1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chữ hiếu trong nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với văn hóa gia đình việt nam hiện nay

73 283 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 818,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm hiếu đạo của con cái cũng thay đổi không ít, thậm chí một số bạn trẻ có quan niệm chỉ cần chu cấp tiền cho ba mẹ lúc về già là đủ, còn việc chăm sóc, trò chuyện với cha mẹ là v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ HẢI NHƯ

CHỮ HIẾU TRONG NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA

NÓ ĐỐI VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN

NAY

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN QUỐC KHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CHỮ HIẾU TRONG NHO GIÁO TRUNG HOA 5

1.1 HIẾU – PHẠM TRÙ LUÂN LÝ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRUNG HOA 5

1.1.1 Nguồn gốc hiếu đạo trong tư tưởng Nho giáo 5

1.1.2 Nội dung cơ bản của “hiếu” trong Nho giáo 8

1.2 QUAN NIỆM HIẾU CỦA CÁC NHÀ NHO TIÊU BIỂU 11

1.2.1 Quan niệm của Khổng Tử 11

1.2.2 Quan niệm của Tăng Tử 16

1.2.3 Quan niệm của Mạnh Tử 19

1.2.4 uan niệm của Tuân Tử 21

CHƯƠNG 2 VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA HIẾU ĐẠO NHO GIÁO 24

2.1.TRUYỀN THỐNG HIẾU ĐẠO CỦA NGƯỜI VIỆT NAM QUA KHO TÀNG VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ PHONG TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN TRƯỚC KHI NHO GIÁO DU NHẬP 24

2.2.VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP BIẾN VĂN HÓA HIẾU ĐẠO NHO GIÁO TRUNG HOA 36

2.2.1 Khái quát sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam 36

2.2.2 Hiếu đạo Nho giáo và ảnh hưởng đối với văn hóa gia đình Việt Nam 38

2.3 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM KẾ THỪA, PHÁT HUY NHÂN TỐ TÍCH CỰC, HẠN CHẾ MẶT TIÊU CỰC CỦA TƯ TƯỞNG HIẾU 53

2.3.1 Vài nét về thực trạng đạo đức gia đình nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước 53

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa của con người bắt đầu từ văn hóa gia đình, mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc, thời đại Gia đình chính là môi trường giáo dục đầu tiên và quan trọng đối với việc hình thành, phát triển nhân cách cá nhân Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay, nhiều thách thức mới đang đặt ra cho vấn đề luân lý gia đình Alvin Toffler – nhà

tương lai học người Mỹ, trong tác phẩm Cú sốc tương lai đã viết: “gia đình vốn là bộ

giảm sốc khổng lồ của xã hội, điểm ổn định nhất trong một môi trường luôn thay đổi,

đã bị cuộc cách mạng siêu công nghiệp gây cho nó những cú sốc riêng Sự đổ vỡ của gia đình, tình trạng ly thân, ly dị và tội phạm gia tăng gây đau khổ cho hàng triệu người trong các gia đình tiêu dùng phương Tây” [101, tr.80]và làn sóng ấy đã bắt đầu tràn sang phương Đông, nơi gia đình vốn được xem trọng và được củng cố bằng một

hệ thống đạo đức luân lý chặt chẽ - học thuyết Nho giáo Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề gia đình – tế bào của xã hội Năm 1994 Liên Hiệp

Quốc đã chính thức chọn là năm Quốc tế gia đình và phát động trên toàn thế giới

nhiều chương trình hành động mang tầm cỡ quốc tế, quốc gia về gia đình Với Việt Nam, gia đình từ xưa đến nay vẫn có một ý nghĩa hết sức hệ trọng, vì vậy năm 2001

chúng ta đã chọn ngày 28 tháng 6 là Ngày gia đình Việt Nam với nhiều hoạt động cụ

thể nhằm cổ vũ các gia đình và động viên sự quan tâm của cộng đồng xã hội, các tổ chức quần chúng trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

Nằm trong “vành đai văn hóa chữ Hán” nên Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi học thuyết Nho giáo khá sâu sắc, đây là học thuyết đạo đức - chính trị - xã hội chứa đựng nhiều yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen, nhưng nếu biết gạn lọc những yếu tố tích cực, phù hợp sẽ phục vụ tốt cho công tác giáo dục đạo đức, đặc biệt là giáo dục gia đình hiện nay vì bản thân Nho giáo vốn coi trọng gia đình, xem gia đình như “nước nhỏ” cần được củng cố để xây dựng “nước lớn” vững mạnh hơn GS.Vũ Khiêu đã từng nhận xét: “Nếu như chúng ta không đặt vấn đề nghiên cứu Nho giáo một cách nghiêm túc thì sẽ buông trôi cho sự phục hồi những nhân tố tiêu cực của nó đồng thời cũng sẽ lãng phí những nhân tố tích cực mà nó còn có thể đóng góp vào sự nghiệp của chúng

ta hôm nay.” [41, tr.196] Hơn nữa, những thay đổi nhanh chóng của kinh tế - xã hội, của khoa học - kỹ thuật, đã đặt gia đình Việt Nam vào những thách thức khá lớn, gia đình đã không còn như xưa, cái nếp nhà truyền thống có trên có dưới, có thứ bậc, cha

Trang 4

nói thì con phải nghe, mẹ dạy thì con phải nhớ… đã thay đổi Ngay hình ảnh ông bà, cha mẹ được xem là tấm gương sáng để con cháu noi theo, học hỏi kinh nghiệm… giờ đang chịu tác động, thử thách trước những tri thức mới của xã hội hiện đại Quan niệm hiếu đạo của con cái cũng thay đổi không ít, thậm chí một số bạn trẻ có quan niệm chỉ cần chu cấp tiền cho ba mẹ lúc về già là đủ, còn việc chăm sóc, trò chuyện với cha mẹ

là việc của người giúp việc, đó là chưa kể không ít trường hợp đau lòng con cái đánh đập cha mẹ, bỏ mặc cha mẹ trong viện dưỡng lão… Tất cả những điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải nhìn nhận, đánh giá lại và bổ khuyết một số chuẩn mực đạo đức gia đình cho phù hợp với bối cảnh xã hội mới, trong đó có vấn đề hiếu đạo – một giá trị đạo đức nền tảng của văn hóa gia đình, đó là lý do tác giả chọn vấn đề “Chữhiếu trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với văn hóa gia đìnhViệt Nam hiện nay” làm đề tài viết luận của mình

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về vai trò, vị trí và ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa gia đình nói riêng là một trong những nội dung quan trọng của chương trình nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam, trong đó có thể kể đến công trình

nghiên cứu: “Bàn về đạo Nho” của tác giả Nguyễn Khắc Viện, “Về gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng của Nho giáo” của tác giả Trần Đình Hượu, “Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam” của giáo sư Phan Đại Doãn, “Đến hiện đại từ truyền thống” của giáo sư Trần Đình Hượu, “Đạo Nho và văn hóa phương Đông” của phó giáo sư Hà Thúc Minh, “Nho giáo xưa và nay” của nhà nghiên cứu Quang Đạm…

Mặc dù khai thác ở các khía cạnh khác nhau, song nhìn chung, các công trình này chủ yếu bàn về những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực của Nho giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam, do đó cần phải khai thác, kế thừa những giá trị hợp lý của đạo đức Nho giáo nhằm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người trong xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay

Từ năm 1995, hàng loạt công trình nghiên cứu dưới sự chủ biên của giáo sư Vũ

Khiêu đã được xuất bản Chẳng hạn các cuốn sách “Nho giáo và đạo đức”, “Nho giáo

và gia đình”, “Đức trị và pháp trị trong Nho giáo”,“Nho giáo và phát triển ở Việt Nam”… đã đề cập đến nội dung, vai trò, vị trí của đạo đức Nho giáo đối với những

lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội

Trang 5

Một số tạp chí nghiên cứu gần đây cũng xuất hiện nhiều bài viết xung quanh vấn đề đạo đức Nho giáo và tác động của nó đối với văn hóa gia đình Việt Nam như:

“Đạo đức Nho giáo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay” của Lê Thị Thủy (tạp chí nghiên cứu lý luận số 12 -2000), “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và những biến động trong lĩnh vực đạo đức” của GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn (tạp chí Triết học số 9 - 2001), “Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường” của TS Trần Nguyên Việt (tạp chí Triết học số 5 - 2002), “Từ đạo hiếu truyền thống nghĩ về đạo hiếu ngày nay” của Nguyễn Thị Thọ (tạp chí Triết học

số 6 - 2007) Trong những công trình, luận án, bài viết trên nhiều vấn đề quan trọng của Nho giáo đã được đem ra bàn luận như: vì sao Nho giáo lại có sức sống dai dẳng hàng nghìn năm ở các nước phương Đông? Nho giáo là học thuyết chính trị hay là học

thuyết đạo đức nhân luân về trung - hiếu - lễ - nghĩa và ảnh hưởng của nó đối với đời

sống đạo đức gia đình? Mặc dù vậy, việc nghiên cứu tư tưởng hiếu trong Nho giáo

và ảnh hưởng của nó đối với văn hóa gia đình Việt Nam thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách riêng biệt, hệ thống

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Nghiên cứu nội dung tư tưởng hiếu trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với văn hóa gia đình Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị những giải pháp cơ bản nhằm kế thừa những giá trị và loại bỏ mặt hạn chế của tư tưởng hiếu trong Nho giáo nhằm xây dựng văn hóa gia đình hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất: trình bày nội dung cơ bản về hiếu trong tư tưởng Nho giáo

Thứ hai: trình bày đặc trưng hiếu - kính của gia đình truyền thống Việt Nam và

quá trình tiếp biến văn hóa hiếu đạo Nho giáo

Thứ ba: đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực của hiếu đạo Nho giáo trong công tác xây dựng văn hóa gia đình trên cơ sở phân tích những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong gia đình hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trang 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Tư tưởng hiếu trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Nho giáo là một học thuyết chính trị đạo đức có nội dung rất phong phú, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống con người Trong phạm vi đề tài đã chọn, tác giả chỉ nghiên cứu nội dung tư tưởng hiếu của các nhà Nho tiêu biểu; tư tưởng hiếu trong Nho giáo tại Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với văn hóa gia đình, đồng thời so sánh đối chiếu với hiếu đạo truyền thống của dân tộc cùng với quan niệm hiếu trong Phật giáo tại Việt Nam

để thấy rõ nét đặc sắc của hiếu đạo Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Để thực hiện những yêu cầu trên, luận văn dựa trên quan điểm triết học và đạo đức học Mác – Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời có kế thừa những kết quả của một số công trình nghiên cứu

đã được công bố có liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một số phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, lịch sử, lôgích

6 Đóng góp mới của luận văn và ý nghĩa của luận văn

Nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung cơ bản tư tưởng hiếu của các nhà Nho tiêu biểu, phân tích sự biến đổi của chữ hiếu, của văn hóa gia đình Việt Nam dưới ảnh hưởng của Nho giáo Công trình này có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy Triết học

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm hai chương, 5 tiết

Trang 7

CHƯƠNG 1 CHỮ HIẾU TRONG NHO GIÁO TRUNG HOA

1.1 HIẾU – PHẠM TRÙ LUÂN LÝ CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRUNG HOA

1.1.1 Nguồn gốc hiếu đạo trong tư tưởng Nho giáo

Hiếu trong nền văn hóa Trung Hoa có ý nghĩa văn hóa tổng hợp rộng lớn, hiếu không những là quy tắc về giá trị luân lý giữa cha mẹ và con cái, mà còn bao hàm giá trị đa văn hóa về tôn giáo, triết học, chính trị, pháp luật, giáo dục và nghệ thuật Có thể

nói rằng đạo hiếu là một trong số những nội dung văn hóa đặc sắc nổi tiếng của Trung

Hoa, tạo nên điểm khác biệt với văn minh cổ Hy Lạp, cổ La Mã, cổ Ấn Độ

Xã hội Trung Hoa thời thượng cổ là một xã hội cai trị theo chế độ gia tộc có tôn

ti, trật tự chặt chẽ: con yêu kính cha, dân tôn kính vua, lấy đạo hiếu làm trọng vì họ

quan niệm “vạn vật bản hồ thiên, nhân bản hồ tổ” (muôn vật gốc ở trời, người gốc ở

tổ) [37, tr.41] do đó đạo hiếu là một vấn đề văn hóa trọng tâm của văn minh Trung Hoa, điều này được thể hiện rõ trong tác phẩm Hiếu kinh – tác phẩm tiêu biểu nhất,

súc tích nhất, bao quát tất cả văn hóa hiếu đạo Trung Hoa

Xoay quanh vấn đề nguồn gốc hiếu đạo, có nhiều ý kiến khác nhau, song tựu

trung có những quan điểm nổi bật như: quan điểm cho rằng quan niệm về hiếu với tính chất là luân lý gia đình xuất hiện rất sớm, thể hiện trong nội dung các bản Kim Văn:

“Thiên tử anh minh cầu hiếu ở thần linh”

“Dùng lễ để tỏ hiếu với người xưa”

“Lấy việc truyền ngôi để tỏ hiếu với người xưa”

“Dùng lễ để tỏ hiếu với tổ tiên hoàng tộc” [86, tr.249]

tuy nhiên quan điểm này bị nhiều người phản đối vì nếu xét kỹ về lịch sử, chúng ta thấy quan niệm về hiếu trong Kim Văn chưa thể mang giá trị về luân lý gia đình rõ rệt, bởi dưới thời Ân, người Ân vẫn ““tôn thần, bắt buộc dân phụng thờ thần, tiên, quỷ và hậu lễ, phạt trước thưởng sau”, xét thái độ của người sống đối với tổ tiên thì quan niệm hiếu từ của người Ân hầu như rất mông lung, nhạt nhẽo, việc tế tự của con cái chỉ nhằm tẩy trừ họa hoạn” [88, tr.16] vì người thời Ân quan niệm tổ tiên là trung gian giữa thượng đế và người đời, có thể tiếp xúc với thượng đế, có thể ban phúc hoặc giáng họa cho nên việc tang lễ, thờ cúng tổ tiên phải được xem trọng, đó là trung tâm của sinh hoạt tôn giáo,

hay nói chính xác hơn hiếu thời này mang đậm ý nghĩa tôn giáo

Trang 8

Quan điểm khác cho rằng hiếu xuất hiện từ thời nhà Chu, kế thừa tôn giáo thờ cúng tổ tiên của người Ân, nhưng có sự phát triển hơn, người thời Chu đã cụ thể hóa thần

tổ tiên bằng cách “thần thánh hóa” Văn Vương, xem Văn Vương là đại diện cho nhân dân trên trời, làm cho Văn Vương từ chỗ là đại diện của gia tộc trở thành đối tượng kính hiếu chung, là trung tâm đoàn kết của toàn dân tộc, và là biểu tượng cao nhất của sự đoàn kết

về chính trị Như vậy, đến thời Chu hàm nghĩa luân lý của hiếu đạo vẫn chưa rõ ràng, vẫn mang màu sắc tôn giáo, cho đến thời Khổng Tử, hiếu đạo mới chuyển hóa từ ý nghĩa tôn giáo thành ý nghĩa luân lý, từ đạo đức tôn giáo thành đạo đức gia tộc, hơn nữa đây còn là chuẩn mực quan trọng nhất trong việc đánh giá nhân cách cá nhân của xã hội Trung Quốc,

là nhân tố hình thành nên đức nhân của người quân tử, một mẫu người lý tưởng trong Nho

giáo và trở thành một trong những chuẩn mực để “tu thân” nhằm “tề gia”, “trị quốc” và

“bình thiên hạ” xây dựng nền thống trị trật tự xã hội sau này

Tóm lại, vấn đề nguồn gốc của hiếu đạo tuy có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng rõ ràng tư tưởng hiếu, biểu hiện của hành vi hiếu thì đã xuất hiện ngay từ

khi có xã hội loài người, có các thế hệ nối tiếp nhau, cách cư xử giữa các thế hệ trước và sau là biểu hiện của hiếu, và mối quan hệ này không bất biến mà ngày càng được hoàn thiện hơn, nhưng cốt lõi vẫn là sự biết ơn, lòng kính trọng thương yêu, vâng lời và chăm sóc cha mẹ khi con cái đã trưởng thành Ý nghĩa lúc đầu của hiếu là phụng dưỡng, kính trọng cha mẹ và tôn thờ tổ tiên; sinh con

đẻ cái, kéo dài đời sống; bảo vệ và duy trì đẳng cấp, đảm bảo sự hài hòa, ổn định trong gia đình để dòng họ được mãi duy trì

Khái niệm “đạo hiếu”

Xung quanh khái niệm đạo hiếu cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau Nếu căn cứ vào ngôn từ mà giải thích thì hiếu theo kiểu viết cổ văn là Hán tự gồm hai chữ ghép lại: một nữa chữ lão (có nghĩa là già) và chữ tử (nghĩa là con), chữ hiếu giống

như người con (chữ tử) nắm tay dẫn ông lão (chữ lão) đi, hình ảnh dẫn ông lão đi, là

biểu thị chữ hiếu, do đó, hiếu được coi là việc con cái thương yêu và phục vụ tốt cha

mẹ mình

Trong Hiếu Kinh - tác phẩm chính thống của Nho giáo, hiếu được định nghĩa là

“gốc của đức, là nguồn sinh ra giáo hóa” (phù hiếu đức chi bản dã, giáo hóa chi sở do sinh dã)

Trang 9

Theo bộ Từ điển Bách khoa Nho, Phật, Đạo - Lão Tử: “Hiếu là thuật ngữ Nho giáo Khéo thờ cha mẹ thì gọi là hiếu Hiếu là phạm trù luân lý cơ bản nhất của Nho gia Nho gia cho rằng Hiếu là gốc của nhân luân, là nguồn của đạo đức Về nội dung Hiếu, Nho gia cho rằng hiếu bao gồm từ việc có kế thừa được di chí và sự nghiệp của

tổ tiên hay không, tình cảm hiếu kính với cha mẹ có xuất phát từ nội tâm hay không, và

sự phụng dưỡng, ma chay, tế tự đối với cha mẹ có giữ nghiêm lễ chế hay không” [55,

tr.504]

Theo bộ Bách khoa văn sử Trung Quốc, phần tư tưởng do tác giả Lâm Đại Hùng chủ biên: “quan niệm hiếu đễ trong văn hóa Trung Quốc… là cơ sở và xuất phát điểm cho tất cả nghĩa vụ đạo đức, đồng thời trên thực tế hiếu còn là những chuẩn tắc, quy định các hành vi ứng xử không thể đi ngược lại trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người” [36, tr.734 - 735]

Trong bộ Đại từ điển tiếng Việt và Hán – Việt từ điển hiếu được định nghĩa: đó là lòng kính yêu và biết ơn cha mẹ [99, tr.805], [1, tr.361] Còn tác giả Thiều Chửu, trong

Từ điển Hán – Việt nêu định nghĩa Hiếu là từ đi liền với thảo (gọi chung là hiếu thảo) chỉ việc con cái thờ cha mẹ hết lòng [12, tr.1]

Theo quan điểm của Phan Kế Bính - một trong những học giả Việt Nam có

nhiều tâm huyết trong nghiên cứu văn hóa Việt, hiếu được khái quát là: “biết kính trọng thương mến cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ” [3, tr.26]

đây là lửa thiêng đã hun đúc tinh thần gia tộc và được xem là đạo đức hàng đầu của con người - “hiếu đứng đầu trăm nết”

Trong Từ điển Từ Hán Việt của Phan Văn Các thì hiếu đi liền với thuận nghĩa

là không chỉ giỏi phụng sự cha mẹ, ngoan ngoãn, lễ phép mà còn biết hòa thuận với anh chị em [5, tr.188]

Tổng kết lại các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu, trước hết đạo là đường

đi, là lý lẽ, học thuyết ai cũng phải noi đấy mà theo [5, tr.138] và đạo hiếu được xem là

tình cảm cao quý, nhân bản của con người dành cho đấng sinh thành, trở thành giá trị đạo đức trung tâm của luân lý gia đình Xuất phát từ lòng kính yêu, biết ơn công dưỡng dục sinh thành đối với cha mẹ một cách tự nhiên mà mỗi người tự giác có trách nhiệm, nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ, lo tròn việc tang ma, tế tự khi cha mẹ qua đời cũng như yêu thương hòa thuận với anh chị em trong nhà Không dừng lại ở phạm vi gia đình, hiếu được mở rộng ra quan hệ xã hội, đó là cách ứng xử “trên thuận

Trang 10

dưới hòa”, “kính trên nhường dưới” đối với mọi người trong xã hội bằng những nguyên tắc hết sức cụ thể, tạo nên sự bình ổn xã hội

1.1.2 Nội dung cơ bản của “hiếu” trong Nho giáo

Trong khi khuynh hướng đạo đức tôn giáo lý tưởng của phương Tây được xây dựng trên cơ sở thế giới bên này với thế giới bên kia, tách rời linh hồn và thể xác thì với người Trung Quốc khuynh hướng đạo đức lý tưởng là “thiên nhân hợp nhất” (trời

và người là một, vật và ta vốn thuộc một khối), họ chú ý xây dựng cuộc sống hiện tại,

đề cao việc cá nhân tự mình tu dưỡng đạo đức, đạt đến nhân cách mẫu mực, đem tài năng cống hiến và xây dựng xã hội Đại đồng hơn là việc theo đuổi hạnh phúc kiếp sau

Do đó, Nho giáo đã quy giá trị nhân sinh thành giá trị xã hội, cho rằng con người phải

có trách nhiệm nhất định đối với gia đình, xã hội, đất nước và cả thế giới: đó là lý tưởng cuộc đời và lẽ sống của mỗi người, Nho giáo chú trọng đến giá trị đạo đức nền

tảng là “hiếu thân” (hiếu với cha mẹ), từ đó suy ra những chuẩn mực đạo đức khác, trong đó có “trung quân” (trung với vua, với nước) Nho giáo chủ trương “tu thân, tề

gia, trị quốc, bình thiên hạ”, tức là tu dưỡng đạo đức cá nhân nhằm xây dựng nề nếp gia đình, phục vụ sự phát triển chung của xã hội, một cá nhân trong nhà không hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội không thể trung với vua; trung và hiếu ngang nhau,

vì đối tượng phục vụ tuy khác nhau nhưng nội dung giống nhau, đều tuyệt đối phục tùng gia trưởng Theo quan điểm của Nho giáo, xét ở các góc độ văn hóa, triết học, tôn giáo, về cơ bản hiếu đạo nghĩa là việc con cái thương yêu, phục vụ cha mẹ; tôn kính tổ tông và nối dõi tông đường; tuy nhiên, ba hàm nghĩa này cũng thay đổi theo sự vận động, phát triển của lịch sử hiếu đạo

Khác với thời nhà Thương coi trọng lễ trời, thời nhà Chu coi trọng lễ tổ, nội dung chủ yếu của hiếu đạo dưới thời Chu là tôn kính tổ tông và cách thể hiện hiếu đạo

là tế tự Ngoài tôn kính tổ tông, hiếu đạo còn mang hàm nghĩa: sinh con, nhằm duy trì

nòi giống Sách Kinh dịch viết: “thiên địa chi đại đức viết sinh” (đạo đức lớn nhất của

trời đất là sinh sôi), trời đất khiến vạn vật hóa sinh, nam nữ thành vợ chồng, có con để duy trì và tiếp nối ý chí của tổ tiên Quan điểm này xuất phát từ thuyết sinh mệnh, họ quan niệm tổ tiên là gốc, cha mẹ là nguồn gốc trực tiếp tạo nên sinh mệnh của mình, là tượng trưng và đại biểu hiện thực của tổ tiên, vì thế quý trọng sinh mệnh cũng đồng nghĩa với việc phụng dưỡng cha mẹ, báo đáp công ơn của cha mẹ Cho nên, sùng bái

tổ tiên và hiếu thuận với cha mẹ là biểu hiện tư duy về nguồn và hiếu đạo đối với cái

Trang 11

đức lớn sinh sôi của trời đất Đây là cơ sở tạo nên nền tảng tín ngưỡng và ổn định tâm linh, là bản chất của hiếu đạo, do đó trời đất, tổ tông, cha mẹ, bản thân, con cháu, quá khứ, hiện tại, tương lai liên hệ với nhau một cách sống động

Từ Xuân Thu đến Chiến Quốc, hàm nghĩa của hiếu đạo có chuyển biến quan trọng, hình thái gia đình hạt nhân bao gồm vợ chồng – con cái được xây dựng trên cơ

sở kinh tế tự nhiên cá thể ngày càng phổ biến, vì thế trong kết cấu gia đình này con cái phải có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ già, ốm đau, bệnh tật hoặc hết khả năng lao động, đó là nhiệm vụ cơ bản nhất của quan hệ huyết thống, do vậy phụng dưỡng vật chất tự nhiên trở thành nội dung cơ bản của hiếu đạo trong giai đoạn này Đây là bước phát triển khách quan thể hiện sự thay đổi của ý thức xã hội là do tồn tại xã hội quyết

định, sách Mạnh Tử mục Ly Lâu hạ đã phản ánh tình trạng xã hội lúc bấy giờ: “thế tục

sở vị bất hiếu giả ngũ! Nọa kỳ tứ chi, bất cố phụ mẫu chi dưỡng; nhứt bất hiếu giã” (thế tục gọi là bất hiếu có năm điều: tay chân chẳng chịu cử động để làm một công việc gì, chẳng đoái đến việc nuôi dưỡng cha mẹ; đó là điều bất hiếu thứ nhất vậy) [10, tr.64]

Xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc biến đổi khá sâu sắc, sức sản xuất nâng cao, khả năng chinh phục tự nhiên của con người ngày càng phát triển, khả năng nhận thức của con người về xã hội, thiên nhiên sâu sắc hơn, sự tách bạch tương đối về kinh

tế kéo theo sự xuất hiện gia đình hạt nhân đã ảnh hưởng không nhỏ đến quan niệm hiếu lúc bấy giờ, hiếu lúc này không dừng lại ở việc “tôn kính tổ tông” - với tính chất

là sinh hoạt tôn giáo mà là biểu hiện đạo đức của luân lý gia đình - trách nhiệm của con cái là chăm sóc, yêu thương, phụng dưỡng cha mẹ ngay khi còn sống, đây đồng thời là cơ sở xác lập luân lý “trọng nhân sự, khinh quỷ thần” của xã hội Trung Quốc sau này

Đến thời Hán, rút ra bài học kinh nghiệm từ nhà Tần, nhà Hán đã sử dụng đường lối chính trị “mềm dẻo”: “dương đức” “âm pháp” để an dân, lấy hiếu đạo làm hạt nhân để xây dựng trật tự xã hội, truyền bá tư tưởng hiếu đạo tạo nên ảnh hưởng sâu sắc vào các mặt sinh hoạt chính trị - xã hội lúc bấy giờ Do đó trong nội dung của chế

độ pháp luật luôn thể hiện rõ tinh thần của hiếu đạo, nhấn mạnh gia đình là một thể thống nhất Trong gia đình cha mẹ là đối tượng để con cái phụng dưỡng, thể hiện hiếu đạo, cha mẹ có thể trách mắng con cái và trong trường hợp đặc biệt có thể xử tội chết, trái lại pháp luật không tha thứ và sẽ xử nghiêm tội bất hiếu, thậm chí chém đầu đối

Trang 12

với những kẻ bất hiếu Nếu trước đây quan niệm hiếu là quan niệm hai chiều “phụ từ,

tử hiếu” thì đến nhà Hán, quan niệm này lại phiến diện chỉ đòi hỏi “tử hiếu” mà không nhắc đến “phụ từ”, nghĩa vụ và quyền lợi trong quan hệ cha con thể hiện không bình đẳng, cha có quyền tuyệt đối với con cái, con cái phục tùng cha một cách vô điều kiện Tất cả những điều này thực chất nhằm phục vụ mục đích thống trị của giai cấp cầm

quyền, hiếu trong gia đình được đồng nhất với trung ngoài xã hội, con tuyệt đối phục

tùng cha là cơ sở để bề tôi tuyệt đối phục tùng vua Vì mục đích này mà nhà Hán rất

chú trọng đến việc giáo hóa hiếu đạo cho mọi người thể hiện qua việc nâng sách Hiếu kinh lên địa vị kinh điển, ban bố chính sách thưởng phạt rõ ràng trong việc thực hiện

hiếu đạo, từ vua cho đến thứ dân đều phải thi hành, từ quan lại đến dân thường đều

phải học Hiếu kinh Hiếu đạo trở thành nội dung giáo dục toàn xã hội, trở thành

nguyên tắc quan trọng để củng cố và ổn định trật tự từ trong gia đình đến ngoài xã hội Hán Cao Tổ không chỉ chính thức lấy “dĩ hiếu trị thiên hạ” (lấy hiếu cai trị thiên hạ)

mà còn tự xưng là Hiếu Huệ Đế - lấy hiếu đặt trước tên Đến đời các vua sau họ cũng noi gương, lấy hiếu đặt trước tên hiệu, như: Hán Cảnh Đế (Hiếu Cảnh Đế), Hán Vũ Đế (Hiếu Vũ Đế) như những “tấm gương sống” về đạo hiếu cho nhân dân Hiếu đạo kết hợp với trật tự xã hội làm cho quan hệ huyết thống gia đình mở rộng ra ngoài xã hội, nhằm điều hòa được quan hệ giữa các giai tầng, khiến xã hội bình yên, nhất là tạo ra điều kiện để phát triển kinh tế tiểu nông, đây được xem là cách cai trị hết sức khôn ngoan, chính điều này làm cho vương triều Lưỡng Hán kéo dài mấy trăm năm và trở thành một trong những triều đại thịnh vượng trong lịch sử Trung Quốc

Đến thời Tùy, Đường không chỉ có Nho giáo mà cả Phật giáo và Đạo giáo cũng lưu hành và được nhà nước ủng hộ, trong đó Nho giáo vẫn chiếm được ưu thế hơn so với những học phái khác Tuy nhiên Nho giáo thời kỳ này ảnh hưởng bởi triết lý Phật giáo và Đạo giáo vì thế mới xuất hiện Huyền học và lý học, hiếu đạo giai đoạn này cũng ít nhiều bị ảnh hưởng bởi sự pha trộn trên

Các triều đại Tống, Minh, Thanh là thời kỳ xã hội phong kiến từ đỉnh cao chuyển qua suy vong nhưng vẫn coi trọng hiếu đạo, nhất là triều Tống, Nho giáo trở lại địa vị quốc giáo Đây không phải là triều đại lớn nhất của Trung Quốc, nhưng Nho giáo thời kỳ này lại được xem là có trình độ phát triển cao nhất trong hơn 1000 năm

từ sau Khổng – Mạnh Nho giáo thời Tống được bổ sung thêm phần bản thể luận triết học trên lập trường duy tâm, có sự pha trộn của tam giáo Nho, Phật, Đạo và kế

Trang 13

thừa những tư tưởng đặc sắc của triết học thời cổ đại Tuy nhiên quan điểm “hiếu” thời kỳ này thường bị lẫn lộn với “trung” nên đã làm cho tư tưởng về hiếu đạo của Nho giáo sơ kỳ méo mó đi nhiều, Chu Hy đời Tống giải thích rằng: “hiếu từ, tắc trung” (nếu người bề trên – người cầm quyền cai trị mà hiếu với cha mẹ, nhân từ với dân thì dân trung thành với mình) [9, tr.255] Quan niệm về hiếu của Nho giáo ngày càng cứng nhắc, phiến diện, con cái phải tuyệt đối nghe lời cha mẹ một cách máy móc, hiếu được đề cao để củng cố cho tư tưởng tôn quân, chế độ phong kiến quan liêu tập quyền, đảm bảo tuyệt đối cho chế độ truyền tử, ngôi vua truyền cho con trưởng, nó đồng nhất tình yêu thương, nghĩa vụ với cha mẹ và trách nhiệm giữ vững quyền cai trị của nhà vua

Theo quan niệm của Nho giáo, nhà có vững thì nước mới mạnh vì thế họ chủ trương xây dựng những quan hệ chặt chẽ trong gia đình với mục đích mở rộng, phát triển lên thành những tình cảm tốt đẹp trong đạo thờ vua, trị nước bằng cách đề cao phạm trù hiếu - trung: phận làm con trong gia đình phải tận hiếu với cha mẹ thì phận làm dân trong một nước phải tận trung với vua Nho giáo đã đồng nhất tình cảm của con cái đối với cha

mẹ trong gia đình với tình cảm của người dân đối với các thế lực cầm quyền - “trung với

vua, hiếu với cha mẹ là cùng một gốc vậy” (Lễ Ký) Điều này được xem là yêu cầu đạo

đức, phẩm chất cao đẹp của đạo làm người, và thể hiện xuyên suốt trong tư tưởng của các nhà Nho, đặc biệt ở Khổng Tử, người được xem là ông tổ của trường phái triết học Nho giáo

1.2 QUAN NIỆM HIẾU CỦA CÁC NHÀ NHO TIÊU BIỂU

1.2.1 Quan niệm của Khổng Tử

Sự hình thành và phát triển Nho giáo thời Tiên Tần gắn liền với tên tuổi của người sáng lập là Khổng Tử Vốn được người đời truyền tụng là “người khổng lồ xưa nay chưa có của nền văn hóa Trung Quốc” Khổng Tử xuất thân trong gia đình quý tộc, sống ở nước Lỗ, là mảnh đất phong của Chu Công Đáng (tức Chu Công - nhân vật nổi tiếng vào thời Tây Chu) nên là nơi lưu giữ khá nhiều sách vở Chu Do đó Khổng

Tử rất tán thành, ủng hộ tư tưởng, chế độ xã hội truyền thống Tây Chu và có thái độ hoàn toàn nhất trí đối với việc đề xướng cũng như phát triển hiếu đạo truyền thống Tây Chu

Thời đại mà Khổng Tử sống là lúc nhà Chu suy thoái, nạn tranh giành bá quyền, chư hầu tranh nhau mạnh diệt yếu, nhân dân ly tán, coi thường kỷ cương, diệt

Trang 14

bỏ lễ nghĩa Đứng trước nguy cơ đó của xã hội, Khổng Tử lãnh sứ mệnh lịch sử và thời đại cảm hóa thiên hạ, ông đã đi khắp nơi từ Đông sang Tây, từ Nam đến Bắc để thuyết giáo, đề ra chủ trương cảm hóa lòng người, lấy nguyên tắc đạo đức để chỉnh đốn quan

hệ con người và trật tự xã hội Để lập lại trật tự xã hội, Khổng Tử chủ trương dùng

“đức trị” ông mong muốn vua tôi, cha con phải giữ đạo nghĩa của mình, Khổng Tử cho

rằng cái gốc đạo nhân là ái và kính, đây là nền của sự giáo hóa: “lập ái tự thân thỉ, giáo

dân mục giã Lập kính tự trưởng thỉ, giáo dân thuận giã Giáo dĩ từ mục, nhi dân quý hữu thân; giáo dĩ kính trưởng, nhi dân quý dụng mệnh Hiếu dĩ sự thân, thuận dĩ thính mệnh, thố chi thiên hạ vô sở bất hành” (dựng lòng ái khởi đầu từ cha mẹ, là dạy dân hòa mục vậy Dựng lòng kính khởi đầu từ bậc huynh trưởng, là dạy dân kính thuận vậy Lấy từ mục mà dạy dân, là dân biết quí có cha mẹ; lấy kính người huynh trưởng

mà dạy dân, thì dân biết quý sự theo mệnh lệnh của người trên Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là để vâng mệnh người trên, đem những điều ấy ra mà thi thố trong thiên hạ thì

không có điều gì mà không làm được) Lễ Ký – Tế nghĩa, XXIV [37, tr.140] vì thế ông

đã đưa việc tu dưỡng đạo đức lên hàng đầu và phương pháp nhanh nhất theo quan

niệm của Khổng Tử là giáo dục Hiếu Đễ Ông dạy học trò của mình việc đầu tiên là

“nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ” (con em trong nhà thì hiếu thảo cha mẹ, khi ra ngoài thì kính nhường bậc huynh trưởng) [9, tr.7] Ông rất coi trọng luân lý hiếu đễ, bởi trong tổ chức thân tộc của gia đình cá thể, lấy trụ chính là quan hệ cha con, còn các quan hệ luân thường như vua tôi, chồng vợ, anh em, bạn bè đều xoay quanh chuẩn mực của quan hệ này Ông không chỉ kế thừa mà còn cải tạo, phát triển hiếu đạo từ tôn giáo đến đạo đức, từ đạo đức tông tộc chuyển sang đạo đức gia đình, kết hợp thực hiện hiếu đạo

với thủ lễ; hiếu với đễ và đề ra nguyên tắc “nhi gián” để đảm bảo hòa khí trong gia

đình

Để thực hiện được hiếu đạo trước hết phải bắt đầu bằng kính Khổng Tử cho

rằng, kính hiếu cha mẹ phải thực lòng thực ý, nếu chỉ phục vụ, chăm sóc về vật chất thì chưa thể là hiếu đạo “kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng Bất kính, hà dĩ biệt hồ” (thời nay hễ thấy ai nuôi cha mẹ thì khen là

có hiếu Nhưng chó ngựa thì người ta cũng nuôi nên nuôi cha mẹ mà không kính trọng

thì chẳng khác gì nuôi súc vật) [9, tr.19], đối xử với cha mẹ phải kính để cha mẹ cảm

thấy được tôn trọng, khó nhất là phải luôn luôn giữ được nét mặt vui vẻ trước mặt cha

mẹ “sắc nan, hữu sự, đệ tử phục kỳ lao” (làm con đối với cha mẹ lúc nào cũng tỏ vẻ

Trang 15

hòa vui, giữ được như vậy mới khó, mới đáng gọi là hiếu) [9, tr.19] Kính chính là bản

chất tinh thần của hiếu đạo, xuất phát từ lòng nhân ái của con người là biểu hiện của tình yêu thương của con cái đối với cha mẹ điều này khác hẳn với quan niệm về chữ kính thời Tây Chu - kính trọng đối với thần tổ tiên

Thứ hai: kết hợp thực hiện hiếu đạo với thủ lễ Nếu nói bản chất tinh thần của

hiếu đạo là kính, thế thì hành động thế nào và thể hiện ra sao loại kính này? Đó là hành

vi phải phù hợp lễ Khổng Tử nhấn mạnh một điều bất luận cha mẹ còn sống hay đã

khuất cũng phải thực hành hiếu đạo như quy định của lễ “sanh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ; tế chi dĩ lễ” (sống thì phụng dưỡng thân thể, chết thì an táng theo lễ, thờ cúng theo lễ) [9, tr.16] Ông xem lễ là thước đo mọi hành vi của con người, đặt biệt là người làm con trong việc báo đáp công ơn cha mẹ

Thứ ba: kết hợp hiếu với đễ Nghiên cứu hiếu đạo thời Tây Chu thấy hiếu hợp nhất với hiếu từ, hiếu hữu, mà không thấy hiếu kết hợp với đễ Thế nhưng trong Luận Ngữ lại nhiều lần nói đến hiếu đễ Hiếu và đễ liên quan với nhau, song

địa vị của đễ cao hơn Đễ tức là kính trọng anh em mình mà thực chất là kính trọng bậc huynh trưởng nói chung, đòi hỏi mọi người mở rộng từ quan hệ gia đình ra quan hệ xã hội và đây là chuẩn mực để ứng xử trong các quan hệ xã hội

Thứ tư: đề ra nguyên tắc nhi gián (con can gián cha) để điều hòa quan hệ giữa

cha và con, Khổng Tử cho rằng cha mẹ nếu có sai lầm thì con cái hãy dùng lời nói nhẹ nhàng can ngăn để tránh bất nghĩa với cha mẹ, nghĩa là phải chú ý đến cách nói và thời điểm nói, tránh làm ngược lại nguyên tắc kính, song cũng không thể nghe lời một cách

mù quáng Quan điểm này của Khổng Tử cũng tương đồng với quan niệm về hiếu

trong sách Lễ ký mục Nội Tắc: “nếu cha mẹ có sai lầm, hãy dùng lời nói nhẹ nhàng

khuyên can” [86, tr.49]

Như vậy, không những Khổng Tử đã tìm ra cơ sở nhân tính sản sinh ra hiếu đạo

là Nhân mà còn biến đổi thứ đạo đức quý tộc thời Chu này trở thành đạo đức bình dân, phổ biến Trong sách Luận Ngữ, quyển tư, mục Thuật nhi ông viết “Nhân viễn hồ tai?

Ngã dục nhân, tư nhân chí hỹ” (điều nhân đâu có xa gì? Ta muốn có điều nhân, điều nhân đến liền vậy) [9, tr.113] và “Nhơn nhi bất nhân, như lễ hà? Nhơn nhi bất nhân, như nhạc hà? (người không có đức nhân làm sao có thể thi hành lễ tiết, người không

có đức nhân, làm sao dùng được lễ nhạc) [9, tr.33] Ông cho rằng, nhân loại ai cũng có lòng nhân ái cả, còn nguồn gốc của lễ nhạc là của nhân tâm và ông đem hiếu đạo từ

Trang 16

hành vi ràng buộc theo trật tự trong gia đình chuyển thành tình cảm tự nhiên, tự giác của từng người

Khái niệm nhân mà Khổng Tử nêu ra là vì tìm đến tận cùng triết học nhân tính

của đạo hiếu truyền thống, lấy đẳng cấp trên dưới chuyển thành nhân của nhân tính bình đẳng giữa mọi người Điều đó đã làm mờ nhạt màu sắc quý tộc của hiếu đạo truyền thống Tây Chu, làm bình dân hóa, khiến cho hiếu đạo từ chỗ là giá trị đạo đức đặc quyền của người “quân tử” thành quy phạm hành vi tự giác phổ biến của toàn dân

Hạt nhân tư tưởng của Khổng Tử là nhân Nhân không những là căn nguyên

của hiếu đạo mà còn là mục tiêu cuối cùng mà hiếu đạo cần nỗ lực thực hiện Nhân có thể nói là chuẩn mực tối cao của hành vi con người, là nguyên tắc phổ biến mà muốn thực hiện nguyên tắc phổ biến này, phải có điểm gần nhất bắt tay để thực hiện – đó là

hiếu, “hiếu đễ giã giả, kỳ vi nhân chi bổn dư” (làm người biết giữ gìn nết hiếu, nết đễ, tức là biết nắm lấy cái gốc đó) [9, tr.5] Khổng Tử đã liên kết hiếu với nhân – là

nguyên lý cao nhất, là gốc của con người, việc con cái thờ cha mẹ là biểu hiện của

hiếu, đó là điều mà mỗi người đều phải làm được Theo Khổng tử, nhân (chỉ cá tính tu

dưỡng phẩm chất) hoàn toàn là hành vi tự giác, làm việc hiếu đạo (luân lý trong quan

hệ xã hội) chính là khởi điểm của đức nhân, nếu như mỗi người đều có thể thực hiện hiếu đễ thì đạo đức sẽ tốt, trật tự xã hội sẽ ổn định, cũng có thể khôi phục thời Tây Chu thịnh vượng đạt tới “thiên hạ quy nhân yên” (mọi người đều trở về với đức nhân) Nghĩa là Khổng Tử đánh giá cao vai trò, địa vị và tác dụng của hiếu đạo trong quá trình bình ổn xã hội Trong mối quan hệ giữa hiếu và nhân thì nhân là nguyên tắc phổ biến, hiếu là nguyên tắc đặc thù, thông qua hành vi chuẩn mực cụ thể là hiếu thì nhân mới được thực hiện, và việc thực hành hiếu là cơ sở để đánh giá đức nhân Có lần vì

Tể Ngã không muốn tuân theo việc để tang ba năm muốn rút ngắn thời gian để tang từ

ba năm xuống một năm, Khổng Tử mắng “Dư chi bất nhân giã” (Tể Ngã bất nhân) [9, tr.280] Như vậy trong hành động cụ thể, bất hiếu cũng có nghĩa là bất nhân vì theo Khổng Tử, hiếu không chỉ thể hiện thái độ của người con đối với cha mẹ khi còn sống

mà còn thể hiện hành vi của mình khi cha mẹ đã mất “phụ một, quan kỳ hành Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hỹ” (nếu ba năm (có nghĩa là nhiều năm) không thay đổi những quy tắc, quy phạm của đạo làm con với cha, người như vậy được gọi là người có hiếu) [9, tr.9] Đặc biệt quan niệm về hiếu của Khổng Tử không phải là quan điểm một chiều, quan điểm “cha ra cha, con ra con” của Khổng Tử đòi hỏi cha mẹ

Trang 17

phải đối xử với con cái theo đúng đạo của mình “cha từ con hiếu” vì cha có chính từ thì không lâm vào điều vô lễ cho nên con theo lệnh cha nghĩa là có hiếu Như vậy hiếu thảo hay sự thương mến cha mẹ chính là cội nguồn của nhân, vì nhân là đức tính đứng đầu trong muôn đức, là tinh chất để tạo nên nhân cách của một cá nhân mà hiếu là cội gốc của nhân nên hiếu được xem là nền tảng đạo đức của con người Tuy nhiên, dù hiếu là đức tính bẩm sinh nhưng nếu không được vun xới thường xuyên thì nó sẽ bị hư hoại và có thể biến mất và nếu điều này xảy ra thì lòng nhân sẽ bị mất đi nền tảng như cây không cội, nước không nguồn Thực tế không ít những kẻ hung ác, bạo ngược trong xã hội đã phần nào chứng minh được sự thật này, họ là người đã đánh mất đi hạt giống của hiếu hạnh, quan hệ gia đình bị rạn vỡ để rồi trở thành những tâm hồn lạc loài giữa sa mạc ngông cuồng chỉ biết bám trụ vào những ốc đảo của lòng ham muốn thấp hèn, bại hoại Do vậy, hiếu và nhân không thể tách rời nhau, người có hiếu dễ dàng phát triển lòng nhân và một khi đã có nhân thì hạnh hiếu càng sáng tỏ

Tuy nhiên, tư tưởng của Khổng Tử không nhất quán, ví dụ trong quan điểm

“nhi gián”, một mặt ông khuyến khích con cái khuyên can cha mẹ khi lầm lỗi bằng lời

lẽ dịu ngọt một cách cung kính, thậm chí là bất hiếu nếu im lặng nhìn cha mẹ phạm lỗi nhưng đồng thời ông lại đòi hỏi kẻ làm con phải biết che giấu những lỗi lầm của cha

mẹ Ông nêu ra những tấm gương thánh hiền trong lịch sử để chứng minh quan điểm trên, Diệp Công kể về gương một người ngay thẳng ở xóm mình – cha bắt trộm dê mà con đi tố cáo, Khổng Tử trả lời “phụ vị tự ẩn, tử vị phụ ẩn; trực tại kỳ trung hỹ” (cha che lỗi cho con, con che lỗi cho cha, tính ngay thẳng ngụ trong đó rồi) [9, tr.206] tình cha con là phải thương yêu che chở cho nhau, giả sử nếu ông Cổ Tẩu (cha của vua Thuấn) mà phạm tội giết người, ông Cao Dao làm quan sĩ nắm giữ binh pháp thì cứ bắt Cổ Tẩu, nhưng “Thuấn thị khí thiên hạ, du khí tệ tỹ giã Thiết phụ nhi đào; Tuân hải tân nhi xử; chung thân hân nhiên lạc nhi vong thiên hạ” (vua Thuấn lúc ấy cũng sẽ coi thiên hạ như một đôi dép rách, quẳng nó đi để lén cõng cha mình đến một nơi bãi biển xa xôi, suốt đời vui vẻ mà quên đi thiên hạ) [10, tr.245] Nghĩa là khi tình riêng và phép nước xuất hiện mâu thuẫn thì các thánh sẽ đặt tình riêng lên trên, coi tình nhà cao hơn phép nước, đó là lôgích tất yếu xuất phát từ quan niệm coi “nhà là gốc của nước” Điều này là một trong những hạn chế rất lớn của Khổng giáo, cực đoan hóa quan điểm hiếu, xem việc quốc gia đại sự, sinh mệnh của nhân dân như “đôi dép rách” để sẵn sàng “vứt đi” không thương tiếc, hành động ấy vừa là hành vi vô trách nhiệm đồng

Trang 18

thời cũng là hành vi của một người chưa trưởng thành, chưa đủ nhận thức để phân biệt đúng sai, để ngăn chặn hành vi sai trái của cha mẹ mình, nếu mọi người con đều xem nhẹ luật pháp sẵn sàng hành động như vậy thì xã hội sẽ loạn và khát vọng thiên hạ thái bình mà Nho giáo cố công xây dựng sẽ không bao giờ thực hiện được, bởi lúc này gia đình không còn là gốc của xã hội nữa mà trở thành nơi chứa chấp tội phạm Hạn chế này là cơ sở để giai cấp thống trị lợi dụng “hiếu” như một công cụ cai trị xã hội – đồng

nhất hiếu với trung, từ đó dẫn đến quan niệm ngu hiếu, ngu trung sau này

Tóm lại, quan điểm của Khổng Tử về hiếu có nhiều mâu thuẫn nhưng không vì thế mà phủ nhận công lao to lớn của ông trong việc “khai phá” ra lý luận hiếu đạo Nho giáo, nâng lên thành học thuyết luân lý nhân luân Lý luận này xoay quanh nội dung chính là hiếu với cha mẹ, bằng những quan niệm và quy phạm quan trọng, hoàn thành chuyển hóa hiếu đạo từ tôn giáo đến đạo đức, chuyển hóa từ luân lý tông tộc sang luân

lý gia đình, đồng thời làm ra căn cứ nhân tính hợp lý và luận chứng triết học của hiếu đạo Đem hiếu quy vào mục tiêu lý tưởng cao nhất của đức nhân và làm cho hiếu trở thành cơ sở khởi điểm của hệ thống nhân học, là nền tảng để các nhà nho sau này hoàn thiện và phát triển thêm, nhất là Tăng Tử - một trong những học trò xuất sắc nhất của ông

1.2.2 Quan niệm của Tăng Tử

Tăng Tử tự là Tăng Sâm người ấp Võ Thành nước Lỗ, ông soạn ra sách Đại học

- một trong bốn tập của bộ Tứ thư Tăng Tử là người chí hiếu với cha mẹ và được

người đời sau liệt vào một trong hai mươi bốn tấm gương hiếu thảo vì truyền thuyết

mẹ ông cắn ngón tay mà ông động lòng

Tăng Tử là học trò xuất sắc của Khổng Tử, ông không chỉ kế thừa mà còn đi sâu phân tích và phát triển lý luận hiếu đạo của thầy mình, thể hiện trên nhiều phương diện, có thể điểm qua một vài điểm nổi bật về tư tưởng hiếu đạo trong học thuyết của Tăng Tử

Thứ nhất, ông đã nhấn mạnh hiếu đạo là sự thể hiện tình cảm nội tâm chân thực tồn tại một cách tự nhiên của nhân loại Đó là điểm căn bản trong lý luận hiếu đạo của Tăng Tử Ông cho rằng tâm hiếu đạo tồn tại trong tâm linh mỗi người, mọi người đều

có tâm hiếu, song cách thể hiện thì khác nhau và chỉ cần có tâm hiếu dưỡng thì hành vi

hiếu đạo tự nhiên xuất hiện, chí hướng có hiếu cũng được thực hiện Trong khi hiếu đạo với Khổng Tử chỉ là ý thức luân lý của con cái đối với cha mẹ, là việc phụng

Trang 19

dưỡng cha mẹ, là thước đo hành vi đạo đức của con người nhằm đạt đến nhân, thì Tăng Tử lấy hiếu làm gốc cho các đức tính khác, ông phát triển hiếu đạo thành một

khái niệm trừu tượng có ý nghĩa phổ biến “dạy bảo dân gốc ở hiếu đạo… nhân từ hiếu

mà ra, nghĩa từ hiếu mà ra, trung từ hiếu mà ra, tín từ hiếu mà ra, lễ từ hiếu mà ra,

hạnh từ hiếu mà ra” (Đại Đới lễ ký, mục Tăng Tử đại hiếu) [37, tr.53] Tăng Tử luôn

luôn mở rộng nội dung của hiếu, chỉ ra hiếu có mặt ở mọi nơi, đem lại cho hiếu một môi trường rộng lớn hầu như bao quát mọi quan hệ hoạt động xã hội “phù hiếu, thiên

hạ chi đại kinh dã” (hiếu là chuyện rất to lớn trong thiên hạ) (Đại Đới lễ ký, mục Tăng

Tử Đại hiếu) [37, tr.54] kể cả hành vi chính trị của cá nhân cũng được quy về hiếu

“thân giã giả, phụ mẫu chi di thể giã Hành phụ mẫu chi di thể, cảm bất kính hồ? Cư

xử bất trang, phi hiếu giã; sự quân bất trung, phi hiếu giã; lị quan bất kính, phi hiếu giã; bằng hữu bất tín, phi hiếu giã; chiến trận vô dũng, phi hiếu giã Ngũ giả bất toại, tai cập ư thân bất cảm kính hồ?” (thân là di thể của cha mẹ Đem cái di thể của cha mẹ

ra mà làm việc này việc kia, dám nào không kính hay sao? Cư xử không nghiêm, không phải là hiếu; thờ vua không trung, không phải là hiếu; làm quan không kính, không phải là hiếu; bầu bạn không tin, không phải là hiếu; đi trận mạc không mạnh bạo, không phảo là hiếu; Năm điều ấy không thành, thiệt hại đến cha mẹ, dám nào

không kính hay sao?) [37, tr 209] Ở đây chúng ta thấy, Tăng Tử đã đem hiếu đạo kết hợp với trung quân, trung là một phần của hiếu, nếu không trung với vua là bất hiếu,

rõ ràng trung đã nằm trong phạm trù của hiếu Điều này khác với quan niệm hiếu trung của Khổng Tử Lý luận tương quan trong sách Hiếu kinh có thể nói là sự phát triển

thêm từ lý luận Tăng Tử Ông nói: “sự phụ khả dĩ sự quân, sự huynh khã dĩ sự trưởng” (thờ cha mẹ thì mới có thể thờ vua, đối xử thuận hòa với anh mình thì mới có thể đối

xử với các bậc huynh trưởng) (Đại Đới lễ ký mục Tăng Tử lập sự) [37, tr.55] Như

vậy, giữa vua tôi, cha con, anh em, đều có quan hệ lẫn nhau, trong đó cha, anh và vua

là chủ động, còn con, em và bề tôi là bị động Tăng Tử nhấn mạnh sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên là nghĩa vụ không thể thoái thác Lý luận này của ông đã chứng tỏ lý luận hiếu đạo của Nho giáo đến thời Tăng Tử đã thông suốt về tư tưởng phục vụ vua và quan lại, ông đã đem lại sự phân biệt danh phận, đẳng cấp “quân quân,

thần thần, phụ phụ, tử tử” của Khổng Tử và khái niệm chính trị trung quân nhập vào trong hiếu đạo, điều này ảnh hưởng lớn đến tư tưởng chủ đạo “dĩ hiếu sự quân tắc trung” (lấy hiếu thờ vua là trung) trong sách Hiếu kinh sau này

Trang 20

Thứ hai, Tăng Tử coi hiếu là nguồn gốc căn bản của sức mạnh thực hiện mọi việc “cố quân tử bất xuất gia nhi thành giáo ư quốc Hiếu giả sở dĩ sự quân giã; đễ giả

sở dĩ sự trưởng giã; từ giả sở dĩ sử chúng giã” (bậc quân tử chẳng cần ra khỏi nhà mà dạy dỗ ai, cách cư xử của mình ở gia đình đủ làm khuôn mẫu, khiến cho người trong nước hiểu rõ cái đạo tề gia trị quốc Như mình có nết hiếu với cha mẹ, là để mở rộng cái nết đó ra mà thờ vua; Mình có nết đễ với anh, là để mở rộng cái nết đó ra mà kính bậc quan trưởng; Mình có cái đức từ với con cháu, là để mở rộng cái đức đó mà sai

khiến chúng dân) [11, tr.23] Theo quan niệm của Nho giáo truyền thống nhân, nghĩa, trung, tín, lễ đều là nội dung rất quan trọng, nhưng đối với Tăng Tử muốn thể hiện

những đức trên đều phải thông qua hiếu đạo vì thế ông lấy hiếu đạo làm trung tâm

Hiếu đạo với các phạm trù đạo đức nhân, nghĩa, trung, tín, lễ không phải là khái niệm

song song mà là quan hệ bao quát, hiếu đạo hoàn toàn thống nhất với mọi chuẩn mực hành vi xã hội và là căn cứ nội tại của mọi phẩm hạnh cao thượng còn lại

Thứ ba, Tăng Tử nhấn mạnh tính thống nhất của thực tiễn hiếu đạo với tu dưỡng đạo đức cá nhân, ông đề cao phương pháp tu dưỡng, đó là sự phản tỉnh của nội tâm và kiểm tra lại quá trình thực hành hiếu đạo Con cái tỏ lòng kính hiếu của mình đối với cha mẹ thông qua sự quan tâm đến việc ăn uống, đi lại hằng ngày của cha mẹ, đồng thời thực hiện chí hướng tu dưỡng đạo đức cá nhân và nhấn mạnh không được đòi hỏi

gì ở cha mẹ Theo Tăng Tử, hiếu đạo là tình cảm chân thành từ nội tâm và phải được rèn luyện, bồi dưỡng, chủ yếu là không ngừng học tập trong thực tiễn và không ngừng

mở rộng tâm linh Đây chính là phương pháp quan trọng nhằm nâng cao phạm trù đạo hiếu mà Tăng Tử đặc biệt nhấn mạnh

Thứ tư, Tăng Tử còn đề cập đến cấp bậc của việc thực hiện hiếu đạo, ông nói:

“Hiếu hữu tam: đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất phục, kỳ hạ năng dưỡng” (hiếu có ba bậc: bậc đại hiếu làm tôn trọng cha mẹ, bậc thứ là không làm nhục đến cha mẹ, bậc dưới cùng là có thể nuôi được cha mẹ) [37, tr.208]

Thứ năm, Tăng Tử lý giải hiếu đạo là tư tưởng cao đẹp và mong muốn đạt tới

việc hoàn thiện Mặc dù đồng ý với nguyên tắc “nhi gián” của Khổng Tử nhưng ông

không đồng ý việc bao che, đồng lõa tội lỗi của người thân Ông quan niệm, người con

có hiếu không chỉ nhẹ nhàng khuyên can, thuyết phục cha mẹ mà còn phải biết can ngăn cha mẹ ngay khi họ có quan niệm, tư tưởng không đúng đắn để hạn chế sai lầm của cha mẹ “tiên ý, thừa chí, dụ phụ mẫu ư đạo” (hiểu trước cái ý của cha mẹ, vâng

Trang 21

theo cái chí của cha mẹ, để đem cha mẹ đi theo đạo phải) [37, tr.208] Đây là điểm đặc sắc trong lý luận hiếu đạo của Tăng Tử, tiến bộ hơn và nhân văn hơn quan điểm của Khổng Tử

1.2.3 Quan niệm của Mạnh Tử

Nhân vật thứ ba cần phải kể đến trong trường phái triết học Nho giáo là bậc Á thánh Mạnh Tử, được xem là ông tổ thứ hai của Nho giáo

Mạnh Tử là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời Chiến Quốc, ông tên là Mạnh Kha, mồ côi cha, chịu sự nuôi dạy nghiêm túc của mẹ là Chương thị (người đàn bà họ Chương) Chương thị sau này được biết đến với cái tên Mạnh mẫu (mẹ của Mạnh Tử) Mạnh mẫu đã ba lần chuyển nhà để Mạnh Tử được ở trong môi trường xã hội tốt nhất cho việc học tập, tu dưỡng

Thời niên thiếu Mạnh Tử làm môn sinh của Tử Tư, tức là Khổng Cấp, cháu nội Khổng Tử, vì vậy ông chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Khổng giáo Mạnh Tử tiếp thu

tư tưởng về đức nhân của Khổng Tử và nhấn mạnh thêm: bản chất con người là tính thiện “người ta ai cũng có cái bẩm tánh từ thiện, dầu vua, quan hay thường dân Chẳng

có ai thật là độc ác Mọi người đều sẵn lòng nhân như vua Nghiêu, vua Thuấn” [10, tr.147] Thuyết tính thiện cho rằng, nhân tính do trời sinh ra, nên người ta không học cũng làm được điều tốt Đó là lương tri “hài đế chi đồng, vô bất tri ái kỳ thân giã Cập

kỳ trưởng giã, vô bất tri kính kỳ huynh giã, thân thân nhân giã; kính trưởng nghĩa giã

Vô tha, đạt chi thiên hạ giã” (trong các đứa trẻ vừa biết cười không cháu nào mà không biết yêu quý bố mẹ mình, khi lớn lên không ai không biết kính trọng người lớn tuổi hơn mình Đó là lương năng Do đó đạo đức của hiếu đạo đương nhiên là trời ban cho vậy Mọi người sinh ra đều có đủ điều đó, cũng có chỗ khác biệt căn bản với loài cầm thú) [10, tr.227] Theo thuyết giải của Mạnh Tử thì con người thực hành hiếu đạo

là do trời ban cho, là phát triển tất nhiên của tính người Thuyết tính thiện đã cung cấp

cơ sở tiên nghiệm cho thuyết hiếu đễ, sự kết hợp này đã làm cho hiếu đễ có căn cứ lý luận Điều đó không những kế thừa tư tưởng đức nhân của Khổng Tử, mà còn khái quát lý luận và trực tiếp kế thừa tư tưởng thiên tính tự nhiên của Tăng Tử

Mạnh Tử thiết lập nguyên tắc thân thân, làm cho hiếu đễ trở thành hạt nhân của ngũ luân Mạnh Tử nói: “sư thục vi đại? sự thân vi đại” (trong các việc phụng sự của mình, việc nào trọng đại hơn hết? tức việc phụng dưỡng cha mẹ là trọng đại hơn hết) [10, tr.31] “hiếu tử chi chí, mạc đại vu tôn thân” (chỗ chí hiếu của con cái không có gì

Trang 22

lớn bằng làm cho cha mẹ được tôn trọng) [10, tr.89] cũng vì hiếu đạo trở thành đạo đức mang tính người cao nhất, cho nên Mạnh Tử mới nói “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” (có ba tội bất hiếu mà tội không con nối dõi là tội lớn nhất) [10, tr.35] Ông chỉ ra

“vô hậu” (không có con nối dõi) không có người cúng tể tổ tiên là nguyên nhân của tình trạng không có đạo đức, vì không có con nối dõi nên khiến tổ chức thân tộc bị tuyệt hậu và việc “sự thân”, “tôn thân” không có cơ sở thực hành

Mạnh tử còn cải biên “ngũ giáo” (năm điều răn dạy thời thượng cổ) thành “ngũ luân”, ông nói rằng Đế Vũ đã dạy bảo năm điều: “phụ tử hữu thân, quần thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, trưởng ấu hữu thú và bằng hữu hữu tín” (giữa cha con có tình ruột thịt, giữa vua tôi có mối danh nghĩa, giữa vợ chồng có sự phân biệt, giữa người lớn kẻ nhỏ có thứ tự, giữa bạn bè có chữ tín) [10, tr.69] Với Mạnh Tử, ông cho rằng giữa cha và con, giữa vua và bề tôi là hai giềng mối quan trọng nhất “Tứ đức” thể hiện chủ yếu trong hai luân này, Mạnh Tử nói: “nhân chi thật sự thân thị giã Nghĩa chi thật, tùng huynh thị giã” (chỗ đích thực của đức nhân là thờ cha mẹ, chỗ đích thực của đức nghĩa là kính trọng bậc huynh trưởng) [10, tr.35] và “vị hữu nhân nhi di kỳ thân giả dã, vị hữu nghĩa nhi hậu kỳ quân giã giả” (chưa hề có người quý điều nhân mà bỏ quên cha mẹ bà con mình, chưa hề có người trọng điều nghĩa mà lại coi việc vua, việc nước nhẹ hơn việc riêng tư của mình) [10, tr.9]

Mạnh Tử tiến hành xây dựng lý luận cho nền quân chủ bằng việc lấy hiếu đạo dùng vào việc cai trị, ông ví mối quan hệ giữa kẻ thống trị với người bị thống trị như cha mẹ với con cái, chủ trương kẻ thống trị cần phải quan tâm sự đau khổ của nhân dân như cha mẹ quan tâm con cái, còn nhân dân phải phục tùng kẻ thống trị như đối

xử với cha mẹ Ông bắt đầu đem nhân, nghĩa và hiếu kết hợp với cha mẹ, trung kết hợp với vua, còn hiếu đễ với anh em và các bậc huynh trưởng cũng trở thành trung tâm của ngũ luân “nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, thủ tiêu vương chi đạo” (con em trong nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài thì kính trọng người lớn tức là giữ đạo của tiên vương) [10, tr.190] và nhấn mạnh “nhất gia nhân, nhất quốc hưng nhân; nhất gia nhượng, nhất quốc hưng nhượng” (nếu trong một nhà mà mọi người đều nhân hậu, lần ra cả nước đều nhân hậu; nếu trong một nhà mà mọi người đều lễ nhượng, lần ra cả nước đều lễ nhượng)[10, tr.23] Mạnh Tử coi đức hiếu đễ là biểu hiện cao nhất của tín, nên ông rất

tôn sùng Đế Vũ như thánh nhân, ông đã lấy hiếu đễ làm trung tâm luân lý đạo đức và

kế thừa, phát triển tư tưởng hợp nhất hiếu đễ của Khổng Tử Mạnh Tử kể lại, chỉnh

Trang 23

biên khá nhiều câu chuyện về vua Nghiêu, vua Vũ, nhấn mạnh việc triều đại nhà Chu lấy hiếu đạo trị thiên hạ lấy nhân cách của nhà vua để cảm hóa thiên hạ Chính việc tạo

ra hai điển hình về người con có hiếu, Mạnh Tử đã làm tăng hiệu quả truyền bá tư tưởng hiếu đạo của mình

1.2.4 Quan niệm của Tuân Tử

Trái ngược hoàn toàn quan điểm của Mạnh Tử, Tuân Tử kiên trì với thuyết tính

ác, mặc dù tư tưởng của ông bị nhiều nhà Nho đả kích vì đã gián tiếp đào tạo ra Lí Tư

và Hàn Phi giúp Tần Thủy Hoàng dựng nghiệp đế để rồi đốt sách chôn Nho, song quan điểm của ông về lý luận hiếu đạo khá đặc sắc đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của học thuyết Nho giáo và cũng là đại biểu xuất sắc của học phái này cuối thời Chiến Quốc

Tuân Tử tên là Huống tự là Khanh, người đời cũng gọi ông là Tôn Khanh, người nước Triệu Tuân Tử quan niệm con người vốn bản tính ác, cần phải dùng lễ nghĩa để giáo dục Trong khi Mạnh Tử chủ trương “dưỡng tính”, nuôi cái tính thiện đã bị mờ tối

đi do vật dục, thì Tuân tử chủ trương giáo dục, uốn nắn “tính ác” cho ngay thẳng, hợp đạo để làm điều thiện Như vậy, nếu xét về mặt phương pháp thì hai ông cũng có điểm chung đề cao vấn đề giáo dục chú trọng giáo huấn về nhân - nghĩa, lễ - nhạc cho con người

Tuy quan điểm của Tuân Tử đã thay đổi rất nhiều so với Nho giáo nguyên thủy nhưng lý luận hiếu đạo của ông có nhiều điểm mới và khá sâu sắc Theo ông trung hiếu là những đức tính tốt, ai cũng phải theo, song người đi học phải biết phân biệt thế nào là thật trung, thật hiếu Với Tuân Tử người làm con có hiếu phải là người biết phân biệt khi nào nên và khi nào không nên nghe lời cha mẹ: “theo mệnh thì cha mẹ nguy, không theo mệnh thì cha mẹ yên, người hiếu tử không theo mệnh là hợp với điều trung; theo mệnh thì cha mẹ nhục, không theo mệnh thì cha mẹ vinh, người hiếu

tử không theo mệnh là hợp với đạo nghĩa; theo mệnh là cầm thú, không theo mệnh thì làm cho cha mẹ được vẻ vang, người hiếu tử không theo mệnh là kính cha mẹ Cho nên điều đáng theo mà không theo là không phải đạo làm con, chưa nên theo mà đã theo là không hợp đạo trung Biết rõ cái nghĩa đáng theo và không đáng theo mà lại hết sức cung - kính, trung - tín, đoan xác, rồi cứ cẩn thận mà làm, thế gọi là đạo hiếu vậy” [37, tr.314] vì Tuân Tử cho rằng: “nhập hiếu xuất đễ, nhân chi tiểu hạnh giã; thượng thuận hạ đốc, nhân chi trung hạnh giã; tòng đạo bất tòng quân, tòng nghĩa bất tòng

Trang 24

phụ, nhân chi đại hạnh giã” (vào hiếu ra đễ là cái tiểu hạnh của người ta; thuận theo người trên, thân yêu kẻ dưới, là cái trung hạnh của người ta; theo đạo mà không theo vua, theo nghĩa mà không theo cha, là cái đạo hạnh của người ta vậy) [37, tr.313] Với Tuân Tử người có học phải biết rõ những điều phải trái, đáng làm hay không đáng làm, dù cái đức tốt nhưng không biết dùng cho hợp đạo lý thì cũng thành ra dở, điều này rõ ràng tiến bộ hơn quan điểm “cha con che lỗi cho nhau” của Khổng Tử rất đáng

để chúng ta xem xét, học tập

Có thể nói điểm hạn chế trong tư tưởng của Tuân Tử ở chỗ ông đã quá đề cao vua, trọng vua hơn trọng cha mẹ, vì ông cho rằng: “phụ năng sinh chi, bất năng dưỡng chi, mẫu năng thực chi, bất năng giáo hối chi Quân giả, dĩ năng thực chi hĩ, hựu thiện giáo hối giả dã” (cha sinh con mà không nuôi dưỡng con được, mẹ nuôi con mà không bảo được con Còn vua thì vừa nuôi ăn, vừa bảo được) [88, tr.68] do đó đại lễ chịu tang nhà vua ba năm như chịu tang cha mẹ là chưa đủ Chính tư tưởng này là cơ sở cho Hàn Phi và Lý Tư xây dựng học thuyết Pháp trị của mình và lại càng được giới thống

trị sau này tôn sùng và trở thành nội dung quan trọng của hiếu trị trong xã hội phong

kiến sau này

Theo tiến trình phát triển của lịch sử, lý luận hiếu đạo của Nho giáo được tổng

kết và đạt đến đỉnh cao trong sách Hiếu kinh, đây được xem là chuyên luận về hiếu

đạo của Nho giáo, nó đẩy địa vị và tác dụng của hiếu đạo lên cao nhất, trở thành kinh điển cực kỳ quan trọng, kế thừa, phát triển và trình bày toàn diện tư tưởng hiếu đạo, đánh dấu sự hoàn thành sáng tạo lý luận hiếu đạo của Nho giáo Sau này, trong quá trình phát triển, lịch sử Trung Quốc hàng ngàn năm chỉ đề cập tới thực tiễn của xã hội

và chính trị riêng về lý luận hiếu đạo, chỉ chỉnh sửa bổ sung cho hợp lý chứ ít có sáng tạo mới Về tác giả cũng như thời gian ra đời của tác phẩm vẫn đang là tranh cải của các nhà nghiên cứu, nhưng dẫu sao đây cũng là một trước tác mang tính tổng hợp, tất nhiên là kế thừa rất nhiều tư tưởng của Khổng Tử, Tăng Tử, Mạnh Tử và Tuân Tử xem hiếu đạo là cái gốc của mọi đức hạnh của con người, hiếu đạo như thiên tính tự nhiên

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Tóm lại, trong tiến trình phát triển của lịch sử hiếu đạo, ở từng giai đoạn, từng đại biểu, quan niệm hiếu đạo được khai thác, nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng về cơ bản, hiếu vẫn được xem là một trong những tiêu chuẩn đạo đức quan trọng của con người Có thể

Trang 25

nói, phạm trù hiếu gắn liền với những biến thiên của lịch sử các triều đại Trung Quốc và trong quá trình định hình, phát triển, hiếu luôn được xem là một giá trị đạo đức nền tảng, được nâng

lên thành một trong những nguyên tắc để trị nước Hiếu không chỉ giới hạn trong gia đình mà được mở rộng ra ngoài xã hội, mang màu sắc chính trị, được xác lập, thống nhất với trung (trung là điểm tận cùng của hiếu và hiếu là sự thể hiện của trung) Hiếu điều khiển quan hệ

trong gia đình, lấy người cha làm uy quyền tuyệt đối, từ đó mà có tác dụng củng cố, tổ chức các tầng lớp trong xã hội phong kiến Trung Quốc cổ đại

Trong giai đoạn hiện nay, hiếu đạo được sàn lọc và phát triển những nhân tố hợp thời đại phục vụ cho công tác giáo dục gia đình nói riêng và góp phần xây dựng nền đạo đức xã hội nói chung Điều đó cho thấy hiếu đạo vẫn được xem là một truyền thống quan trọng làm phong phú cho nền văn hóa Trung Hoa nói riêng và văn hóa Đông Á nói chung, trong đó có Việt Nam – một quốc gia láng giềng với bề dày hơn 4000 năm văn hiến và quan niệm đạo đức truyền thống hết sức tốt đẹp “ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn”

Trang 26

CHƯƠNG 2 VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA HIẾU ĐẠO

NHO GIÁO

2.1 TRUYỀN THỐNG HIẾU ĐẠO CỦA NGƯỜI VIỆT NAM QUA KHO TÀNG VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ PHONG TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN TRƯỚC KHI NHO GIÁO DU NHẬP

Gia đình luôn là bến đỗ yên bình nhất của mỗi đời người Chính trong gia đình, con người được sinh ra, được cưu mang, dưỡng dục, được cảm nhận những tình cảm thiêng liêng sâu đậm của công cha, nghĩa mẹ, tình yêu thương của anh em ruột thịt… những người thân yêu đồng tâm, đồng cảm chia sẻ ngọt bùi và nâng đỡ nhau suốt cả cuộc đời Văn hào Paxcan đã nói: “dù có nghèo nàn, dù có tồi tệ đi nữa, nhưng chẳng

có nơi nào có thể sánh với mái ấm gia đình”, vì lẽ đó, ai tìm thấy sự bình an trong gia đình chính là người hạnh phúc nhất, chỉ trong gia đình người ta mới được trao ban và cảm nhận được tình yêu thương sâu sắc, đức hy sinh quên mình của cha mẹ, đón nhận những bài học luân lý làm người đầu tiên được chắt chiu nhắn gửi:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ, kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Đạo hiếu trong triết lý dân gian Việt Nam luôn mang giá trị to lớn, được xem là thước

đo giá trị nhân phẩm quan trọng của mỗi con người Giá trị tinh thần cao quý này thể hiện trong hầu hết sinh hoạt tư tưởng, lối sống của người Việt Nam, từ hôn nhân, tang

lễ, sinh con, giáo dục con, trong thơ văn, nhạc họa Cho nên hiếu đạo luôn luôn là nguyên tắc quan trọng nhất trong vấn đề giáo dục con người thể hiện trong những câu chuyện, câu ca dao ngắn gọn, súc tích nhưng mang tính giáo dục sâu sắc

Mỗi câu chuyện là một bài học về lòng hiếu thảo, về cách ứng xử trong gia đình, về tình yêu thương quê hương, đất nước xuất phát từ tình cảm gia đình Từ ngàn xưa, giáo dục đạo đức – dạy con cái biết đối nhân xử thế, biết ăn ở, sống có nhân có nghĩa… được xem là việc làm quan trọng Ngay từ khi còn nhỏ những bài hát ru đưa nôi à ơi của mẹ và những câu chuyện cổ của bà cứ thấm dần vào tâm khảm của con trẻ, bởi ý thức về tình cảm, trách nhiệm, bổn phận được bố mẹ nhắn gửi thấm dần theo

Trang 27

thời gian trở thành một lớp văn hóa đặc biệt nâng đỡ mỗi người con trong cuộc đời,

đây như những bài luân lý giáo khoa thư đầu tiên nhưng sâu sắc làm hành trang theo

suốt cuộc đời của mỗi con người:

Dẫu tôi đi hết cuộc đời

Cũng không đi hết những lời mẹ ru

Rất nhiều truyện tích thể hiện giá trị hiếu đạo trong văn hóa gia đình Việt Nam,

song vì điều kiện thời gian, giới hạn đề tài nên tác giả chỉ chọn truyện Chử Đồng Tử,

Sự tích quả dưa hấu, Sự tích bánh chưng bánh dày làm đối tượng nghiên cứu, vì đây là

ba câu chuyện thể hiện phổ biến và khá rõ quan niệm về đạo hiếu của ông cha ta

Trong tín ngưỡng dân gian, Chử Đồng Tử được xem là một trong bốn vị “Tứ bất tử” có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của dân tộc Việt Có hai loại tài liệu ghi lại thần tích của Chử Đồng Tử: trong Lĩnh Nam Trích Quái của Trần Thế Pháp và trong Nam Hải Dị Nhân của Phan Kế Bính Tuy nhiên về sau này vì thần tích của người có nhiều yếu tố huyền bí và bởi tình yêu thương, sự mến mộ đối với

thần mà người đời bổ sung thêm Hậu sự tích Chử Đồng Tử Hẳn đây cũng là chuyện

bình thường vì là câu truyện dân gian, việc thần tích hóa các sự kiện để lưu truyền, nhằm thiêng liêng hóa cái tình cảm dành cho thần luôn luôn mới mẻ để hấp dẫn người nghe và để thần được lưu truyền dài lâu trong đời sống xã hội Tuy nhiên dù thần tích của thần được dân gian bổ sung thêm nhưng cốt lõi của truyện về cơ bản không thay đổi Đó là truyện xoay quanh chuyện tình của chàng trai nhà nghèo nhưng hiếu thảo Chử Đồng Tử với công chúa Tiên Dung Đạo hiếu được xem như một giá trị, một đạo lý tự nhiên, trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cốt truyện khiến câu chuyện ly kỳ, có tính giáo dục đạo đức cao Bắt đầu từ việc gia đình hai cha con họ Chử rất nghèo chỉ có một cái khố dùng chung, đến khi cha mất, không nỡ để cha mình không mảnh vải che thân Chử Đồng Tử đã mặc khố cho cha trước khi đem chôn còn mình thì trần truồng ngâm mình dưới nước ngày ngày câu cá đổi lấy thức

ăn từ các thuyền qua lại Ở đây tình cha con được biểu lộ cử chỉ nhường nhau cái khố duy nhất và vì tin rằng chết cũng như còn nên Chử Đồng Tử không nỡ để cha trần truồng Hành động ấy, có thể nói cũng là cách ứng xử thường tình của đạo lý làm người mà đạo con của Chử Đồng Tử không thể làm khác Do vậy, dù có nghèo đói,

dù phải trần truồng nhưng phải hi sinh để cho cha ấm thân khi qua đời thì âu cũng là chuyện mà một người con nên làm Nghĩa cử này không hẳn xuất phát từ bổn phận

Trang 28

gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ mà là xuất phát tự đáy lòng, từ cái nhìn hết sức tự nhiên của người con dành cho người cha

Không chỉ Chử Đồng Tử, việc làm của công chúa Tiên Dung cũng khiến ta phải suy nghĩ về cách thể hiện đạo hiếu của người xưa Việc Tiên Dung không nghe lời ngăn cản của cha, quyết chí lấy Chử Đồng Tử, nói theo khuôn phép của lễ giáo thì rõ ràng nàng đã phạm tội bất hiếu, và việc hai vợ chồng nàng lập ra làng, chợ, xây dựng được một cơ ngơi vững chắc đã thể hiện chữ hiếu theo cách nghĩ của riêng mình, đó là hiếu làm theo lẽ phải ở đời, theo lẽ tự nhiên không câu nệ vào hình thức, vào những giáo điều lễ giáo phong kiến đã định sẵn Điều này khác hẳn với giáo lý Nho giáo, với đạo “tam tòng” cứng nhắc, hôn nhân phải do cha mẹ quyết định sao cho “môn đăng hộ đối” và quan niệm việc đàn bà, con gái chỉ là việc tề gia, nội trợ, làm kinh tế, duy trì sự tồn tại của gia đình là trách nhiệm của người đàn ông

Qua câu truyện, dân gian còn muốn nhắn gửi, nhắc nhở người làm con phải biết hiếu thảo với cha mẹ, luôn xem đấy là đạo lý sống ở đời không được quên và ai

“hiếu với cha mẹ” sẽ “được trời giúp cho” bằng chứng là Chử Đồng Tử và Tiên Dung sống hạnh phúc bên nhau Chính tấm lòng chí hiếu đã nâng bổng hai người lên cao, thành tiên, thành thánh, được dân làng ven sông lập đền thờ kính và truyền tụng đến tận ngày nay như tấm gương sáng cho con cháu noi theo

Truyện Sự tích quả dưa hấu cũng có một ý nghĩa tiềm ẩn về đạo làm con thời

xa xưa với tinh thần tự lực, cần cù, sáng tạo trong lao động và đầy nhân nghĩa đối với cha mẹ An Tiêm vì một câu nói bộc trực, xuất phát từ tấm lòng chân thực, bị vua Hùng đuổi ra sống ở ngoài hoang đảo Không chút oán hận, cùng vợ con ra đảo cần cù lao động, nhờ cơ may và sáng trí, An Tiêm gầy dựng giống dưa đỏ ngon ngọt, rồi mở cuộc buôn bán với khách phương xa, trở nên giàu có và nổi tiếng Vua Hùng hay tin, suy nghiệm thấy lời của An Tiêm về việc giàu sang của con người là do lao động chứ không phải do vua ban phát là đúng đắn, Ngài hối hận vì đã trách oan và nể trọng người con rể tài ba, hiếu thuận, cho đón gia đình An Tiêm trở về An Tiêm nay đã giàu sang, không quên đạo nghĩa luân thường, giữ đúng bổn phận rể con, sắm sửa lễ vật, trong đó có những trái dưa ngon ngọt nhất để dâng lên vua cha, tỏ tấm lòng thành kính thương yêu của mình

Truyện nêu cao tấm gương hiếu thảo, con cái phải luôn nhớ đến phước đức của cha mẹ, tổ tiên để lại mà ăn ở, làm việc cho hợp lẽ phải, con cái dù bị la mắng, quở phạt

Trang 29

cũng không sinh oán hận, ngược lại phải cố gắng học tập, làm việc và kính dâng lên cha

mẹ những thành quả tốt nhất do mình tự tạo để cha mẹ được vui lòng Truyện nêu cao tinh thần “tự thân lập nghiệp” với ý chí lao động cật lực, cần cù, buôn bán kinh doanh chân chính giúp cải thiện đời sống

Với Sự tích bánh chưng, bánh dày, không chỉ kể về nguồn gốc của bánh Chưng,

bánh Dày mà còn đề cao tư tưởng hiếu trong mạch sống thường nhật của mỗi người dân Việt Tuy đây chỉ là một câu truyện cổ tích truyền tụng trong dân gian nước ta từ ngàn xưa, nhưng nó vẫn gợi lên cho tất cả chúng ta những điều cần suy ngẫm về chữ hiếu trong cuộc sống ngày nay

Truyện kể về việc vua Hùng sau khi dẹp xong giặc Ân đã ra chiếu chỉ chọn người hiền tài kế vị, và yếu tố bất ngờ ở đây là việc vua Hùng không chọn trưởng tử cũng như những vị hoàng tử tiến dâng của ngon, vật lạ lên kế vị mà Ngài đã chọn Lang Liêu – chàng hoàng tử nghèo tiến dâng hai loại bánh cũng bình thường, giản dị như chính cuộc sống lao động thường nhật của chàng: bánh chưng, bánh dày làm từ gạo nếp Vua Hùng đã nhận thấy những thứ sơn hào hải vị và vật ngon quý hiếm do các hoàng tử dâng cúng không những không nói lên được những đức tính “cần, kiệm, liêm, chính” vốn là những đức tính “cần và đủ” của một người lãnh đạo mà chúng còn bộc lộ ý muốn “tranh danh đoạt lợi”, phơi bày tâm lý hưởng thụ xa hoa Trái lại, hình ảnh chiếc bánh chưng, bánh dày tuy hết sức đơn sơ bình dị nhưng lại gợi lên trong tâm thức nhà vua hình ảnh của đất trời, của giang sơn gấm vóc, của những con dân chân lấm tay bùn, dãi nắng dầm mưa để tạo nên những hạt ngọc, hạt vàng nuôi nấng con người, trong đó có chính ngài, hơn thế nữa, trong tâm thức người Việt Nam hình ảnh chiếc bánh chưng, hình vuông tượng trưng cho cha trời, bánh dày, hình tròn tượng trưng cho mẹ đất là biểu tượng thiêng liêng của công ơn cha mẹ

Điều quý giá nằm ngay trong những việc rất đổi bình thường, từ lương thực hằng ngày nhưng được kết hợp bởi bàn tay khéo léo và sự sáng tạo, bánh chưng bánh dày ra đời không chỉ là vật phẩm dâng cúng tổ tiên mà còn là thành quả của cả quá trình lao động cần cù, ai hiểu điều này cũng đồng nghĩa với việc thấu hiểu sự kỳ vọng của vua cha

Việc vua Hùng truyền ngôi báu cho hoàng tử Lang Liêu đã chứng tỏ rằng, từ ngàn xưa, cha ông ta đã lấy hiếu làm tiêu chí, thước đo nhân cách trong việc tuyển dụng nhân tài lãnh đạo đất nước, quan điểm này cho đến bây giờ vẫn đáng cho chúng

Trang 30

ta học tập và vận dụng Quả thật, một người mà khiếm khuyết hiếu đạo thì chắc chắn

sẽ khó trở nên một nhà lãnh đạo chân chính và xuất sắc, bởi tự thân người ấy còn chưa hiếu kính với người có công sinh thành dưỡng dục thì làm sao có thể hiếu kính với nhân dân trăm họ Hơn thế nữa, trong việc truyền ngôi báu, vua Hùng còn nêu lên quan niệm thoáng đạt của cha ông về quan niệm hiếu, không bó hẹp, khuôn mẫu, truyền ngôi cho con trưởng như quan điểm của chế độ tông pháp Nho giáo, hiếu đã mở rộng ra khỏi phạm vi gia đình, vượt ra ngoài biên giới ích kỷ cá nhân, dòng tộc, hiếu trở thành biểu tượng của tình yêu thương, sự phục vụ và trách nhiệm với quê hương đất nước Hơn nữa, theo quan điểm của cha ông, hiếu không chỉ thể hiện ngày một ngày hai, mà nó phải thể hiện thường nhật vì thế trong ngày đầu năm mới qua hình ảnh bánh chưng bánh dày – thành quả lao động suốt một năm cấy cày, cha ông ta đã tinh

tế, ý nhị nhắc nhở con cháu về công ơn cha mẹ, về hành vi hiếu thuận của con cháu Những truyện tích vừa kể, không đơn giản là truyện kể nghe chơi mà là những bài học dân gian có chủ đích dạy người đời về lễ nghĩa, bổn phận làm người, nhất là đạo làm con để những chuẩn mực đạo lý này trở thành chuẩn mực đạo đức cơ bản của mỗi con người

Làm trai nết đủ trăm đường

Trước tiên chữ hiếu đạo thường xưa nay

bởi vì:

Con người có tổ, có tông

Như cây có cội, như sông có nguồn

Ai không hiểu chân lý đơn giản này không thể trưởng thành được! Mỗi chúng ta sinh

ra trong cõi đời này là kết quả của tình yêu thương, dưỡng dục của cha mẹ, chính sự giảng dạy nghiêm khắc của cha, lòng từ ái của mẹ đã nuôi nấng ta nên người, đây là những hành trang ta mang vào đời với kỷ niệm ngọt ngào của tuổi ấu thơ về nguồn cội, cho nên bất hạnh lớn nhất trên đời là mất đi tình yêu thương cha mẹ, đặc biệt ở tuổi ấu thơ – cái “tuổi ăn chưa no, lo chưa tới”:

Thuyền không bánh lái thuyền quay

Con không cha mẹ ai bày con nên?

Thiếu đi sự giảng dạy của mẹ cha, mỗi chúng ta rất khó trưởng thành, và có thể như con thuyền bất định giữa sóng đời cuồn cuộn

Trang 31

Tình yêu thương và lòng kính trọng như chất keo gắn kết mỗi người con với cha mẹ của mình và cũng chính mỗi người con ấy tự ngầm định về nghĩa vụ, bổn phận đối với công ơn cha mẹ:

Mẹ già ở túp lều tranh

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con

Việc nuôi dưỡng, chăm sóc và kính ái hết lòng được xem là diễm phúc lớn lao của mỗi người khi cảm nhận được “hạnh phúc khi còn có mẹ” để được nghe chỉ dạy, khuyên bảo, thậm chí chỉ để ngắm nhìn rồi tự cân bằng mình trước những bộn bề, lo toan của cuộc sống Bởi thế:

Ai còn mẹ xin đừng làm mẹ khóc

Đừng để buồn trên mắt mẹ rưng rưng

đừng học đòi theo những người con xem thường đạo hiếu:

Lúc sống thì chẳng cho ăn

Đến khi chết xuống làm văn tế ruồi

đừng để câu hát dân gian trở thành hiện thực:

Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể

Con nuôi cha mẹ, con kể từng ngày

Những lời nhắc nhở nhẹ nhàng, thông qua ca dao – dân ca, như những lời nhắn gửi về đạo làm con mà cha ông truyền dạy đến những người con trong cuộc sống này phải biết ăn ở sao cho phải đạo, dù có đói nghèo, khó khăn đến mấy cũng phải hết lòng phụng dưỡng mẹ cha:

Đói lòng ăn hột chà là

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

Hiếu đối với cha mẹ không đơn thuần là việc phụng dưỡng, chăm sóc đầy đủ về mặt vật chất mà quan trọng mỗi người con nên thể hiện sự quan tâm cha mẹ bằng tình cảm chân thành thôi thúc tự con tim, tận đáy lòng chứ không nên chỉ xem đó là “việc” phải làm, hơn nữa phải biết theo đuổi đến cùng ý chí hướng thiện, giúp đời như lòng mẹ cha hằng mong mỏi:

Làm trai chí lớn cho bền

Chớ lo hiếm của, chớ phiền muộn con

Trang 32

Ông bà ta rất chú trọng đến vấn đề giáo dục con cái và khá thoáng đạt trong quan niệm

về giới tính của con không giống như quan niệm “nhất nam viết hữu” của Nho giáo Trung Hoa:

Trai mà chi, gái mà chi

Sống sao có nghĩa nghì thì hơn

Có thể nói, ca dao – dân ca như con thuyền tuổi thơ đầy ắp những âm thanh trìu mến ngọt ngào cùng dòng sữa mẹ đã nuôi nấng mỗi chúng ta trưởng thành, đó là đôi cánh ước mơ, chuyên chở những khát vọng ngàn đời của cha ông nuôi lớn tâm hồn mỗi người dân Việt, thông qua ca dao dân ca, truyền thống văn hóa dân tộc giàu tình yêu thương con người như được chuyển tải nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, đặc biệt là hiếu đạo – một trong những giá trị đạo đức truyền thống giàu tính nhân văn của dân tộc

Trong một ngàn năm đô hộ, phương Bắc bao giờ cũng muốn Hán hóa cả dân tộc bằng đủ mọi thâm kế hiểm độc, từ việc vơ vét tài nguyên, kỹ thuật, học thuật, văn hóa, sách vở, đến việc triệt tiêu tất cả những điều tốt đẹp của văn minh tinh thần và vật chất của dân tộc Việt Nhưng những sĩ phu yêu nước không ngừng đấu tranh và cùng nhau tìm ra lối đi riêng cho nền văn hóa của dân tộc Chữ Nôm là sản phẩm văn hóa tiêu biểu cho quá trình đấu tranh chống Hán hóa ấy, đây là loại chữ viết riêng của dân tộc ta được nghiên cứu suốt thời gian dài, có thể bắt đầu vào cuối đời Trần, hoàn chỉnh vào đời hậu Lê, thịnh hành vào đời Tây Sơn Chữ Nôm đã được dùng viết lại những tư liệu, sử dụng trong công văn điều hành nhà nước, sáng tác thi thơ, văn phẩm, lưu truyền những kiệt tác văn học, những giá trị luân lý, đạo đức của cha ông

Những tác phẩm văn học viết theo lối văn vần, thơ lục bát là những tác phẩm tiêu biểu của truyện Nôm dân gian, hầu hết đều tập trung vào luân lý gia đình, vào

những tấm gương hiếu thảo, nhân nghĩa Ví như Truyện Tống Trân, xây dựng hình ảnh

một người vợ, người con dâu tuyệt vời, nàng Cúc Hoa lấy chồng từ lúc còn trẻ con, vì chồng nghèo nên bị bố vợ hắt hủi, đuổi đi ăn mày Tống Trân cố gắng học hành, đỗ được trạng nguyên, bố vợ vội vàng xu nịnh, nhưng ngay sau khi chàng được cử đi sứ Hung Nô 10 năm biền biệt thì ông lại trở mặt đánh đập, bắt con gái là Cúc Hoa phải đi lấy chồng khác, tệ hơn nữa là bắt nhốt bà sui gia vào chuồng trâu Nàng Cúc Hoa không nghe theo lời dạy không đúng đạo nghĩa của cha, không đi lấy chồng khác tiếp tục yêu thương nuôi nấng, phụng dưỡng mẹ chồng, cuối cùng Tống Trân trở về, gia đình đoàn tụ trong nước mắt, Cúc Hoa đã nêu cao tấm gương kiên trinh hiếm có của

Trang 33

một người vợ chung thủy dịu hiền, một người con hiếu thảo, không thực hiện hiếu đạo một cách mù quáng Để răn dạy con cháu đời sau nhân dân ta đã lập đền thờ tưởng nhớ hai vợ chồng nàng

Một câu chuyện Nôm khác cũng khá đặc sắc - Truyện Phương Hoa - kể về

người con gái tên Phương Hoa, trên quê hương xứ Thanh (Việt Nam), xảy ra vào thời nhà Trần Nàng Phương Hoa được hứa gả làm vợ Trương Cảnh Yên, nhưng biến cố xảy ra, gia đình hôn phu tan nát, Phương Hoa không lấy chồng khác, giữ trọn thủy chung, không chỉ chăm sóc, hiếu thuận với cha mẹ chồng mà còn cải nam trang, đi thi

đỗ tiến sĩ được vào tận triều đình để minh oan cho chồng Nàng là hiện thân của tấm lòng thủy chung, son sắt hiếm có ở đời, vượt lên trên quan niệm hi sinh, chịu đựng tiêu cực của không ít phụ nữ thời xưa, Phương Hoa mang dáng dấp của người phụ nữ tiến

bộ, không chấp nhận một tình yêu ủy mị, âm thầm chịu đựng đau khổ, nàng hành động một cách thông minh và khá táo bạo: dám một mình đến chốn kinh kỳ ứng thí trong hình dáng của một thanh niên, liều lĩnh hơn nữa là mang tên họ của chồng sắp cưới – người đang phạm tội, để so tài đọ sức, để vạch rõ trắng đen minh oan cho chồng Phương Hoa được xem là biểu trưng của người phụ nữ Việt Nam bình dị, đảm đang, vượt lên trên sự yếu đuối, ủy mị thông thường để cán đáng công việc của chồng khi cần thiết:

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam

Dạy con đèn sách thiếp là phụ thân

Nói đến truyện Nôm mà không nhắc đến Truyện Kiều, truyện Lục Vân Tiên là

một thiếu sót rất lớn, đây là hai trong những tác phẩm mang chủ đề văn hóa gia đình rất độc đáo Nét độc đáo thể hiện ở hầu hết nhân vật – những con người mang đậm dấu

ấn văn hóa dân tộc với triết lý sống hết sức giản đơn nhưng sâu sắc:

Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình

hoàn toàn không mâu thuẫn với hành động “bán mình chuộc cha”, “lấy hiếu làm trinh” của Kiều, bởi một lý lẽ rất chí tình:

Thà rằng liều một thân con

Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây

Truyện Kiều – Nguyễn Du

Trang 34

Chính điều này thể hiện quan niệm rất tiến bộ của cha ông ta trong việc tiếp nhận đạo đức Nho giáo, trong cách đánh giá đức hạnh của người phụ nữ “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”! Hơn nữa, quan điểm của cha ông ta trong quan niệm tình yêu, hôn nhân, không cứng nhắc đòi hỏi một chiều từ phía người phụ nữ, trách nhiệm chăm sóc cha mẹ hai bên phải là trách nhiệm chung ví như hành động của Kim Trọng chăm sóc cho cha mẹ Kiều khi nàng lưu lạc:

Thần hôn chăm chút lệ thường

Dưỡng thân thay tấm lòng nàng xưa kia

Truyện Kiều – Nguyễn Du

Quan niệm về hiếu đạo của chúng ta còn thể hiện thông qua phong tục thờ cúng ông

bà tổ tiên có từ rất lâu đời được truyền từ đời này sang đời khác, trở thành đạo lý, tập tục, truyền thống thấm sâu trong tiềm thức mỗi con người Việt Nam, vì họ tin rằng, dù đã mất nhưng vong hồn tổ tiên vẫn còn bên con cháu, che chở, nhắc nhở, động viên mình Do đó thờ cúng tổ tiên là đạo lý ở đời, là “đạo nhà” của người Việt Nam Thờ cúng tổ tiên là lễ nghi thể hiện lòng thành kính của con cháu đối với ông bà tổ tiên, mỗi khi tuần tiết, giỗ kỵ, hoặc mùa có quả mới, gạo mới, hoặc trong nhà có việc hệ trọng như đi xa, ma chay, cưới xin, làm nhà… việc to, nhỏ tùy theo mà sắm lễ cúng, có thể làm cỗ chay hoặc chỉ lưng bát cơm, quả trứng, miễn là thành tâm

Gia đình - làng - nước trong tâm linh người Việt bao đổi thân thương, gắn quyện với nhau trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch họa, họ có tổ họ, làng có Thành Hoàng, nước có tổ nước, Vua Hùng là tổ của muôn dân nước Việt, ngày mùng

10 tháng 3 âm lịch hàng năm người Việt từ khắp nơi, kể cả ở nước ngoài đều hướng về

“quê cha, đất tổ” để tưởng nhớ công đức của tổ tiên:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba

Hầu hết người dân Việt đều xem trọng việc thờ cúng tổ tiên điểm này thể hiện rõ trong

cách trang hoàng các nhà thờ với những bức hoành phi câu đối: phục kỳ thủy (hướng về cội rễ

xa xưa), ẩm hà tư nguyên (uống nước nhớ nguồn) như lời nhắn nhủ con cháu về ý nghĩa thiêng

liêng của việc hiếu kính tổ tiên

Ngoài ca dao dân ca, truyện tích, thông qua Gia huấn ta cũng có thể hiểu được các quan hệ trong gia đình truyền thống, hiểu được hướng giáo dục đức dục và trí dục của cha mẹ đối với con cái Gia huấn ca là những bài ca, bài văn, những tập sách cha

Trang 35

anh viết ra để dạy con em, dạy người trong nhà Theo cách dạy dỗ ngày xưa, con trai được 6 tuổi sẽ được bố mẹ cho đi học với các thầy đồ: học chữ Hán, học kinh sử, học viết văn chương để đi thi, nội dung cơ bản là dựa vào các kinh điển Nho giáo nên chủ yếu vẫn là giáo dục đạo đức luân lý, để trở thành một người con hiếu đễ trong gia đình Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, đôi khi các thầy Đồ chú ý nhiều đến kinh điển nhà Nho, thiếu kiến thức về thực tế Vì thế trong nhiều gia đình nhà Nho có học vấn cao, với mong mỏi con mình không chỉ thành danh trên con đường khoa cử mà còn phải là người có đạo đức, biết sống theo đạo lý ở đời nên họ có nhu cầu dạy thêm cho con em ở nhà thông qua các sách về Gia huấn

Không chỉ quan tâm truyền dạy lại cho con cái những kinh nghiệm sống, cách đối nhân xử thế ở đời mà họ còn muốn thông qua gia huấn con cháu sẽ học được những tấm gương sáng của các bậc tổ tiên, biết được những tâm nguyện của cha ông

mà phấn đấu, hoàn thiện, đồng thời nhắc lại nề nếp, gia phong và khuyên con cháu nên giữ gìn, phát huy Chính vì lý do đó, Gia huấn không phải là những nội dung triết lý cao siêu, ngược lại đó là những câu nói hết sức giản dị, dễ hiểu như lời tâm tình, khuyên nhủ của bậc cha chú dành cho con cháu trong nhà Tiêu biểu là tác phẩm Minh Đạo gia huấn do Trình Hiệu viết, xuất xứ từ Trung Quốc, sau này các nhà Nho Việt bổ sung thêm nhiều sách gia huấn khác cho phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, vì

vậy mà các tác phẩm gia huấn ở ta cũng khá nhiều, như: “Bảo hòa điện dư bút” của

nhóm vua quan Trần Nghệ Tông, Đào Sử Tích, Nguyễn Mậu Tiên, Phan Nghĩa… ghi chép những lời hỏi han, giải đáp hằng ngày về chuyện cũ dùng để dạy hoàng tử, công

chúa; “Huấn đồng thi tập” của Phùng Khắc Khoan (Hoàng giáp năm 1580); “Nữ huấn tân thư” của Ngô Thế Vinh (tiến sĩ 1829); phổ cập nhất là các sách gia huấn viết bằng quốc âm: “Ngũ huấn tự quốc âm” của Nguyễn Tông Khuê (Hoàng giáp năm 1721);

“Phụ châm tiện lãm” của Lý Văn Phức (cử nhân 1820); “Từ huấn lục” ghi chép lời

của Thái hậu Từ Dũ dạy con là vua… Theo các nghiên cứu thống kê được thì hiện nay

còn đến trên 40 bản được lưu giữ lại tại viện Hán Nôm (Hà Nội), bản xưa nhất là “Gia huấn tử phú” của Mạc Đỉnh Chi đời Trần (có lẽ bản này là có trước nhất) Gia huấn

viết trong gia đình khá nhiều, dù viết ở thể loại nào: thơ, văn, phú, bài trích các câu châm ngôn… nội dung chính vẫn xoay quanh chuyện dạy người trong nhà nên giữ lòng ngay thẳng, trung tín, làm điều thiện, tránh điều ác, sống giản dị, tiết kiệm, không

Trang 36

bài bạc rượu chè, phê phán thói ăn chơi xa hoa… và trên hết phải biết hiếu thuận với cha mẹ, anh em

“Gia huấn ca” trước đây tương truyền là của Nguyễn Trãi tuy nhiên cũng có

những tranh cãi là của Lý Văn Phức, nhưng dù là của ai cũng không thể phủ nhận những giá trị mà tác phẩm mang lại cho vấn đề giáo dục hiếu đễ Vượt ra khỏi phạm vi gia đình tác phẩm được xem là tài sản tinh thần vô giá, tiêu biểu của giáo dục đạo đức luân lý trong gia đình, vì thế tác giả đã chọn trình bày trong đề tài để hiểu thêm vấn đề giáo dục gia đình Việt Nam trước đây

Gia huấn ca gồm 780 câu thơ, được chia thành 6 bài, với từng nội dung cụ thể:

1 Bài ca dạy vợ, dạy con (dài 300 câu)

2 Bài ca dạy con ở cho có đức (dài 66 câu)

3 Bài ca dạy con gái ở cho có đức hạnh (dài 168 câu)

4 Bài ca khuyên chồng (dài 28 câu)

5 Bài ca dạy học trò ở cho phải đạo (dài 114 câu)

6 Bài ca khuyên học trò phải chăm học (dài 104 câu) [98, tr.135]

trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục gia đình đối với việc hình thành, phát triển nhân cách cá nhân:

“Đặt quyển sách vắt tay nằm nghĩ

Hễ làm người dạy kỹ thì nên.”

Bởi thế xuyên suốt cuốn gia huấn, hiếu đạo được xem là một luân lý, luôn luôn được nhắc nhở, dạy bảo trước nhất, cụ thể như bổn phận: làm con đối với cha mẹ, làm con dâu đối với cha mẹ chồng và còn được nhắc nhở, dạy bảo học trò Đối với bổn phận làm con dâu, không chỉ đằm thắm, đoan trang trong lời ăn tiếng nói, đi đứng nhẹ nhàng, mà còn đảm nhiệm tốt bổn phận con dâu trong việc chu toàn lễ tết, giỗ chạp với cả hai bên gia đình chồng và gia đình mình, “trước là hiếu với tổ tiên”

và phải được thể hiện bằng tình cảm chân thành, không được làm quấy quá cho xong, thái độ phải hết sức cung kính mực thước:

Nói đừng chau mặt, chau mày

Nghe ra ngậm đắng nuốt cay hay nào

Trong bổn phận của người con, việc báo hiếu công ơn cha mẹ phải ghi tạc vào lòng và tùy từng hoàn cảnh mà làm, miễn sao không trái với đạo làm người:

Việc báo hiếu phải chăm chữ hiếu

Kiệm hay phong cũng liệu tùy thời

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w