1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ huyện bắc bình, tỉnh bình thuận lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 2010

174 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng bộ huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2010
Tác giả Phan Thị Cẩm Lai
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đình Thống
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 7,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bắc Bình, niềm vui của nông dân trúng lúa, bản tin Bắc Bình số đặc biệt Xuân 2008… Trên cơ sở kế thừa các công trình có liên quan và nghiên cứu, tổng hợp các văn kiện và tài liệu của Đả

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN THỊ CẨM LAI

ĐẢNG BỘ HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,

NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 1996 - 2010

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.56

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN ĐÌNH THỐNG

TP.HỒ CHÍ MINH - 2011

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, dữ liệu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phan Thị Cẩm Lai

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ

Số TT Tên bảng biểu, biểu đồ Trang

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, BẢN ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BẮC BÌNH VÀ THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CỦA HUYỆN BẮC BÌNH TRƯỚC NĂM 1996 6

1.1 Khái quát về huyện Bắc Bình 6

1.2 Thực trạng nông nghiệp, nông thôn của huyện trước năm 1996 13

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN BẮC BÌNH LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 1996 - 2000 21

2.1 Khái niệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn 21

2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Tỉnh ủy Bình Thuận và của Đảng bộ huyện Bắc Bình về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn 30

2.3 Những giải pháp của Đảng bộ huyện Bắc Bình trong quá trình lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2010 46

Chương 3 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN BẮC BÌNH GIAI ĐOẠN 1996 - 2010 98

3.1 Thành tựu và những hạn chế trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Bắc Bình giai đoạn 1996 - 2010 98

3.2 Bài học kinh nghiệm và một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Bắc Bình 112

3.3 CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và triển vọng phát triển kinh tế - xã hội ở huyện Bắc Bình 118

KẾT LUẬN 131

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

PHỤ LỤC 149

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là con đường tất yếu phải tiến hành đối với bất kỳ một quốc gia nào, nhất là những quốc gia có xuất phát điểm từ nền nông nghiệp yếu kém, lạc hậu lên một nền kinh tế phát triển hiện đại Hiện nay, ở nhiều nước, nhất là những nước đang phát triển, phát triển công nghiệp nông thôn được coi là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài Đối với Việt Nam - một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với hơn 80% dân số sống ở nông thôn thì vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn là cơ sở cho sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội, củng cố và tăng cường an ninh quốc phòng Nhận thấy được tầm quan trọng trên, Đảng ta đã khẳng định đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và sau hơn 20 năm đổi mới, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu khá toàn diện và to lớn: kinh tế nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn đã thay đổi rõ rệt… những thành tựu

ấy đã góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, đồng thời làm sáng tỏ hơn chặng đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

Đồng hành cùng với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đang diễn

ra trên khắp cả nước, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận cũng đã và đang có những bước chuyển mình Là một huyện nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa đồng bằng duyên hải

và cao nguyên, điều kiện tự nhiên mang đầy đủ tính chất rừng núi, đồng bằng biển và ven biển; lại có đường sắt và đường quốc lộ 1A đi qua khá dài cho nên huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận có vị trí thuận lợi để tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Từ những khó khăn, thử thách trong những năm đầu tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, cho đến nay, bộ mặt kinh tế - xã hội của huyện Bắc Bình đã

có những chuyển biến đáng kể Những thành quả đó không chỉ thể hiện tính đúng đắn

Trang 8

trong việc hoạch định đường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn thể hiện sự linh hoạt và sáng tạo của Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Bình trong quá trình thực hiện đường lối đó

Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện trong những năm qua còn bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập về

cơ chế chính sách và những giải pháp hữu hiệu cần phải được quan tâm giải quyết

Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề ra chủ trương, chính sách và những giải pháp cho quá trình đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông

thôn, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Đảng bộ huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận lãnh

đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2010” làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Là một nước nông nghiệp đang trên bước đường hội nhập với khu vực và thế giới, ở nước ta vấn đề CNH, HĐH nền kinh tế nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Chính vì vậy,

đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề tài này như: Nông nghiệp, nông

thôn trong giai đoạn CNH, HĐH, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1997 Thực trạng phát triển CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Lê Mạnh Hùng và Nguyễn

Sinh Cúc, Nxb Thống kê, Hà Nội, năm 1998 Một số vấn đề về CNH, HĐH trong phát

triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 - 2020, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội,

năm 2001 Những biện pháp thúc đẩy CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng đồng

bằng sông Cửu Long của Phạm Ngọc Thạch, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2001 Giải pháp tài chính nhằm phát triển lĩnh vực sau thu hoạch trong chiến lược CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Lê Doãn Diên, Nxb Nông nghiệp, năm 2006 Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta của

GS.TS Hoàng Ngọc Hòa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2009…

Về phần luận văn, luận án có: Phát triển kinh tế hàng hóa trong quá trình CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn đồng bằng sông Hồng, luận án Tiến sỹ kinh tế của Bùi

Văn Can, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, năm 2001 Giải pháp hoàn thiện

Trang 9

hoạt động của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, luận án Tiến sỹ kinh tế của Đoàn Văn Thắng, trường

Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, năm 2003 CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở

các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh, luận án Tiến sỹ kinh tế của Mai Thị Thanh Xuân, Học

viện Chính trị quốc gia TP.HCM, năm 2003 Đảng bộ huyện Nhà Bè lãnh đạo CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 1996 - 2006, luận văn Thạc sỹ Lịch sử Đảng

Cộng sản Việt Nam của Thạch Kim Hiếu, trường ĐHKHXH&NV TP.HCM, năm

2010 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng

CNH, HĐH 1996 - 2010, luận văn Thạc sỹ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của Trần

Phượng Quyên, trường ĐHKHXH&NV TP.HCM, năm 2011…

Về phần tạp chí, các tham luận, các báo cáo khoa học: Làm gì để đẩy nhanh CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta? Tham luận tại Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành

Trung ương Đảng (Khóa IX) Góp ý kiến với Đại hội Đảng bộ TP.HCM (năm 2000),

Khoa học công nghệ phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển du lịch bền vững của Nguyễn Thế Toàn, Tạp chí

Lịch sử Đảng, số 12 năm 2007 Nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn của Hồ Văn Vĩnh, Tạp chí Cộng sản, số 805 năm 2009 Một số giải pháp phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Sài Gòn Giải Phóng,

ngày 14/9/1998 Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Sài Gòn Giải Phóng, ngày 3/3/2001…

Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu trên đều khái quát bức tranh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong những năm đầu đổi mới Các công trình trên đều phân tích những chính sách chủ trương của Đảng về quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đồng thời, nêu lên những thành tựu bước đầu mà chúng ta đạt được trong tiến trình đổi mới, những nguyên nhân cũng như bài học kinh nghiệm, hạn chế và giải pháp để tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong những năm tiếp theo Tuy nhiên, tính đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận giai đoạn 1996 - 2010 Ngay cả

Trang 10

trong phạm vi tỉnh Bình Thuận và huyện Bắc Bình, cũng chỉ có một số bài báo viết về

quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện như: huyện Bắc Bình, phát triển kinh tế -

xã hội vào chặng nước rút, báo Bình Thuận, số 1 năm 2005 Bắc Bình, niềm vui của nông dân trúng lúa, bản tin Bắc Bình số đặc biệt Xuân 2008…

Trên cơ sở kế thừa các công trình có liên quan và nghiên cứu, tổng hợp các

văn kiện và tài liệu của Đảng bộ huyện, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Đảng bộ huyện

Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận lãnh đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2010” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử

Đảng Cộng sản Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ

Mục đích: Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng công tác lãnh đạo của Đảng bộ huyện, những thành tựu và hạn chế trong quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1996 đến năm 2010; đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ huyện trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo

Nhiệm vụ: để đạt được mục đích trên, đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau: Thứ nhất, khái quát quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận trước năm 1996

Thứ hai, đi sâu làm rõ công tác lãnh đạo quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện từ năm 1996 đến năm 2010

Thứ ba, trên cơ sở nêu lên những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của huyện trong những giai đoạn sau

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng: Nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận đối với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

ở huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2010

Trang 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận để thực hiện đề tài: Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp biện chứng duy vật, phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, thống kê tài liệu, tổng hợp, so sánh… và một số phương pháp liên ngành khác

6 Đóng góp mới và ý nghĩa của đề tài

Đóng góp mới: Đề tài hoàn thành sẽ có những đóng góp mới về mặt cơ sở lý luận và thực tiễn như sau:

Thứ nhất, khái quát quá trình lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn 1996 - 2010

Thứ hai, rút ra những thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Bắc Bình về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp góp phần thiết thực cho tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện Bắc Bình trong giai đoạn tiếp theo

Ý nghĩa của đề tài: Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có ý nghĩa nhất định không chỉ đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn huyện Bắc Bình mà còn có ý nghĩa như một tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và những người quan tâm đến lĩnh vực CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục hình ảnh, đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về huyện Bắc Bình và thực trạng nông nghiệp, nông thôn của huyện trước năm 1996

Chương 2: Đảng bộ huyện Bắc Bình lãnh đạo quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2010

Chương 3: Đánh giá quá trình lãnh đạo CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ huyện Bắc Bình giai đoạn 1996 - 2010

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BẮC BÌNH VÀ THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CỦA HUYỆN TRƯỚC NĂM 1996 1.1 Khái quát về huyện Bắc Bình

1.1.1 Vị trí địa lý

Bắc Bình là một huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bình Thuận Huyện lỵ đặt tại thị trấn Chợ Lầu, cách thành phố Phan Thiết 68 km về phía Đông Bắc Tọa độ địa lý: từ 1080 06’30” đến 1080 37’34” kinh Đông và từ 100 58’27” đến 31’38” vĩ độ Bắc [53, 7] Địa giới hành chính của huyện tiếp giáp:

 Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng

 Phía Tây: Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây và Tây Nam giáp Hàm Thuận Bắc

 Phía Đông: Đông và Đông Bắc giáp huyện Tuy Phong, Đông Nam giáp biển Đông

 Phía Nam, Tây Nam giáp biển Đông và thành phố Phan Thiết

Theo nghị định số 176/2007/NĐ - CP ban hành ngày 3/12/2007, hiện nay toàn huyện có 2 thị trấn (Chợ Lầu, Lương Sơn) và 16 xã (Phan Tiến, Phan Lâm, Phan Sơn, Phan Hòa, Sông Bình, Hòa Thắng, Bình Tân, Sông Lũy, Phan Điền, Hải Ninh, Hồng Phong, Phan Rí Thành, Hồng Thái, Phan Thanh, Phan Hiệp, Bình An)

1.1.2 Lịch sử vùng đất

Huyện Bắc Bình được thành lập vào tháng 4/1951 gồm các huyện: Hòa Đa, Phan Lý, Tuy Phong nhập lại Đến tháng 11/1951, huyện Phan Lý Chàm tách ra, huyện Bắc Bình chỉ còn lại Hòa Đa và Tuy Phong Sau thời gian chuyển quân tập kết theo Hiệp định Giơnevơ (tháng 10/1954), Ngô Đình Diệm đã tiếp quản và đổi huyện Hòa

Đa, Phan Lý Chàm thành quận Đồng thời chúng còn lập thêm quận Hải Ninh bao gồm các đồng bào Nùng di cư từ miền Bắc vào theo sư đoàn 5 - Vòng A Sáng

Về phía ta, huyện Bắc Bình vẫn giữ nguyên tên gọi và chỉ đạo trên địa bàn 3 đơn vị hành chính: Hòa Đa, Phan Lý Chàm, Tuy Phong Năm 1967, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, ta lập tỉnh Bắc Bình gồm các huyện: Hòa Đa, Phan Lý, Tuy Phong

và K67 Đến cuối năm 1968, giải thể tỉnh Bắc Bình, các huyện Hòa Đa, Phan Lý, Tuy

Trang 13

Phong thuộc tỉnh Bình Thuận còn K67 thuộc tỉnh Lâm Đồng Đến tháng 4/1976, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lập huyện Bắc Bình gồm các huyện cũ: Hòa

Đa, Phan Lý Chàm, Tuy Phong, Hải Ninh do tỉnh Thuận Hải quản lý

Đến tháng 6/1983, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại chia huyện Bắc Bình thành hai huyện là: huyện Bắc Bình và huyện Tuy Phong Lúc này huyện Bắc Bình gồm các huyện cũ: Phan Lý Chàm, Hải Ninh và các xã còn lại thuộc Hòa Đa cũ, đồng thời nhận thêm xã Hồng Phong (Hàm Thuận Bắc)

Sau đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III, thực hiện Quyết định số 76 - HĐBT ngày 20/6/1986 của Hội đồng Bộ trưởng về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số xã của huyện Bắc Bình và Hàm Thuận Nam thuộc tỉnh Thuận Hải, theo đó huyện Bắc Bình thành lập thêm xã Bình An Tháng 1/1991, huyện Bắc Bình đã chuyển trụ sở làm việc

từ xã Hải Ninh về Chợ Lầu Tháng 7/1994, Chính phủ ra Quyết định số 57-QĐ/CP thành lập xã Phan Tiến và công nhận xã Chợ Lầu thành thị trấn Chợ Lầu Chợ Lầu trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa xã hội và an ninh quốc phòng của huyện

Sau nhiều lần sát nhập và tách ra, đến năm 1995 huyện Bắc Bình đã được Quốc hội công nhận là huyện miền núi thuộc tỉnh Bình Thuận

1.1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Khí hậu huyện Bắc Bình mang đặc điểm chung của khí hậu vùng Đông Nam

Bộ, là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao đều trong năm Trong năm có 2 mùa: mùa mưa và mùa nắng rõ rệt, không có mùa đông lạnh Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch Mùa nắng kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,

số giờ nắng trong năm cao: 800 - 2.900 giờ/năm

Nhiệt độ trung bình hàng năm 24 - 260C, cao nhất 380C, thấp nhất 200C

Lượng mưa thấp, trung bình 744 - 1.000mm, số ngày mưa trong năm là 77 ngày/năm Lượng nước bốc hơi 1.816mm/năm vào tháng 3 và 4 Độ ẩm không khí trung bình 81%

Chế độ gió theo mùa: gió Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 9, vận tốc trung bình 2 - 3m/s Gió Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, vận tốc trung bình 4 - 5m/s [69, 8]

Trang 14

Điều kiện khí hậu huyện Bắc Bình có những đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa Lượng mưa hàng năm thấp, nhiệt độ trung bình và số giờ chiếu sáng cao, lượng nước bốc hơi nhiều… là những đặc điểm tương đối thuận lợi phát triển các loại cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày và chăn nuôi gia súc Tuy nhiên, do hạn chế nguồn nước tưới nên cần bố trí các loại cây trồng và con nuôi thích hợp thì mới phát huy được hiệu quả

Địa hình huyện Bắc Bình nằm trong vùng địa hình khá phức tạp với vùng đồng

bằng nhỏ hẹp xen kẽ với các dãy núi phía Bắc, đồi cát phía Nam tạo thành lòng chảo

hướng dốc nghiêng từ Bắc xuống Nam, có thể phân ra thành các dạng chính như sau:

 Dạng núi và núi cao: độ cao từ 120 - 1.000m, diện tích 88.790ha, chiếm 48,64% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm các xã: Phan Lâm, Phan Sơn, Phan Điền, Phan Tiến, Bình An và một phần của xã Sông Lũy Địa hình vùng này dốc, bị chia cắt mạnh Đây là vùng thượng nguồn của sông Lũy, sông Mao, Cà Giây và sông Cà Tót

 Dạng trung du và đồng bằng: độ cao từ 30 - 100m, diện tích 58.768 ha, chiếm 32,2% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm các xã dọc từ quốc lộ 1A từ Phan Hòa đến Bình Tân và một phần của xã sông Lũy Ở vùng giữa sông Lũy và sông Cà Giây - đặc biệt là địa phận xã sông Lũy là đất trơ, sỏi đá Dọc theo các thung lũng là đất phù sa

 Dạng cồn cát ven biển: độ cao từ 1 - 30m., diện tích là 34,97 ha, chiếm 19,16% diện tích tự nhiên, bao gồm 2 xã: Hòa Thắng và Hồng Phong, một phần đáng

kể của xã Bình Tân, Phan Thanh, Hồng Thái

Đất đai theo bản đồ đất huyện Bắc Bình trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ

1/50.000 thì cơ cấu đất của huyện chủ yếu là có 4 nhóm chính:

 Nhóm đất xám (Arisols): đây là nhóm đất chính của huyện với diện tích 92.610,81 ha, chiếm tỷ lệ cao nhất 50,74%

 Nhóm đất đỏ vàng (Feraralsolas): diện tích 25.957,45 ha, chiếm 14,22% Điểm nổi bật của nhóm đất này là tầng đất dày, thành phần cơ giới nặng, kết cấu viên tơi xốp, giàu đạm và lân rất thích hợp với cây lâu năm nhất là cây cao su, cà phê và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao

Trang 15

 Nhóm đất phù sa (Fluvisols): diện tích 16.654,44 ha, chiếm 0,91% là những dãy đất hẹp bằng phẳng, phân bố dọc theo sông, đất phù sa có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất dày, độ phì cao, giàu mùn, đạm, kali khá cao do phân bố

ở địa hình bằng phẳng gần nguồn nước nên rất thuận lợi cho việc bố trí cây trồng hàng năm như lúa nước, hoa màu cạn hoặc cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả

 Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá (Leptosols): diện tích 496 ha, chiếm 0,26%, phân bố địa hình cao, độ dốc lớn, độ phì thấp nên đất này ít có ý nghĩa trong việc bố trí sử dụng canh tác nông nghiệp

 Thủy văn và thủy triều, huyện Bắc Bình có 4 con sông chính là: sông Lũy,

sông Cà Giây, sông Mao, sông Cà Tót và biển với chiều dài bờ biển là 38 km Trong

đó, cung cấp nước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất là hệ thống sông Lũy, với chiều dài 98 km, bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn Ngoài ra còn có các con suối: suối Tà

Bú, Ma Hí, Tà Chồn… Đặc điểm chung của các sông, suối ở huyện Bắc Bình đều bắt nguồn từ những dãy núi cao, sông ngắn và dốc nên thoát nước nhanh, mực nước biến đổi theo mùa với biên độ rất lớn: mùa khô các con sông thường cạn kiệt nước, mùa mưa có một số vùng bị ngập úng gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống Ngoài ra, do ảnh hưởng của thủy triều với biên độ 18 - 28 ngày/tháng cùng mực nước cường từ 1,5 đến 2 m nên vùng hạ lưu Sông Lũy bị nước mặn lấn sâu vào đất liền gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của các loài cây trồng, đồng thời cũng là yếu tố ảnh hưởng tới các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản

Bên cạnh hệ thống nước sông suối, huyện Bắc Bình còn có một lợi thế lớn về nguồn nước hồ đập với nhiều công trình đập như: đập Đồng Mới, Ui Thay, Ma O, E Chim, Chà Vầu… trong đó lớn nhất phải kể đến hồ Cà Giây phục vụ cho tưới tiêu thực tế khoảng 4000 ha chủ yếu là lúa nước Ngoài ra còn có Bàu Trắng và Bàu Bà với diện tích là 110 ha thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản và do địa hình dọc theo tuyến biển có độ dốc thấp, có nguồn nước ngọt thuận lợi cho quy hoạch mở rộng trồng rừng sinh thái, đầu tư xây dựng cảnh quan thiên nhiên để phát triển du lịch trong những năm qua

Trang 16

1.1.4 Các nguồn tài nguyên và khoáng sản

Về khoáng sản theo kết quả điều tra đến nay cho thấy ở huyện Bắc Bình có

những khoáng sản chủ yếu sau:

 Mỏ sa khoáng Imenit Thiện Ái, Bình Nhơn ở ven biển với trữ lượng khoảng 51.570 tấn và quặng Zicon với trữ lượng khoảng 15.171 tấn

 Mỏ cát Nhơn Long dọc theo bờ biển với trữ lượng 22.912.200 tấn dùng để sản xuất thủy tinh rất tốt Mỏ cát trắng Phan Rí Thành trữ lượng 28.514.700 tấn có thể làm thủy tinh dân dụng

 Mỏ đất sét là nguyên liệu làm gạch ngói có chất lượng tốt được phân bố ở Chợ Lầu với diện tích 47,7 ha; Lương Sơn 18,75 ha Đá Granit tập trung ở xã Phan Thanh và Sông Lũy với diện tích lần lượt là 49 ha và 112 ha Cát xây dựng tập trung

ở các xã Phan Thanh và Hồng Thái Các mỏ khoáng sản trên hiện đang được huyện tiến hành điều tra, khảo sát đánh giá về trữ lượng [109, 5]

Nhìn chung nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện nhiều nhưng không đa dạng, phân tán Chủ yếu nhiều nhất là Titan - có giá trị rất lớn trong ngành công nghiệp

Về lâu dài, huyện cần điều tra, thăm dò, đánh giá kỹ và chính xác hơn trữ lượng và khả năng đưa vào khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản của địa phương

Về hệ thực vật thảm thực vật có các loại gỗ thuộc rừng họ dầu, kết hợp rừng

thông phía Bắc huyện tại các xã Phan Lâm, Phan Sơn, Phan Tiến Những cây thường gặp như bằng lăng, bình linh, trắc, cẩm lai, gõ, giáng hương, căm liên, cà chí, căm xe, tre nứa, song mây, lá buông… đặc biệt ở Phan Sơn còn có cây gió tạo trầm hương quý hiếm Có thể nói rằng hệ thực vật của huyện Bắc Bình rất phong phú và đa dạng nhưng trong những năm qua, do nạn khai thác rừng bừa bãi, nên diện tích rừng bị thu hẹp, nhiều loại cây quý hiếm không còn hoặc còn thì chỉ tồn tại trong những cánh rừng sâu

Về hệ động vật có các loại chim như hươu, nai, công, trĩ… là những nguồn gen

quý hiếm cần được bảo vệ Ở vùng nông thôn đồng bằng, có các loại động vật chăn nuôi nhiều như: bò, trâu, heo, gà, vịt, ngan, ngỗng Rừng khu Lê có con dông, một loại đặc sản của vùng này Đặc sản biển có nhiều cá, tôm, tôm hùm, sò lông, mực, dòm…

Trang 17

1.1.5 Đặc điểm dân cư và lao động

Dân số toàn huyện năm 2006 là 121.314 người, chiếm 18% dân số toàn tỉnh

Trong đó được phân bố sống ở nông thôn là 107.801 người, chiếm 80,94% dân số

toàn huyện và ở thành thị là 23.130 người, chiếm 19,06% dân số toàn huyện

Mật độ dân số trung bình là 66,46 người/km2, mật độ dân số phân bố chênh lệch lớn giữa các vùng

Người K’ho và Raglay định cư ở Bắc Bình sớm nhất; họ là chủ nhân đầu tiên của vùng đất này Trải qua những cuộc di cư trong nhiều thế kỷ, hiện nay toàn huyện

có hơn 40 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm 66% dân số toàn huyện, dân tộc Chăm chiếm 15,44%, dân tộc Nùng Hoa chiếm 12,34%, dân tộc K’ho, Raglay chiếm 3,3% và các dân tộc khác chiếm 2,83%

Lao động trong độ tuổi của huyện vào năm 2006 là 70.969 người, chiếm 58,5% dân số Lao động làm việc trong các ngành kinh tế chiếm 75,11%, chất lượng lao động nhìn chung còn thấp, tỷ lệ người không có khả năng lao động chiếm 12,09%, lao động nội trợ và không có việc làm chiếm 1,81% [73, 8]

1.1.6 Tiềm năng và thế mạnh của huyện

Tiềm năng về vị trí địa lý, nằm ở vị trí chuyển tiếp từ đồng bằng duyên hải và

vùng cao nguyên, lại có đường sắt và đường quốc lộ 1A đi qua khá dài cho nên huyện

có vị trí quan trọng về kinh tế - văn hóa - xã hội và quốc phòng của tỉnh Bình Thuận

Là một huyện miền núi, nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Bình Thuận, giáp ranh với thành phố Phan Thiết, cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km về phía Nam, cách thành phố Nha Trang 200 km về phía Đông và cách thành phố Đà Lạt hơn 90

km theo tuyến đường thủy điện Đại Ninh Ngoài ra, huyện còn có đường bờ biển dài

38 km, thuộc vùng phụ cận của khu du lịch Phan Thiết - Mũi Né Vị trí địa lý thuận lợi như trên, không những tạo điều kiện cho Bắc Bình giao lưu phát triển kinh tế - xã hội của huyện nói riêng mà còn tạo điều kiện giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với các trung tâm kinh tế lớn, khu vực miền Trung Nam Bộ

Ngoài quốc lộ 1A, những tuyến giao thông liên huyện, liên tỉnh đã được đầu

tư nâng cấp, nhựa hóa như tuyến đường ven biển Phan Thiết - Hòa Thắng nối liền

Trang 18

đường DT 706 - tuyến quốc lộ 1A; tuyến đường thủy điện Đại Ninh nối liền quốc lộ

20 của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Nhờ vậy, du lịch của huyện Bắc Bình trong những năm gần đây đã có những bước khởi động hứa hẹn nhiều triển vọng

Tiềm năng về đất đai là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của huyện với tổng

diện tích tự nhiên toàn huyện 182.533,20 ha, theo quy hoạch phân bố sử dụng đất của huyện thời kỳ từ 2000 - 2010 gồm có:

 Diện tích đất nông nghiệp: 56.390 ha chiếm 30,89% tổng diện tích

 Diện tích đất lâm nghiệp: 102.233 ha chiếm 56% tổng diện tích

 Diện tích rừng trồng ngoài đất lâm nghiệp: 5.000 ha chiếm 2,74% tổng diện tích

 Diện tích đất chuyên dùng: 4.367,38 ha chiếm 2,39% tổng diện tích

 Diện tích đất nhà ở: 1.422,59 ha chiếm 0,78% tổng diện tích

 Diện tích đất chưa sử dụng và sông, suối, núi đá: 15.120,23 ha chiếm 7,20% tổng diện tích [71]

Quỹ đất trên địa bàn huyện bao gồm 4 loại đất nhưng trong đó chủ yếu là đất xám (Arisols) và đất đỏ vàng (Feraralsolas) chiếm 64,96% tổng diện tích, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng và phong phú về cơ cấu cây trồng như: lúa, hoa màu, các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây lâu năm (cao su và cà phê) và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Tính đến tháng 12/2010, diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp là 123.024,06 ha chiếm 67,62% tổng diện tích Trong đó bao gồm đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm và đất rừng

 Đất trồng cây hàng năm của huyện là 10.698,12 ha trong đó đất trồng lúa là 10.678,12 ha

 Đất trồng cây lâu năm là 19.484,95 ha

 Đất rừng (bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) là 92.840,99 ha [77, 16] Tóm lại, với tiềm năng lớn về đất đai cùng với khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo điều kiện thuận lợi cho huyện phát triển các loại cây trồng đa dạng và phong phú

Tiềm năng về lao động của huyện rất lớn, số người lao động trong độ tuổi của

huyện vào năm 2006 là 70.969 người, chiếm 58,5% dân số Trong đó, số người hoạt

Trang 19

động trong các ngành kinh tế là 60.080 người chiếm 84.66% tổng số người trong độ tuổi

lao động Đây là tiềm năng và thế mạnh rất lớn của huyện

Là một huyện có nhiều dân tộc nên bản sắc văn hóa rất phong phú và đa dạng, cùng hun đúc nên bản chất của con người Bắc Bình: tinh thần vượt khó,vượt khổ, tự lực tự cường, sáng tạo, dũng cảm, hiền hòa chất phác, thật thà, đoàn kết yêu thương lẫn nhau Đó là một trong những tiềm năng lớn về con người góp phần quan trọng vào công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của huyện

1.2 Thực trạng nông nghiệp, nông thôn của huyện trước năm 1996

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng bộ huyện Bắc Bình đã tập trung chỉ đạo phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa Trong nông nghiệp, lấy

hộ làm đơn vị kinh tế tự chủ, tạo chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực sản xuất NQ

03 tháng 7/1992 của Huyện ủy về chương trình “5 chuyển”: chuyển cơ cấu giống, chuyển cơ cấu cây trồng, chuyển cơ cấu mùa vụ, chuyển phương thức canh tác và chuyển mạnh sang chăn nuôi, đã phát huy các lợi thế, sát với điều kiện đất đai, khí hậu thủy văn, vốn liếng của từng địa phương Từ đó, đời sống nhân dân đã có những chuyển biến khởi sắc, không chỉ ở nông dân vùng đồng bằng mà còn ở các vùng cao, vùng sâu, vùng xa

1.2.1 Về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Trên lĩnh vực nông nghiệp

Về trồng trọt việc thực hiện chương trình “5 chuyển” của Huyện ủy đã tạo ra

được những chuyển biến lớn trong ngành trồng trọt, phá bỏ thế độc canh cây lúa, phát triển các loại cây trồng phù hợp với đặc điểm sinh thái thổ nhưỡng Bố trí cơ cấu mùa

vụ hợp lý, luồn lách được thời tiết để tăng vụ (như cây lúa, cây đậu phộng) Huyện cũng đã đưa vào trồng các giống lúa cho năng suất cao trên chân ruộng 2 - 3 vụ, lúa mùa địa phương được thay bằng các giống lúa mới ngắn ngày trên 2.000 ha Năm

1995, sản lượng lương thực đạt 41.926 tấn, giá trị tổng sản lượng nông nghiệp chiếm 77,28% giá trị tổng sản lượng toàn bộ nền kinh tế huyện năm 1995 [2, 12]

Nhiều địa phương đã tập trung chuyển mạnh cơ cấu cây trồng như các xã Hồng Thái, Bình An, Lương Sơn, Hòa Thắng, Bình Tân, Sông Lũy và đạt được hiệu

Trang 20

quả kinh tế cao trên 1 ha gieo trồng Các cây trồng khác như mì, bắp, mía bông… cũng được thay dần bằng những giống mới, có chất lượng và năng suất cao Các cây trồng mới như thanh long, táo hồng, cari, vườn cây ăn quả phát triển tương đối khá

Phương thức trồng xen các loại cây ngắn ngày với cây mì, cây ăn quả dài ngày trên cùng một diện tích đã làm tăng hiệu quả sử dụng đất Các chương trình IPM, chương trình khuyến nông đã giúp cho các hộ nông dân đưa giống cây con mới áp dụng vào thực tiễn sản xuất và bước đầu đã đem lại hiệu quả, tạo nên bước chuyển biến mới trong cơ cấu cây trồng và mùa vụ

Bảng 1.1 Sản xuất nông nghiệp giai đoạn 1990 - 1995

(Nguồn: Niên giám thống kê Bắc Bình 1990 - 1996)

Bảng dẫn liệu trên cho thấy, tổng diện tích gieo trồng của huyện tăng qua các năm Năm 1990, tổng diện tích gieo trồng của huyện 21.014 ha đến năm 1995 tăng lên 27.616 ha Tổng sản lượng lương thực của huyện cũng tăng qua từng năm Năm

1990 tổng sản lượng lương thực của huyện 31.596 tấn, bình quân lương thực đầu người 350 kg/người, đến năm 1995 tổng sản lượng lương thực 41.926 tấn, tăng 10.330 tấn so với năm 1990, bình quân lương thực đầu người là 407 kg/người

Về chăn nuôi nhiều hộ nông dân đã đầu tư vốn để phát triển chăn nuôi bò, heo,

dê và các giống gia cầm mới với số lượng đàn bò từ 50 - 100 con và có đàn heo nái từ

Trang 21

5 - 10 con chủ yếu ở các địa phương như Phan Rí Thành, Hải Ninh, Lương Sơn, Sông Lũy Cũng trong giai đoạn này, huyện đã bắt đầu chú trọng việc cải tạo chất lượng đàn Vào cuối năm 1993 chương trình sind hóa đàn bò được đưa vào thực hiện trên 2 hình thức: nhảy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Ngoài việc đầu tư chương trình cho nhân dân mượn giống đực lai sind (12 con), một số hộ đã mạnh dạn chủ động bỏ tiền vốn của mình để mua bò đực lai sind (10 con)

Bảng 1.2 Phát triển chăn nuôi giai đoạn 1990 - 1995

(Nguồn: Niên giám thống kê Bắc Bình 1990 - 1996)

Biểu trên cho thấy việc lấy hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ đã làm cho chăn nuôi trên địa bàn huyện phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng đàn Thực hiện chuyển mạnh sang chăn nuôi, huyện đã phát triển mạnh 4 loại (bò, dê, heo, vịt đàn) Năm 1990 đàn bò chỉ có 11.883 con đến năm 1995 tăng lên 22.645 con Đàn heo từ 8.492 con năm 1990 tăng lên 21.590 con năm 1995

Trong giai đoạn này, ở huyện không xảy ra một vụ dịch lớn nào vì công tác tiêm phòng gia súc định kỳ hằng năm được tiến hành một cách đều đặn, đặc biệt đối với các xã vùng cao, tiêm phòng gia súc cho nhân dân được miễn phí

Trang 22

Về thủy lợi huyện đã tập trung mở rộng diện tích tưới, trùng tu và xây dựng

mới một số hệ thống đập chính để phát triển sản xuất như đập Đồng Mới, đập Chà Vầu, đập Trường An, É Chim Trong giai đoạn này, trạm bơm Xuân Quang cũng đã được đầu tư xây dựng lần 2 với kinh phí 430 triệu đồng để tăng năng lực tưới và bổ sung chống hạn cho sản xuất nông nghiệp ở huyện Đối với bà con nông dân ở các xã vùng cao, huyện đã phối hợp cùng với Ban dân tộc miền núi tu sửa, xây dựng 1 số đập cho bà con như đập Gia Vụ, đập Ruộng Làng, đập Mới, Râm Mao nhằm giúp bà con chủ động tưới và chuyển sản xuất lúa nước từ 1 vụ đến 2 vụ Các hệ thống kênh mương cấp

1, 2 được chỉ đạo nạo vét, tu bổ hàng năm, đồng thời huyện còn tăng cường đầu tư các công trình thủy lợi nhỏ từ 400 - 500 triệu đồng/năm để kịp thời phục vụ cho sản xuất Bên cạnh việc tu bổ, xây dựng các hệ thống đập lớn nhỏ, huyện còn tập trung sức chuẩn bị các mặt để xây dựng hệ thống hồ Cà Giây

Về lâm nghiệp diện tích rừng của huyện 152.836 ha trong đó rừng có khả

năng khai thác 79.816 ha, rừng bụi 25.994 ha, còn lại chủ yếu là đất trống đồi trọc Năm 1994, huyện chủ trương tiến hành việc trồng rừng theo chương trình PAM, 327

và được nhân dân hưởng ứng Giao khoán bảo vệ rừng để gắn chặt trách nhiệm với các xã vùng cao, bảo vệ rừng tự nhiên được tốt hơn, đến năm 1995 chủ trương giao đất giao rừng đã bước đầu thực hiện có hiệu quả, thực hiện được trên 40.264 ha cho

xã quản lý, trong đó có khoảng 21.000 ha được giao đến hộ Giá trị sản lượng lâm nghiệp trong giai đoạn 1991 - 1995 tăng bình quân là 12,08% [105, 13]

Về ngư nghiệp huyện Bắc Bình có 38 km bờ biển, việc khai thác đánh bắt hải sản

chỉ tập trung ở ngư trường Hòa Thắng Tổng sản lượng khai thác năm 1994 là 578 tấn Ngoài việc khai thác và đánh bắt cá, từ năm 1990 đến 1994 các hộ ngư dân còn đầu tư phát triển các ngành nghề khác như khai thác mực, tôm, sò điệp, ốc hương… và đầu tư đóng mới các thuyền công suất lớn để đánh bắt cá xa bờ Bên cạnh đó, các hộ nông dân còn tập trung nuôi các loại hải đặc sản khác như: ba ba, ếch, cá, tôm nước lợ Tuy nhiên,

do tác động của thị trường (không có đầu ra) nên chỉ phát triển được 2 loại là cá và tôm nước lợ, đặc biệt việc nuôi tôm nước lợ bước đầu đã có hiệu quả kinh tế cao, đang có hướng phát triển mở rộng diện tích và đầu tư lớn để tăng năng suất, sản lượng

Trang 23

Về hợp tác xã (HTX) đây là giai đoạn HTX có những bước chuyển biến, đổi

mới quản lý theo tinh thần của Đại hội Đảng lần thứ VI Theo đó, bộ máy của HTX được tinh gọn, một số mô hình hợp tác mới đã xuất hiện Một số HTX đã thích ứng với cơ chế mới và khi có vốn, có cán bộ quản lý khá đã mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ thủy nông, tín dụng, cung ứng vật tư góp phần xây dựng nông thôn, tham gia giải quyết các phúc lợi xã hội

Trên lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp (TTCN) và dịch vụ

Nhìn chung, TTCN và dịch vụ có những tiến bộ đáng kể so với trước đổi mới Các cơ sở sản xuất gạch ngói, vận tải, kinh doanh các loại vật tư, xay xát lương thực, mộc dân dụng của tư nhân phát triển khá nhiều ở địa bàn Trong giai đoạn (1991 - 1995), tốc độ tăng bình quân là 12,14% đối với TTCN và 13,63% đối với dịch vụ [105, 13]

1.2.2 Về xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Nhận thấy sự phát triển của kinh tế - xã hội của huyện không tách rời với quá trình đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng; trong những năm 1991 - 1995, được sự giúp đỡ của Trung ương, của tỉnh và sự đóng góp của nhân dân, Đảng bộ huyện Bắc Bình đã xây dựng được các công trình ở một số lĩnh vực quan trọng như điện, đường, trường, trạm… tổng vốn đầu tư cho lưới điện quốc gia trong năm (1991 - 1995) là 3,779 tỉ đồng [103, 15] Riêng chỉ trong năm 1995, điện đã kéo thêm đến 6 HTX thuộc các xã Phan Thanh, Hồng Thái và Phan Điền, nâng tổng số xã, thị trấn đã có lưới điện quốc gia là 8/17 và nâng tổng số hộ sử dụng điện lên 35% toàn huyện

Hệ thống thủy lợi nhỏ được duy tu nâng cấp, hệ thống nước sinh hoạt ngày càng được mở rộng không chỉ trong khu vực Chợ Lầu mà còn mở rộng ra các xã Phan Rí Thành, Phan Thanh Ở các xã vùng cao như Phan Điền, Bình An… huyện cũng đã đầu tư xây dựng hệ thống giếng khoan, giếng đào, bể chứa nước Tính đến năm 1995, trên 45% dân số toàn huyện được dùng nước sạch với tổng giá trị đầu tư lên đến 1,613 tỷ đồng [2, 16]

Trang 24

Để khắc phục tình trạng ca ba, từng bước thực hiện bán kiên cố hóa và cơ bản tách cấp II ra khỏi cấp I Trong năm 1995, trường PTTH Bắc Bình đã được xây dựng kiên cố ở trung tâm huyện và đồng thời thành lập trường PTDT nội trú cấp I của huyện

Cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự nghiệp y tế từng bước được quan tâm đầu tư và phát triển hơn, trang thiết bị hiện đại ngày càng được trang bị đầy đủ hơn để phục vụ cho việc khám và chữa trị cho nhân dân

Về mạng lưới thông tin liên lạc, từng bước được mở rộng, tính đến năm 1995,

đã mở rộng đến 11/17 xã thị trấn, 12/17 xã, thị trấn cơ bản đã được phủ sóng FM và

TV [2, 17]

1.2.3 Phát triển văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội

Quan tâm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm đồng thời phải đi đôi với công tác phát triển văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội của nhân dân Qua những năm đổi mới, đời sống nhân dân huyện Bắc Bình đã có những chuyển biến tương đối quan trọng

Trong lĩnh vực giáo dục, phong trào chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học diễn ra một cách đều đặn và đạt được những hiệu quả nhất định Bình quân hàng năm gần 90% trẻ em trong độ tuổi đến trường học Giáo dục miền núi phát triển mạnh, trong năm học 1994 - 1995 đã có học sinh học lên bậc PTTH và theo học ở các trường chuyên nghiệp trong tỉnh Hàng năm, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp là 80% và tỷ lệ lên lớp đạt 90% trở lên [2, 18] Nhìn chung, nhu cầu học tập và nâng cao trình độ ngày càng được quan tâm hơn từ phía gia đình và xã hội

Sự nghiệp y tế được đầu tư nhiều nguồn, đáp ứng những yêu cầu cơ bản trong quá trình phòng chống và điều trị bệnh Trong năm 1995, huyện có 14 bác sĩ - dược sĩ, bình quân 7.214 dân có 1 bác sĩ, tăng 57% so với năm 1991 [2, 19] Ngoài ra các chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình được đầu tư đúng mức và bước đầu tạo nên những nhận thức trong cộng đồng về chủ trương hạn chế sinh đẻ, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch

Các chương trình xóa đói giảm nghèo được quan tâm chỉ đạo nhằm giúp cho bà con nông dân ổn định đời sống, yên tâm tham gia sản xuất Bên cạnh đó, bà con nông dân còn được hỗ trợ vốn từ việc vay tín dụng ngân hàng, kho bạc, chỉ tính trong 5 năm

từ 1991 - 1995 có 900 hộ vay vốn làm ăn với tổng số lên gần 100 tỷ đồng [2, 14]

Trang 25

Hoạt động đền ơn đáp nghĩa và xã hội từ thiện được quan tâm phát triển Từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau, huyện đã xây dựng được 9 nhà tình nghĩa, 222 gia đình có công cách mạng được tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa và đỡ đầu học tập với số tiền mỗi suất trên 42 triệu đồng, 27/31 Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được phụng dưỡng Công tác cứu trợ nhân đạo, giúp đỡ người cơ nhỡ, gia đình gặp khó khăn hoạn nạn cũng được quan tâm thực hiện [2, 20]

Hoạt động văn hóa thông tin - thể thao có chuyển biến tiến bộ nhất định Nhiều địa phương đã tạo ra sự phối hợp đồng bộ trong tổ chức duy trì các đội văn nghệ, thể thao, các hội thi, hội diễn, lễ hội truyền thống… Mô hình đoàn nghệ thuật Chăm được duy trì Công tác bảo tồn bảo tàng các di sản văn hóa được quan tâm hơn, đến năm

1995 huyện có 3 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia Cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa được coi trọng Đời sống văn hóa của người dân được nâng lên, thu hẹp dần khoảng cách giữa các vùng trong huyện [2, 20]

Tiểu kết: Với những ưu thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và nguồn

nhân lực cùng với sự cố gắng, nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Bình, nền kinh tế - xã hội của huyện trước năm 1996 đã có những chuyển biến tích cực Việc thực hiện chương trình “5 chuyển” theo tinh thần NQ 03 của Huyện ủy phù hợp với tình hình thực tế của địa phương nên nhanh chóng đi vào lòng dân và đã gây nên những tác động mạnh mẽ trên lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp Đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, đặc biệt là ở các xã vùng sâu, vùng xa Bảo vệ vững chắc

an ninh chính trị xã hội và những thành quả cách mạng đã đạt được Xây dựng một số

cơ sở hạ tầng làm tiền đề cho sự phát triển nền kinh tế huyện trong những năm sắp tới

Bên cạnh những thành quả mà Đảng bộ và nhân dân huyện Bắc Bình đạt được

đã nảy sinh một số tồn tại và hạn chế cần phải khắc phục Cơ cấu kinh tế của huyện còn nặng tính chất thuần nông, phương thức canh tác lạc hậu còn phổ biến Tốc độ tăng trưởng kinh tế còn hạn chế so với tiềm năng phát triển của vùng Sản xuất nông nghiệp chưa thoát khỏi tính độc canh và lệ thuộc vào tự nhiên TTCN và dịch vụ chuyển biến chậm, chủ yếu hoạt động dưới dạng tư nhân nhỏ lẻ, kỹ thuật thô sơ Cơ sở hạ tầng tuy

có được quan tâm xây dựng nhưng chất lượng của các công trình chưa cao Các

Trang 26

chương trình xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội thực hiện chưa được đồng bộ, tác dụng và hiệu quả chưa cao Tình trạng lao động thiếu việc làm chưa có kế hoạch cụ thể để giải quyết Đời sống văn hóa cơ sở nghèo nàn đơn điệu

Những hạn chế, yếu kém trên đòi hỏi trong những năm tới, Đảng bộ huyện và các ban ngành đoàn thể cần phải tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục tình trạng trên Đồng thời, cần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện trong những năm tiếp theo

Trang 27

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN BẮC BÌNH LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN GIAI ĐOẠN 1996 - 2010 2.1 Khái niệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

2.1.1 Khái niệm

Từ trước đến nay, có rất nhiều đề tài khoa học và dự án nghiên cứu vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và hầu như đều đưa ra các quan niệm về phạm trù CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Trong cuốn “Thực trạng phát triển CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn”, Nxb Thống kê năm 1998, tác giả Lê Mạnh Hùng và Nguyễn Sinh Cúc cho rằng: “công

nghiệp hóa nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với việc đổi mới căn bản về công nghệ và kỹ thuật ở nông thôn tạo nền tảng cho việc phát triển nhanh, bền vững theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế ở nông thôn, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế quốc dân với tốc độ cao Còn công nghiệp hóa nông nghiệp là một bộ phận của công nghiệp hóa nông thôn Hiện đại hóa nông thôn không chỉ bao gồm công nghiệp hóa, nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ và tổ chức trong các lĩnh vực ngoài sản xuất vật chất ở nông thôn, mà còn bao gồm cả việc không ngừng nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng

xã hội, hệ thống giáo dục, đào tạo, nâng cao dân trí, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nông dân và các dịch vụ sinh hoạt ở nông thôn Còn hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình không ngừng nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp” [48, 18 - 20]

Với khía cạnh tiếp cận khác, tác giả Nguyễn Đình Phan và cộng sự lại cho rằng

khái niệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bao gồm 4 vấn đề khác nhau: “công

nghiệp hóa nông nghiệp là quá trình chuyển biến nền sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nền sản xuất nông nghiệp được đổi mới một cách căn bản dưới tác động của công nghiệp Hiện đại hóa nông nghiệp bao gồm tất cả những hoạt động có liên quan đến việc ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh

Trang 28

các sản phẩm nông nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của chúng, đồng thời thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội, của thị trường về các sản phẩm nông nghiệp… Hiện đại hóa nông thôn là tất cả những hoạt động nhằm làm cho

cơ sở vật chất kỹ thuật của quá trình sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng của đời sống kinh tế xã hội, cuộc sống của dân cư ở các vùng nông thôn có trình độ hiện đại, đồng thời mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực ở các vùng nông thôn đều dựa trên những thành tựu hiện đại của khoa học và công nghệ” [70, 13 - 18]

Trên cơ sở tổng hợp các quan niệm khác nhau của các tác giả về CNH, HĐH

nông nghiệp, nông thôn, trong luận án tiến sỹ “CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở

các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh”, TS Mai Thị Thanh Xuân đưa ra khái niệm “Công nghiệp hóa nông nghiệp là sự thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh nông nghiệp từ thuần nông sang công nghiệp Hiện đại hóa nông nghiệp là tất cả những hoạt động liên quan đến việc ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động đó Công nghiệp hóa nông thôn là quá trình đưa các vùng nông thôn

từ chỗ tồn tại và phát triển chủ yếu dựa vào nghề nông là chính trở thành các vùng nông thôn mà sự tồn tại và phát triển của nó dựa trên sự phát triển của công nghiệp

và dịch vụ là chính và cùng với nó là sự biến đổi từ lối sống nông nghiệp sang lối sống công nghiệp Hiện đại hóa nông thôn là tất cả những hoạt động nhằm làm cho

cơ sở vật chất kỹ thuật của quá trình sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng của đời sống kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn đều dựa trên những thành tựu hiện đại của khoa học và công nghệ” [131, 16 - 17]

Nhìn chung, những quan niệm trên đều thống nhất với nhau rằng: CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gồm CNH, HĐH nông nghiệp và CNH, HĐH nông thôn CNH, HĐH nông thôn bao hàm cả CNH, HĐH nông nghiệp bởi vì nông nghiệp chỉ là một bộ phận cấu thành nên kinh tế nông thôn Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá Sự gắn bó này ở khu vực nông thôn không chỉ thể hiện ở việc thực hiện quá trình chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp và văn minh nông nghiệp, mà còn thể hiện ở việc thực hiện quá trình từng bước phát triển các yếu tố

Trang 29

của nền kinh tế tri thức CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không chỉ bao gồm các nội dung về kinh tế kỹ thuật, mà còn bao hàm cả cấu trúc kinh tế - xã hội Các nội dung này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau

Quá trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ngày càng rõ hơn, xác định trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TƯ Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX như sau:

“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kĩ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ở nông thôn” [28, 94 - 95]

Như vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong khu vực nông thôn CNH, HĐH nông nghiệp thể hiện qua việc ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào các khâu chủ yếu của sản xuất nông nghiệp như giống, kỹ thuật canh tác… nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả, chất lượng để đủ sức cạnh tranh với các mặt hàng nông sản trên thế giới

Trang 30

2.1.2 Nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Theo tinh thần của Hội nghị lần thứ năm BCH TƯ Đảng khóa IX thì CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta cần giải quyết tốt những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn là quá trình thay đổi vai trò của các khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, của ngành trồng trọt và chăn nuôi, của các loại cây và loại con, của cơ cấu lao động trong nông nghiệp và phi nông nghiệp… Xu hướng chuyển dịch

cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý khi tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm dần và tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng dần Xét trong cơ cấu ngành nông nghiệp, sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp và chăn nuôi, thủy sản so với ngành trồng trọt Trong cơ cấu cây trồng cũng có sự chuyển đổi theo hướng tăng

tỷ trọng cây màu, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao so với cây lương thực Để tạo được sự đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở nước ta hiện nay, tiến trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cần phải thực hiện tốt những nội dung sau:

 Chuyển nền nông nghiệp độc canh sang nền nông nghiệp chuyên canh với việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung có quy mô lớn, coi trọng giá trị

và gắn với yêu cầu của thị trường

 Chuyển nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn từ trạng thái khép kín, tự cấp,

tự túc sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, hướng mạnh vào xuất khẩu, mở rộng phân công và hợp tác lao động

 Chuyển nền kinh tế nông thôn thuần nông sang phát triển kinh tế nông thôn tổng hợp theo mô hình nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ Phân công lại lực lượng lao động xã hội theo hướng rút lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sang khu vực công nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực phi công nghiệp

 Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng phát huy cao độ mọi nguồn lực ở các vùng nông thôn, trong đó hộ sản xuất ở nông thôn nói chung và hộ nông dân nói riêng được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ [28; 79; 131]

Trang 31

Thứ hai, thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa và sinh học hóa trong sản xuất nông nghiệp

Để cải tạo nền nông nghiệp manh mún, lạc hậu sang nền nông nghiệp hiện đại, năng suất cao, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, góp phần thay đổi bộ mặt của nông thôn thì nhân tố quan trọng cần phải đề cập đến đó là cơ giới hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa và sinh học hóa

Cơ giới hóa, muốn có nền nông nghiệp hiện đại thì trước tiên, toàn bộ quá

trình sản xuất phải được cơ giới hóa cao độ, từ khâu làm đất, gieo thẳng lúa, phun thuốc bảo vệ thực vật, thu hoạch… góp phần khắc phục tình trạng thiếu lao động, giảm chi phí sản xuất, khắc phục hạn chế của việc dồn điển đổi thửa, đảm bảo tính thời vụ khẩn trương, tăng năng suất, chất lượng và giảm tổn thất sau thu hoạch

Trong xây dựng nông thôn mới, cơ giới hóa là một trong những vấn đề cốt lõi, góp phần đáng kể trong việc thực hiện thành công nhiều tiêu chí như thu nhập bình quân đầu người, tiêu chí hộ nghèo, tiêu chí cơ cấu lao động và hình thức tổ chức… Việc thực hiện cơ giới hóa, đưa máy móc vào sản xuất lúa cũng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX dịch vụ nông nghiệp, phát huy những ưu điểm của

Cơ giới hóa và tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp sẽ là biểu hiện tích cực cho việc thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn [28; 79; 131]

Điện khí hóa, góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các

hộ nông dân, tạo điều kiện thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, góp phần phát triển mạnh các ngành, nghề thủ công tạo ra sản phẩm để phục vụ trong nước và xuất khẩu

Trang 32

Đời sống của người dân nông thôn chuyển dần từ tự cấp, tự túc lương thực sang sản xuất hàng hoá có giá trị cao, dịch vụ, thương mại, góp phần thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo một cách có hiệu quả… Ở nước ta, chương trình điện khí hóa bắt đầu từ năm 1996 nhằm thực hiện mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VIII

đề ra là đến năm 2015 100% số xã với hơn 95% số hộ dân nông thôn có điện sử dụng Điện lực phải đi trước một bước trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhằm đưa 100% lưới điện về nông thôn trên cơ sở đầu tư xây dựng lưới điện theo cơ chế “Nhà nước và nhân dân, Trung ương và địa phương cùng làm” và theo phương thức “Ngành điện xây dựng đường dây trung thế, địa phương và nhân dân xây dựng trạm biến thế, đường dây hạ thế và nhánh rẽ vào nhà”

Điện về nông thôn đã góp phần thay đổi cơ cấu cây trồng, quy mô và tập quán canh tác, chăn nuôi; tăng năng suất và sản lượng cây lương thực, hoa màu giúp phát triển ổn định ngành công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản; mở ra các ngành nghề mới và làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn, tạo tiền đề thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn [28; 79; 131]

Thủy lợi, nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, nhất là đối với một nước nông

nghiệp như nước ta Ngày nay nông nghiệp phát triển mạnh, năng suất tăng nhanh bởi nhiều yếu tố nhưng trong thực tế, nước vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng góp phần quyết định chất lượng, năng suất, sản lượng nông nghiệp và phát triển nông thôn bền vững Nông nghiệp chỉ phát triển bền vững khi có cơ sở hạ tầng thủy lợi hoàn chỉnh Vì vậy, để đáp ứng được mục tiêu trên, Nhà nước cần tập trung đầu tư các công trình tạo nguồn nước, hệ thống tưới nước và công nghệ phù hợp cho những vùng trồng cây lương thực, cây hoa màu, cây ăn quả, vùng nuôi trồng thủy sản… Theo đó, cần phải thường xuyên tu bổ, nâng cấp hệ thống trạm bơm, kênh mương, hồ đập… để giải quyết yêu cầu tiêu úng, nước tưới đảm bảo kịp thời vụ sản xuất nông nghiệp Đồng thời, các ban ngành, đoàn thể tiến hành phổ biến kỹ thuật, công nghệ tưới nước tiết kiệm, nâng cao chất lượng nước tưới nhằm đem lại hiệu quả cao trong công tác tưới tiêu [28; 79; 131]

Sinh học hóa, đột phá trong chính sách khoa học công nghệ nhằm phục vụ CNH,

HĐH nông nghiệp, nông thôn cần tập trung vào việc sớm đưa ra chiến lược tổng thể

Trang 33

về đổi mới công nghệ làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển công nghệ trong sản xuất nông nghiệp Đầu tư phát triển công nghệ sinh học (trọng tâm là công nghệ gien và công nghệ vi sinh vật) để phục vụ tạo và nhân giống cây trồng vật nuôi, giống thuỷ sản có năng suất và chất lượng cao, sản xuất các chế phẩm sinh học phục

vụ cho nuôi trồng, chẩn đoán bệnh cây trồng, vật nuôi, vaccine phòng bệnh gia súc, gia cầm, thuỷ sản Đồng thời, các công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch, công nghệ bảo quản và chế biến cũng được ứng dụng rộng rãi để giảm tiêu hao, nâng cao chất lượng nông, lâm, thuỷ sản… Bên cạnh đó, chú trọng phát triển thị trường khoa học công nghệ nhất là công tác xã hội hóa trong nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ cho nông nghiệp Thực hiện việc tăng cường sự phối hợp, liên kết giữa các bộ, ngành

TƯ, các địa phương với các tổ chức, cá nhân quốc tế trong các hoạt động khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn [28; 79; 131]

Thứ ba, phát triển công nghiệp nông thôn trong đó chú trọng phát triển các làng nghề truyền thống, làng nghề mới và xây dựng các cụm làng nghề công nghiệp

Công nghiệp nông thôn có một vị trí rất quan trọng trong kinh tế nông thôn

Nó đóng góp vào sự đa dạng hóa các hình thức hoạt động kinh tế của địa phương và của hộ nông dân với các hoạt động phi nông nghiệp Công nghiệp nông thôn bao gồm các hoạt động sản xuất công nghiệp và TTCN, của những người thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, của bản thân người nông dân lúc nhàn rỗi… và của tất cả các hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp nằm ở nông thôn (doanh nghiệp công nghiệp nhà nước quy mô nhỏ, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…) có quan hệ trực tiếp về mặt sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và khai thác các nguồn lực ở nông thôn

Công nghiệp nông thôn là cầu nối giữa sản xuất kinh doanh ở nông thôn với sản xuất công nghiệp ở các đô thị và các trung tâm công nghiệp thông qua hàng loạt các mối quan hệ đa dạng, phong phú như quan hệ kinh tế - kỹ thuật, quan hệ về hình thức tổ chức sản xuất và các quan hệ kinh doanh khác Sự hình thành và phát triển công nghiệp nông thôn không chỉ là giải pháp thúc đẩy sự hình thành các đô thị, các trung tâm công nghiệp mới mà còn là giải pháp để mở rộng và hiện đại hóa các trung

Trang 34

tâm công nghiệp và đô thị Phát triển công nghiệp nông thôn là bước đi tuần tự để phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa và phát triển nông thôn

Trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, làng nghề đóng vai trò hết sức quan trọng, những đóng góp của làng nghề đã tạo ra nhiều nét khởi sắc cho kinh tế của địa phương Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề Việt Nam có ý nghĩa tích cực

về mặt kinh tế - xã hội, đặc biệt trong tiến trình CNH, HĐH đất nước Các làng nghề thường sản xuất hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm nghệ thuật phục vụ cho thị trường nội địa và xuất khẩu, sản xuất nguyên vật liệu phục vụ cho tiêu dùng… Hiện nay, trong các làng nghề cũng đã có sự chuyển dịch một cách năng động bằng việc nhiều hộ gia đình chuyển thành các doanh nghiệp nhỏ và vừa để phát triển sản xuất với quy mô lớn nhằm nâng cao sức cạnh tranh khi tham gia vào thị trường trong nước và quốc tế Cần phải xem làng nghề truyền thống là một bộ phận chính trong tiến trình CNH, HĐH đất nước và không nên xem đây là ngành kinh tế phụ nhằm giải quyết lao động nhàn rỗi ở nông thôn Có như vậy thì công tác khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống theo hướng CNH, HĐH mới được duy trì và đạt hiệu quả Theo đó, đẩy mạnh công tác quy hoạch các làng nghề truyền thống phù hợp với điều kiện của từng vùng nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và phát huy bản sắc văn hóa đặc thù của các địa phương là việc làm cần thiết Đồng thời, tiến hành thực hiện các hoạt động cụ thể như khuyến khích sự tham gia của người dân và các tổ chức kinh tế xã hội trong việc khôi phục và phát triển làng nghề, tổ chức các hội thảo chia sẻ, tiếp thu kinh nghiệm, mở các khóa đào tạo về kỹ năng, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân, quy hoạch đầu tư xây dựng các khu, cụm làng nghề nhằm đưa các cơ sở sản xuất đi vào hoạt động tập trung [28; 22; 131]

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn

Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơi cung cấp đắc lực về nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội nói riêng và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta đang tồn tại một thực trạng đáng buồn đối với lao động nông thôn đó là thu nhập thấp, thiếu việc làm và thất nghiệp

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên như dân số tăng nhanh gây thiếu đất

Trang 35

canh tác, nông dân chưa kịp chuyển đổi nghề nghiệp khi đất canh tác của họ nằm trong khu quy hoạch, trình độ đào tạo và tay nghề còn thấp… trong đó nguyên nhân quan trọng nhất đó là trình độ và năng lực của lao động nông thôn còn yếu Để giải quyết tình trạng trên, cần phải xây dựng hệ thống chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và xem đây là một bộ phận của hệ thống chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn

Lao động nông thôn rất cần được đào tạo và dạy nghề Họ cần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước

Vì vậy, đột phá trong chính sách đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn nước ta đó là tăng cường đầu tư cho giáo dục đào tạo và hướng nghiệp cho học sinh nông thôn ngay từ bậc phổ thông Đầu tư cả về cơ sở vật chất và chính sách đãi ngộ để thu hút đội ngũ giáo viên có chất lượng và tâm huyết với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đó, tiến hành cải tiến chương trình giáo dục, tập trung nhiều hơn về đào tạo nghề, hướng nghiệp ngành nghề cho học sinh nông thôn ngay từ bậc trung học để giúp học sinh định hướng đúng con đường đi của mình nhằm tránh tình trạng lãng phí trong đào tạo và tình trạng thừa thầy thiếu thợ Đối với cán bộ quản

lý, ngoài chính sách đào tạo nâng cao tay nghề thì chính sách đãi ngộ là một trong những điều kiện tiên quyết để thu hút lực lượng trẻ về với nông nghiệp, nông thôn

Ở các vùng nông thôn, thực hiện cơ chế “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để nâng cao trình độ văn hóa cho các vùng này Tiến hành đào tạo nghề để nông dân có tri thức và kỹ năng hành nghề nông cho tốt Đào tạo nghề trên cả phương diện kỹ thuật và kỹ năng quản lý, đa dạng hóa các loại hình đào tạo từ chính quy (hệ cao đẳng, trung học chuyên nghiệp) đến đào tạo cộng đồng Ở mỗi huyện xây dựng ít nhất một cơ sở dạy nghề và được trang bị các thiết bị cần thiết để đào tạo theo yêu cầu của xã hội [28; 130; 131]

Chính sách Nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực để phát triển nông nghiệp, nông thôn không chỉ quan tâm ở trình độ tay nghề mà còn ở trình độ xã hội cho lao động nông thôn Xét cho cùng, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lao động nông

Trang 36

thôn, tạo điều kiện để người lao động phát huy năng lực của mình cũng là một trong những cách góp phần làm cho nông nghiệp, nông thôn ngày càng đổi mới và phát triển

Thứ năm, xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế - xã hội nông thôn, đưa nông thôn phát triển ngày càng văn minh, hiện đại

Kết cấu hạ tầng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Với đặc điểm sản xuất phân tán, chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng cao, nhất

là ở các vùng chuyên canh lúa nước, nông dân không thể tự mình đầu tư xây dựng các công trình Chính vì vậy, Nhà nước cần phải cấp vốn để đầu tư hoặc hỗ trợ vốn cùng nông dân xây dựng cơ sở hạ tầng Tiến hành quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng theo phương châm “hạ tầng đi trước một bước, đảm bảo phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế -

xã hội” cần hướng đến tạo lập sự đồng bộ ở nông thôn về hệ thống thuỷ lợi, giao thông, mạng lưới điện, mạng lưới thông tin truyền thông, cung cấp nước sạch, bệnh viện, trường học, trung tâm văn hoá, chợ nhằm đẩy nhanh quá trình đô thị hóa Việc duy tu, bảo dưỡng và sử dụng hiệu quả các công trình sau khi xây dựng cũng nên được ưu tiên trong các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn của Nhà nước Trong thời gian tới, cần sớm có quy hoạch tổng thể hệ thống cơ sở hạ tầng trên phạm vi cả nước, cũng như từng địa phương gắn với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế [28; 79; 131]

2.2 Chủ trương, chính sách của Đảng, Tỉnh ủy Bình Thuận và của Đảng

bộ huyện Bắc Bình về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

2.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Tỉnh ủy Bình Thuận về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của sản xuất nông nghiệp và mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp

Việt Nam là một nước nông nghiệp, đại bộ phận dân cư sống ở nông thôn và phần lớn lao động đều làm nông nghiệp, vì vậy Hồ Chí Minh luôn coi nông nghiệp là

cơ sở để phát triển kinh tế đất nước Trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, Người viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấy canh

Trang 37

nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [41, 215] Người còn nhấn mạnh: “Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buôn bán, nông nghiệp Ngành nào cũng quan trọng cả nhưng lúc này quan trọng nhất là nông nghiệp, vì “có thực mới vực được đạo”, có

đủ cơm ăn, áo mặc cho bộ đội và nhân dân thì kháng chiến mới mau chóng thắng lợi, thống nhất và độc lập mau thành công” [42, 678] Coi trọng phát triển nông nghiệp,

Hồ Chí Minh chủ trương phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, lấy sản xuất lương thực là trọng tâm, là “việc cần thiết nhất cho đời sống của nhân dân, là bộ phận cực kỳ quan trọng trong kế hoạch kinh tế của Nhà nước” Phát triển nền nông nghiệp toàn diện mới khai thác một cách có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của sản xuất cũng như tiêu dùng của người dân

Khi về thăm nông dân tỉnh Hưng Yên, Người phát biểu: “Sản xuất phải toàn diện,

sản xuất thóc là chính, đồng thời phải rất coi trọng hoa màu, cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi, thả cá và nghề phụ”[44, 397]

Trong khi nhấn mạnh vai trò của nông nghiệp nhưng Hồ Chí Minh vẫn khẳng định về mặt chiến lược lâu dài là phải phát triển công nghiệp để tạo ra máy móc, phân hóa học, thuốc trừ sâu, hàng tiêu dùng cần thiết để phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn

và nông dân Người nhấn mạnh: “Quan trọng nhất trong đời sống của nhân dân là vấn

đề ăn Để giải quyết tốt vấn đề ăn thì sản xuất lương thực phải dồi dào Muốn như vậy, thì công nghiệp phải giúp cho nông nghiệp có nhiều máy làm thủy lợi, máy cày, máy bừa ” [45, 352] Người nhận thức rất rõ mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa nông

nghiệp, công nghiệp và các ngành kinh tế khác Trong mối quan hệ với công nghiệp,

Người đã viết: “Người thì có hai chân, kinh tế một nước thì có hai bộ phận chính: công

nghiệp và nông nghiệp Người không thể thiếu một chân, thì nước không thể thiếu một

bộ phận kinh tế” [43, 77] Là một bộ phận chính của kinh tế nước nhà, nông nghiệp

phát triển phải thiết lập mối quan hệ với công nghiệp Mối quan hệ này, theo Hồ Chí

Minh “phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển như hai chân đi khỏe và đi đều

thì bước tiến sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích”, “công nghiệp và nông nghiệp

Trang 38

là hai chân của nền kinh tế” [44, 544] Như vậy, theo Hồ Chí Minh, nếu ngành công

nghiệp phát triển mà ngành nông nghiệp không phát triển được thì khập khiễng như đi một chân, dẫn tới nền kinh tế - xã hội phát triển không cân đối, vững chắc, ảnh hưởng lớn tới đời sống xã hội

Trong các bài viết, bài phát biểu qua các thời kỳ, Hồ Chí Minh luôn gắn nông

nghiệp, nông thôn và nông dân với nhau một cách chặt chẽ Người viết: “Nông thôn

giàu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra Đồng thời, sẽ cung cấp đầy đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị Như thế là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa” [44, 405 - 406]

Những luận điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của sản xuất nông nghiệp và mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng ta vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể, xác định đường lối, chủ trương về phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Chủ trương của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn và đạt được nhiều thành tựu Ngay

từ Đại hội III (9/1960), Đảng ta đã xác định công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm

trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và quyết tâm “Xây dựng một nền kinh

tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp

lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại” [31, 926]

Đến đại hội IV, Đảng ta đã đề ra con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa

là “đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của

chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước

Trang 39

thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ” [32, 653] Đại hội V, Đảng ta đã nhận

thức rõ vai trò quan trọng của nông nghiệp và chỉ rõ “trong 5 năm 1981-1985 và

những năm 80, cần tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất xã hội chủ nghĩa” [33, 71]

Tại đại hội VI, Đảng ta đã đưa ra những chủ trương lớn về đổi mới, trước hết

là đổi mới tư duy về kinh tế Đảng ta đã xác định bảo đảm cho nông nghiệp, kể cả lâm nghiệp, ngư nghiệp thực sự là mặt trận hàng đầu Đại hội VI đã đề ra 3 chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Đặc biệt Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ BCH TƯ khóa VII đã hoàn chỉnh mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa công nghiệp hóa với hiện đại hóa đất nước và là lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng xác định chủ trương về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, quan niệm về nội dung cũng như bước đi để tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vẫn chưa rõ ràng Đến Hội nghị TƯ 7 khóa VII, Đảng ta đã

nhấn mạnh: “Từ nay đến cuối thập kỷ, phải rất quan tâm đến công nghiệp hóa, hiện

đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn” [25, 49] Điều này cho thấy Đảng đã từng

bước xác định mục tiêu, quan điểm, chủ trương, nội dung và phương hướng tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong những năm trước mắt

Đại hội VIII, Đảng quyết định và chỉ đạo phải luôn coi trọng và đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn “Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn” [26, 86] Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH

TƯ khóa IX “Về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

thời kỳ 2001 - 2010” đã chỉ rõ nội dung tổng quát của CNH, HĐH nông nghiệp, nông

thôn ở nước ta thời kỳ 2001 - 2010 Có thể nói, đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và quá trình này được đặt trong mối quan hệ với sự phát triển của kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, HTX, kinh tế tư nhân và phát triển văn hóa xã hội Điều này thể hiện sự nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò quan trọng của khu vực này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta

Nông nghiệp, nông thôn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tích lũy vốn cho công nghiệp hóa Nông nghiệp tạo ra gần 30% GDP và nguyên liệu cho công

Trang 40

nghiệp chế biến phát triển Nông nghiệp, nông thôn là khu vực kinh tế - xã hội có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, liên quan đến việc giải quyết những vấn đề cơ bản của

đời sống đại đa số dân cư Vì vậy, CNH, HĐH nông thôn sẽ làm tăng sức mua trên thị

trường nông thôn, tăng tỉ trọng GDP và tăng đóng góp vào ngân sách Nhà nước

CNH, HĐH nông thôn là cách thức tốt nhất để tổ chức lại nền sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn, chủ yếu bằng con đường hợp tác hóa CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn sẽ định hướng lại sản xuất nông nghiệp theo yêu cầu của thị trường; chuyển từ một nền nông nghiệp tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa, có sức cạnh tranh lớn trên thị trường

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn sẽ bố trí lại cơ cấu sản xuất theo hướng giảm dần tỷ trọng trong nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ Hơn nữa, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không những giảm đi khoảng cách ngày càng lớn giữa CNH, HĐH công nghiệp dịch vụ với các ngành kinh tế nông thôn, nông nghiệp mà còn là sân sau góp phần đảm bảo giữ vững sự phát triển ổn định của các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ

Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo ra động lực mới để đưa kinh tế nông thôn phát triển lên một giai đoạn cao hơn và hướng đến một nền nông nghiệp bền vững Vì vậy, Đảng chủ trương đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở giai đoạn này vừa là vấn đề thời sự, cấp bách, vừa có ý nghĩa trước mắt

và lâu dài

Trên cơ sở phân tích và chỉ ra những thuận lợi mà hoàn cảnh quốc tế đem lại, tiềm năng và lợi thế của nước ta, đồng thời nhằm tạo ra sự chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân, Đại hội X đã nêu rõ

“Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao” [29, 191]

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bắc Bình (1991), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ VI (nhiệm kỳ 1991 - 1995), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ VI (nhiệm kỳ 1991 - 1995)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bắc Bình
Năm: 1991
2. Ban Chấp hành Đảng Bộ huyện Bắc Bình (1996), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ VII (nhiệm kỳ 1996 - 2000), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ VII (nhiệm kỳ 1996 - 2000)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng Bộ huyện Bắc Bình
Năm: 1996
3. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bắc Bình (2001), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2001 - 2005), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2001 - 2005)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bắc Bình
Năm: 2001
4. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bắc Bình (2005), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ IX (nhiệm kỳ 2005 - 2010), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ IX (nhiệm kỳ 2005 - 2010)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bắc Bình
Năm: 2005
5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bắc Bình (2010), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 - 2015), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Bình lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 - 2015)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bắc Bình
Năm: 2010
6. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đức Linh (2010), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đức Linh lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 - 2015), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đức Linh lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 - 2015)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đức Linh
Năm: 2010
7. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hàm Tân (2010), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hàm Tân lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010 - 2015), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hàm Tân lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010 - 2015)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hàm Tân
Năm: 2010
8. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hàm Thuận Bắc (2010), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hàm Thuận Bắc lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 - 2015), phòng Lưu trữ Huy ện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hàm Thuận Bắc lần thứ X (nhiệm kỳ 2010 - 2015)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hàm Thuận Bắc
Năm: 2010
9. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tánh Linh (2010), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tánh Linh lần thứ VII (nhiệm kỳ 2010 - 2015), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tánh Linh lần thứ VII (nhiệm kỳ 2010 - 2015)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tánh Linh
Năm: 2010
10. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tuy Phong (2010), Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tuy Phong lần thứ VII (nhiệm kỳ 2010 - 2015), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tuy Phong lần thứ VII (nhiệm kỳ 2010 - 2015)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tuy Phong
Năm: 2010
11. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Thuận (2006), Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Thuận lần thứ XI (2005 - 2010), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Thuận lần thứ XI (2005 - 2010)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Thuận
Năm: 2006
12. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Thuận (2010), Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Thuận lần thứ XII (2010 - 2015), phòng Lưu trữ Huyện ủy Bắc Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Thuận lần thứ XII (2010 - 2015)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Thuận
Năm: 2010
14. “Bắc Bình, niềm vui của nông dân trúng lúa”, bản tin Bắc Bình, số đặc biệt Xuân 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc Bình, niềm vui của nông dân trúng lúa”, bản tin "Bắc Bình
15. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Một số chuyên đề lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
16. Nguy ễn Văn Bích (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới: quá khứ và hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới: quá khứ và hiện đại
Tác giả: Nguy ễn Văn Bích
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
17. Bùi Văn Can (2001), Phát triển kinh tế hàng hóa trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đồng bằng sông Hồng, Luận án Tiến sỹ kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2001), Phát triển kinh tế hàng hóa trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Bùi Văn Can
Năm: 2001
18. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con đường và bước đi (2006), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con đường và bước đi
Tác giả: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con đường và bước đi
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Chính phủ (2009), Nghị quyết ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
20. Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận (2008), Niên giám thống kê 2008, Xí nghiệp in Thống kê, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2008
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận
Năm: 2008
21. Lê Doãn Diên (2006), Giải pháp tài chính nhằm phát triển lĩnh vực sau thu hoạch trong chiến lược CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tài chính nhằm phát triển lĩnh vực sau thu hoạch trong chiến lược CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Lê Doãn Diên
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w