1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách lao động đối với công nhân công ty cổ phần giấy vĩnh huê tại thành phố hồ chí minh

116 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc lựa chọn đề tài: “CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY VĨNH HUÊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ” là hướng ưu tiên và thôi thúc tác giả điều tra, nghiên cứu để có t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học

TS LÊ HẢI THANH

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành gởi lời cảm ơn của mình đến Tiến sĩ Lê Hải Thanh thầy đã hướng dẫn tận tình tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn Cám ơn Ban lãnh đạo cũng như toàn thể công nhân Công ty Cổ phần Giấy Vĩnh Huê đã giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu Đồng thời cũng xin gởi lời cảm ơn đến những người thân và bạn bè đã phụ giúp tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, đề tài nghiên cứu này chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác

Số liệu được phân tích và dẫn chứng trong đề tài là kết quả nghiên cứu thực nghiệm của tôi đã tiến hành thực hiện tại Công ty Cổ phần Giấy Vĩnh Huê tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 5 năm 2010

Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 09 năm 2010

Tác giả luận văn

Trần Thị Hoàng Mai

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN 1: DẪN NHẬP ……….1

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu………3

3 Mục đích nghiên cứu……… … 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 3

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài……… 4

Phần 2: Nội dung nghiên cứu……… 7

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài……… 7

1 Lịch sử nghiên cứu của đề tài………7

2 Giả thuyết nghiên cứu……… 12

3 Các quan điểm lý thuyết: ……… 12

Quan điểm hành động xã hội của Weber……… 12

Quan điểm cấu trúc chức năng……… 14

Quan điểm xung đột……… 17

Quan điểm về trách nhiệm xã hội của công ty……… 18

4 Khung lý thuyết……… 21

5 Các khái niệm cơ bản được sử dụng trong đề tài………22

Chính sách lao động……… 22

Công nhân……….22

Doanh nghiệp………23

Công ty……… 24

Chương 2: Chính sách lao động đối với công nhân Công ty Cổ phần Giấy Vĩnh Huê……… 25

1 Tổng quan về Công Công ty Cổ phần Giấy Vĩnh Huê………25

Quá trình hình thành và phát triển công ty……….25

Cơ cấu tổ chức và bộ máy điều hành công ty………27

2 Đặc điểm xã hội cơ bản của công nhân ở công ty……… 30

Cơ cấu về giới tính và độ tuổi công nhân……… 30

Trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp………31

Trang 7

Tình trạng sức khỏe của công nhân……… 33

Hoàn cảnh kinh tế của công nhân trong công ty……… 33

3 Hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân trong doanh nghiệp……… 34

Bảo đảm cho công nhân có việc làm thường xuyên và ổn định…… 34

Chính sách về điều kiện lao động, an toàn, vệ sinh lao động…………35

Chính sách bảo hiểm xã hội đối với công nhân……….36

Chính sách tiền lương, thưởng……… 37

Dạy nghề………39

4 Thực hiện chính sách lao động đối với công nhân Công ty cổ phần giấy Vĩnh Huê……….40

Bảo đảm cho công nhân có việc làm thường xuyên và ổn định………40

Chính sách về điều kiện lao động, an toàn, vệ sinh lao động…………45

Chính sách bảo hiểm xã hội đối với công nhân……….52

Chính sách tiền lương, thưởng……… 62

Dạy nghề………71

5 Nguyên nhân và các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách lao động của công ty đối với công nhân……… 75

Phần 3: Kết luận và khuyến nghị……….78

1 Kết luận………78

2 Khuyến nghị……….80

Danh mục tài liệu tham khảo……….83

Bảng câu hỏi……… 84

Phụ lục 1: Biên bản phỏng vấn sâu……… 94

Phụ lục 2: Bảng biểu……… 102

Trang 8

PHẦN 1: DẪN NHẬP

1.LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân đã kéo theo số lượng công nhân làm việc trong khu vực này cũng phát triển theo Tỷ trọng các ngành công nghiệp dịch vụ càng tăng thì số lượng công nhân lao động trong cơ cấu nghề nghiệp xã hội càng tăng và sẽ tăng không ngừng trong thời gian tới Việc thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế - xã hội, chất lượng sản phẩm, tổng sản phẩm quốc dân … có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ công nhân

Đội ngũ công nhân lao động trong các doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của doanh nghiệp Họ là lực lượng sản xuất trực tiếp, có ý nghĩa quyết định tạo nên các giá trị sản xuất đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước

Ngày nay, nước ta đang bước vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa , Đảng ta đã khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, thực hiện chính sách mở cửa, tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để tiến nhanh lên ngang tầm với các nước trong khu vực và các nước phát triển Quá trình đô thị hóa cũng đưa một số lượng lớn người lao động nông thôn, nông nghiệp trở thành công nhân Sự phát triển mạnh mẽ đội ngũ công nhân trong thời gian tới đòi hỏi chúng ta phải có một chính sách lao động đầy đủ cho đối tượng này Trong “ Đảng cộng sản Việt Nam - Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII ” của nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội khẳng định: “ Nhiều vấn

đề xã hội gay gắt để tồn đọng kéo dài, chậm được giải quyết: Nhà nước chưa quan tâm đúng mức và chưa có chính sách, biện pháp có hiệu quả để xử lý mối quan hệ giữa kinh tế và xã hội trong quá trình phát triển; chưa dự kiến được những hậu quả

Trang 9

tiêu cực về xã hội, về tư tưởng và tâm lý của các cơ chế, chính sách kinh tế mới để

có biện pháp khắc phục kịp thời”

Chính sách lao động đối với công nhân có vị trí đặc biệt quan trọng, nếu không nói đây là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của đội ngũ công nhân Xét trên phương diện kinh tế xã hội, chính sách lao động có thể được coi như thước đo để đánh giá trình độ phát triển của nó

Chính sách lao động đối với công nhân đã và đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và được nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng Nếu chính sách lao động mang tính tích cực thì sẽ phát huy bền vững nguồn nhân lực, ngược lại thì sẽ làm triệt tiêu động lực phát triển Nhưng có một điểm cần lưu ý là xã hội hiện đại phát triển càng cao thì công tác quản lý xã hội phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh theo một nhịp độ ngày càng nhanh Các chính sách này luôn có nguy cơ lạc hậu so với thực tiễn cuộc sống

Từ đó ta có thể nhận thấy chính sách lao động là một vấn đề lớn cần được

đi sâu và tìm hiểu, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu xã hội Trong đó việc nghiên cứu chính sách lao động đối với giai cấp công nhân là một điều rất cần thiết Vì công nhân là lực lượng lao động chủ yếu của đất nước

Việc lựa chọn đề tài: “CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG

NHÂN CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY VĨNH HUÊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ” là hướng ưu tiên và thôi thúc tác giả điều tra, nghiên cứu để có thể góp

phần nhỏ bé của mình vào việc tìm hiểu chính sách lao động đối với công nhân trong các doanh nghiệp, một vấn đề rất cấp thiết hiện nay

Trang 10

2.ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Như chủ đề đã xác định, đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân lao động trong doanh nghiệp, mà cụ thể ở đây là Công ty

cổ phần giấy Vĩnh Huê

2.2 Khách thể nghiên cứu:

Khách thể nghiên cứu của đề tài là công nhân trong doanh nghiệp, tuy nhiên đề tài

còn đề cập đến những nhà quản lý của Công ty cổ phần giấy Vĩnh Huê

2.3 Phạm vi nghiên cứu :

Vì đây là nghiên cứu trường hợp nên phạm vi nghiên cứu chỉ là Công ty Cổ phần Giấy Vĩnh Huê tại thành phố Hồ Chí Minh

3.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện mà doanh nghiệp thực hiện những qui

định về chính sách lao động đối với công nhân

- Xem xét việc thực hiện chính sách lao động ở Công ty cổ phần giấy Vĩnh

Huê đối với công nhân ra sao? Có tác dụng như thế nào với đời sống của công

nhân

- Từ kết quả của nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị, nhằm xây dựng, bổ

sung cho các qui định về chính sách lao động của Nhà nước cũng như để các

doanh nghiệp tham khảo trong giai đoạn hiện nay

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Xác định các khái niệm liên quan đến đề tài, thế nào là chính sách lao

động, công nhân, công ty và doanh nghiệp

- Chính sách lao động bao gồm những yếu tố nào

- Tìm hiểu việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân lao động

trong Công ty cổ phần giấy Vĩnh Huê

Trang 11

- Chính sách lao động tác động như thế nào đến đời sống kinh tế xã hội của công nhân

- Từ đó đưa ra kết luận và những kiến nghị để có thể thực hiện tốt hơn chính sách lao động đối với công nhân lao động

5 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN

5.1 Ý nghĩa lý luận

- Đề tài góp phần tìm hiểu mối quan hệ giữa chính sách lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Đề tài cũng sẽ cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên, các nhà quản lý

và hoạch định chính sách pháp luật và những ai quan tâm đến đối tượng này

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Góp phần vào sự tìm hiểu, vào việc phân tích, nghiên cứu lý luận liên quan đến các bộ luật của Nhà nước về chính sách lao động của công nhân trong doanh nghiệp

CỔ PHẦN GIẤY VĨNH HUÊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ” sẽ giúp cho

các nhà làm luật, chính sách, quản lý tham khảo trong việc hỗ trợ hoạch định và điều chỉnh các qui định về việc thực hiện chính sách lao động cho công nhân được tốt hơn

- Trong thời gian qua những vấn đề về công nhân liên quan đến chính sách lao động … đã gây những ảnh hưởng không nhỏ đến người lao động và đã làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn, xung đột giữa người quản lý và người lao động trong các doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế - xã hội Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này góp phần chỉ ra những nguyên nhân cũng như biện pháp để các nhà quản lý giải quyết tốt những vấn đề này

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: phương pháp này cho phép chọn

một hay nhiều trường hợp cụ thể để nghiên cứu, trong đề tài : “CHÍNH SÁCH

Trang 12

LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY VĨNH HUÊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ” là một trường hợp cụ thể

- Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có: thực chất là cải biến mục đích của thông tin sẵn có trong các tài liệu, hay nói cách khác là xem xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết, nhằm đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu của đề tài Như vậy, thông qua các kênh thu thập dữ liệu khác nhau để có nguồn tư liệu cần thiết làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá những nội dung cần thiết như: hệ thống văn bản luật, nghị định, pháp lệnh, chỉ thị, thông

tư của Nhà nước qui định có liên quan đến việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân trong các doanh nghiệp và việc thực hiện những qui định của Nhà nước đối với công nhân về chính sách lao động thông qua các văn bản, báo cáo sơ kết, tổng kết của doanh nghiệp

- Phương pháp quan sát: quan sát với tư cách là một trong những phương pháp cụ thể cho việc thu thập các thông tin cá biệt được hiểu là một phương pháp thu thập thông tin về đối tượng trong các nghiên cứu xã hội học Quan sát là quá trình tri giác và việc ghi chép mọi yếu tố liên quan đến đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mục tiêu nghiên cứu Ở đây tác giả sẽ quan sát không tham dự tại Công ty cổ phần giấy Vĩnh Huê để xem xét chính sách lao động và sinh hoạt của công nhân tại công ty

- Phương pháp điều tra:

+ Phỏng vấn sâu cá nhân Đối tượng phỏng vấn được chia thành hai nhóm Thứ nhất là các nhà quản lý doanh nghiệp ( thành viên ban giám đốc hay đại diện

có thẩm quyền ) quản đốc, tổ trưởng, nhóm trưởng, đại diện các tổ chức xã hội như: công đoàn, đoàn thanh niên, y tế doanh nghiệp với số lượng dự kiến 3 người Thứ hai là công nhân nam và nữ trong doanh nghiệp số lượng 3 người

+ Phát bảng hỏi

- Phương pháp chọn mẫu: tác giả sử dụng cách chọn mẫu hệ thống Cách chọn này quy định rằng chúng ta chọn mẫu những người thứ n khi đã chọn

Trang 13

Tổng số công nhân trong công ty là 375 người Tác giả lựa chọn bước nhảy

k = 3 Dựa vào công thức n = N/3 Ta sẽ có được số người trong mẫu sẽ là 125 người Như vậy, sẽ thực hiện 125 bảng hỏi

Trang 14

PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Trong các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chính sách lao động đối với công nhân của doanh nghiệp thì cũng còn khá ít Tác giả chỉ có thể nêu lên một số công trình nghiên cứu có liên quan sau

* Về vấn đề chính sách và vai trò của phúc lợi doanh nghiệp

- Một đề tài được chú ý là “ HIV/ AIDS tại nơi làm việc hiểu biết, chính

sách và vai trò của phúc lợi doanh nghiệp ” của tác giả Bùi Thế Cường Nghiên

cứu này đặt mục tiêu xem xét, đánh giá xã hội về các nhu cầu đối với chính sách

xã hội và những can thiệp cần thiết liên quan đến AIDS trong môi trường làm việc tại các doanh nghiệp Trong đề tài này tác giả đã sử dụng các kỹ thuật phỏng vấn sâu cá nhân, quan sát, thảo luận nhóm và phân tích tư liệu sẵn có để tiến hành nghiên cứu Đối tượng được khảo sát bao gồm cả công nhân và các nhà quản lý trong các doanh nghiệp quốc doanh cũng như ngoài quốc doanh trong cả nước Nhìn chung đề tài đã khái quát được những chính sách phúc lợi mà công nhân lao động được hưởng từ chủ doanh nghiệp mang lại Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ chú trọng việc can thiệp giải quyết vấn đề về AIDS tại nơi làm việc hơn là tìm hiểu việc thực thi chính sách lao động đối với công nhân và tác động của điều đó tới đời sống kinh tế xã hội của công nhân Mặc dù vậy nhưng những mô tả đặc điểm các doanh nghiệp với việc thực hiện chính sách sức khỏe, phúc lợi doanh nghiệp đối với công nhân … cũng giúp tác giả phần nào trong việc nhìn nhận việc thực hiện chính sách lao động tại các doanh nghiệp vì các chế độ phúc lợi của người lao động là những nhân tố quan trọng, chủ yếu phản ánh nội dung của chính sách lao động

- Trong tác phẩm “Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập

Trang 15

cứu trên giúp cho chúng ta hiểu được đầy đủ về chính sách xã hội, phúc lợi xã hội các mô hình phúc lợi xã hội tại Việt Nam Đặc biệt trong phần những nghiên cứu

trường hợp có bài viết: “Lương, biên chế và chính sách xã hội ” và bài viết về “

Phúc lợi xã hội trong doanh nghiệp ”đối với người lao động trong doanh nghiệp

Nhà nước đã cung cấp cho tác giả một kiến thức nền tảng về chính sách xã hội, phúc lợi xã hội đối với người lao động góp phần bổ sung kiến thức lý luận để tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài của mình

* Về vấn đề điều kiện lao động, vệ sinh lao động, an toàn lao động

- Một đề tài đáng chú ý là “Công nhân công nghiệp trong các doanh

nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ Đổi mới ” của tác giả Bùi Thị Thanh Hà

Với phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng và phân tích tư liệu sẵn có, nghiên cứu khái quát được bộ mặt của công nhân công nghiệp trong thời

kỳ đổi mới với những mặt tích cực và hạn chế trong một giai đoạn cụ thể của thời

kỳ đổi mới Đề tài tập trung nghiên cứu đội ngũ công nhân trong các công ty liên doanh thuộc các ngành công nghiệp dệt may, giày da, công nghiệp thực phẩm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nghiên cứu nhận dạng đội ngũ công nhân trong doanh nghiệp liên doanh với những đặc điểm kinh tế - xã hội Nội dung nghiên cứu của đề tài không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu các điều kiện lao động của công nhân, công nhân làm việc trong điều kiện lao động như thế nào? môi trường, hoàn cảnh nào? mà còn tìm hiểu các vấn đề về sức khỏe, các quan hệ xã hội của công nhân trong các công ty liên doanh cũng như các hoạt động quan hệ ngoài công ty để làm nền tảng cho các phân tích tiếp theo về quan hệ xã hội trong doanh nghiệp Những tác động của đầu tư nước ngoài tới điều kiện lao động của công nhân … giúp người đọc hình dung rõ nét hơn về thực trạng người lao động trong các doanh nghiệp này Đặc biệt đề tài có phần nghiên cứu cụ thể về điều kiện lao động của công nhân từ trang 59 đến trang 90 với việc tìm hiểu các yếu tố như : trang thết bị máy móc công nghệ; nhà xưởng, đất đai, an toàn vệ sinh môi trường; các chế độ phúc lợi của doanh nghiệp đối với công nhân được thể hiện

Trang 16

các doanh nghiệp liên doanh này thực hiện điều kiện lao động tương đối tốt cho công nhân Tuy chỉ nghiên cứu công nhân công nghiệp trong các công ty liên doanh nhưng công trình nghiên cứu trên là một đề tài rất hay và đã góp phần giúp cho tác giả rất nhiều để bổ sung vào mặt lý thuyết cũng như hướng đi của đề tài của mình

- Một đề tài khác nữa là: “Về thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam

hiện nay ”của nhóm tác giả Phạm Quang Trung, Cao Văn Biền, Trần Đức Cường

( Nhà xuất bản khoa học xã hội – Hà Nội, 2001 ) Đây là một đề tài rộng, nghiên cứu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay trên khắp 14 tỉnh, thành phố trên cả nước Với phương pháp nghiên cứu định lượng, đề tài đã phác họa được cụ thể giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay Với những đặc điểm của giai cấp công nhân như hoàn cảnh gia đình và đời sống, nghề nghiệp và đào tạo, điều kiện lao động, sử dụng thời gian ngoài giờ lao động tại đơn vị, đánh giá các tệ nạn xã hội

và nhìn nhận về các chính sách xã hội, tâm tư nguyện vọng của công nhân … Đặc biệt với phần bốn từ trang 248 đến 319, nghiên cứu cụ thể về chính sách lao động đối với công nhân trong doanh nghiệp và đi sâu vào việc nghiên cứu về ngày công

và hình thức sử dụng thời gian lao động, về thời gian và phương tiện đi lại trong lao động sản xuất, về điều kiện lao động sản xuất, các chế độ phúc lợi của người lao động và các lời nhận xét, các đề nghị của công nhân lao động rất cụ thể Tất cả

là sự cung cấp tư liệu đáng quý giúp tác giả trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình, cũng như hướng nghiên cứu của đề tài của mình

- Trong nghiên cứu: “Cần những giải pháp đồng bộ nâng cao trình độ

chuyên môn, chất lượng cuộc sống cho người lao động ở khu chế xuất, khu công nghiệp” ( 2006 ) của tác giả Trần Thị Kim Dung, đã cho thấy nhiều người

lao động mắc những chứng bệnh nghề nghiệp: bụi phổi silic, nhiễm độc chì, điếc

do tiếng ồn …ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống lâu dài của người lao động Tuy nhiên họ không được hưởng chính sách trợ cấp hay bồi dưỡng Rất nhiều người khác đang bị đe dọa sức khỏe vì điều kiện, môi trường làm việc không an

Trang 17

* Về vấn đề tiền lương và sức khỏe

- Trong đề tài: ‘Về xu hướng công nhân hóa ở nước ta hiện nay ” của tác

giả Nguyễn An Ninh ( Nhà xuất bản chính trị quốc gia ).Nghiên cứu là một cái nhìn tổng thể về giai cấp công nhân nước ta Đặc biệt đề tài này với phần nghiên cứu về đời sống của công nhân ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay từ trang 114 đến 147 nêu rõ với mức lương còn thấp như hiện nay làm công nhân không đủ sức trang trải cuộc sống thường ngày và môi trường lao động chưa đảm bảo được sức khỏe của người công nhân, đa phần công nhân trong các doanh nghiệp phải làm việc trên 8 giờ/ ngày, việc tăng ca khi có đơn hàng là thường xuyên, làm việc trong các môi trường độc hại làm công nhân bị hao mòn sức khỏe và kiệt lực vì nghề “ Trong 24.921 lượt người lao động làm việc trong môi trường nhiều yếu tố độc hại đến khám, thì đã có 242 trường hợp ( trong 12.271 lượt người khám ) bị bệnh điếc nghề nghiệp; có 183 trường hợp bị sạm da nghề nghiệp ( trong 1.229 lượt người được khám) Một kết quả khác : khám sức khỏe định kỳ cho 70.560 người lao động tại 132 doanh nghiệp năm qua, chỉ có 11,2% công nhân có sức khỏe loại 1! 72% nữ công nhân của thành phố Hồ Chí Minh trong trạng thái stress triền miên” Đây là một trong những nguyên nhân làm cho cuộc sống của công nhân rất khó khăn, và phần nghiên cứu này rất cần thiết cho tác giả trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, có cái nhìn toàn diện hơn về môi trường lao động của công nhân trong doanh nghiệp, tác giả nhận thấy cần phải đi sâu vào nghiên cứu về chế độ phúc lợi xã hội trong doanh nghiệp với chế độ khám sức khỏe , bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế …là rất cần thiết đối với người lao động trong công ty

- Công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Phạm Đình Nghiệm về: “ Đời sống văn

hóa tinh thần của công nhân các khu chế xuất - khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh” ( 2006 ) cũng có đề cập đến vấn đề tiền lương Kết quả nghiên cứu cho

thấy tổng thu nhập bình quân (tính cả lương, tăng ca …) của công nhân là 1.094.395 đồng/ tháng Với mức thu nhập trên, công nhân có cuộc sống rất chật

Trang 18

vật, hoàn toàn không đủ tích lũy, tiết kệm, không đủ để họ gửi tiền về gia đình đối với những người vao thành phố làm việc

* Về vấn đề dạy nghề

- Mai Văn Hải trong một bài viết đăng trên tạp chí xã hội học số 1( 29 ),

1990 “ Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công nhân qua một cuộc khảo sát” Trong

nghiên cứu này tác giả sử dụng lý thuyết hành động xã hội để giải thích vấn đề đào tạo dạy nghề của công ty đối với công nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy cán bộ quản lý công ty coi việc đào tạo, bồi dưỡng công nhân chỉ là việc làm có ý nghĩa phúc lợi xã hội, việc làm này là tốn kém về mặt kinh tế Chính vì suy nghĩ như vậy nên các chủ công ty không quan tâm đến việc đào tạo cũng như bồi dưỡng tay nghề cho công nhân Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy một điều khá bất ngờ là không chỉ người lãnh đạo không quan tâm đến vấn đề này mà ngay cả công nhân cũng không quan tâm đến việc học nghề và do đó cũng không nâng cao được tay nghề

*Về vấn đề trợ cấp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội đối với công nhân

- Đề tài “ Vấn đề nữ trí thức trong một số công ty liên doanh với nước

ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh ” của tác giả Phan Thị Yến Tuyết trong tác

phẩm “Giới Việc làm và đời sống gia đình”, Nhà xuất bản khoa học xã hội.Bài

viết đề cập đến việc thực hiện các chính sách xã hội cũng như các điều kiện lao động như điều kiện vệ sinh, ánh sáng, tiếng ồn; cùng với việc trợ cấp độc hại, bảo hiểm tai nạn lao động, an toàn lao động… đối với nữ trí thức lao động trong một

số công ty liên doanh

- “Vấn đề an sinh xã hội đối với công nhân lao động” của tác giả Tôn

Thiện Chiếu đăng trên tạp chí xã hội học số 4 năm 2006 Bài viết đề cập đến sự cần thiết phải đưa trợ cấp thất nghiệp vào bảo hiểm xã hội đối với công nhân trong doanh nghiệp Tuy chỉ là bài viết nhỏ nhưng cũng giúp cho tác giả có cái nhìn mới khi nghiên cứu xem doanh nghiệp có đưa trợ cấp thất nghiệp vào bảo hiểm xã hội

Trang 19

- Bài viết: “Thị trường lao động” trong Báo cáo phát triển kinh tế năm

2008 viết về thất nghiệp và lương của người lao động Sự cần thiết đưa trợ cấp thất nghiệp vào bảo hiểm xã hội, quy định mức lương tối thiểu để đảm bảo đời sống của người lao động Rất cần thiết trong đề tài nghiên cứu việc đảm bảo chính sách lao động đối với người lao động

Tóm lại, tất cả các công trình nghiên cứu cũng như các bài viết trên đã giúp cho tác giả rất nhiều trong việc bổ sung kiến thức lý luận cũng như thực tiễn áp dung vào đề tài nghiên cứu của mình

2.GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

- Tuy Nhà nước ban hành rất nhiều luật, văn bản qui định về việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân trong doanh nghiệp nhưng việc thực hiện điều này trong các doanh nghiệp vẫn chưa đầy đủ và còn nhiều thiếu sót Doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn dẫn đến việc doanh nghiệp vẫn bỏ qua một số qui định mà luật bắt buộc phải thực thi đối với công nhân

- Việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân còn phụ thuộc vào trách nhiệm xã hội và tình hình tài chính của doanh nghiệp

- Việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân của doanh nghiệp

sẽ ảnh hưởng đến đời sống của công nhân

3 CÁC QUAN ĐIỂM LÝ THUYẾT

3.1 Quan điểm hành động xã hội của Weber

- Quan điểm hành động xã hội xem xã hội là sản phẩm của hoạt động con người Nhấn mạnh vào tính có ý nghĩa hành vi con người, không cho rằng điều này trước hết bị chi phối bởi cấu trúc xã hội

- Weber phân biệt hành động xã hội với những hành vi và hoạt động khác Weber cho rằng hành động xã hội là hành động hướng đến những người khác có ý

nghĩa và hướng đến cái mà chủ thể gán cho một ý nghĩa chủ quan Kể cả hành động thụ động và không hành động cũng được coi là một hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính đến hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại

Trang 20

xã hội là một hành động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động

ấy, và cá nhân có tính đến hành vi của người khác Bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không thể là một hành động xã hội Mọi hành động không tính đến sự tồn tại

và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động xã hội Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì không phải là hành động xã hội

Tóm lại, lý thuyết hành động xã hội đề cao tính chủ quan của cá nhân cho rằng trong hành động của con người luôn mang ý nghĩa chủ quan và khi hành động con người bao giờ cũng hành động theo một quyết định nội tại

- Dựa vào động cơ của hành động xã hội, Weber đã xây dựng một phân

loại về hành động xã hội gồm bốn kiểu: hành động theo truyền thống ( traditional ), hành động theo cảm tính ( affectual ), hành động duy lý – giá trị ( value – rational ) hướng tới các giá trị tối hậu, hành động duy lý – mục đích ( end rational ) hành động mang tính công cụ

- Trong đề tài, đi sâu phân tích hành động xã hội chính có ý nghĩa quan trọng quyết định việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân của doanh nghiệp là hành động duy lý - mục đích và hành động duy lý - giá trị

- Hành động duy lý – mục đích cho ta thấy nỗ lực của cá nhân trên cơ sở phân tích, định hướng vào điều kiện, hoàn cảnh để xác định sự hợp lý về mục đích hành động của mình Loại hành động này được xác định bởi mục đích rõ ràng , tính giá trị duy nhất của mục đích, tương ứng với nó là những phương tiện đã được

ý thức một cách hợp lý nhằm bảo đảm cho việc đạt được kết quả của hành động xã hội, tính hợp lý của mục đích được thể hiện trên hai bình diện là hợp lý về mặt nội dung của chính mục đích và hợp lý về mặt phương tiện đã được chủ thể lựa chọn Hành động này đòi hỏi chủ thể hành động cần có những cân nhắc, tính toán hợp lý

để có những phản ứng phù hợp đồng thời “ tận dụng ” hành vi của những người xung quanh để đạt mục đích mình đề ra Có sự xem xét phải sử dụng phương thức

Trang 21

- Vận dụng quan điểm này xem xét chủ thể hành động trong doanh nghiệp thực hiện chính sách lao động cho công nhân ở doanh nghiệp với mục đích gì? Việc thực hiện chính sách lao động đó có dựa trên cơ sở phân tích, định hướng vào điều kiện, hoàn cảnh của doanh nghiệp hay không? Và các chủ thể hành động trong doanh nghiệp đã lựa chọn những cách thức, phương tiện nào nhằm đảm bảo mục đích đã lựa chọn?

- Hành động duy lý – giá trị là loại hành động tuân thủ theo giá trị của các ý nghĩa, của hành vi đúng mức hay còn gọi là hành vi chuẩn Hành động này nổi lên vai trò của yếu tố khách quan, buộc chủ thể phải cân nhắc thận trọng, để lựa chọn những gì mà nó cho là có ý nghĩa, giá trị Hành động này được thực hiện bởi niềm tin của chủ thể vào cái giá trị đã được hình thành trong đời sống xã hội thông qua các hành động của các thiết chế chủ yếu như gia đình, kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo … hành động loại này luôn phụ thuộc vào những đòi hỏi nào đó đối với chủ thể khi hành động, chủ thể nhận thức được nghĩa vụ của mình, thực hiện nghĩa

vụ phù hợp với những đòi hỏi được đo bằng thang giá trị mà cá nhân đã lĩnh hội được, chỉ khi đó ta thấy hành động cá thể hợp với giá trị

- Thực hiện chính sách lao động ở doanh nghiệp đối với công nhân bị chi phối bởi những lý do nào? Những giá trị đó có thể là sự ràng buộc về mặt pháp lý của Nhà Nước, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người lao động hay lợi ích của doanh nghiệp Khi việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân trong doanh nghiệp được xem là hành động hợp lý giá trị, thì doanh nghiệp thực hiện bởi những niềm tin vào giá trị nào? Và doanh nghiệp đã thực hiện như thế nào để phù hợp với những đòi hỏi được đo bằng thang giá trị ra sao?

3.2 Quan điểm cấu trúc chức năng

- Quan điểm cấu trúc chức năng ra đời vào khoảng nửa đầu của thế kỷ XX,

và đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu và châu Mỹ Những người theo quan điểm này nhìn nhận các hành động xã hội như là một tổng thể Quan điểm

này gắn liền với các tên tuổi của các nhà xã hội học nổi tiếng như Emile

Trang 22

Durkheim, H.Spencer, Alfred R Radcliffe – Brown,Robert Merton, T Parsons …

- Quan điểm cấu trúc chức năng xem xã hội là một hệ thống bao gồm nhiều

bộ phận, mỗi bộ phận giữ một vai trò nào đó trong xã hội và vận hành một cách bình thường để thực hiện một số yêu cầu nào đó trong xã hội

- Bất ký một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau, chúng cùng vận hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định của hệ thống Có thể xem là hiểu được một bộ phận trong hệ thống khi hiểu được cái cách mà nó đóng góp vào sự vận hành của hệ thống Sự đóng góp này vào việc vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng Các bộ phận có tầm quan trọng chức năng khác nhau đối với hệ thống Chức năng luận nhìn xã hội như là sự phụ thuộc lẫn nhau và sự thống nhất trong xã hội, tuy có xung đột nhưng

xã hội kiểm soát nó để tiến tới điểm cân bằng ở đó mọi bộ phận phụ thuộc vào nhau và vận hành một cách chức năng với nhau

- Parsons nổi tiếng trong giới xã hội học về sơ đồ lý thuyết hệ thống xã hội viết tắt là AGIL, theo bốn chữ cái của bốn tiểu hệ thống Theo Parsons, hệ thống

xã hội được cấu thành từ bốn tiểu hệ thống ( hệ thống nhỏ hơn ), tương ứng với bốn loại nhu cầu, chức năng cơ bản của hệ thống xã hội Bốn loại yêu cầu, chức năng của xã hội là:

• Một là: thích ứng ( Adaptation – ký hiệu là A ) với môi trường tự nhiên – vật lý xung quanh

• Hai là: Hướng đích ( Goal attainment – ký hiệu là G ) huy động các nguồn lực nhằm vào các mục đích đã xác định

• Ba là: liên kết ( Integration – ký hiệu là I ) phối hợp các hoạt động, điều hòa và giải quyết những khác biệt, mâu thuẫn

• Bốn là: duy trì khuôn mẫu lặn ( Latent pattern maintenance – ký hiệu là L ) tạo ra sự ổn định, trật tự

- Trong đó, tiểu hệ thống A có chức năng cung cấp các phương tiện, nguồn

Trang 23

chính là tiểu hệ thống kinh tế Nền kinh tế, các doanh nghiệp và các quá trình kinh

tế được tổ chức để thực hiện chức năng thích ứng của xã hội đối với môi trường khan hiếm các nguồn lực và đang biến đổi không ngừng Tiểu hệ thống hướng đích G đóng vai trò xác định các mục tiêu và định hướng cho toàn bộ hệ thống vào việc thực hiện mục đích đã xác định Tiểu hệ thống hướng đích trong xã hội chính

là hệ thống chính trị với các tổ chức đảng phái và các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương cùng nhiều đơn vị và cơ quan quyền lực khác

- Tiểu hệ thống I thực hiện chức năng gắn kết cá cá nhân, các nhóm và tổ chức xã hội đồng thời kiểm soát xã hội thông qua giám sát, kiểm tra, điều chỉnh, trừng phạt để giải quyết các quan hệ mâu thuẫn, xung đột nhằm tạo nên sự ổn định, sự đoàn kết và trật tự xã hội Tiểu hệ thống liên kết I gồm có các cơ quan pháp luật, cơ quan hành chính và bộ máy an ninh xã hội

- Để tồn tại một cách ổn định và trật tự, mỗi xã hội cần phải có tiểu hệ thống bảo tồn L, thực hiện chức năng kích thích, động viên các cá nhân và nhóm

xã hội Đồng thời đảm nhiệm chức năng quản lý và bảo trì các khuôn mẫu hành vi, ứng xử của các thành viên Tiểu hệ thống L bao gồm gia đình, nhà trường, tổ chức văn hóa, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo Thông qua các cơ chế xã hội hóa, hợp thức hóa và thiết chế hóa các giá trị, chuẩn mực xã hội có khả năng đáp ứng nhu cầu duy trì các kiểu hoạt động, các khuôn mẫu hành vi để bảo đảm trật tự, ổn định, cân bằng và an toàn xã hội

- Các tiểu hệ thống quan hệ với nhau theo nguyên lý điều khiển học Hệ thống ở cấp độ cao hơn về thông tin nhưng yếu hơn về năng lượng chi phối và kiểm soát hệ thống ở trình độ cao hơn về năng lượng nhưng kém về thông tin Các tiểu hệ thống có mối quan hệ qua lại với nhau theo nguyên lý chức năng để tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn Đồng thời các tiểu hệ thống trao đổi với nhau thông qua một loạt các phương tiện và công cụ xã hội Mỗi một cặp tiểu hệ thống quan hệ trao đổi với nhau thông qua một số loại phương tiện chuyên biệt

- Theo cách nhìn này, quan điểm chức năng chỉ ra rằng toàn bộ hệ thống xã

Trang 24

hiện và như thế sự thống nhất hệ thống và xã hội được giữ vững Rõ ràng khuynh hướng này nhấn mạnh vào trật tự, sự hài hòa, hợp nhất và tính ổn định xã hội, xem

xã hội như một thể thống nhất Theo đó các khuynh hướng được xây dựng nội tại hướng tới sự hài hòa và tự điều chỉnh, tương tự như những tổ chức và cơ chế sinh học

- Vận dụng quan điểm chức năng, xem xét việc thực hiện chính sách lao động trong hệ thống đa chiều Nhà nước – doanh nghiệp – người lao động

3.3 Quan điểm xung đột

- Quan điểm xung đột: quan điểm này nhìn nhận hiện thực xã hội là môi trường ở đó các nhóm xung đột giành quyền lực, kiểm soát xung đột đơn giản chỉ

là nhóm này có thể đặt sự thống trị của mình lên nhóm kia Các đại diện là Karl

Marx, Max Weber

- Quan điểm xung đột có ba giả định cơ bản Thứ nhất, con người có những lợi ích cơ bản mà họ theo đuổi Thứ hai, quyền lực cốt lõi của các quan hệ xã hội Quyền lực là hạn hẹp và được phân chia không công bằng, vì vậy là nguồn gốc của xung đột Thêm nữa, quyền lực về bản chất mang tính cưỡng bức Sự phận bổ các nguồn lực là cơ sở cho quyền lực Thứ ba, các giá trị và tư tưởng chẳng qua là

vũ khí mà các nhóm khác nhau sử dụng nhằm đạt mục tiêu của riêng mình chứ không phải là phương tiện để đạt mục tiêu chung của xã hội

- Karl Marx cho rằng mọi hành động của con người suy cho cùng đều vì

lợi ích về kinh tế Trong mối quan hệ giữa người với người luôn luôn có mâu thuẫn về lợi ích kinh tế Trong các nhóm xã hội có những lợi ích đối lập nhau ( nô

lệ - chủ nô, nông nô – lãnh chúa, vô sản – tư sản ) Ông cho rằng, trong xã hội có giai cấp quan hệ sản xuất luôn luôn là quan hệ bất bình đẳng, thậm chí mâu thuẫn đối kháng Giai cấp tư sản nắm giữ tư liệu sản xuất nên tìm mọi cách duy trì trật tự hiện có, giai cấp vô sản không có tư liệu sản xuất, bị áp bức bóc lột nên đấu tranh xóa bỏ chế độ tư hữu

- Weber là một nhà xã hội học có kiến thức kinh tế học sâu rộng, ông đặc

Trang 25

Nhưng khác với Marx coi kinh tế là cơ sở vật chất của xã hội weber tập trung nghiên cứu tác động của cá yếu tố xã hội đối với cơ cấu kinh tế và quá trình kinh

tế

- Thực tế lúc bấy giờ học thuyết của Marx đã nổi tiếng và Weber ngầm tranh luận với Marx về vấn đề phát triển chủ nghĩa tư bản Về sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại Weber đã đưa ra những ý tưởng và lập luận khác với Marx Chẳng hạn ngoài các yếu tố kinh tế Weber nhấn mạnh tới vai trò của các yếu tố phi kinh tế như tôn giáo, văn hóa, chính trị, luật pháp trong sự phát

triển lịch sử xã hội

- Vân dụng quan điểm xung đột, về khía cạnh kinh tế nghiên cứu này nhìn nhận doanh nghiệp như là nơi xung đột về lợi ích kinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời ở khía cạnh phi kinh tế cũng nhìn nhận chính sách lao động ở doanh nghiệp như là việc thiết chế hóa các xung đột đó Bên cạnh

đó cũng nhìn nhận việc thực hiện chính sách lao động đối với công nhân chính là công cụ nhằm giảm thiểu tối đa các xung đột giữa Nhà Nước, doanh nghiệp và công nhân

3.4 Quan điểm về trách nhiệm xã hội của công ty

Trách nhiệm xã hội của công ty ( Corprate Social Responsibility - CSR ) được hiểu là “ sự cam kết của công ty đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động

và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi cho

cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội ” Những công ty mong muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao dộng, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng(…)

Trách nhiệm xã hội của công ty được coi là một yếu tố quan trọng như những yếu tố truyền thống khác như chi phí, chất lượng giao hàng trong kinh doanh, nó được lồng ghép vào chiến lược của công ty và trở thành điều kiện bắt

Trang 26

là các hoạt động từ thiện mà nó phải đảm bảo chất lượng sống cho nhân viên, gia đình họ, bảo vệ môi trường Nếu các công ty thực hiện tốt vấn đề này sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho chính công ty Lợi ích đầu tiên phải tính đến đó là chi phí và hiệu quả sản xuất Bởi vì những công nghệ hiện đại hơn, năng suất hơn, trong sạch với môi trường hơn luôn đi kèm với nó là giá thành đầu vào cũng rất thấp, ngoài ra một hệ thống quản lý và sự hiệu quả cũng giúp cắt giảm chi phí và tăng năng suất lao động đáng kể Lương thưởng hợp lý, môi trường lao động sạch sẽ và an toàn, các cơ hội đào tạo và chế độ bảo hiểm y tế và giáo dục đều góp phần tăng lợi nhuận cho công ty và điều này cũng đồng nghĩa với việc doanh thu của công ty cũng sẽ tăng lên Lợi ích tiếp theo phải nhắc tới đó là việc nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của công ty Khi công ty có sự đầu tư vào trang thiết bị hiện đại thì

sẽ giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường sống của cộng đồng, điều này sẽ làm tăng uy tín của công ty và sản phẩm Ngoài ra, một lợi ích nữa mà ta không thể không nhắc tới đó là vấn đề thu hút nhân tài Nhân viên là nhân tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm Vì vậy vấn đề thu hút nhân tài luôn được các công ty quan tâm Một công ty trả lương thỏa đáng, đảm bảo đầy đủ các chế

độ phúc lợi xã hội, môi trường làm việc sạch sẽ thì chắc chắn sẽ giữ chân được nhân viên

Khái niệm trách nhiệm xã hội của công ty không còn xa lạ nhiều đối với các nước phát triển nhưng còn tương đối mới ở Việt Nam Vì vậy việc thực hiện còn hạn chế Tuy nhiên, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của công ty đối với người lao động là điều cần thiết Bởi vì xét về tổng thể thì công ty, người lao động

và gián tiếp là gia đình họ, là thành phần quan trọng nhất ảnh hưởng tới toàn bộ những biến đổi trong môi trường lao động Trong lĩnh vực này, Nhà nước và công

ty cần đảm đương một vai trò tích cực đảm bảo cho người lao động được đối xử công bằng, có những cơ hội thăng tiến nghề nghiệp và một cuộc sống tốt đẹp hơn cho họ và gia đình họ Nguyên tắc cơ bản trên đây là coi người lao động như những đối tác góp phần thực hiện những mục tiêu của tổ chức trong quá trình thực

Trang 27

trốn việc và những vấn đề có liên quan khác Hơn nữa, những người tiêu dùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủ trên toàn cầu ngày càng quan tâm tới ảnh hưởng của việc toàn cầu hóa đối với quyền của người lao động, môi trường và phúc lợi cộng đồng Những công ty, doanh nghiệp không tuân thủ trách nhiệm xã hội của công ty có thể sẽ không còn cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của công ty đối với người lao động một mặt đem lại lợi ích cho công ty, doanh nghiệp, mặt khác nó góp phần ổn định và nâng cao đời sống cho người lao động và xã hội

Vận dụng quan điểm trách nhiệm xã hội của công ty để nghiên cứu việc thực hiện chính sách lao động ở Công ty Cổ phần giấy Vĩnh Huê đối với công nhân sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn quan điểm khả năng thực tế của công ty khi nhìn nhận và thực hiện trách nhiệm xã hội của họ đối với người lao động như thế nào ? Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của công ty có tác động đến người lao động, gia đình họ cũng như bản thân công ty và cộng đồng xã hội ra sao?

Từ các quan điểm chức năng – cấu trúc, xung đột, hành động, trách nhiệm

xã hội của công ty cho chúng ta nhìn nhận mối quan hệ giữa các quan điểm này là không tách rời trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 28

4.KHUNG PHÂN TÍCH

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

Luật của Nhà

Nước qui

định

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với công nhân

Điều kiện kinh tế xã hội

và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty

ĐỜI SỐNG CÔNG NHÂN

CÁC LĨNH VỰC CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TY

Điều kiện lao động,

an toàn lao động, vệ sinh lao động

Bảo hiểm

xã hội, chính sách sức khỏe

Lao Tiền lương thưởng

động-Dạy nghề Việc làm

Trang 29

5 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

5.1.2 Chính sách lao động

Theo Bộ Luật Lao động thương binh xã hội của nước Việt Nam thì chính sách lao động được quy định là một tổng thể bao gồm các yếu tố như việc làm, lao động, tiền lương, xuất khẩu lao động, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động và dạy nghề

Trong tác phẩm "Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản ” Ph.Ăngghen định nghĩa :"Giai cấp vô sản là 1 giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ tư bản nào, đó là 1 giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những biến động của cuộc cạnh tranh không gì

Trang 30

ngăn cản nổi." Giai cấp công nhân là giai cấp vô sản có trình độ lao động công nghiệp cao, là đứa con của nền đại công nghiệp hiện đại

Trong giai đoạn hiện nay, giai cấp công nhân đã có những biến đổi mới: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của của lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên phong, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch

sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giái trị thặng dư; ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất và cùng nhau hợp tác lao đông vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ

Trong văn kiện hội nghị lần thứ VI Ban Chấp Hành Trung Ương khóa X đã đưa ra khái niệm công nhân như sau: Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí

óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp

5.3 Doanh nghiệp

Doanh nghiệp ( công ty ) Trong “Hệ thống những văn bản pháp luật mới

nhất về lao động, tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế (2007) Lao động – Xã hội, Hà Nội” doanh nghiệp là toàn bộ tập thể của một tổ

chức hay đơn vị sản xuất kinh doanh

Theo định nghĩa của luật doanh nghiệp, ban hành ngày 29 tháng 11 năm

2005 của Việt Nam, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ

sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Trang 31

Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh

ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời

kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được

5.4 Công ty

Xét theo quan điểm luật pháp: công ty là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hoạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do công ty quản lý và chịu sự quản lý của Nhà Nước bằng các loại luật và chính sách thuế

Xét theo quan điểm hệ thống thì công ty được các tác giả nói trên xem rằng: công ty bao gồm một tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộ phận tập hợp trong công ty bao gồm bốn phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự

Từ cách nhìn nhận trên có thể phát biểu về định nghĩa công ty như sau: công ty là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội Căn cứ vào qui mô các công ty được phân ra làm ba loại: công ty qui mô lớn, công ty qui mô vừa, công ty qui mô nhỏ

Trang 32

CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG

NHÂN TRONG DOANH NGHIỆP

1.Tổng quan về Công ty Cổ phần Giấy Vĩnh Huê

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

1.1.1 Tên công ty

- Tên giao dịch Việt Nam: Công ty Cổ phần Giấy Vĩnh Huê

- Tên giao dịch quố tế: Vinh Hue paper Joint Stock Company

- Trụ sở: 66/5 quốc lộ 1K, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 33

xuất các mặt hàng chủ yếu giấy Polure, giấy ngũ sắc nội địa… lúc này gọi là Xí nghiệp Giấy Vĩnh Huê

• Giai đoạn 1975-1989:

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Xí nghiệp không còn do tập đoàn Đài Loan điều hành, chuyển giao toàn bộ Xí nghiệp cho Tổng Công Ty giấy Gỗ Diệm trực tiếp quản lý

Đến tháng 11/1989 công ty được giao cho Sở công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh quản lý, lúc này công ty đổi thành xí nghiệp quốc doanh giấy Vĩnh huê

• Giai đoạn 1989 - đến nay:

Năm 1989, xí nghiệp quốc doanh giấy Vĩnh Huê đã có bước đột phá đầu tiên để thay đổi diện mạo của mình và chủ động tìm những đối tác đáng tin cậy, tranh thủ vốn ứng trước của khách hàng nước ngoài và nguồn vốn ưu đãi đầu tư của nhà nước để đầu tư dây chuyền sản xuất

Năm 1988, do biến động của thị trường, công ty đã chuyển đổi sản phẩm bỏ bớt mặt hàng tre, thay vào đó công ty đã mạnh dạn tranh thủ nguồn vốn ưu đãi của nhà nước để đầu tư dây chuyền sản xuất giấy vệ sinh và khăn giấy cao cấp các loại, chính vì dám đột phá đầu tư Công ty giấy Vĩnh Huê đã chuyển mình trong quá trình kinh doanh

Thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp và được sự cho phép của

Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ngày 01/04/2002, Công ty giấy Vĩnh Huê đổi thành Công ty cổ phần giấy Vĩnh Huê Đến nay các mặt hàng của công ty

đã chiếm một phần không nhỏ trong và ngoài nước, đồng thời chất lượng hàng hóa cũng được nâng cao, mẫu mã các mặt hàng cũng được Ban giám đốc chú trọng và thay đổi thường xuyên để đáp ứng nhu cầu của thị trường Vì vậy, các sản phẩm của công ty luôn được ủng hộ nhiệt tình của người tiêu dùng và được người tiêu dùng bình chọn là sản phẩm chất lượng cao qua các kì hội chợ liên tục trong nhiều năm liền Hiện nay, những sản phẩm của công ty luôn được đánh giá cao và đạt được niềm tin của người tiêu dùng

Trang 34

1.1.4 Ngành kinh doanh

Công ty Cổ phần giấy Vĩnh Huê sản xuất kinh doanh giấy vàng mã xuất khẩu, giấy bao bì công nghiệp, giấy vệ sinh, khăn giấy và các sản phẩm làm từ giấy, ván sàn, tăm tre, đũa tre…

1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy điều hành công ty

1.2.1 Cơ cấu chung

• Nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý công ty: là các bộ phận cấu thành nên công ty Các bộ phận này đảm bảo các chức năng khác biệt nhau nhưng cuối cùng đều hướng tới mục tiêu chung là đảm bảo các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nên các bộ phận này đều phải liên kết chặt chẽ với nhau

Trang 35

• Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty

• Chức năng và nhiệm vụ của từng phòng ban

Ban điều hành Công ty gồm:

• Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc

- Là người có quyền cao nhất ở công ty, ra quyết định cuối cùng về các biện pháp, hình thức kinh doanh

- Là người chịu trách nhiệm tòan bộ về hoạt động và kết quả kinh doanh của công ty trước hội đồng quản trị và cơ quan chủ quyền

• Phó chủ tịch Hội đồng quản trị, phó giám đốc kiêm trưởng phòng tổ

chức hành chính

- Giúp giám đốc phụ trách khối nhân sự, tổ chức hành chính

Giám đốc Kiêm CT HĐQT

P.Giám đốc

Kiêm TP.TCHC

P.Giám đốc Kiêm TP.KTKT

Phòng Kế toán

tài chính

Phòng tổ chức hành chính

Phòng kinh tế

kỹ thuật

Phòng tiêu thụ xuất nhập khẩu

PX VH4

PX VH5

PX VH6

PX VH7

PX VH8

PX VH9

PX VH10

PX VH11

Trang 36

- Giúp giám đốc hoạch định các kế hoạch về máy móc

- Chịu trách nhiệm về mẫu mã chất lượng hàng hóa

• Phòng kế toán tài chính

- Là nơi lên kế hoạch tài chính nhằm đáp ứng kế hoạch của phòng ban khác căn cứ vào các xí nghiệp trực thuộc phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và xác định hiệu quả kinh tế thông qua hệ thống kế toán

- Quản lý thi hành về công tác kế toàn theo đúng nguyên tắc và chế độ của ngành kế toán qui định

- Đảm trách những công việc mang tính chất phục vụ cho hoạt động của toàn công ty và các phòng ban khác

• Phòng kinh tế - kỹ thuật

- Chịu trách nhiệm về mặt kỹ thuật, máy móc thiết bị của công ty, quản lý năng suất, hướng dẫn sử dụng máy móc thiết bị, bổi dưỡng đào tạo các cán bộ kỹ thuật

- Kiểm tra thực hiện các chế độ khoa học sản xuất và chịu trách nhiệm về chất lượng, mẫu mã hàng hóa

• Phòng tiêu thụ xuất nhập khẩu

- Thu thập và nghiên cứu các tình hình biến động trong các chính sách của nhà nước và các vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu Phụ trách xem xét thị trường tiêu thụ các mặt hàng đã sản xuất, quảng cáo tiếp thị các sản phẩm của công ty

Trang 37

- Hoàn thành các thủ tục xuất nhập khẩu, hợp đồng xuất nhập khẩu, kiểm tra và chịu trách nhiệm về thực hiện các hợp đồng trước giám đốc và các đơn vị có liên quan cung cấp vật tư, trang thiết bị cho công ty

* Tổ chức sản xuất ở các phân xưởng

▪ PX VH1: Sản xuất bột giấy vàng mã

▪ PX VH2: Sản xuất giấy carton - nòng giấy

▪ PX VH3: Sản xuất giấy vàng mã

▪ PX VH4: Sản xuất giấy thùng carton

▪ PX VH5: Sản xuất giấy vệ sinh

▪ PX VH6: Sản xuất giấy vệ sinh

▪ PX VH7: Xưởng chế biến giấy vệ sinh

▪ PX VH8: Xưởng chế biến giấy vàng mã

▪ PX VH9: Xưởng chế biến giấy vàng mã – giấy vệ sinh

▪ PX VH10: Xưởng chế biến ván sàn

▪ PX VH11: Xưởng chế biến giấy vàng mã – giấy vệ sinh

1.2.2 Bộ máy nhân sự công ty

Hiện nay, ở Công ty Cổ phần giấy Vĩnh Huê thì khối quản lý, văn phòng và phụ trợ có 94 nhân sự, khối công nhân có 375 công nhân Với tỷ lệ như trên ta có thể thấy ban lãnh đạo công ty hoàn toàn có khả năng để đảm bảo năng lực sản xuất

và quản lý công ty

2 Đặc điểm xã hội cơ bản của mẫu nghiên cứu

2.1 Cơ cấu về giới tính và độ tuổi của công nhân

Đề tài: “CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI CÔNG NHÂN CÔNG

TY CỔ PHẦN GIẤY VĨNH HUÊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ” trong

số 125 người trên toàn mẫu nghiên cứu thì nam chiếm tỷ lệ 56.8%, nữ chiếm tỷ lệ 43.2%.( Xem phụ lục số 2, bảng số 1, tr 99 ) Còn xét về cơ cấu độ tuổi và giới

tính trong mẫu nghiên cứu thì tác giả chia 125 người trong mẫu nghiên cứu thành năm độ tuổi

Trang 38

Mối quan hệ giữa độ tuổi và giới tính

Nguồn điều tra của tác giả

Độ tuổi của công nhân trong mẫu nghiên cứu từ 16 đến 50 tuổi Trong đó nhóm từ 23-30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 40.8% ( trong đó nam chiếm 46.5%,

nữ chiếm 33.3%) Thấp nhất là nhóm 31-35 tuổi với tỷ lệ là 8.0% Với kết quả khảo sát trên có thể thấy đội ngũ công nhân lao động trong công ty tương đối trẻ

và đang ở độ tuổi chín muồi, sung sức nhất để lao động Công nhân hoàn toàn có

đủ năng lực, sức khỏe để tiến hành quá trình lao động sản xuất

2.2 Trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp

Trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp là hai yếu tố đánh giá chất lượng

và tay nghề của đội ngũ công nhân Trình độ học vấn và tay nghề của công nhân càng cao thì công nhân càng có khả năng tiếp thu những kiến thức để thực hiện công việc được tốt hơn Đây là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của công ty

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong tổng số 125 người của mẫu nghiên cứu thì số công nhân có trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất là 43.2% Một số lượng lớn công nhân có trình độ trung học cơ sở nữa là 40.8% Kế đến là trình độ trung cấp 10.4% Và thấp nhất là cao đẳng với 5.6% Như vậy, có thể thấy

phần lớn công nhân trong mẫu nghiên cứu là ở trình độ trung học

Nếu xét trình độ học vấn của công nhân trong công ty theo giới tính thì kết quả cho thấy trong số 43.2% công nhân có trình độ trung học phổ thông và trong 40.8% công nhân có trình độ trung học cơ sở thì nam đều chiếm tỷ lệ nhiều hơn nữ

Trang 39

là 27.2% so với 16.0% và 24.0% so với 16.8% Chỉ riêng ở bậc cao đẳng thì trong

7 trường hợp nghiên cứu chiếm 5.6% thì số người rơi vào mẫu nghiên cứu toàn bộ

là nữ ( Xem phụ lục 2, bảng số 2,tr.99 )

Theo kết quả sau khi khảo sát có thể thấy rằng số công nhân có trình độ trung học phổ thông ở công ty chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó là trung học cở sở, trung cấp và cao đẳng Nếu xét trình độ học vấn của công nhân theo độ tuổi thì dễ dàng nhận thấy tuổi ở công nhân càng cao thì trình độ học vấn càng cao ( Xem phụ lục số 2, bảng số 3, tr 99)

Về chuyên môn nghề nghiệp thì cũng theo kết quả khảo sát cho thấy trong

125 người trong mẫu nghiên cứu thì công nhân nghề theo bậc chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 53.6% Kế đến là lao động phổ thông chiếm 40.8% và chỉ có 5.6% là trình

độ kỹ sư ( Xem phụ lục 2, bảng 4, tr.100 ) Còn trong số 67 công nhân nghề theo

bậc thì công nhân bậc 4 chiếm tỷ lệ cao nhất với 35.8%, kế sau đó là công nhân bậc 3 với 23.9%, bậc 6 chiếm 20.9%, bậc 5 chiếm 16.4%, thấp nhất là công nhân

bậc 2 chỉ có 3.0% và trong các trường hợp nghiên cứu không có công nhân bậc 1

Bậc nghề của công nhân

Valid Percent

Cumulative Percent

Nguồn điều tra của tác giả

Như vậy, về chuyên môn nghề nghiệp có thể thấy phần lớn công nhân trong mẫu nghiên cứu là công nhân nghề theo bậc và không có sự khác biệt đáng kể về trình độ tay nghề và giới tính trong mẫu nghiên cứu Vì đặc thù của ngành nghề

Trang 40

này không đòi hỏi cao về trình độ Do đó, có thể thấy rằng công nhân trong công

ty có thể đáp ứng được quá trình sản xuất và đòi hỏi của công ty

2.3 Tình trạng sức khỏe của công nhân

Kết quả khảo sát cho thấy công nhân có sức khỏe loại 1 chiếm tỷ lệ cao nhất là 74.4%, tiếp đến là loại 2 với 21.6% và thấp nhất là loại 3 chỉ với 4%.( Xem phụ lục 2, bảng 5, tr.100)

Với tình hình sức khỏe của công nhân như trên chúng ta có thể thấy rằng sức khỏe của công nhân trong công ty là khá tốt và có thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu trong quá trình sản xuất kinh doanh Và công ty cũng có nhiều thuận lợi hơn trong quá trình sản xuất

2.4 Hoàn cảnh kinh tế của công nhân trong công ty

Phần lớn công nhân trong mẫu nghiên cứu cho rằng điều kiện kinh tế của

họ chỉ ở mức trung bình chiếm tỷ lệ 48.8%, có 33.6% công nhân cho rằng điều kiện kinh tế của mình là đủ sống, có 12.8% người trong mẫu nghiên cứu cho rằng điều kiện kinh tế của mình khó khăn và chỉ có 4.8% cho rằng điều kiện kinh tế của mình là dư dả

Mức sống của công nhân

Valid Percent

Cumulative Percent

Nguồn điều tra của tác giả

Tóm lại, với điều kiện kinh tế như trên, chúng ta có thể thấy rằng điều kiện kinh tế của công nhân vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện vật giá gia tăng nhanh như hiện nay

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w