - dịch vụ, đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Với định hướng đó, các quận, huyện của thành phố Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế của địa phương
Cần Giờ là một trong năm huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trung tâm kinh tế phát triển năng động của khu vực và cả nước, có tiềm lực to lớn về khoa học - kỹ thuật, tài chính, chất xám, nguồn nhân lực chất lượng cao,…nên Cần Giờ có nhiều khả
Trang 7năng, điều kiện thuận lợi để tranh thủ, khai thác các thế mạnh của thành phố để phát triển kinh tế
Trong những năm qua, Đảng bộ huyện Cần Giờ đã tập trung chỉ đạo việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện theo cơ cấu nông nghiệp – dịch vụ
- công nghiệp, trong đó thủy sản và dịch vụ du lịch sinh thái trở thành hai ngành kinh tế mũi nhọn; lâm nghiệp với toàn bộ diện tích rừng ngập mặn được xác định là Khu Bảo tồn thiên nhiên và Khu Dự trữ sinh quyển thế giới được bảo vệ, chăm sóc tốt tạo môi trường phát triển bền vững cho các ngành kinh tế khác, góp phần ổn định, nâng cao đời sống xã hội ở địa phương
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Cần Giờ cũng đang gặp phải những khó khăn gay gắt trong quá trình phát triển như: tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chậm; chưa khai thác hợp lý các tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước; sự cách biệt khá xa
về trình độ phát triển kinh tế - xã hội so với các quận, huyện khác của thành phố;
cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật yếu kém, chưa đồng bộ; thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, thiếu lao động đã qua đào tạo, có trình độ và tay nghề cao; con đường công nghiệp hóa các ngành kinh tế và phát triển nông thôn còn nhiều khó khăn,…
Việc nghiên cứu đề tài “Đảng bộ huyện Cần Giờ lãnh đạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996-2009” có ý nghĩa cần thiết về lý luận và thực tiễn
hiện nay, giúp chúng ta hiểu biết đầy đủ, toàn diện, sâu sắc hơn quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ trong giai đoạn 1996 – 2009, đồng thời chỉ ra những thành tựu, thuận lợi cơ bản cũng như những tồn tại, hạn chế, khó khăn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi, thành tựu và những mặt tồn tại, hạn chế, khó khăn trong quá
Trang 8trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996 – 2009 của huyện Cần Giờ, luận văn sẽ rút ra một số bài học kinh nghiệm và đưa ra một số giải pháp để góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, tác giả chọn đề tài này nhằm góp phần tìm hiểu thêm về quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ huyện Cần Giờ giai đoạn 1996 – 2009
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Đảng bộ huyện Cần Giờ lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996 –
2009 được công bố, xuất bản dưới các góc độ và khía cạnh khác nhau
Các tác phẩm như: Tập tư liệu Mảnh đất Duyên Hải – Cần Giờ của Trần Chút, bản đánh máy, 1985; Truyền thống cách mạng của nhân dân huyện Duyên Hải của Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1986; Tổng kết 10 năm xây dựng huyện Duyên Hải của PGS.TS Mạc Đường (chủ biên),
Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, 1985…Các tác phẩm này đã
đề cập đến truyền thống lao động, truyền thống đấu tranh yêu nước, đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Cần Giờ qua hai cuộc kháng chiến, đã đề cập đến những đặc điểm môi trường địa lý và quá trình chuyển đổi xã hội toàn diện của vùng đất này sau năm 1975
Công trình nghiên cứu theo phương pháp liên ngành khá chặt chẽ và toàn
diện về vùng đất Cần Giờ là cuốn sách Sơ khảo – huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh của Trần Bạch Đằng (chủ biên) cùng một nhóm tác giả biên soạn,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Khảo sát của tập sách khá công phu, tính chuyên ngành khá rõ, có chiều sâu về địa lý, địa chất, lịch sử, văn hóa,…đã đúc kết và làm rõ những điều kiện về tự nhiên và xã hội của Cần Giờ, làm rõ những
Trang 9thành tựu mới đang diễn ra trên vùng đất này sau năm 1975 như việc khôi phục rừng Sác Cần Giờ, đường Rừng Sác nối liền Cần Giờ với thành phố, điện lưới quốc gia, xóa đói giảm nghèo,…có thể làm tư liệu cho việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, làm tư liệu cho việc giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ đương thời của huyện Cần Giờ
Các công trình nghiên cứu lịch sử đã được công bố như: Thành phố Hồ Chí Minh hai mươi năm (1975-1995) của Ban Thường vụ Thành ủy thành phố
Hồ Chí Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1997; Lịch sử Đảng bộ huyện Cần Giờ (1975 - 2000) của Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Cần Giờ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2005; Lịch sử phát triển xã hội huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đầu đổi mới (1986-2000) của Hoàng
Văn Lễ, luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, 2006 đều có đề cập đến một số vấn
đề liên quan đến đề tài Nhưng những công trình nghiên cứu lịch sử này chủ yếu trình bày lịch sử đấu tranh cách mạng, lịch sử xây dựng và phát triển của thành phố Hồ Chí Minh của huyện Cần Giờ sau ngày giải phóng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, do đó vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế chỉ được đề cập một cách khái quát, sơ lược, chung chung
Một số chuyên luận có liên quan đến đề tài như: Khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh (1978- 2000) của Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Nông nghiệp, Tp.HCM, 2006; Bước đầu tính tổng giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh của Lê Đức Tuấn, luận văn
thạc sỹ khoa học Địa lý, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc
gia thành phố Hồ Chí Minh, 2000; Rừng ngập mặn Cần Giờ, thực trạng và giải
Trang 10pháp của Lê Văn Khôi, Báo Khoa học phổ thông số 2, ngày 14/01/2005…
Những công trình này công bố nhiều tư liệu, số liệu mới rất có giá trị và có một
số nhận định khái quát liên quan đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Cần Giờ Nhưng những tư liệu và nhận định này mới chỉ đề cập đến một vấn đề nhỏ, một ngành kinh tế, mà chưa đề cập một cách đầy đủ, có hệ thống về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Cần Giờ
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài không nhiều và cũng chưa
có tác giả nào có chủ ý đặt ra và giải quyết đầy đủ, có hệ thống về vấn đề Đảng
bộ huyện Cần Giờ lãnh đạo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996
- 2009 Vì thế, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996-2009 chưa được làm rõ, những thành tựu đã đạt được cũng như những mặt còn tồn tại hạn chế, bài học kinh nghiệm của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa được đúc kết và cũng chưa đề cập đến các giải pháp để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn hiện nay của huyện Cần Giờ Tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố, xuất bản, tác giả mạnh dạn
chọn đề tài “Đảng bộ huyện Cần Giờ lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
giai đoạn 1996-2009”, nhằm tìm hiểu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996-2009, góp phần làm rõ
và giải quyết những vấn đề trên, đồng thời cũng góp phần nhỏ bé nhằm đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Cần Giờ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình Đảng bộ huyện Cần Giờ lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996-2009 Từ những kết quả đã đạt được,
Trang 11chỉ rõ những thành tựu, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, trên cơ sở đó rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp để Đảng bộ huyện Cần Giờ tiếp tục lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương và góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và của đất nước nói chung
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Khái quát các vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh, Đảng bộ huyện Cần Giờ trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1996-2009
+ Phân tích thực trạng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm rõ những thành tựu đã đạt được, chỉ ra các hạn chế, yếu kém còn tồn tại, rút ra các bài học kinh nghiệm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Cần Giờ giai đoạn 1996-2009
+ Đề xuất một số giải pháp để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Cần Giờ trong giai đoạn hiện nay và những năm tới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Để thực hiện đề tài này tác giả lấy chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh và Đảng bộ huyện Cần Giờ làm cơ sở lý luận
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài này, phương pháp phổ biến mà tác giả thường sử dụng nhất là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như phương
Trang 12pháp tổng hợp, phương pháp phân tích tư liệu, phương pháp đối chiếu, so sánh, thống kê
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Thông qua việc trình bày và phân tích một cách hệ thống lý luận về cơ cấu kinh tế, những nhân tố tác động đến sự hình thành, xu hướng chuyển dịch của cơ cấu kinh tế, luận văn sẽ góp phần làm rõ về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ, thực trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Cần Giờ
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn sẽ chỉ ra những thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, trên cơ sở đó luận văn sẽ rút ra các bài học kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở huyện Cần Giờ, góp phần nhỏ bé vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Cần Giờ trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết cho những người quan tâm đến vấn đề trên
6 Giới hạn của luận văn
Cơ cấu kinh tế là một vấn đề rộng lớn, bao gồm: cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành chính lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế, đòi hỏi một quá trình nghiên cứu công phu, tỉ mỉ, do đó trong đề tài này tác giả chỉ đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu theo ngành kinh tế giai đoạn 1996 – 2009 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 2 chương, 5 mục và phần kết luận
Trang 13Cần Giờ nằm ở tọa độ địa lý: 106016’12” – 107000’50” kinh đông, chiều dài từ đông sang tây là 30km; 10022’14” – 10040’00” vĩ bắc, chiều dài từ bắc xuống nam là 35km Khoảng cách từ huyện lỵ (thị trấn Cần Thạnh) đến trung tâm thành phố Hồ Chí Minh theo đường bộ khoảng 50km [79, tr.1]
Cần Giờ nằm về phía đông nam thành phố Hồ Chí Minh Cần Giờ có tổng diện tích tự nhiên là 70.421ha, chiếm 1/3 diện tích toàn thành phố Cần Giờ được bao bọc bởi các con sông lớn như: sông Lòng Tàu, sông Cái Mép, sông Gò Gia ở phía nam; sông Soài Rạp, sông Đồng Tranh ở phía bắc Phía đông và đông bắc tiếp giáp huyện Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai); phía tây giáp huyện Cần Giuộc (tỉnh Long An) và huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang); phía bắc giáp huyện Nhà Bè (thành phố Hồ Chí Minh); phía nam giáp biển Đông [79, tr.1]
Trang 14Về khí hậu: Cần Giờ có khí hậu thuộc nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có
hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhiệt độ cao và ổn định (trung bình 25-290C); số giờ nắng (tháng 9 thấp nhất khoảng 169 giờ, tháng 3 cao nhất khoảng 176 giờ) và lượng bức xạ (trung bình 10-14 kcal/cm2/tháng) rất phong phú; độ ẩm cao (tháng
9 cao nhất khoảng 83%, tháng 3 thấp nhất khoảng 74%); lượng mưa thấp nhất
thành phố Hồ Chí Minh (trung bình 150mm/tháng, 95 ngày mưa/năm), lượng mưa có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất và sinh hoạt đời sống của người dân
ở đây [79, tr.1-3] Điều kiện khí hậu này tạo cho vùng đất Cần Giờ có ưu thế để bảo tồn và phát triển về đa dạng sinh học
Bên cạnh khí hậu được thiên nhiên ưu đãi thì Cần Giờ còn là vùng đất có nhiều cảnh quan đẹp, tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển Toàn huyện có 13km bờ biển kéo dài từ thị trấn Cần Thạnh đến xã Long Hòa, cách mũi Nhà Bè hơn 30km đường bộ, đang được đầu tư lấn biển, xây dựng các khu du lịch, các khu nghỉ dưỡng sẽ là nơi du lịch, nghỉ mát, nghỉ dưỡng thuận tiện cho người dân thành phố và khách du lịch trong cũng như ngoài nước
Về dòng chảy: Cần Giờ là vùng đất có nhiều sông rạch chằng chịt cùng
chế độ bán nhật triều với mật độ dòng chảy cao (7-10km/km2), biên độ triều khá lớn 0,6-1m Tổng diện tích mặt nước của huyện là 23.000ha, chiếm 25% diện tích tự nhiên, là một thế mạnh cho huyện trong việc phát triển giao thông đường thủy, du lịch, nuôi trồng thủy hải sản [79, tr.1-3]
Về độ mặn: Cần Giờ là địa phương duy nhất của thành phố tiếp giáp với
biển nên độ mặn có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sản xuất của huyện Độ mặn ở đây thay đổi theo mùa mưa và mùa khô, vùng trồng lúa phía bắc Cần Giờ
có độ mặn 4‰, vùng rừng đước phía biển có độ mặn 18‰ là một độ mặn thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Từ năm 1987, do sự điều
Trang 15hòa lưu lượng tích nước và xả nước của hồ Trị An đã làm cho độ mặn biến thiên theo hướng bất lợi cho sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, làm giảm diện tích đất có độ mặn 4‰ Độ mặn là dạng tài nguyên cơ bản cho nghề làm muối, cho
các loài hải sản sinh sống, cho cây rừng sác như đước, vẹt…[79, tr.1-3]
Về địa hình: Cần Giờ là vùng đầm lầy hình lòng chảo, cao trình bình quân
0,6-0,7m (nơi cao nhất là 10m ở Giồng Chùa xã Thạnh An, nơi thấp nhất là 0,5m
so với mực nước biển) Vùng đầm lầy này có thể chia thành 5 dạng là: không ngập (khoảng 50ha), ngập theo chu kỳ nhiều năm 13,8% diện tích (cao 1,5-2m), ngập theo chu kỳ năm 21% diện tích (cao 1-1,5m), ngập theo chu kỳ tháng 23,4% diện tích (cao 0,5-1m) và vùng ngập theo chu kỳ ngày 8,1% diện tích (cao
0-0,5m), trong đó dạng bãi bồi độ cao thấp hơn 0,5m ngập hàng ngày (chiếm khoảng 7,6% diện tích) Việc khảo sát và nghiên cứu diện tích ngập nước có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bố trí sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp của địa phương Theo dự báo khoa học, biến đổi khí hậu làm mực nước biển dâng cao thì các vùng đất thấp như Cần Giờ sẽ chịu rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực, do đó các công trình kết cấu hạ tầng cần phải chú ý cốt nền và độ cao thích hợp để hạn
chế các hậu quả của việc nước biển dâng [79, tr.1-3]
Về khoáng sản: than bùn khoảng 210ha nhưng phân bố phân tán nhiều
nơi, chất lượng kém nên chủ yếu chỉ dùng để làm phân bón; cát mịn ở sông Lòng Tàu và Nhà Bè chất lượng kém, phải xử lý và rửa mặn thì mới có thể sử dụng làm vật liệu xây dựng; nước ngầm chưa thấy có dấu hiệu, nước tẩm trong cồn cát Cần Thạnh, Long Hòa không đáng kể [79, tr.1-3]
Cần Giờ là huyện tiền tiêu, là cửa ngõ phía Đông Nam [80, tr.1], là huyện biển duy nhất của thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế và văn hóa phát triển năng động nhất cả nước Với điều kiện tự nhiên là địa phương duy nhất của
Trang 16thành phố Hồ Chí Minh tiếp giáp với biển Đông nên Cần Giờ có nhiều tiềm năng
và triển vọng phát triển các ngành kinh tế biển, các dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng,
xây dựng các cảng sông, cảng biển, đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản…
Trước ngày 30-4-1975, huyện Duyên Hải (tên gọi cũ của huyện Cần Giờ)
là vùng căn cứ quân sự tiền tiêu của Mỹ-ngụy, bảo vệ cho con đường thủy huyết mạch từ biển Đông vào cảng Sài Gòn Xung quanh các đồn bốt của Mỹ-ngụy là những vùng dân cư thưa thớt, nghèo nàn, lạc hậu Trong chiến tranh, hơn 2 triệu tấn bom đạn, hơn 4 triệu lít thuốc khai hoang đã được rải xuống mãnh đất Cần Giờ đã biến vùng rừng ngập mặn Cần Giờ thành bình địa, hệ sinh thái và môi trường bị tàn phá và biến đổi nghiêm trọng [39, tr.1] Sau ngày 30-4-1975, Đảng
bộ và nhân dân huyện Duyên Hải tiếp quản một cơ ngơi hết sức khiêm tốn: cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế, khoa học, văn hóa, giáo dục và y tế
Ngày 28-2-1978, chấp hành Nghị quyết Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4
về việc sáp nhập huyện Duyên Hải (tên gọi trước đây của huyện Cần Giờ) vào thành phố Hồ chí Minh Đây là một sự kiện quan trọng và là cơ sở để đưa huyện Duyên Hải tiến lên một bước [39, tr.1]
Ngay từ năm 1978 và những năm đầu thập niên 80, công việc khôi phục rừng đước bị hủy diệt trong chiến tranh và phát triển các vườn cây đặc sản đã được chú trọng đầu tư Nhờ những nỗ lực đó, đến cuối năm 1990, hơn 2 vạn hecta rừng đước đã được trồng lại và được bảo vệ tốt, trở thành lá phổi xanh và góp phần bảo vệ môi trường và hệ sinh thái cho thành phố Hồ Chí Minh Nghề trồng lúa cũng được đầu tư, hệ thống thủy lợi được kiên cố hóa đã tạo điều kiện cho người dân Cần Giờ đẩy mạnh khai hoang, mở rộng diện tích, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên năng suất lao động ngày càng tăng cao Chăn nuôi
Trang 17gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy hải sản cũng phát triển nhanh đã góp phần cải
thiện và nâng cao đời sống người dân [39, tr.1]
Giai đoạn 1980-1990 là giai đoạn kinh tế Cần giờ phát triển toàn diện Ngư nghiệp được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn; nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được đầu tư phát triển theo hướng ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đã góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Tổng sản lượng hải sản từ 8.000 tấn năm 1975 tăng lên 15.000 tấn năm 1990 Nông nghiệp cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ, nhờ các biện pháp cơ giới hóa, thâm canh, tăng vụ và mở rộng diện tích canh tác từ 3.000ha năm 1979 tăng lên 4.000ha năm 1990 (trong đó có 2.500ha lúa cao sản với năng suất 3-5tấn/ha) Cùng với những tiến bộ trong sản xuất, nhiều nông trường quốc doanh ra đời, hệ thống truyền thanh, thông tin liên lạc, nhiều công trình phúc lợi công cộng được xây dựng Kết cấu hạ tầng được đầu tư phát triển, đặc biệt là việc xây dựng và đưa vào sử dụng tuyến đường Nhà Bè – Duyên Hải dài 36km xuyên qua rừng Sác đã giúp nối liền Cần Giờ với thành phố Hồ Chí Minh, tạo điều kiện và mở ra nhiều cơ hội thuận lợi để thúc đẩy kinh tế - xã hội
của huyện phát triển với tốc độ nhanh và bền vững [39, tr.2]
Rừng đước được phục hồi và bảo vệ tốt, bên cạnh việc góp phần bảo vệ môi trường và cân bằng hệ sinh thái cho thành phố thì cũng đã giúp tái tạo các nguồn lợi thủy sản, nghề khai thác, nuôi trồng thủy hải sản; nghề muối được đầu
tư mở rộng diện tích và nâng cao năng suất, chất lượng; việc phát triển kinh tế vườn với các giống cây đặc sản có giá trị cao,…nhờ đó đời sống người dân ngày càng được cải thiện
Trong ngư nghiệp đã xuất hiện và phát triển nghề cào khơi với mô hình khai thác xa bờ, đánh bắt dài ngày với hiệu quả ngày càng cao Mô hình nuôi
Trang 18tôm theo phương pháp bán công nghiệp và quảng canh ngày càng phát triển, tạo được nguồn tôm giống có giá trị cao để xuất khẩu
Giai đoạn từ năm 1990 đến nay, huyện Cần Giờ đã đạt được nhiều bước tiến vượt bậc, đặc biệt là rừng phòng hộ Cần Giờ đã phát triển nhanh chóng về diện tích, chất lượng, sinh khối và cả hệ sinh thái môi trường bền vững, nguồn lợi thủy sản, chim muông, thú rừng có điều kiện trú ngụ, sinh sôi Ngày 20-1-
2000, Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn của thế giới Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ là một trong 368 khu dự trữ sinh quyển thuộc 91 quốc gia trên thế giới Đây là hệ sinh thái hoàn toàn do bàn tay con người quy hoạch, phục hồi với diện tích 75.740ha, có 200 loài động vật (trong đó có 11 loài bò sát có tên trong sách Đỏ Việt Nam), 52 loài thực vật đặc trưng rừng ngập mặn được xác định [40, tr.8]
Nghề nuôi trồng thủy sản tiếp tục được đầu tư, góp phần gia tăng sản lượng và giá trị; điện khí hóa, đường giao thông liên xã, thị trấn được đầu tư, tạo điều kiện giao lưu kinh tế - văn hóa thuận lợi cho người dân địa phương, công tác xóa đói giảm nghèo, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe cho người dân được tăng cường…Chú trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trước hết là kinh tế nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu sử dụng lao động, mở ra nhiều ngành nghề, dịch vụ mới ở nông thôn, góp phần giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập, nâng cao mức sống của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn
1.1.2 Về chính trị
Về an ninh quốc phòng và thực hiện chương trình mục tiêu ba giảm của thành phố, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Cần Giờ luôn nhận thức
Trang 19đúng đắn và đầy đủ vị trí, tính chất quốc phòng an ninh vùng ven biển của thành phố và các tỉnh giáp ranh trong khu vực Hàng năm, Huyện ủy đều tập trung triển khai các kế hoạch giáo dục quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị Triển khai phương án diễn tập, phòng thủ chống xâm nhập, biểu tình, bạo loạn Củng cố hệ thống phòng thủ ven biển, thực hiện hiệp đồng chiến đấu tốt giữa các đơn vị vũ trang và lực lượng vũ trang huyện với các địa phương giáp ranh, thường xuyên huấn luyện lực lượng dân quân tập trung, dân quân tự
vệ và dự bị động viên Phát huy dân chủ cơ sở, xây dựng lực lượng nòng cốt chính trị, nòng cốt phong trào, dựa vào dân để chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh xử lý các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, không để xẩy ra các “điểm nóng” về tội phạm, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, an toàn ở nông thôn…góp
phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội [18, tr.15]
Về chính trị, hệ thống chính trị từ cơ sở Đảng, bộ máy chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể từ huyện đến xã, ấp luôn được củng cố, kiện toàn thông qua cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, đề cao ý thức trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân Đảng
bộ huyện thường xuyên xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở xã, thị trấn Các cấp ủy luôn bám sát yêu cầu nhiệm vụ trọng tâm, những vấn đề bức xúc trong sản xuất
và đời sống của nhân dân để lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết mang lại hiệu quả
Đội ngũ công chức, viên chức thường xuyên được bồi dưỡng, đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng được với yêu cầu đổi mới trong quản lý và
Trang 20điều hành thực hiện các mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Từ 176 đảng viên sinh hoạt trong 18 tổ chức cơ sở Đảng năm 1978, đến nay toàn Đảng bộ huyện đã có 52 cơ sở Đảng (11 Đảng bộ, 41 Chi bộ) với tổng
số 1.257 đảng viên (trong đó có 348 đảng viên nữ), đội ngũ cán bộ thông thạo công việc, năng động, nhạy bén trong nắm bắt tình hình, vận dụng có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, mạnh dạn suy nghĩ, hành động và có tinh thần trách nhiệm với công việc [39,
tr.5]
1.1.3 Về văn hóa – xã hội
Về dân số và lao động: Kiểm kê dân số lần đầu tiên sau ngày giải phóng
miền Nam (30-4-1975) vào năm 1977 thì dân số của huyện Duyên Hải (tên gọi trước đây của huyện Cần Giờ) là 33.060 người (trong đó: nam là 15.877 người
và nữ là 17.183 người), chỉ có 530 người là cán bộ - công nhân viên, còn lại hầu hết đều là dân nghèo nên chính quyền phải tiến hành ngay việc cứu trợ, giải quyết việc làm tạm thời cho số lao động không nghề nghiệp [27, tr.9] Thống kê năm 1985, dân số Cần Giờ là 39.698 người (tăng 6.638 người, tăng 20% so với năm 1977, bình quân tăng 2,58%/năm) Thống kê năm 1999, dân số Cần Giờ là 58.819 người (tăng 25.759 người, tăng 77,9% so với năm 1985, bình quân tăng 3,38%/năm) [79, tr.31] Đặc trưng dễ nhận thấy trong giai đoạn này là dân số ít, mật độ dân cư thưa; tăng tự nhiên cao: bình quân trên 3%/năm trong 10 năm 1975-1985 Nhờ kết quả của công tác vận động kế hoạch hóa gia đình nên tỷ lệ sinh giảm dần trong các năm gần đây, đến năm 2009 dân số của toàn huyện là 69.611 người và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên chỉ còn 1,04% [59, tr.1] Huyện Cần Giờ có cấu trúc dân số trẻ và phát triển nhanh, lại phân bố thành ba vùng rõ rệt
do chịu ảnh hưởng với vùng tiếp giáp Vùng giáp với huyện Nhà Bè, do bị thu
Trang 21hút về thành phố, là vùng đông dân nhất, có diện tích đất nông nghiệp tập trung, dân cư ổn định, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và có trình độ văn hóa cao hơn các xã khác trong huyện; vùng ven biển dân cư chuyên nghề ngư nghiệp, thường di chuyển và thay đổi do chịu ảnh hưởng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (ở Cần Thạnh, Thạnh An) và Vàm Láng – Gò Công (ở Long Hòa, Lý Hòa); và vùng dân cư thưa thớt ở trung tâm rừng Sác, chuyên nghề rừng, nuôi tôm, là vùng lưu dân tứ xứ Ba vùng dân cư đặc trưng gắn với đặc điểm nghề nghiệp và địa bàn cư trú khá rộng lớn, bị chia cắt bởi hệ thống sông rạch chằng chịt, mật độ dân cư thưa thớt…Đó là lý do có sự khu biệt ngay trong nội bộ Cần Giờ và khu biệt với nội thành Sài Gòn trước đây [79, tr.21]
Lao động thiếu kỹ năng, chưa qua đào tạo, trình độ văn hóa thấp, ứng dụng khoa học và tiếp nhận chuyển giao công nghệ chậm nên khả năng khai thác tài nguyên đa dạng của đất, rừng ngập mặn còn nhiều hạn chế Trong đó lao động nông - ngư chiếm 2/3 số lao động, trình độ kỹ thuật và tay nghề còn thô sơ, thủ công Lao động ngành lâm, diêm, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ chỉ mới phát triển hơn một thập kỷ gần đây Cán bộ quản lý, lao động kỹ thuật phần lớn là người di dân cơ học từ nội thành và các nơi khác về Cần Giờ trong những năm 1978-1990 Do đó, bên cạnh việc thực hiện chính sách thu hút nhân tài về công tác và làm việc tại địa phương, chính sách giáo dục – đào tạo trở thành một nhiệm vụ rất cấp bách và có tính chiến lược đối với Cần Giờ
Là một huyện nghèo của thành phố Hồ Chí Minh, trong những năm qua Cần Giờ luôn thực hiện tốt chính sách đối với các gia đình và người có công với cách mạng; đẩy mạnh phong trào vận động, chăm lo cho người nghèo Chương trình giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân đã mang lại những kết quả thiết thực Đảng bộ, chính quyền các cấp đã tập trung chăm lo cho hộ nghèo thông
Trang 22qua đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tại các xã nghèo với kinh phí gần 100 tỷ đồng; xây dựng và chuyển giao các mô hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phù hợp, tích cực trợ giúp vốn vay, đẩy mạnh công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm Nhờ những nỗ lực không ngừng đó của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Cần Giờ đã kéo giảm được tỷ lệ hộ nghèo từ 45-50% vào những năm
1990 xuống còn 1,08% vào năm 2009 theo tiêu chí 6 triệu đồng/người/năm, còn theo tiêu chí chuẩn nghèo mới của thành phố hồ Chí Minh hiện nay là 12 triệu đồng/người/năm thì tỷ lệ hộ nghèo của huyện là 43,42% Từ năm 2000 đến
2009, huyện đã giải quyết việc làm cho 49.199 lượt lao động, bình quân hàng năm đã giải quyết việc làm ổn định cho khoảng 5.467 lượt lao động, trong đó tỷ
lệ lao động đã qua đào tạo năm 2009 đạt khoảng 33% [41, tr.2] Chương trình Vì
người nghèo đã huy động được nhiều nguồn đóng góp trong xã hội, xây dựng
được 50 nhà tình nghĩa, 900 nhà tình thương, sửa chữa trên 300 nhà diện chính sách, có công với cách mạng, cấp đất và trợ giúp kinh doanh cho 1.280 hộ dân nghèo có nhà ở sạt lở ven sông, ven biển, vùng thấp và vùng trũng thấp vào nơi định cư an toàn; 812 hộ nghèo được gắn điện kế, trên 350 hộ được lắp đặt pin năng lượng mặt trời, nhờ đó tỷ lệ hộ dân sử dụng điện là 96% (trong đó 88% sử dụng điện lưới quốc gia, 8% sử dụng diézel và pin năng lượng mặt trời), tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch khoảng 95% với định mức 60 lít/người/ngày Thu nhập
dân cư tăng bình quân 20,7%/năm [18, tr.15]
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được chú trọng, nhất là đối với nhân dân ở vùng sâu, vùng xa; giảm được tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 36% năm 1995 xuống còn dưới 7% vào năm 2009; đã khống chế được các loại dịch bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết, bạch hầu; 100% trẻ em được tiêm chủng các loại vắc-xin phòng bệnh; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm từ 1,93% năm 1995
Trang 23xuống chỉ còn 1,04% năm 2009 Hệ thống y tế tại trung tâm huyện lỵ và cơ sở được đầu tư xây dựng, nâng cấp; các trạm y tế đều có bác sỹ và nữ hộ sinh trung cấp, đến năm 2009 số bác sỹ trên một vạn dân là 6,7 người, số giường bệnh trên một vạn dân là trên 23 giường…nhờ đó đã góp phần nâng cao công tác chăm sóc
sức khỏe cho người dân [41, tr.2]
Chương trình nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực đã được tập trung triển khai thực hiện và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ Thông qua việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, tăng cường đào tạo chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, chăm lo, trợ cấp học bổng, phương tiện cho học sinh nghèo, hiếu học, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học…Nhờ những nỗ lực đó, huyện đã hoàn thành công tác xóa nạn mù chữ, trẻ em đến trường đúng độ tuổi, huyện đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở và đang triển khai có hiệu quả công tác phổ cập giáo dục bậc trung học phổ thông và đào tạo nghề, nâng mặt bằng dân trí của huyện đến cuối năm 2009 lên lớp 9; chất lượng giáo dục có tiến bộ rõ rệt, kết quả tốt nghiệp ở các lớp cuối cấp và thi đậu vào các trường đại học ngày càng tăng, hiện có 130 em đang là sinh viên tại các trường đại học ở thành phố, đây sẽ là nguồn cán bộ dự bị của huyện trong tương lai; cơ sở vật chất, hệ thống trường lớp được tăng cường đầu tư, kiên cố hóa, đội ngũ giáo viên được quan tâm bồi dưỡng ngày một trưởng thành về cả chuyên môn lẫn tác phong sư phạm [39, tr.4]
Sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao được quan tâm đầu tư và phát triển Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư được triển khai sâu rộng, gương người tốt việc tốt, gia đình văn hóa, khu dân cư tiên tiến, xuất sắc không ngừng tăng lên, bộ mặt văn hóa - xã hội ở nông thôn có nhiều bước chuyển biến tích cực góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng
Trang 24đời sống văn hóa mới ở nông thôn Nhân dân huyện Cần Giờ luôn tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng, tích cực hưởng ứng chủ trương góp phần xây dựng, phát triển huyện Hàng năm, luôn xuất hiện nhiều gương điển hình tiên tiến trong công cuộc cải tạo, xây dựng và bảo vệ đất nước trên địa bàn huyện như: hiến đất làm đường, ủng hộ giúp đỡ người nghèo…Đến năm 2009, toàn huyện đã có 22
ấp đạt chuẩn ấp Văn hóa và 1 xã đạt chuẩn xã Văn hóa (xã Lý Nhơn) Hầu hết các hộ dân đều có các phương tiện nghe nhìn, các xã, thị trấn đều có các điểm sinh hoạt văn hóa - thể thao cho thanh thiếu nhi [41, tr.2]
Đến nay, mảnh đất Cần Giờ đã thay da đổi thịt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Cần Giờ tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, năng động, sáng tạo trong từng bước đi, từng giai đoạn cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, thiếu thốn để trưởng thành và phát triển Những kết quả đã đạt được
về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội hôm nay đã khẳng định sự nỗ lực vươn lên, triển khai và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương cũng như của thành phố Hồ Chí Minh Những kết quả đã đạt được của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Cần Giờ đã được Nhà nước ghi nhận và tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (năm 2000) và Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới (năm 2005)
1.2 Thực trạng cơ cấu kinh tế của huyện Cần Giờ trước năm 1996
1.2.1 Giai đoạn 1986-1990
Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Duyên Hải lần thứ IV (tháng 9-1986) đã
xác định phương hướng nhiệm vụ là: Phát huy sức mạnh tổng hợp của Huyện, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của thành phố để phát triển nhanh mọi mặt Trước hết
Trang 25tập trung phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế ngư - công - lâm - nông nghiệp và dịch vụ, trong đó khâu cốt lõi là ngư, công nghiệp [26, tr.9]
Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, trong 5 năm 1986-1990, Đảng bộ và nhân dân huyện Duyên Hải đã nỗ lực phấn đấu và giành được những kết quả rất đáng khích lệ
Sản xuất ngư nghiệp trong những năm 1986-1990 có sự chuyển biến rõ
rệt, từ cung ứng vật tư, trao đổi sản phẩm sang đầu tư, liên kết liên doanh và thu mua sản phẩm theo thỏa thuận Năm 1986, vốn đầu tư phát triển các phương tiện sản xuất ngư nghiệp đạt 108,6 triệu đồng, trong đó vốn nhà nước là 49 triệu đồng (45,1%), vốn liên doanh 13,7 triệu (12,7%) và vốn từ nhân dân là 45,9 triệu đồng (43,2%), phát triển mới 180 khẩu đáy các loại, 14 cặp cào đôi, 135 ghe cào te và
23 ghe lưới…Nhờ vậy, sản lượng đánh bắt cũng tăng, năm 1986 khai thác 16.000 tấn hải sản các loại, trong đó có 2.300 tấn tôm xuất khẩu; năm 1987 sản lượng 17.000 tấn, trong đó có 2.550 tấn tôm xuất khẩu, năm 1988 sản lượng 18.700 tấn, trong đó có 2.610 tấn tôm xuất khẩu Tăng trưởng kinh tế trong ngư nghiệp góp phần ổn định đời sống ngư dân các xã ngư nghiệp, tạo tích lũy cho Cần Giờ, tạo ra một phần vốn để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng [26, tr.10-11]
Tuy nhiên trong thời gian này, các đơn vị kinh tế quốc doanh đã bộc lộ sự yếu kém trong quản lý vốn và trong hiệu quả sản xuất kinh doanh Do sai lầm trong xác định đối tượng đầu tư, nhiều đơn vị, hộ ngư dân không có kinh nghiệm sản xuất, làm ăn không hiệu quả, không có khả năng hoàn vốn phải quỵt nợ, bỏ trốn Một số hộ dây dưa, viện mọi lý do để hoãn, hoặc không trả nợ vay Việc thu hồi nợ đầu tư của nhà nước gặp rất nhiều khó khăn, năm 1988 chỉ thu hồi được số vốn trị giá 12.000/628.000 USD nợ đầu tư (2%) Cũng trong năm này
Xí nghiệp Quốc doanh đánh cá phải giải thể do làm ăn thua lỗ Xí nghiệp Nuôi
Trang 26trồng Thủy sản chỉ nộp được 49% tiền thuế (4/8,1 triệu đồng), nếu căn cứ pháp lệnh thuế nông nghiệp, thu thuế ruộng hạng 7 (hạng thấp nhất) với trên 800 ha thì nhà nước cũng thu được 12 triệu đồng Do tổ chức sản xuất và quản lý yếu kém, một số nông, lâm trường cũng buộc phải sử dụng hình thức hợp đồng giao đất, đầm, đập cho dân sản xuất để ăn chia sản phẩm [26, tr.11-12]
Sản xuất nông nghiệp trong những năm 1986-1990 gặp rất nhiều khó khăn
do các yếu tố tự nhiên (nắng hạn, sâu rầy) cộng với độ mặn của nước sông rạch tăng cao (ảnh hưởng của công trình thủy điện Trị An) nên chuyển biến chậm hơn
so với ngư nghiệp, năng suất lao động tăng không đáng kể Giá trị sản lượng các ngành sản xuất nông nghiệp liên tục sụt giảm do việc vận hành đập thủy điện Trị
An năm 1988 đã làm cho nguồn nước theo mùa mưa đẩy mặn giảm hẳn (do tích nước lòng hồ), gây bất lợi cho sự phát triển của cây lúa, mùa vụ năm 1986 chỉ bằng 77,6% so với năm 1985, năm 1987 bằng 82% so với 1986, đến năm 1988 chỉ bằng 45% so với năm 1987 Đối với nghề trồng lúa, diện tích sản xuất và sản lượng thu hoạch đều giảm so với những năm 1983-1985 Năm 1986 sản xuất 3.841ha, năng suất bình quân 2,2 tấn/ha, năm 1987 sản xuất 3.826ha, năng suất bình quân 2,08 tấn/ha Năm 1988 sản xuất 3.216ha, song nước mặn làm chết lúa, đến cuối vụ chỉ thu hoạch được 1.124ha với năng suất bình quân 1,69 tấn/ha Cũng do ảnh hưởng của nước mặn, sản lượng cói bình quân trong những năm 1986-1988 chỉ đạt khoảng 50%, phát triển vườn cây ăn trái đạt 33%, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, dừa đạt chưa tới 20% so với chỉ tiêu kế hoạch Đàn gia súc, gia cầm ở huyện cũng sút giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng của 03 năm thất mùa liên tiếp Đến cuối năm 1988 có trên 1.000 hộ nông dân (với hơn 5.000 nhân khẩu) lâm vào cảnh thiếu đói Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện phải tập trung vận động từ nhiều nguồn để tổ chức
Trang 27cứu tế xã hội, giúp vốn giải quyết việc làm và đời sống cho nông dân [26, 14]
tr.12-Ngược lại với sản xuất nông nghiệp, diêm nghiệp có sự phát triển cả về
diện tích sản xuất lẫn sản lượng thu hoạch, từ 400ha năm 1985 tăng lên 653ha vào năm 1988, sản lượng bình quân 60-70 tấn/ha Tuy nhiên do giá tiêu thụ lên xuống thất thường nên thu nhập và đời sống diêm dân cũng chưa thật sự ổn định [26, tr.14] (Xem bảng 1.1)
Bảng 1.1: PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGƯ – NÔNG 1986-1990
CHỈ TIÊU Đơn
vị 1985 1986 1987 1988 1989 1990 Tổng sản lượng
44.654118,8
39.290 87,9
34.866 88,7
21.89362,7
4.236 81,9
1.908
45
4.002 209,8
4.109 102,6 NGƯ NGHIỆP
Thủy-hải-sản
(tôm xuất khẩu)
tấn tấn
14.500(400)
16.000(1.800)
18.000(2.000)
18.000 (2.200)
18.000 (2.445)
15.000(1.082)Phương tiện sx:
Đáy sông cầu
Đáy rạo
Đáy sông khác
khẩu khẩu khẩu
Trang 28Ghe cào te
Ghe lưới
chiếc chiếc
27.120(66,1)
27.072(64,2)
25.440 (58,8)
27.272 (57,2)
27.313(56,2) Đất nông nghiệp
(trồng lúa) ha
4.813 (4.662)
4088 (3.841)
4067 (3.837)
1.335 (1.124)
3.226 (3.051)
3.917 (3.800)Sản lượng lúa tấn 13.500 8.231 7.024 1.852 7.127 7.551
Nguồn: [81, tr.1-4]
Về lâm nghiệp, trong 3 năm 1986-1988 huyện đã trồng mới 3.353ha rừng,
trong đó có 1.970ha đước, 150ha bạch đàn và trồng phục hồi 200ha rừng lịch sử Nhà nước cũng trợ vốn và vận động nhân dân trồng trên 10ha dừa lá, 1.780.000 cây phân tán dọc các tuyến đường và ven sông ven biển để phòng chống xói lở, thực hiện tỉa thưa 6.190ha đước Trong thời gian này, ngoài 24 đơn vị nông, lâm trường được thành phố giao quản lý 28.588ha rừng và đất rừng, huyện cũng đã giao 124ha đất rừng cho 93 hộ nông dân và 1 đơn vị tư nhân quản lý, khai thác sản xuất Các hoạt động tỉa thưa rừng hàng năm cũng giải quyết việc làm cho trên 10.000 lao động nông nhàn ở các khu vực nông nghiệp, tuy nhiên công tác tỉa thưa rừng chưa được quản lý chặt chẽ cũng là nguyên nhân cho tình trạng lạm dụng làm phát sinh tiêu cực trong các đơn vị quản lý, trong lực lượng làm thuê, kéo theo nạn chặt phá rừng tăng cao [26, tr.14-15]
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chậm phát triển ở cả khu vực quốc
doanh và ngoài quốc doanh Các đơn vị kinh tế quốc doanh vẫn chưa thoát khỏi
Trang 29khó khăn chung về vốn, vật tư, nguyên liệu, hầu hết đều lúng túng trước yêu cầu đổi mới quản lý kinh doanh, chưa chú trọng phát huy vai trò của các thành phần
kinh tế Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là công nghiệp chế biến sản
phẩm nông nghiệp Công nghiệp chế biến sản phẩm ngư nghiệp phát triển mạnh nhờ nguồn nguyên liệu phong phú và đa dạng, nhưng do thiếu nguồn nước ngọt
và nguồn điện lưới quốc gia không đáp ứng đủ nhu cầu chế biến nên những sản phẩm có giá trị cao như tôm đông lạnh xuất khẩu phải chuyển nguồn nguyên liệu
về các công ty chế biến trong thành phố nhằm đảm bảo chất lượng và giá thành
cạnh tranh trong xuất khẩu Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong 3 năm 1986-1988 có sự phát triển đáng kể tuy còn thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu kế hoạch Trong đó giá trị gia tăng thuộc lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, chế biến
thực phẩm và phục vụ hậu cần nghề cá với các sản phẩm chủ yếu gồm: tôm đông lạnh bình quân trên 500 tấn/năm (năm 1985 chưa có), nước mắm bình quân 2triệu lít/năm (năm 1985: 400.000 lít), muối hạt bình quân gần 24.000 tấn/năm (năm 1985: 14.300 tấn), nước đá bình quân gần 4.800 tấn/năm (năm 1985: 1.425 tấn), sửa chữa bình quân 46,6 lượt ghe tàu các loại (năm 1985: 30 lượt) [26, tr.15-17]
Như vậy, trong 5 năm 1986-1990 đánh dấu một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc Cơ cấu kinh tế của huyện cũng đã bắt đầu có sự chuyển dịch theo hướng phù hợp với điều kiện tự nhiên nhằm khai thác tối đa tiềm năng phát triển của huyện trong các giai đoạn sau này Huyện Cần Giờ lựa chọn con đường đi lên của mình là xây dựng huyện thành một đơn vị kinh tế biển, lấy sản xuất ngư, lâm nghiệp và dịch vụ xuất khẩu thủy sản làm động lực chủ yếu, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Nhưng huyện chưa lường hết được khó khăn, chưa vạch
ra được kế hoạch cụ thể, biện pháp, bước đi, mục tiêu trong từng thời gian đối
Trang 30với từng ngành, từng vùng kinh tế Chưa phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng của thành phố để đầu tư đúng mức vào các ngành kinh tế mũi nhọn cho nên
sự chuyển dịch của các ngành kinh tế trên địa bàn huyện còn chậm, chưa phát huy hết tiềm năng và thế mạnh sẵn có của địa phương
1.2.2 Giai đoạn 1991-1995
Đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ VI (tháng 12-1991) đã đề ra phương
hướng, mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1991-1995 là: Ổn định và phát triển sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp gắn với phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, chế biến thủy sản Tăng cường cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường sinh thái, đẩy mạnh xuất nhập khẩu và dịch vụ [24, tr.196]
Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ VI diễn ra trong bối cảnh vừa có nhiều thuận lợi, vừa không ít khó khăn như: sự sụp
đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã ảnh hưởng đến tư tưởng tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân; sản xuất tuy được phục hồi sau những năm mất mùa, cùng với việc xuất hiện những nhân tố mới thúc đẩy sự phát triển song vẫn còn nhỏ bé; tình trạng ô nhiễm môi trường, nguồn lợi thủy sản bị giảm sút, nghèo đói, dịch bệnh, thất học luôn là những trở lực lớn trong quá trình xây dựng, phát triển Tuy vậy, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Cần Giờ đã kiên trì phấn đấu vượt qua khó khăn thử thách, tích cực khai thác các điều kiện thuận lợi để thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu phát triển kinh
tế - xã hội do Đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ VI đề ra
Trong từng ngành sản xuất có sự chuyển dịch cơ cấu theo đúng định hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Huyện, ngày càng tăng tỷ trọng các ngành kinh tế quan trọng trong tổng sản phẩm xã hội Tuy nhiên mức độ chuyển
Trang 31dịch còn thấp, thiếu vững chắc so với mục tiêu của Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đảng bộ Huyện khoá VI (tỷ trọng một số ngành sản xuất trong cơ cấu kinh tế năm 1995 so với Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ: Ngư nghiệp 28%/40%, Nông Lâm nghiệp 12%/15%, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
7%/20%) Cơ cấu các thành phần kinh tế có sự biến đổi Kinh tế quốc doanh
được sắp xếp và củng cố một bước, song vẫn còn gặp nhiều khó khăn về vốn, thị trường Doanh nghiệp tư nhân có phát triển nhưng chậm và chỉ mới hình thành trong lĩnh vực đánh bắt xa bờ [24, tr.203-204]
Ngư nghiệp vẫn là ngành sản xuất mũi nhọn của huyện, được khuyến
khích theo hướng phát triển đánh bắt xa bờ và nuôi trồng thủy sản, hạn chế các ngành nghề khai thác ven biển và trong sông rạch, từng bước loại bỏ các hình thức đánh bắt lạm sát Sản xuất ngư nghiệp đã phát triển đồng bộ hơn giữa đánh bắt và nuôi trồng Năm 1992 toàn huyện có 27 cặp cào đôi, đến năm 1995 đã có
44 cặp với trang thiết bị hiện đại, hoạt động ở các ngư trường Minh Hải, Kiên Giang, Vũng Tàu, Côn Đảo, sản lượng khai thác chiếm khoảng 60-70% tổng sản lượng thủy sản hàng năm của huyện [24, tr.204] Năm 1995, sản lượng đánh bắt hải sản của huyện là 85.000 tấn các loại, trong đó có hơn 5.000 tấn tôm xuất khẩu giá trị cao, tăng 21,5% so với năm 1991 [32, tr.91-92] Trong khi đó số phương tiện đánh bắt ven bờ (đáy song cầu, đáy rạo, ghe lưới các loại) giảm mạnh, đặc biệt hai sự cố tràn dầu xảy ra trong năm 1994 và 1995 gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với môi trường sinh thái, làm kiệt quệ nguồn thủy sản, nhiều
hộ đánh bắt ven bờ lâm vào hoàn cảnh khó khăn (Xem bảng 1.2)
Nghề nuôi thủy sản tiếp tục phát triển mạnh, tổng diện tích nuôi thủy sản năm 1995 lên đến gần 6.000ha, trong đó khu vực nuôi công nghiệp chiếm khoảng 2.500ha, còn lại là nuôi theo hộ dân với các hình thức quảng canh, bán
Trang 32thâm canh, thu hút khoảng 1.000 hộ dân với trên 2.000 lao động Nuôi tôm sú trong ruộng lúa, ao đầm áp dụng phương thức bán công nghiệp ngày càng định hình và khẳng định ưu thế của vùng đất ven sông giáp biển với độ mặn khoảng 18‰, do đó diện tích nuôi tăng nhanh, đến năm 1995 đạt 1.500ha nuôi bán công nghiệp và hơn 3.500ha nuôi quảng canh Đã xuất hiện nhiều trường hợp chặt phá, bao chiếm đất rừng để làm đầm nuôi tôm, tuy nhiên về kỹ thuật còn nhiều hạn chế, năng suất nuôi không cao, khu vực nuôi công nghiệp bình quân đạt 150 đến 250 kg/ha/năm, khu vực nuôi theo hộ dân chỉ đạt 50 đến 100 kg/ha/năm [24, tr.204]
Từ phong trào nuôi nghêu ở Tiền Giang, Bến Tre, năm 1992 huyện đã tổ chức đoàn đi nghiên cứu, học tập mô hình nuôi ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang về triển khai nuôi thí điểm trên 110ha ở bờ biển Cần Thạnh và 10ha
sò huyết ở Dần Xây Vụ thu hoạch đầu tiên cho năng suất khoảng 45 tấn/ha, đến năm 1995 huyện có 872ha nuôi nghêu dọc bờ biển 2 xã Cần Thạnh, Long Hòa
và 132ha nuôi sò huyết với sản lượng thu hoạch gần 13.000 tấn Nghề nuôi cua,
cá, tôm ở các xã khu vực nông nghiệp được duy trì cũng giúp bà con nông dân
đa dạng hóa các loại hình sản xuất, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống [24, tr.205]
Thực hiện chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hóa ngành nghề trong sản xuất ngư nghiệp mặc dù còn nhiều khó khăn do vốn đầu tư lớn, trình độ kỹ thuật hạn chế và ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường, song đã tạo điều kiện nâng cao sản lượng thủy sản hàng năm của huyện Năm 1992 tổng sản lượng thủy sản (đánh bắt và nuôi trồng) là 12.040 tấn, năm 1993: 18.000 tấn, năm 1994: 21.500 tấn, năm 1995 đạt 26.450 tấn (chỉ tiêu Đại hội đề ra là 18.000 tấn) [24, tr.205] Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong thời kỳ này đã được chú trọng cả về mặt
Trang 33tuyên truyền vận động lẫn kiểm tra, xử lý vi phạm Ngoài ra huyện cũng sử dụng nguồn vốn xóa đói giảm nghèo để giúp các hộ đóng đáy mong, đáy mùng trong sông để chuyển đổi ngành nghề
Nông nghiệp: Diện tích lúa mùa ổn định ở mức 4.000ha, các công trình
thủy lợi ở Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn đã bắt đầu phát huy tác dụng Việc sử dụng các giống lúa mới và tăng cường hoạt động bảo vệ thực vật đã giúp năng suất lúa tăng 12,6% (năm 1991: 1,8 tấn/ha, năm 1995: 2,5 tấn/ha - song vẫn chưa đạt chỉ tiêu 3 tấn/ha của Đại hội VI) Lúa hè thu tại Lý Nhơn duy trì hàng năm khoảng 60-80ha với năng suất từ 3 đến 3,5 tấn/ha Diện tích cói khoảng 150ha song sản xuất thiếu ổn định, năng suất và giá trị không cao Tuy nhiên sự tồn tại của cây cói đã góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống nông dân những năm mất mùa Hai vụ tràn dầu trong năm 1994 và 1995 đã làm thiệt hại khoảng 20-30% diện tích lúa và sản lượng thu hoạch so với những năm trước đó, song nhờ các biện pháp hỗ trợ kịp thời của huyện và thành phố nên nạn thiếu đói không diễn ra nghiêm trọng như trong những năm 1986-1988 Bằng việc trợ vốn
và các biện pháp hỗ trợ khác đối với nông dân, diện tích trồng cây ăn trái trong những năm 1991-1995 tăng bình quân 19%/năm Các vườn cây ăn trái đặc sản được khôi phục, thay thế các giống cũ đã thoái hóa Phòng Nông nghiệp và Hội Nông dân huyện thường xuyên mở các lớp hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức các điểm trình diễn, tổ chức tham quan, học tập các mô hình làm ăn hiệu quả, đã thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển Đàn gia súc, gia cầm tăng nhanh, bình quân 39,75%/năm, đàn heo từ 2.747 con năm 1985 lên 3.000 con năm 1995, đàn gia cầm cũng tăng gấp 3 lần, nâng tỷ trọng chăn nuôi từ 14% năm 1990 lên 22,3% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp năm 1995 Diện tích muối ổn định ở mức 440ha, tập trung ở Thiềng Liềng, xã Thạnh An và xã Lý Nhơn, sản lượng hàng
Trang 34năm khoảng 20.000 tấn, song chất lượng muối chưa cao và giá tiêu thụ cũng hết sức bấp bênh [24, tr.205-206] (Xem bảng 1.2)
Bảng 1.2: PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGƯ – NÔNG 1991-1995
CHỈ TIÊU Đơn vị 1991 1992 1993 1994 1995 1-NGƯ NGHIỆP
11.980 110,3
14.225 118,7
15.350 107,9
15.500 119,2
21.500 138,7
35.000 162,7 Phương tiện sản xuất:
-Diện tích nuôi hải sản
-Đáy sông cầu
6.115 95,8
6.635 108,5 Đất nông nghiệp
(trồng lúa) ha
4.710 (4.000)
4.366 (4.106)
4.031 (3.796)
4.178 (4.000)
4.169 (3.620)
Trang 35Sản lượng lúa tấn 7.043 10.291 10.159 9.451 8760
Nguồn: [9, tr.51-52]
Lâm nghiệp: Năm 1995 tổng diện tích rừng Cần Giờ là 33.350ha (năm
1990 là 24.506ha), trong đó diện tích rừng trồng đã phát triển tốt là 20.346,5ha, còn lại 12.783ha là rừng tự nhiên Sự phát triển của rừng đã từng bước nâng cao chất lượng môi trường sinh thái, tạo điều kiện cho các loài thủy sinh phát triển, các loại chim, thú cũng tìm về cư ngụ ngày càng nhiều Công tác bảo vệ, chăm sóc rừng phòng hộ môi trường được tăng cường Đến năm 1995 đã giao cho các nông, lâm trường, các đơn vị và hộ dân quản lý 23.047ha Từ tháng 8-1995 huyện áp dụng quy định của Ủy ban nhân dân thành phố về chính sách khoán bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh rừng và trồng rừng phòng hộ môi trường nên thu nhập của 206 hộ lao động lâm nghiệp đã tương đối ổn định Lâm Viên Cần Giờ tiếp tục quy tập, thuần chủng và phát triển các loài động vật rừng Sác với hơn
400 con khỉ, 34 con cá sấu nước lợ Huyện cũng triển khai thực hiện dự án xây dựng Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái Rừng ngập mặn Cần Giờ do Tổ chức Hành động phục hồi rừng ngập mặn (ACTMANG-Nhật) tài trợ, tiếp nhận và triển khai thực hiện dự án của tổ chức FADO (Bỉ) để trồng mới rừng đước tại An Thới Đông và Tam Thôn Hiệp [24, tr.207-208]
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hoạt động chủ yếu là chế biến thực
phẩm, tập trung phần lớn trong khu vực quốc doanh, tuy nhiên xu thế chuyển dịch cơ cấu giữa khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh ngày càng rõ Các cơ
sở ngoài quốc doanh nâng được tỷ trọng giá trị tổng sản lượng toàn ngành từ 41,7% năm 1991 lên 53% năm 1995 nhưng phổ biến vẫn còn ở quy mô nhỏ Nhà máy đông lạnh và các cơ sở sản xuất nước mắm của huyện ngày càng thu hẹp
Trang 36sản xuất do khó khăn về nguyên liệu, năm 1985 chỉ chế biến 650 tấn nghêu thành phẩm và khoảng 1 triệu lít nước mắm [24, tr.208]
Thương mại, dịch vụ trong khu vực quốc doanh được điều chỉnh chuyển
hướng tập trung vào lĩnh vực cung ứng vật tư, hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn Huyện Tỷ trọng doanh số bán lẻ trên tổng doanh thu toàn ngành từ 12,6% năm 1991 lên 25% năm 1995, bình quân tăng 12,8%/năm Hoạt động thương mại ở khu vực ngoài quốc doanh tăng nhanh, tính đến tháng 9-1995 có 1.003 hộ kinh doanh cá thể, chiếm 11% số hộ toàn huyện, tăng gấp 2 lần so với năm 1990, trong đó kinh doanh thương mại chiếm 59%, kinh doanh ăn uống 25%, các dịch vụ khác 1,6% Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn do yếu kém trong quản lý, từ tổng giá trị 5,26 triệu USD năm 1990 giảm xuống còn 3,4 triệu USD năm 1995 Tỷ trọng kim ngạch xuất giảm từ 64% năm 1990 xuống còn 33% năm 1995 trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Kinh
tế đối ngoại có nhiều tiến bộ song kết quả đạt được còn thấp so với nhu cầu đầu
tư và phát triển của huyện [24, tr.209-210]
Tóm lại, trước năm 1996 Cần Giờ là một huyện có cơ cấu kinh tế ngư - nông - lâm nghiệp gắn với phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, chế biến thủy sản, thương mại và dịch vụ Trình độ công nghệ của hầu hết các ngành
sản xuất còn lạc hậu, kinh tế tuy có tốc độ tăng trưởng khá nhưng chưa ổn định, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, trong nội bộ các ngành vẫn còn có
sự chênh lệch về tỷ trọng, chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế của huyện cho việc đẩy mạnh xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Thu nhập bình quân đầu người còn thấp Mặc dù có nhiều cố gắng vươn lên nhưng huyện vẫn đang ở trong tình trạng tụt
Trang 37hậu về trình độ phát triển kinh tế - xã hội so với các quận, huyện khác của thành phố
* * *
Là một huyện thuộc thành phố Hồ Chí Minh, Cần Giờ có rất nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội để phát triển Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Cần Giờ, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Cần Giờ đã giành được rất nhiều thành tựu trong việc phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương, nâng cao thu nhập và mức sống của người dân Cơ cấu kinh tế của huyện từng bước được xác lập, định hình và phát triển theo hướng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội nhằm khai thác tối đa mọi tiềm năng của địa phương để phát triển
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì hiện vẫn còn nhiều khó khăn, đòi hỏi những nỗ lực không ngừng của cả Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Cần Giờ để khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức đó là: cơ cấu kinh tế của huyện phát triển chưa đồng bộ và thiếu vững chắc Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa được chú trọng đầu tư, chiến lược phát triển nghề đánh bắt xa bờ còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp…luôn gặp phải tình trạng không chủ động về nguồn giống, thời tiết
và ô nhiễm môi trường Mức sống và tích lũy của đại bộ phận người dân địa phương tuy đã được cải thiện, song vẫn còn thấp so với mặt bằng chung của các huyện ngoại thành Việc huy động nguồn lực tại chỗ để đầu tư phát triển, khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế của địa phương còn nhiều hạn chế Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc…chưa được đầu tư đồng bộ làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của huyện Năng lực quản lý, điều hành, tổ chức thực
Trang 38hiện của bộ máy chính quyền, các ban ngành và cơ sở chưa ngang tầm nhiệm vụ Những khó khăn này đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện phải luôn
nỗ lực, chủ động hơn nữa để phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng trong những
năm tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 2
NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN CẦN GIỜ VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ GIAI ĐOẠN 1996 – 2009
2.1 Tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Tăng trưởng kinh tế cao gắn với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
là mục tiêu hướng đến của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Trong rất nhiều yếu
tố góp phần tác động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước thì vấn
đề cơ cấu kinh tế có vai trò hết sức quan trọng Để thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao gắn với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường thì tất cả các quốc gia cần thiết và cần phải xây dựng được một nền kinh tế với cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với các thế mạnh, điều kiện tự nhiên và xã hội của đất nước nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của đất nước cho mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Thuật ngữ “cơ cấu” hay “cấu trúc” có nguồn gốc ban đầu từ chữ latinh có
nghĩa là xây dựng, được sử dụng trong kiến trúc, phản ánh cách lắp đặt các bộ phận của một chủ thể sinh vật nào đó trong sinh vật học Sau đó, khái niệm “cơ cấu” được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, trong đó có các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân [37, tr.8]
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về cơ cấu kinh tế, theo “Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam” thì cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ
phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Có rất nhiều loại
Trang 40cơ cấu kinh tế khác nhau: cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế
- kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo theo đơn vị hành chính lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, mà trước
hết là cơ cấu công – nông nghiệp là quan trọng nhất [83]
Trong cơ cấu kinh tế có sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất Theo Mác: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những mối quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của lực lượng sản xuất vật chất” [35, tr.7]
Mác đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về chất và tỉ lệ
về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng
và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác thì khi nghiên cứu, phân tích
cơ cấu kinh tế phải theo hai phương diện:
Phương diện thứ nhất, mặt vật chất kỹ thuật của cơ cấu, bao gồm:
- Cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế
- Cơ cấu theo quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế
- Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế-xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất