Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam vốn là truyền thống tốt đẹp được hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, đó là sản phẩm tinh thần cao quý nhất của dân tộc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DOÃN THỊ THANH TÚ
CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM
VỚI VIỆC GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC
CHO THANH NIÊN HIỆN NAY
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS VŨ TÌNH
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
DOÃN THỊ THANH TÚ
CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM
VỚI VIỆC GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC
CHO THANH NIÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH – 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Vũ Tình Các số liệu, kết quả nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Người cam đoan
Doãn Thị Thanh Tú
Trang 4MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM 8
1.1 Chủ nghĩa yêu nước trong tiến trình lịch sử Việt Nam 8
1.1.1 Khái niệm “chủ nghĩa yêu nước” và “chủ nghĩa yêu nước Việt Nam” 8
1.1.2 Cơ sở hình thành và phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam 11
1.1.3 Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam 18
1.2 Giá trị và một số bài học kinh nghiệm được rút ra từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam 31
1.2.1 Giá trị của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam 31
1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm được rút ra từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam 35
Chương 2 : GIÁO DỤC CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 42
2.1 Bối cảnh xã hội và vai trò của thanh niên Việt Nam giai đoạn hiện nay 42
2.1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay 42
2.1.2 Vai trò của thanh niên Việt Nam hiện nay 47
2.2 Khái quát thực trạng giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 52
2.2.1 Thành tựu của việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên và nguyên nhân của nó 52
2.2.2 Hạn chế của việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên và nguyên nhân của nó 62
2.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên Việt Nam giai đoạn hiện nay 66
2.3.1 Nâng cao hiệu quả giáo dục chủ nghĩa yêu nước thông qua đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy các môn học 67
2.3.2 Xây dựng môi trường văn hóa 68
2.3.3 Phát huy vai trò của các tổ chức Đoàn, Hội 70
2.3.4 Chú trọng ý thức tự giáo dục, tự rèn luyện của thanh niên 72
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 1 Tính cấp thiết của đề tài
Yêu nước là một phạm trù thuộc lĩnh vực tình cảm và đạo đức của nhân dân tất cả các quốc gia, các dân tộc Mỗi quốc gia, dân tộc biểu hiện tinh thần yêu nước khác nhau Ở Việt Nam tinh thần yêu nước đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý trí với tình cảm cách mạng, là tinh thần yêu nước đã đạt đến trình độ tự giác và bền vững cao qua thăng trầm của lịch sử Như vậy, yêu nước đã vượt ra khỏi trạng thái tâm lý, tình cảm thông thường của con người để đạt tới giá trị cao về tư tưởng, lý luận chính trị
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam vốn là truyền thống tốt đẹp được hình thành trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, đó
là sản phẩm tinh thần cao quý nhất của dân tộc ta, nhờ đó dân tộc ta đã phát huy sức mạnh lớn lao trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và là một động lực nội sinh quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng đất nước Theo tiến trình lịch sử nước ta, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam phát triển thành chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa để đến năm 2020 cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa này, vai trò của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cần được nâng lên một tầm cao mới Mỗi người Việt Nam phát huy tinh thần yêu nước, bằng công sức, trí tuệ, tài năng, cả trách nhiệm góp sức vào sự nghiệp lớn lao và vẻ vang đó Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một giá trị tinh thần to lớn của dân tộc; nó không hình thành tự phát mà là kết quả của cả quá trình xây dựng,
Trang 6bảo vệ Tổ quốc và cả quá trình bồi dưỡng, giáo dục, tự giáo dục, tự rèn luyện Vì vậy, cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho mọi người Việt Nam Thanh niên chính là những người kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc, là thế hệ tương lai xây dựng đất nước, cho nên việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên là yêu cầu cấp thiết Theo Công bố Tổng điều tra dân số năm 2009, dân số Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,5 triệu người so với 10 năm trước đây, nước ta đang ở thời kỳ đầu của cơ cấu dân số vàng với khoảng 53,8 triệu người trong độ tuổi lao động đang làm việc, chiếm 65% dân số và mỗi năm có thêm 1,5 triệu người mới bước vào độ tuổi lao động[90] Điều đó chứng tỏ thanh niên nước ta là lực lượng to lớn, chiếm số đông của xã hội, là lực lượng quan trọng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
Tuy nhiên, thanh niên Việt Nam cũng là tầng lớp còn nhiều hạn chế
Do thiếu kinh nghiệm, chưa từng trải nên thanh niên còn biểu hiện tính bồng bột, chủ quan, dễ hoang mang, dao động, tiếp nhận thông tin ít chọn lọc, tạo nên yếu tố tiêu cực trong cuộc sống Một bộ phận thanh niên phai nhạt lý tưởng, thiếu niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc, chưa chuyên tâm học tập, rèn luyện, tự lực vươn lên và cống hiến cho đất nước, mà còn bị chi phối bởi cuộc sống hưởng thụ, sa vào các tệ nạn xã hội, sống thiếu trách nhiệm với mọi người và chính mình
Từ tầm quan trọng của thanh niên đối với cuộc sống xã hội và tương lai của đất nước; từ thực trạng cuộc sống của thanh niên Việt Nam, việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho đối tượng này vừa là nhu cầu thường xuyên, lâu dài, vừa là nhu cầu cầp thiết được đặt ra trong giai đoạn hiện
Trang 7nay Chọn đề tài: “Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với việc giáo dục chủ
nghĩa yêu nước cho thanh niên hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận
văn của mình, tác giả muốn góp một phần vào việc giải quyết nhu cầu ấy
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến chủ nghĩa yêu nước và việc giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho toàn dân, đặc biệt là cho thanh niên Việt Nam Có thể khái quát kết quả công trình nghiên cứu của các tác giả, tập thể tác giả tiêu biểu trên theo hai hướng sau:
Hướng thứ nhất:
Các công trình nghiên cứu về nội dung của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Tiêu biểu cho các hướng nghiên cứu này là:
Tác phẩm Chủ nghĩa yêu nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của Tiến sĩ Lương Gia Ban, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1999 Ở tác phẩm này, tác giả đã nghiên cứu con đường phát triển biện chứng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Trong đó, tác giả tập trung phân tích nội dung cơ bản của chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, chỉ ra những động lực tinh thần và những giải pháp định hướng hoạt động cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác phẩm Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu
nước Hồ Chí Minh do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu chủ biên,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008 đã đi sâu vào nghiên cứu công cuộc chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc của nhân dân ta để làm sáng tỏ sự phát triển từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh
Tác phẩm Mấy vấn đề về chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam của tác giả Trần Xuân Trường, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Việt
Trang 8Nam, Hà Nội, 1981 Ở tác phẩm này, tác giả đã nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, trình bày những vấn
đề thực chất về nội dung và yêu cầu của chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm nghĩa vụ quốc tế trong giai đoạn lịch sử cách mạng hiện nay
Trong công trình Bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc từ chủ
nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Luận án Tiến sĩ Triết học, Đại
học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2008, tác giả Nguyễn Tấn Hưng đi sâu, làm rõ quá trình, nội dung, thực chất bước chuyển tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc trên bình diện triết học; đồng thời rút ra ý nghĩa của bước chuyển tư tưởng đối với cách mạng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và những bài học lịch sử đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Trong công trình Tìm hiểu quá trình Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chủ
nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Luận án Phó Tiến sĩ Sử học,
Viện Sử học, Hà Nội, 1985, tác giả Đức Vượng đã hệ thống hóa lại những diễn biến của một quá trình phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời chứng minh một cách khoa học cho những luận điểm đã được khẳng định
Hướng thứ hai:
Các công trình nghiên cứu về giáo dục truyền thống yêu nước cho toàn dân nói chung, cho thanh niên nói riêng Một số công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là:
Tác phẩm “Giáo dục chủ nghĩa yêu nước, xây dựng ý chí quyết thắng cho quân và dân ta hiện nay” do tác giả Phùng Khắc Đăng chủ biên, Nhà
xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006 đã làm rõ một số vấn đề lý luận
và thực tiễn giáo dục chủ nghĩa yêu nước, xây dựng ý chí quyến chiến,
Trang 9quyết thắng và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho quân và dân ta hiện nay
Tiến sĩ Dương Tự Đam với tác phẩm Tuổi trẻ Việt Nam với chủ nghĩa
yêu nước trong lịch sử dân tộc, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2008 đề
cập đến vấn đề giáo dục, truyền thụ lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế Đồng thời tác giả còn nêu lên một số tấm gương tuổi trẻ tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Tiến sĩ Đoàn Nam Đàn với tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục thanh niên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008 đã trình
bày rõ những vấn đề cơ bản về nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên, việc vận dụng tư tưởng giáo dục thanh niên của Người trong điều kiện hiện nay và những biện pháp nhằm phát triển toàn diện, phát huy mọi năng lực của thanh niên phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ban Tư tưởng – văn hóa Trung ương biên soạn Tài liệu giáo dục chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2000 để giáo
dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cho mọi người Việt Nam mà trước hết cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết tìm hiểu tiến trình phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và vấn đề giáo dục chủ nghĩa yêu nước
Nguồn tài liệu phong phú trên là cơ sở để tác giả tham khảo, kế thừa
để thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Luận văn “Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với việc giáo dục chủ nghĩa
yêu nước cho thanh niên hiện nay” có mục đích làm rõ nội dung của chủ
Trang 10nghĩa yêu nước Việt Nam biểu hiện thông qua các giai đoạn phát triển của nó; thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Để đạt được mục đích đã nêu, luận văn có nhiệm vụ:
- Thứ nhất, trình bày một số vấn đề lý luận chung về chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; trong đó, làm rõ khái niệm “chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”, các giai đoạn phát triển của nó cũng như giá trị
và một số bài học kinh nghiệm khi nghiên cứu về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
- Thứ hai, làm rõ bối cảnh xã hội và vai trò của thanh niên Việt Nam hiện nay, khái quát thực trạng giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục chủ nghĩa yêu nước Tác giả sử dụng phương pháp chung nhất là phương pháp biện chứng duy vật, tuân thủ nguyên tắc thống nhất giữa lôgic và lịch sử trong nghiên cứu tiến trình lịch sử của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tuân thủ nguyên tắc thống nhất giữa lôgic và lịch sử trong nghiên cứu tiến trình lịch sử của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Bên cạnh
đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn dịch
và quy nạp, so sánh, chứng minh để làm sáng tỏ các vấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn đặt ra
Trang 115 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ khái niệm “chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”, làm rõ các giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; rút ra được một số giá trị và một số bài học kinh nghiệm khi nghiên cứu về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Trên cơ sở đó, khẳng định sự cần thiết giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên Việt Nam, nhất là trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, và đưa ra một số giải pháp giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu
về chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và cho những người làm công tác Đoàn, Hội
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Trang 12Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM
1.1 CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
1.1.1 Khái niệm “chủ nghĩa yêu nước” và “chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”
- Khái niệm “chủ nghĩa yêu nước”
Từ trước cho đến nay đã có nhiều quan điểm khác nhau về chủ nghĩa yêu nước:
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Chủ nghĩa yêu nước, nguyên tắc đạo đức về chính trị mà nội dung là tình yêu, lòng trung thành, ý thức phục vụ Tổ quốc”[71, 518] Với định nghĩa trên, chủ nghĩa yêu nước được xét ở góc độ đạo đức, chính trị và tình cảm, mà nội dung của nó là tình yêu, lòng trung thành phục vụ Tổ quốc
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương cho rằng: “Chủ nghĩa yêu nước
là một phạm trù thuộc lĩnh vực tư tưởng và tình cảm của nhân dân tất cả các quốc gia, của các dân tộc trên thế giới”[4, 5] Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương đã nhìn nhận dưới góc độ đạo đức, chủ nghĩa yêu nước là một tình cảm, một trạng thái tâm lý tự nhiên của con người có nội dung tư tưởng, lý luận Chủ nghĩa yêu nước mang tính phổ biến ở mỗi dân tộc Quan điểm của Lênin về chủ nghĩa yêu nước là: “Một trong những tình cảm sâu sắc nhất, đã được củng cố qua hàng trăm hàng nghìn năm tồn tại của các Tổ quốc biệt lập”[79, 326] Quan điểm này của Lênin nhấn mạnh về mặt tình cảm, chủ nghĩa yêu nước là tình cảm đặc biệt “sâu sắc nhất” của con người, mỗi người đối với quê hương, đất nước; là tư tưởng
và tình cảm phổ quát được hình thành, và phát triển qua các thế hệ của
Trang 13nhân dân tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới Tình cảm yêu nước phát triển và trở nên sâu sắc hình thành nên chủ nghĩa yêu nước
Theo từ điển Triết học thì: “Chủ nghĩa yêu nước – nguyên tắc đạo đức
và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung là tình yêu và lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc”[76, 712] Chúng tôi cho rằng với định nghĩa này, chủ nghĩa yêu nước đã được xét cả ở góc độ chính trị và đạo đức, tình cảm Nội dung chính của chủ nghĩa yêu nước là tình yêu và lòng trung thành với Tổ quốc; là lòng tự hào kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, từ đó tạo động lực cho mỗi người trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện cụ thể ở tinh thần chịu đựng gian khổ, ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, chí hy sinh, tinh thần lạc quan, tính sáng tạo, cống hiến hết sức lực và trí tuệ của mỗi người một cách vô điều kiện cho mục tiêu xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Có thể nói, đây là định nghĩa về chủ nghĩa yêu nước mang tính khái quát nhất, nó vừa phản ánh được bản chất của chủ nghĩa yêu nước, vừa cho chúng ta hiểu được những hình thức thể hiện của chủ nghĩa yêu nước Thực hiện đề tài luận văn, tác giả sử dụng nội dung về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam theo định nghĩa này
- Khái niệm “chủ nghĩa yêu nước Việt Nam”
Ở Việt Nam, “nước” luôn được đặt ở vị trí cao nhất, trên dòng họ, gia đình, nhất là khi có giặc ngoại xâm Do nhu cầu chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm, giúp đỡ nhau trong cuộc sống lúc hoạn nạn mà ý thức cộng đồng ở người Việt Nam xuất hiện khá sớm Sự tích “con rồng cháu tiên” của người Việt nhằm khẳng định một tổ tiên chung, một nguồn gốc chung của mọi người dân Việt Nam, luôn luôn yêu thương đùm bọc lẫn nhau Từ
Trang 14ý thức cộng đồng dân tộc này đã nảy nở tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái những anh hùng, những ông tổ của các nghề, những người có công với dân, với nước Ý thức cộng đồng này ngày càng sâu đậm trong tâm hồn con người Việt Nam và phát triển thành tinh thần yêu nước mang rõ nét tinh thần dân tộc
“Yêu nước Việt Nam” cũng có nghĩa là yêu non sông đất nước, yêu truyền thống văn hóa lịch sử hào hùng của dân tộc Yêu nước còn gắn liền với thương giống nòi, “Thương nước, thương nhà, thương người, thương mình” Ở Việt Nam yêu nước không chỉ dừng ở tình cảm mà còn là lý trí; không chỉ thể hiện trên lời nói, ý thức mà còn được thể hiện bằng hành động để bảo vệ, phát triển tinh thần yêu nước lên một tầm cao mới Cho nên tinh thần yêu nước Việt Nam đã phát triển thành truyền thống yêu nước, thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam:
Theo Phó Giáo sư Nguyễn Hùng Hậu thì: Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là lấy cái đạo lý yêu nước làm hàng đầu đối với mọi người dân Việt Nam, nó thể hiện ở tinh thần và hành động sẵn sàng hy sinh, xả thân vì nước, vì dân tộc, giống nòi, để bảo vệ đất nước[34, 13] Phó Giáo sư Nguyễn Hùng Hậu xét chủ nghĩa yêu nước Việt Nam dưới góc độ triết học, chính trị và đạo đức Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một bộ phận của ý thức xã hội, mà nội dung chính của nó là tinh thần và hành động sẵn sàng
hy sinh bảo vệ Tổ quốc
Theo tác giả Phùng Khắc Đăng thì: Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là
sự phát triển ở trình độ cao của tinh thần yêu nước, là sự kết hợp chặt chẽ giữa lý trí và tình cảm cách mạng, là tinh thần yêu nước đã đạt đến trình độ
tự giác và độ bền vững cao qua thăng trầm lịch sử[28, 7-8] Trong quan
Trang 15niệm về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tác giả Phùng Khắc Đăng đã nhấn mạnh về mặt lý trí và tình cảm Nội dung chính của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là tinh thần yêu nước bền vững cùng lịch sử
Quan điểm của Giáo sư Trần Xuân Trường về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là: Sự tổng hòa cả lý trí yêu nước và tình cảm yêu nước mới thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam[69, 6] Giáo sư Trần Xuân Trường đã nhìn nhận chủ nghĩa yêu nước Việt Nam dưới góc độ lý trí và tình cảm Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa lý trí và tình cảm yêu nước
Từ quan niệm “Chủ nghĩa yêu nước – nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà nội dung là tình yêu và lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc”[76, 712], và xét chủ nghĩa yêu nước biểu hiện trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có thể hiểu:
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một phạm trù thuộc lĩnh vực chính trị và đạo đức, dùng để chỉ tư tưởng, tình cảm, ý chí cùng hành động sẵn sàng hy sinh để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam
1.1.2 Cơ sở hình thành và phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ lịch sử Việt Nam Có thể khái quát một số nguồn gốc cơ bản hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam như sau:
Một là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có cội nguồn từ quá trình lao
động dựng nước và đánh giặc giữ nước của dân tộc ta
Ở thời đại Hùng Vương, Văn Lang là một nước bền vững suốt gần hai ngàn năm, được khảo cổ học xác nhận có văn hóa khá rực rỡ mà Trống đồng là một biểu tượng có cương vực ổn định, mà đó cũng là cương vực
Trang 16nước Đại Việt sau này Văn Lang hình thành trên cơ sở hợp nhất tự nguyện của 15 bộ lạc: Văn Lang, Châu Diên, Phúc Lộc, Tân Hưng, Vũ Định, Vũ Ninh, Lục Hải, Minh Hải, Dương Tuyến, Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài Hoan, Cửu Đức, Việt Thường và Bình Văn 15 bộ lạc này gắn bó với nhau như ruột thịt cho nên Văn Lang tồn tại lâu dài và ổn định, và cũng vì tồn tại lâu dài và ổn định cho nên tình cảm, tư tưởng yêu cái nôi chung, yêu nòi giống mình đã rất sớm nảy nở và được khắc sâu trong tâm trí con người
Đất nước Việt Nam có đặc điểm địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa khắc nghiệt Việt Nam nằm ở Đông Nam lục địa châu Á, bắc giáp Trung Quốc, tây giáp Lào và Campuchia, đông và nam giáp Biển Đông, có diện tích 331.590 km2 đất liền và 700 km2 thềm lục địa Khí hậu nhiệt đới gió mùa cùng môi trường sinh thái đa dạng, phong phú, rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Do đó, nền kinh tế của Việt Nam chủ yếu là kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, điều đó tự nó tạo nên sự gắn bó rất chặt chẽ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, với xóm làng, với mảnh đất mà mình đã khai phá Địa thế vùng ven biển, có nhiều thuận lợi nhưng cũng mang lại những thiên tai khắc nghiệt: bão táp, hạn hán, lũ lụt,… là những thử thách rất lớn đối với con người, đã cướp đi nhiều tài sản và thậm chí cả sinh mệnh con người, để lại những hậu quả nặng nề cho đời sống con người Song, ông cha ta vẫn trụ lại, đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên
để khai phá và gìn giữ mảnh đất này Điều đó, làm cho sự cố kết cộng đồng, sự gắn bó giữa các thành viên lại với nhau trở thành yêu cầu tự nhiên, tất yếu để tồn tại và phát triển, mọi người Việt Nam đều nặng tình, nặng nghĩa đối với quê hương đất nước
Công cuộc xây dựng đất nước và phát triển kinh tế - xã hội với những đặc điểm của thiên nhiên Việt Nam, đã sớm tạo nên sự gắn bó cộng đồng,
Trang 17gắn bó với quê hương, hình thành cơ sở của tình yêu đất nước Đây chính
là cội nguồn trước hết của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Lịch sử dân tộc Việt Nam, về cơ bản còn là một quá trình dài chiến đấu chống ngoại xâm, quá trình dựng nước luôn gắn liền với quá trình giữ nước Tuy nhiên, chống ngoại xâm không phải là đặc điểm riêng của Việt Nam mà là đặc điểm chung của nhiều nước trên thế giới trong quá trình tồn tại và phát triển Song, tính đặc thù của dân tộc ta chống ngoại xâm giữ nước là chúng ta luôn phải chống lại các thế lực mạnh hơn chúng ta nhiều lần và trong khoảng thời gian rất dài
Từ kháng chiến chống Tần thế kỷ III trước Công nguyên đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, trong hơn 22 thế kỷ thì có hơn
12 thế kỷ dân tộc ta phải tiến hành kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống ách đô hộ của nước ngoài Về độ dài thời gian, tần số xuất hiện, số lượng các cuộc kháng chiến và khởi nghĩa của dân tộc ta lớn hơn nhiều so với các nước trên thế giới, và phải đương đầu với kẻ địch mạnh gấp nhiều lần
Một trong những nguyên nhân mà nhiều thế lực muốn thôn tính nước
ta là ngay từ thời cổ đại, Việt Nam đã là ngã ba đường của các nền văn hóa,
là nơi giao lưu và tiếp xúc giữa các dân tộc người trên đất liền và các hải đảo phía Nam Nước ta ở gần hai trung tâm văn hóa lớn nhất châu Á là văn hóa Ấn Độ và văn hóa Trung Hoa
Tuy nhiên, ở khu vực Nam Á, nền văn hóa Ấn Độ chứa đựng những yếu tố tôn giáo thần bí xen với chủ nghĩa nhân đạo nguyên thủy như một sự đồng cảm với các cư dân bản địa Nhưng ở phương Bắc, ở lưu vực sông Hoàng Hà, xã hội đã bước vào thời đại văn minh rất sớm, sự phân hóa giai cấp và những thiết chế điển hình của chế độ phong kiến phương Đông đã hình thành rõ rệt Từ trong lòng xã hội ấy, xuất hiện các tập đoàn phong
Trang 18kiến lớn mạnh luôn tranh giành thiên hạ Đối với họ, Việt Nam là một mảnh đất phương Nam giàu có, là cái hành lang cần phải có để chúng hành quân từ Bắc Á xuống Nam Á Vì vậy, ngay từ đầu Công nguyên, quân Triệu đã nhiều lần tiến quân xâm lược nước ta và đến năm 179 trước Công nguyên, nước ta rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu mở đầu thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn ngàn năm
Lịch sử cận đại và hiện đại ở Việt Nam là các cuộc chống xâm lược của Pháp, của Nhật, của Mỹ Song, ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo ra sức mạnh tổng hợp, sức mạnh của toàn dân, cả về chính trị tư tưởng và vật chất kỹ thuật, cả về sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, huy động sức mạnh đoàn kết của toàn dân, cả về sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần nên đã giành được thắng lợi trước những đế quốc to lớn
Như vậy, lịch sử quốc gia và dân tộc Việt Nam từ khi ra đời đến nay là lịch sử lao động dựng nước, đánh giặc giữ nước Trên nền tảng ấy, yêu nước là dòng tư tưởng và tình cảm hình thành rất sớm trong tâm hồn con người Việt Nam Trong chuỗi dài chống các cuộc xâm lược, dân tộc ta đã phát huy đến cực độ các lực lượng tinh thần, vật chất hóa lực lượng tinh thần ấy góp phần lấy ít thắng nhiều, lấy chí nhân thay cường bạo Nó rèn luyện, hun đúc tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết; ý chí thống nhất đất nước, thống nhất dân tộc, sẵn sàng chịu đựng mọi hy sinh, gian khổ bảo
vệ nền độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia Đây chính là cơ sở quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Hai là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành bởi nền văn hóa
đa dạng nhưng thống nhất của cộng đồng các dân tộc
Trang 19Những kết quả nghiên cứu khảo cổ học cho thấy, trong thời kỳ cổ đại, trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay đã có các trung tâm văn hóa Đó là Văn hóa Đông Sơn với nhà nước Văn Lang – Âu Lạc ở miền Bắc; văn hóa Sa Huỳnh với vương quốc Chăm Pa cổ ở miền Trung; văn hóa Ốc Eo với vương quốc Phù Nam ở Nam Bộ Các trung tâm văn hóa đó đã từng phát triển rực rỡ trong thời kỳ cổ đại và lan tỏa mạnh, chi phối sự phát triển văn hóa ở các vùng của đất nước Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, các dòng văn hóa và lịch sử đó đã hòa nhập vào dòng chảy chung của văn hóa Việt Nam mà dòng chủ lưu là văn hóa Đông Sơn với nhà nước Văn Lang –
Âu Lạc, qua Đại cồ Việt, Đại Việt, Đại Nam tới Việt Nam ngày nay Đó chính là tính thống nhất mà đa dạng của lịch sử văn hóa Việt Nam
Nước ta hiện nay có 54 dân tộc sống chung với nhau, trong đó dân tộc Kinh chiếm gần 90% dân số, sống tập trung ở đồng bằng, đô thị, đồng thời xen kẽ ở các vùng trung du, miền núi Tuy số dân có sự chênh lệch đáng
kể, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn Ở nước ta không có tình trạng dân tộc đa
số cưỡng bức, đồng hoá, thôn tính các dân tộc thiểu số, do đó cũng không
có tình trạng dân tộc thiểu số chống lại dân tộc đa số Các dân tộc thiểu số còn lại chiếm khoảng hơn 10% dân số sống chủ yếu ở trung du miền núi và sống xen kẽ với nhau Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc, tạo nên tính đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam Bản sắc văn hoá dân tộc là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hoá mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn hoá của cộng đồng
Trang 20các dân tộc Việt Nam Các nền văn hóa giao lưu với nhau, bổ sung trong nhau, làm giàu thêm bản sắc văn hóa của từng tộc người
Sự hình thành tính đa dạng, phong phú nhưng trong sự thống nhất cao của nền văn hóa gắn liền với sự thống nhất của cộng đồng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Ngược lại, tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng trên nền tảng gắn kết từng thành viên với gia đình; gia đình với làng xã; làng xã với dân tộc,
Tổ quốc là một bộ phận tạo thành nền văn hóa Việt Nam, vừa kết tinh những giá trị tiêu biểu, vừa chi phối sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam
Ba là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hình thành cùng với quá trình
thống nhất quốc gia và hình thành dân tộc Việt Nam
Từ đời Hùng Vương (700-258 trước Công nguyên) và An Dương Vương (257-208 trước Công nguyên), nước ta bước vào thời kỳ xã hội phân hóa giai cấp sơ kỳ với kết cấu kinh tế xã hội đặc thù của phương Đông, còn gọi là kiểu phương thức sản xuất châu Á Trên nền tảng của phương thức sản xuất này, quan hệ sản xuất phong kiến dần dần nảy sinh
và dẫn đến việc xác lập chế độ phong kiến vào khoảng thế kỷ XV Do đó, ở Việt Nam không trải qua chế độ chiếm hữu nô lệ, nhưng quan hệ nô tỳ, tức chế độ nô lệ gia trưởng có phát triển ở mức độ nhất định Nô tỳ là người lao động trong nhà, thân phận họ có thấp nhưng không bị đối xử như người
nô lệ và không là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội Chế độ phong kiến Việt Nam mang những đặc điểm riêng của phương Đông, của Việt Nam, khác so với chế độ phong kiến phương Tây Ở nước ta không có thời
kỳ tồn tại của chế độ lãnh địa với quan hệ lãnh chúa – nông nô, không trải qua thời kỳ phân quyền cát cứ lâu dài Nhà nước tập quyền ra đời sớm và phát triển mạnh, chi phối toàn bộ sự phát triển của xã hội
Trang 21Vào cuối giai đoạn văn minh sông Hồng, trên cơ sở văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ, nhà nước Văn Lang ra đời Ngay từ khi mới hình thành, nhà nước Văn Lang đã bị nhà Tần, nhà Hán xâm lược, đặt ách nô dịch hơn
1000 năm Trong thời gian này, dân tộc Việt cố kết với nhau tạo nên sức mạnh chống xâm lược và âm mưu đồng hóa Sau chiến thắng Bạch Đằng chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc không lâu, nước ta lại rơi vào loạn 12
sứ quân Đinh Tiên Hoàng đã thống nhất đất nước, nhưng ít lâu sau Lê Đại Hành phải lãnh đạo quân dân chống Tống Từ đó các triều đại Lý, Trần, Hồ luôn phải kháng chiến chống xâm lược Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, nước ta chỉ được hòa bình trong 90 năm, sau đó lại xảy ra chiến tranh Nam Bắc triều, rồi Trịnh Nguyễn phân tranh Tây Sơn chưa lên được bao lâu thì nhà Nguyễn thay thế Nhà Nguyễn thống nhất được gần nửa thế
kỷ thì thực dân đế quốc Pháp, Mỹ nổ súng xâm lược và nhân dân ta kiên trì đấu tranh giành độc lập, thống nhất quốc gia
Cùng với quá trình thống nhất quốc gia là quá trình hình thành và thống nhất dân tộc, nghĩa là quá trình các cộng đồng dân cư gắn bó với nhau trên một cơ sở của tư tưởng, tình cảm chung trong một nền văn hóa chung
Trong quá trình hình thành dân tộc Việt Nam, sự cố kết cộng đồng dân tộc được xây dựng và phát triển trên nền tảng của các hình thái kinh tế - xã hội với đặc điểm riêng nói trên và trên cơ sở kết cấu xã hội cụ thể của Việt Nam mà nền tảng dựa trên cơ sở chính là trục Nhà - Làng - Nước Quá trình xây dựng đất nước cũng là quá trình thống nhất cộng đồng đã tác động sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tạo nên tinh thần đoàn kết dân tộc và sự cố kết cộng đồng mang tính dân tộc Đây là quá trình tự ý thức, tự khẳng định của dân tộc ta Điều đó
đã được phản ánh trong nhiều tác phẩm văn hóa Đầu thế kỷ XV, Nguyễn
Trang 22Trãi qua bài “Bình Ngô đại cáo” đã khẳng định sự phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam:
“Như nước Đại Việt ta thuở trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác ”[4, 75]
Nguyễn Trãi đã đưa ra quan niệm tổng quát, toàn diện về đất nước, dân tộc và quốc gia, nó bao quát những yếu tố cơ bản về lịch sử, văn hóa, lãnh thổ và thể chế nhà nước Sự tự nhận thức này đạt tới trình độ khá toàn diện về quốc gia, dân tộc
Như vậy, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành từ những cộng đồng đầu tiên xuất hiện trên đất nước ta Tình nhà, tình làng được hun đúc và dần dần trở thành lòng yêu quê hương, yêu đất nước tạo nên một nét đẹp trong truyền thống dân tộc Việt Nam Quá trình lao động dựng nước, đánh giặc giữ nước của dân tộc, sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, với quê hương xứ sở là điểm khởi đầu của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; bên cạnh đó, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hình thành bởi nền văn hóa thống nhất mà đa dạng của cộng đồng các dân tộc; cùng với quá trình thống nhất quốc gia và hình thành dân tộc Việt Nam
1.1.3 Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Theo tiến trình lịch sử từ tình yêu quê hương đất nước phát triển thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, thì chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã hình thành và phát triển qua bốn giai đoạn lớn Trong đó ba giai đầu thuộc về chủ nghĩa yêu nước truyền thống và giai đoạn thứ tư là chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh có bản chất là chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa
Giai đoạn thứ nhất, từ buổi đầu hình thành dân tộc (khoảng từ nửa đầu
thiên niên kỷ II trước Công nguyên đến năm 179 trước Công nguyên) Thời
Trang 23kỳ này, chủ nghĩa yêu nước thể hiện khát vọng của dân tộc ta quyết tâm bảo vệ lãnh thổ của mình
Thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc Việt Nam - thời Hùng Vương
đã trải qua bốn giai đoạn phát triển nối tiếp nhau liên tục và ngày càng cao: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn phản ánh quá trình hình thành và phát triển của Nhà nước và quốc gia Văn Lang – Âu Lạc Nước Văn Lang được hình thành trên cơ sở liên kết 15 bộ lạc có chung một ngôn ngữ và một nền văn hóa Điều đó được chứng minh bằng các cổ vật của thời đại đồ đồng Đông Sơn được tìm thấy ở nhiều nơi trong đất nước ta, chúng có chung một kỹ thuật chế tác và phong cách nghệ thuật Tính thống nhất về ngôn ngữ và văn hóa là cơ sở cần thiết để các bộ tộc liên kết với nhau, tạo thành một quốc gia thống nhất, cùng đấu tranh chống thiên tai và chống ngoại xâm… được thể hiện qua văn học truyền miệng của ta rất phong phú Giống các dân tộc khác, chúng ta cũng có giai đoạn xuất hiện các thần thoại, các câu chuyện kể về các vị thần, từ những vị thần nhân tính sang các ông khổng lồ có khả năng lấp đất, vá trời để giải thích nguồn gốc của đất đai, sông núi, cuộc sống trên đất nước này Song thần thoại của Văn Lang – Âu Lạc khác với thần thoại Hy Lạp, Ấn Độ, thần thoại cổ Việt Nam rất nhanh chóng chuyển từ giai đoạn suy nguyên luận tìm hiểu và giải thích tự nhiên sang lĩnh vực lịch sử, sang cuộc sống của khối cộng đồng dân tộc Trong thần thoại nước ta, những truyện đứng đầu toàn là những truyện yêu nước, yêu dân, yêu giống nòi: truyện Lạc Long Quân – Âu Cơ, truyện Sơn Tinh, truyện Thánh Gióng,… Truyện cổ Lạc Long Quân – Âu
Cơ thể hiện nguồn gốc chung của các dân tộc trên đất Việt Nam, nói lên cái nghĩa đồng bào, toàn dân trong nước đều cùng một bọc sinh ra Truyện Sơn Tinh thể nghiệm sự nghiệp dựng nước, trị thủy khó khăn Truyện Thánh
Trang 24Gióng phản ánh tinh thần đoàn kết, sẵn sàng chung lưng đấu cật đóng góp sức người, sức của chống ngoại xâm
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam ngay từ khi hình thành đã bao hàm những nhân tố rất sâu sắc: ý chí độc lập tự chủ, tự tôn dân tộc, đoàn kết cộng đồng đó đã tồn tại và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc ta
Giai đoạn thứ hai kéo dài từ năm 179 trước Công nguyên đến năm
938 Đây là giai đoạn lịch sử dân tộc chống ách đô hộ hơn 1000 năm của phong kiến phương Bắc, chủ nghĩa yêu nước được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa cứu nước và bảo vệ bản sắc dân tộc
Đó là các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 đến năm 43 chống lại quân thống trị Đông Hán thắng lợi và giành lại chủ quyền dân tộc; cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248 nhằm đánh đuổi quân Ngô; cuộc khởi nghĩa của Lý Bí năm 542 chống lại nhà Lương, xây dựng Nhà nước Vạn Xuân năm 544, cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722 chống lại sự thống trị của nhà Đường, khởi nghĩa Phùng Hưng chống ách
đô hộ của nhà Đường từ năm 766 đến năm 789, cho đến cuộc khởi nghĩa thắng lợi của họ Khúc (Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ) và Dương Diện Nghệ (từ năm 906 đến năm 938) lật đổ nền đô hộ của đế chế Đường và cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán lần thứ hai do Ngô Quyền lãnh đạo (năm 938) đã giành lại quyền độc lập, tự chủ của nhân dân
ta, thời Bắc thuộc mới chấm dứt hoàn toàn
Trong thời gian này, nhân dân ta không chỉ có ý thức bảo vệ lãnh thổ
mà cùng với nó là ý thức bảo vệ bản sắc dân tộc của mình Dân tộc ta quyết không chấp nhận Hán hóa Hán hóa là âm mưu thâm độc nhất của phong kiến phương Bắc Không những, chúng muốn xâm chiếm mà còn âm mưu đồng hóa về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa nước ta Như, chúng chiếm giữ những ngành kinh tế chủ chốt của nước ta, chúng ra sức truyền bá đạo
Trang 25Nho, mở trường dạy chữ Hán, di dân Hán đến ở xen kẽ với người Việt, bắt nhân dân ta phải thay đổi phong tục, tập quán từ cách ăn mặc đến cưới xin, tang ma theo người Hán Mặc dù chữ Hán và tiếng Hán được du nhập ồ ạt vào Việt Nam, nhưng phong tục, tập quán tốt đẹp của thời Văn Lang – Âu Lạc vẫn được giữ gìn; tục Giỗ tổ Hùng Vương vẫn được duy trì để qua đó nhân dân ta nhắc nhở nhau ghi nhớ công lao cửa tổ tiên trong quá trình dựng nước và giữ nước Thờ tổ tiên, thờ thần cứu nước trở thành một đặc điểm lớn của văn hóa dân tộc, biểu hiện giá trị đạo đức, giá trị nhân văn
“Uống nước nhớ nguồn”
Cùng với việc giữ gìn bản sắc của mình, người Việt Nam đã biết tiếp thu những tinh hoa văn hóa bên ngoài phù hợp với đặc tính và tâm hồn người Việt Nam và làm giàu có hơn nền văn hóa truyền thống dân tộc Hơn một ngìn năm đô hộ, tiếng nói của dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trình đơn âm tiết hóa và thanh điệu hóa Bởi vậy, bên cạnh những âm tiết thuần Việt còn có nhiều âm tiết Hán – Việt nhưng tiếng Việt tuyệt nhiên không bị biến chất thành tiếng Hán cổ Từ tập tục ở nhà sàn, dần dần người Việt chuyển sang ở nhà nền đất nện, tập quán giã gạo bằng chày chuyển sang giã gạo bằng cối đạp Trong trang phục, y phục, nghệ thuật cũng phong phú, đa dạng và phát triển cao hơn trên trên cái căn bản của nền văn hóa cổ truyền Nhân dân ta tiếp thu mặt tích cực của Phật giáo để đấu tranh chống Hán hóa, góp phần bảo vệ di sản văn hóa cổ truyền khác với văn hóa Hán
Vì vậy, sau hơn nghìn năm đô hộ, ta vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc của đất nước mình, lòng yêu nước, ý chí độc lập được bảo tồn và ngày càng phát triển Dân tộc ta không những kiên quyết bảo vệ nền văn hóa dân tộc, mà còn biết tiếp thu có chọn lọc, cải biến những tinh hoa của văn hóa bên ngoài và làm giàu thêm nền văn hóa của dân tộc mình
Trang 26Giai đoạn thứ ba từ năm 938 đến năm 1858 Đây là thời kỳ chủ nghĩa
yêu nước được biểu hiện rực rỡ qua các cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc bảo vệ nền độc lập và cùng nhau xây dựng đất nước của nhân dân ta
9 thế kỷ quốc gia dân tộc phong kiến là giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa yêu nước trong điều kiện nước nhà độc lập, nhân dân chiến đấu
để bảo vệ nền độc lập đó Cho đến cuối thế kỷ XVIII thì tất cả các lần kháng chiến đều thắng lợi vẻ vang: năm 981 Lê Hoàn thắng quân Tống; năm 1075 - 1077 Lý Thường Kiệt thắng quân Tống lần thứ hai với bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên “Nam quốc sơn hà” ra đời; thế kỷ XIII nhà Trần thắng quân Nguyên – Mông cả ba lần; khởi nghĩa Lam Sơn 1418 -
1428 do Lê Lợi, Nguyễn Trãi lãnh đạo thắng quân Minh với bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai “Bình Ngô đại cáo”; mùa xuân Kỷ Dậu (1789), Quang Trung – Nguyễn Huệ thắng quân Thanh
9 thế kỷ quốc gia dân tộc phong kiến là 9 thế kỷ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam biểu hiện ở việc khẳng định quyền độc lập, tự chủ, toàn vẹn lãnh thổ Giai đoạn này có hai bản Tuyên ngôn biểu hiện sâu sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Bản Tuyên ngôn thứ nhất là “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt khẳng định ý thức quốc gia dân tộc, niềm tự hào dân tộc:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”[4, 65]
Bản Tuyên ngôn thứ hai là “Bình Ngô đại cáo”, là đỉnh cao nhất của chủ nghĩa yêu nước được phát triển thành văn ra đời trong một cục diện đặc sắc: giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ lịch sử lớn, một là đánh đuổi quân Minh, hai là thủ tiêu tàn dư của chế độ điền trang phong kiến quý tộc,
Trang 27làm cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc manh tính chất nhân dân rộng lớn và sâu sắc “Bình Ngô đại cáo” không những thể hiện niềm tự hào về truyền thống lịch sử dân tộc mà còn khẳng định sức lực và trí tuệ của chính dân tộc mình:
“Như nước Đại Việt ta thuở trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”[4, 75]
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam giai đoạn này thể hiện rõ nét ở tư tưởng yêu nước là thương dân, lấy dân làm gốc, cả trong tập hợp lực lượng để chống ngoại xâm, cả trong hòa bình xây dựng, đó là kế “sâu rễ, bền gốc” Trước nạn ngoại xâm, cứu nước là giành lại độc lập cho đất nước Để tập hợp lực lượng chiến đấu, các chính quyền phong kiến đều biết phát huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân Đứng dưới ngọn cờ yêu nước, Nguyễn Trãi nói “dựng gậy làm cờ, tụ họp bốn phương manh lệ”, tụ họp cả những người lao khổ nhất trong xã hội lúc đó là những nô tỳ trong các điền trang thái ấp của quý tộc; Trần Hưng Đạo đã huy động được sức mạnh của nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi dưới sự lãnh đạo của các tù trưởng cùng quân dân nhà Trần chống quân Nguyên…
Sau khi thắng lợi, các triều đại đều có ý định thực hiện kế sâu rễ bền gốc là khoan thứ sức dân Trần Hưng Đạo nói với vua: “Khoan thứ sức dân, kế bền gốc, sâu rễ là thượng sách giữ nước” Nguyễn Trãi nói “Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức” Dưới triều đại Lê Thánh Tông đã
Trang 28tiến hành hàng loạt cải cách sâu rộng về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, trong đó nổi bật là xây dựng hệ thống pháp luật tiến bộ, khá hoàn chỉnh, đề cao việc cai trị bằng pháp luật, đề cao vai trò và địa vị của nhân dân
Ở giai đoạn này, chủ nghĩa yêu nước chẳng những biểu hiện ở các cuộc kháng chiến mà còn biểu hiện ở nhiều mặt trong xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Nhà nước và nhân dân với ý thức tự hào dân tộc sâu sắc đang vươn cao, đã hợp sức cùng nhau nhanh chóng khôi phục sản xuất, hàn gắn các vết thương chiến tranh Cùng nhau xây dựng lại xóm làng, đồn điền, nghề nghiệp, thuyền bè các nước láng giềng thường xuyên qua lại Giáo dục được mở rộng cho con em mọi tầng lớp nhân dân Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không bị chủ nghĩa trung quân mù quáng làm vẩn đục Điều đó được biểu hiện qua tinh thần quên mình, một lòng phục
vụ cho đất nước, cho nhân dân, điển hình là trường hợp Nguyễn Trãi đi về với Lam Sơn Lê Lợi, Ngô Thì Nhậm đi về với Tây Sơn Nguyễn Huệ Những chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta đối với đội quân xâm lược phương Bắc đã thổi một luồng sinh khí mới vào tư tưởng yêu nước, đã làm cho ý thức cộng đồng và lòng tự hào dân tộc có bước phát triển mới Ở thời kỳ này, giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, chủ nghĩa yêu nước phát triển rực rỡ Trên nền tảng của văn hóa Thăng Long và những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những tư tưởng và tình cảm yêu nước của dân tộc ta đến đây đã được quan niệm một cách sâu sắc, hoàn chỉnh và được khẳng định trong hành động Từ đây, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được thể hiện bởi một hệ thống các tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc khá hoàn chỉnh về sự tồn tại của đất nước, về độc lập dân tộc,
về lòng tự hào dân tộc và vai trò, vị trí xã hội của nhân dân, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người đối với đất nước
Trang 29Ba giai đoạn phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trên tạo nên một chủ nghĩa yêu nước truyền thống là sức mạnh tiềm tàng và thường trực trong lòng dân tộc Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước ở giai đoạn đầu thể hiện trong huyền thoại, truyền thuyết và mang tính chất anh hùng ca mộc mạc cho thấy ước mơ của dân tộc ta, quyết tâm bảo vệ quê hương, đất nước, cứu nước thương nòi; chủ nghĩa yêu nước giai đoạn hai thể hiện sức sống quật khởi của dân tộc chống sự đồng hóa của kẻ thù phương Bắc; và chủ nghĩa yêu nước giai đoạn ba phản ánh những chiến công hào hùng anh dũng của dân tộc gắn liền với nền độc lập tự chủ của đất nước nên đã có bước phát triển mới trong tư tưởng và tình cảm của người Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước truyền thống là một hệ thống những tư tưởng, tình cảm, quan điểm, quan niệm lấy đạo lý yêu nước làm điểm cốt yếu thể hiện
ở tinh thần, hành động sẵn sàng hy sinh vì dân, vì nước để bảo vệ Tổ quốc giống nòi
Chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã đóng một vai trò lịch sử cực kỳ to lớn, là động lực tinh thần chủ yếu của nhân dân ta trong quá trình lâu dài dựng nước và giữ nước, nó trở thành giá trị bền vững của dân tộc Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XIX thì chủ nghĩa yêu nước này đòi hỏi phải có những bước phát triển mới
Giai đoạn thứ tư từ 1858 đến nay Đây là thời kỳ chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam có những biến chuyển sâu sắc trong đường lối chống chủ nghĩa thực dân đế quốc, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và tiến lên chủ nghĩa xã hội
Sau khi nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, đất nước ta bị Pháp đô
hộ trong gần một thế kỷ Giai cấp phong kiến đã từ bỏ ngọn cờ yêu nước, giai cấp tư sản không đủ sức giương cao ngọn cờ này Song chủ nghĩa yêu
Trang 30nước tiếp tục phát huy sức mạnh thông qua các phong trào, các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh vũ trang của nhân dân giành độc lập
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam phát triển đến đỉnh cao là chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa anh hùng tập thể Từ những năm cuối thế kỷ XIX, đã có nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước đứng lên đánh đuổi giặc, nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổi lên quyết đấu tranh giành độc lập chủ quyền cho Tổ quốc Các sĩ phu yêu nước dưới ngọn cờ Cần Vương đã lãnh đạo nhân dân tiến hành nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp Điển hình là cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ hay khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo ở Bắc Trung Bộ, khởi nghĩa Bãi Sậy ở đồng bằng sông Hồng, khởi nghĩa Yên Thế ở vùng núi phía Bắc, thể hiện ý chí quật cường của dân tộc, nhưng do sự bất cập của hệ tư tưởng phong kiến nên cuối cùng đều bị thất bại Các phong trào yêu nước, các cuộc vận động cải cách nhằm mục tiêu cứu nước liên tiếp nổ ra, như phong trào Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục đầu thế kỷ XX do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo… thất bại do không có đường lối đúng đắn chỉ dẫn Vì thế, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với những truyền thống lịch sử bền vững tạm thời lắng xuống để chờ đợi một lý tưởng chính trị mới Dù rằng, lúc này lý tưởng chính trị tư sản dân quyền với tư tưởng giành lại độc lập tự chủ, lập chế độ quân chủ lập hiến hoặc chế độ cộng hòa xuất hiện ở các nước phương Tây, nhưng với nhân dân ta lý tưởng đó với những nội dung trừu tượng của nó không đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của quần chúng công nông Cùng với cơ sở xã hội cần thiết cho nó phát triển là giai cấp tư sản Việt Nam và tầng lớp trí thức gắn liền với giai cấp đó lại quá ít
Vì vậy, hệ tư tưởng chính trị tư sản dân quyền ấy đã không được nhân dân
ta đón nhận
Trang 31Chỉ đến khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành chứng kiến hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, nhân dân sống lầm than dưới ách thống trị hà khắc của thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam; nhận thức được sự bế tắc của phong trào yêu nước của các bậc tiền bối, Người đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước Từ một người yêu nước, từ chủ nghĩa yêu nước Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin tìm thấy ở lý luận cách mạng và khoa học đó con đường cứu nước đúng đắn Từ đó, Người truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam dẫn tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930)
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quy tụ, lãnh đạo phong trào công nhân và phong trào yêu nước đi đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/09/1945), khẳng định một dân tộc
đã được giải phóng khỏi gông cùm nô lệ của chủ nghĩa đế quốc thực dân trong gần một thế kỷ, và ách thống trị bóc lột của chế độ quân chủ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm Đồng thời, với cách dùng từ rất khéo léo “Tất
cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do ”[4, 87], Người đã khích dậy tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước kêu gọi đồng bào đứng lên
“mang hết sức người, sức của để giữ vững nền độc lập ấy”
Đảng lãnh đạo cách mạng luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho nên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những năm tháng đấu tranh chống Pháp cứu nước đã gắn với phạm trù chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa Vì trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ thì những nhiệm vụ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội chưa thể đặt ra, cho nên yếu tố xã hội chủ nghĩa trong chủ nghĩa yêu nước Việt Nam giai đoạn
Trang 32này chỉ thuộc lý tưởng, trong xu hướng và triển vọng phát triển của trào lưu yêu nước
Chủ nghĩa yêu nước kết hợp trong nội dung của nó trước hết là độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày, sau nữa là độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội đã trở thành động lực tinh thần chủ yếu của nhân dân ta trong thời
kỳ lịch sử kháng chiến chống Pháp Động lực đó tạo nên sức mạnh giúp nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Pháp giải phóng hoàn toàn một nửa nước, cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển trong một hoàn cảnh mới Đó là, thực hiện hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đất nước Lúc này, đối với người dân Việt Nam, tình yêu Tổ quốc chính là lòng căm thù giặc, là tình yêu đối với đồng bào ở miền Nam đang ra sức quyết tâm vượt gian khổ trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, bảo vệ đất nước; đồng thời là tình yêu đối với chế độ xã hội chủ nghĩa đang ra đời trên miền Bắc đất nước Điều đó cho dân tộc ta một sức mạnh tinh thần to lớn đủ để đánh bại đế quốc Mỹ mạnh về cả kinh tế lẫn quân sự, giành được độc lập (1975) và cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Giai đoạn này, chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa phản ánh một tồn tại khách quan đang hiện hữu
và là một xu hướng phát triển tinh thần của xã hội Việt Nam trên con đường xây dựng đất nước
Hơn nữa, trong thời đại Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước chân chính
đã hòa quyện với chủ nghĩa quốc tế trong sáng Dân tộc Việt Nam chiến đấu không chỉ vì nền độc lập của dân tộc mình mà còn vì sự nghiệp giải phóng nhân loại khỏi áp bức, bóc lột bất công, vì hòa bình và phẩm giá của
cả nhân loại Gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đề cao vấn
đề đoàn kết quốc tế chính là sự thể hiện việc kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, lợi ích dân tộc và lợi ích toàn nhân
Trang 33loại tiến bộ đang đấu tranh để giải phóng khỏi ách áp bức, bất công trên thế giới Vấn đề đoàn kết quốc tế cũng đồng thời là một động lực quan trọng của cách mạng Việt Nam Nhờ có chính sách đoàn kết quốc tế đúng đắn, lại có sách lược khôn khéo nên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nước ta đã giành được sự đồng tình ủng hộ mạnh mẽ cả về tinh thần và vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước yêu chuộng hòa bình, các tổ chức quốc tế Chủ nghĩa yêu nước hòa quyện với chủ nghĩa quốc tế là một yếu tố quan trọng góp phần đưa sự nghiệp vĩ đại của dân tộc ta đến thắng lợi
Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước theo mô hình tập trung quan liêu bao cấp, chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa đã tạo ra một trạng thái tinh thần mới của dân tộc, một khí thế hào hùng cả nước tiến quân vào mặt trận xây dựng đất nước, xóa đói nghèo, lạc hậu Tuy nhiên,
do đi trái với những quy luật khách quan của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, do chủ quan duy ý chí, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta đã trở nên trì trệ và rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội giữa những năm 80 Trước tình hình đó, tại Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng đã khẳng định cần phải đổi mới xây dựng đất nước, lúc này chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa bước vào một giai đoạn phát triển mới phản ánh những thay đổi trong tư duy lý luận và thực tiễn của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước
đã được bồi dưỡng nâng cao và khai thác một cách có ý thức, sáng tạo, được nhân lên gấp bội trở thành một sức mạnh vật chất to lớn Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa xuất hiện như một tất yếu hợp quy luật phát triển của xã hội Việt Nam, là sự kế thừa những tinh hoa của chủ nghĩa yêu nước truyền thống lên một tầm cao mới trên cơ sở nền tảng của chủ nghĩa
Trang 34Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là chủ nghĩa yêu nước đã phát triển cao với chất lượng mới hướng vào thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa kết hợp hài hòa với chủ nghĩa quốc tế vô sản
Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng chính là chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Nếu nước nhà được độc lập
mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[46, 56] Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa chứa đựng cả lòng yêu nước và lòng yêu chủ nghĩa xã hội, với một lập trường yêu nước triệt để, coi nước với dân là một và yêu nước thì phải yêu chủ nghĩa xã hội Như vậy, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là ý thức, tinh thần,
mà còn là khí phách dân tộc, là hành động đoàn kết, bất khuất, kiên cường, quật khởi trong hành động bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của nhân dân ta trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã
có mục tiêu, có lý tưởng xã hội và biện pháp đấu tranh nhưng chủ yếu là lòng nhiệt tình yêu nước nồng nàn biểu hiện ở những hành động anh hùng trong sự nghiệp cứu nước Chủ nghĩa yêu nước truyền thống chưa trở thành
lý luận yêu nước có hệ thống chặt chẽ Chỉ đến thời đại Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa được kế thừa, phát triển tình cảm và tâm hồn yêu nước mãnh liệt đến những đỉnh cao mới thì đồng thời đã hình thành và phát triển một hệ thống những quan điểm về con đường yêu nước,
về mục tiêu xã hội, về chiến lược và sách lược của con đường cứu nước, về thủ đoạn và biện pháp đấu tranh Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa trở thành một lý luận yêu nước với tính chất là một bộ phận của lý luận cách mạng Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa đã có đầy đủ yếu tố
để trở thành một chủ nghĩa yêu nước với ý nghĩa hoàn chỉnh của khái niệm
Trang 35này, để trở thành một trào lưu lý luận, tư tưởng và tình cảm thống nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới
1.2 GIÁ TRỊ VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐƯỢC RÚT RA TỪ CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VIỆT NAM
1.2.1 Giá trị của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thể hiện nhiều giá trị trong công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và trong công cuộc xây dựng đất nước, trong đó nổi lên những giá trị cơ bản là:
Một là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là giá trị đứng đầu trong thang
bậc giá trị tinh thần của dân tộc ta
Sự xuất hiện của con người được đánh dấu bằng lao động, bằng quan
hệ xã hội, bằng ngôn ngữ, bằng ý thức,v.v Theo lôgic đó thì những giá trị đầu tiên của con người phải là cần cù, tình thương, lẽ phải nhưng trong hoàn cảnh Việt Nam, thì buổi đầu dựng nước đã là buổi đầu giữ nước Chống xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do, đó là điều kiện đầu tiên để dân tộc tồn tại và phát triển Yêu nước vì thế trở thành tình cảm thiêng liêng và điều kiện thiết yếu để sống còn
Nghị quyết 5 (khóa VIII) của Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc “Xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc” đã nêu ra năm giá trị tinh thần bền vững, được vun đắp trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc là: (1) Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc; (2) Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng (gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc); (3) Lòng nhân ái, khoan dung; trọng nghĩa tình, đạo lý; (4) Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; (5) Sự tinh
tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống[24, 23] Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam đã tạo thành hệ thống gồm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; lòng nhân ái, khoan dung; lao động cần cù thông
Trang 36minh, sáng tạo,… tạo nên thang giá trị tinh thần của dân tộc Trong đó, lòng yêu nước đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được xem
là giá trị đứng đầu Giá trị ấy thể hiện tập trung ở mệnh đề mà Hồ Chí Minh đã tổng kết, trở thành chân lý của dân tộc và thời đại là "Không có gì
quý hơn độc lập tự do"
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là giá trị đứng đầu chi phối đời sống
tinh thần của dân tộc ta Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có sức sống mãnh liệt định hướng và huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiến hành chiến tranh nhân dân đánh bại kẻ thù xâm lược Do đó, trong suốt hành trình lịch sử của mình, dù dân tộc Việt Nam đã liên tục trải qua những cuộc chiến tranh ác liệt và trường kỳ gian khổ với các thế lực xâm lược hung bạo, hiếu chiến, có tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần, nhưng dân tộc ta không chịu khuất phục, không để bị đồng hóa Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được lưu truyền và phát triển qua các thế hệ, là dòng sữa nuôi dưỡng tâm hồn và bản lĩnh của người Việt Nam, là động lực tinh thần chủ yếu tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc để trường tồn và phát triển Chủ nghĩa yêu nước và hệ quả của nó là chủ nghĩa anh hùng đứng hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần mà nhân dân ta đặt ra Như trong “Bình Ngô đại cáo” có khái niệm “nhân nghĩa” đã chứa đựng nội dung cứu nước, cứu dân, điều đó khác với quân xâm lược phương Bắc, chữ
“trung” trong nhân dân ta không đòi hỏi nối lại dòng vua đã bị diệt hay chết theo vua như tư tưởng ngu trung mà trái lại, đó là trung với nước hiếu với dân
Lịch sử đã khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc và sức mạnh to lớn của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, là giá trị đứng đầu thang bậc giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, có ý nghĩa quyết định trong sức mạnh của dân tộc ta trong công cuộc dựng nước và giữ nước
Trang 37Hai là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là hệ quy chiếu cho hành động
của người Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia hình thành từ rất sớm trong lịch sử và đã hình thành một triết lý nhân sinh được bồi đắp từ thực tiễn đấu tranh kiên cường, sáng tạo để chống thiên tai và nạn ngoại xâm, trong đó chủ nghĩa yêu nước, ý thức cộng đồng được lấy làm hệ quy chiếu để xử lý những vấn
đề hệ trọng nảy sinh trong cuộc sống và nhất là những vấn đề liên quan đến quốc gia
Chủ nghĩa yêu nước trở thành hệ quy chiếu để xác định tốt, xấu, đúng, sai, phải, trái không chỉ cho một người mà cho cả các cá nhân cộng đồng
đó Nghĩa là cái gì có lợi cho nước cho dân thì phải, tốt và nên; còn những việc không có lợi cho nước cho dân thì không làm Cho đến phong tục tập quán cũng thường xác định không phải bằng đẹp, xấu trừu tượng mà bằng tiêu chuẩn yêu nước Dưới thời đô hộ Hán Đường, nhân dân ta không để răng trắng mà nhuộm răng đen, bởi vì răng đen khi ấy chẳng những được xem là đẹp mà còn được xem là nên, để không bị đồng hóa và chúng ta giữ gìn được bản sắc dân tộc Hay, từ sau chiến tranh thế giới hai, trong khoảng thời gian ngắn chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhanh chóng đi vào nhân dân ta vì học thuyết Mác - Lênin được đồng bào ta đánh giá là ánh sáng, là sức mạnh cứu nước, là “kim chỉ nam” cho hành động của mình
Do đó, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là đạo lý của dân tộc Việt Nam
có sức bền vững, trở thành cội nguồn của sức sống dân tộc
Ba là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một cơ sở quan trọng để tìm
hiểu lịch sử Việt Nam
Những quy luật cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử giúp chúng ta nghiên cứu, tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của đất nước Trong
đó, chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam
Trang 38từ thời cổ đại đến hiện đại Thời cổ đại, tinh thần dân tộc nảy sinh từ sự thống nhất hòa bình mười lăm bộ anh em từ cuộc đấu tranh chung chống ngoại xâm, chống thiên tai trong thời gian lịch sử gần 2000 năm, hình thành nên dân tộc Việt Nam Sau đó, cũng chính chủ nghĩa yêu nước đã đưa Hồ Chí Minh theo con đường Lênin, con đường Quốc tế Cộng sản, con đường Cách mạng Tháng Mười Nga và Người đã kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội khoa học, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc kết hợp với ngọn cờ xã hội chủ nghĩa làm nên thắng lợi cho cách mạng Việt Nam, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội Dân tộc ta tiếp tục vượt qua sự khủng hoảng kinh tế và sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, thu được những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra thế và lực mới để phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã giúp nhân dân ta giữ vững được chủ quyền quốc gia, bảo vệ trọn vẹn lãnh thổ và hiện nay đang xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh
Những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới ở nước ta càng củng cố niềm tin, góp phần làm tăng thêm sức mạnh đấu tranh của những người cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước Ngược lại, mỗi thắng lợi của cách mạng trên thế giới đều thúc đẩy cách mạng Việt Nam vững bước đi lên Do đó, Đảng ta luôn thực hiện nghĩa vụ quốc tế phù hợp với khả năng thực tế của mình và hoàn cảnh quốc tế cụ thể cho phép Ngay trong thời kỳ bị thực dân đô hộ đã có nhiều đảng viên và quần chúng lao động Việt Nam hy sinh trong cuộc đấu tranh để bảo vệ Liên bang Xô – viết, bảo vệ căn cứ địa cách mạng thế giới Trong những năm kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, khi lợi ích cách mạng các nước bạn Đông
Trang 39Dương cần, nhân dân ta cho con em ưu tú của mình sang chiến đấu trên đất bạn để chống kẻ thù chung và các chiến sĩ tình nguyện đã chiến đấu anh dũng và bền bỉ trong những điều kiện vô cùng gian khổ, đã coi sự nghiệp cách mạng của nhân dân bạn như sự nghiệp của chính mình, gắn bó với nhân dân bạn như nhân dân mình
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những năm kháng chiến vừa qua
là đỉnh cao của tinh thần yêu nước Việt Nam, đồng thời là đỉnh cao của chủ nghĩa quốc tế vô sản Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ có giá trị lớn lao đối với cách mạng Việt Nam mà còn góp phần bảo vệ hòa bình, góp phần vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, vì quyền bình đẳng giữa các dân tộc trên thế giới
Chủ nghĩa yêu nước là sự phát triển ở trình độ cao của tinh thần yêu nước, là sự kết hợp giữa lý trí và tình cảm cách mạng, là tinh thần yêu nước
đã đạt đến trình độ tự giác và bền vững cao qua thăng trầm của lịch sử Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sản phẩm tinh thần cao quý nhất của dân tộc Việt Nam, là giá trị đứng đầu bậc thang giá trị tinh thần của dân tộc, là hệ quy chiếu cho hành động của người Việt Nam và là một cơ sở quan trọng
để tìm hiểu lịch sử nước ta
1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm được rút ra từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Mặc dù chủ nghĩa yêu nước Việt Nam diễn ra ở bốn giai đoạn lịch sử phát triển trong những bối cảnh, điều kiện khác nhau nhưng tổng kết lại, trong giai đoạn hiện nay chúng ta có thể rút ra được những bài học kinh
nghiệm sau:
Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc là khát vọng mãnh liệt của tất cả các nước thuộc địa Nhưng muốn giành được độc lập, được sống trong hòa bình trên toàn vẹn
Trang 40lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, mọi người được ấm no, tự do, hạnh phúc thì phải giành độc lập theo quỹ đạo của cách mạng vô sản
Trong lịch sử dân tộc ta, kỷ nguyên độc lập dân tộc mở ra từ năm 938 với chiến thắng Bạch Đằng, chấm dứt hàng nghìn năm bị mất nước, và từ
đó dân tộc ta đã liên tục đấu tranh chống ngoại xâm suốt nhiều thế kỷ để giữ độc lập dân tộc Song nền độc lập dân tộc chỉ có được khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm được con đường cứu nước đúng đắn và xác định hướng đi cho cách mạng Việt Nam là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Đây chính là mục tiêu lý tưởng của Đảng ta, dân tộc ta, là đặc điểm của thời đại Hồ Chí Minh
Do đó, bài học kinh nghiệm được rút ra từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trước hết là nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nhờ nắm vững ngọn cờ đó mà Đảng ta đoàn kết và đã dẫn dắt toàn dân làm nên kỳ tích trong tám thập kỷ qua Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn
là ngọn cờ chiến đấu của các thế hệ Việt Nam yêu nước Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ
sở để bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc Độc lập dân tộc mà chúng ta cần có là độc lập dân tộc của một nước xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc đi liền với ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân
Hai là, kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế
trong sáng của giai cấp công nhân
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân Đảng ta đã kết hợp được sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại giành thắng lợi vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, góp phần tích cực vào cuộc