Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn xã hội đang đặt ra, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Các yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sin
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ PHƯƠNG HẢI
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ PHƯƠNG HẢI
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào, lời cảm ơn luôn chiếm một
vị trí trang trọng nhất bởi lẽ đó là sự tri ân mà tác giả muốn gửi đến các cá nhân và tập thể đã hỗ trợ để đề tài được hoàn thành Và khi là tác giả của một luận văn, tôi thực sự mới hiểu nhiều hơn như thế
Lời cảm ơn đầu tiên tôi xin gửi đến 160 bệnh nhân nam đã tham gia trả lời phỏng vấn vì nếu không có các anh thì luận văn này sẽ không được hoàn thành Tôi hiểu rằng luận văn này không giúp gì nhiều cho họ nhưng tôi chỉ hy vọng được chuyển tải những tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của họ đến những người quan tâm
Xin được gửi lời cảm ơn đến sự giúp đỡ của các bạn nam sinh viên Khoa Công Tác Xã Hội, Khóa 1, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong quá trình thu thập thông tin để hoàn thành luận văn
Những lời động viên, chia sẻ và sự góp ý của anh chị và bạn bè: Thu Hiền, Thúy Diễm, bác sĩ Cường, bác sĩ Vĩnh Phước và bác sĩ Tiến Dũng mà tôi không thể nào quên được
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Bình Dân, Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, thành phố Hồ Chí Minh và Ban giám đốc Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận văn Đặc biệt, tôi cám ơn GS.TS.BS Lê Quang Nghĩa và TS.BS Nguyễn Thành Như những người đã hỗ trợ cho tôi về những tài liệu chuyên môn y khoa và dạy cho tôi những bài học về cách nghiên cứu khoa học
Tôi xin cảm ơn Thầy Cô giảng dạy khoá Cao học Xã hội học năm 2007-2010, các Thầy Cô trong Khoa Xã hội học và các cán bộ phòng Đào tạo Sau đại học, Ban giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi những kiến thức khoa học và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Trang 4Xin cám ơn lời động viên và hỗ trợ về vật chất cũng như tinh thần của anh
Trần Như Bình, Cô Trần Thị Mười, hai bên gia đình Nội và Ngoại Con xin cảm ơn
Mẹ Nguyễn Thị Mười và Mẹ Trần Thu Hồng đã giúp trông bé Đăng Lâm để con có
điều kiện hoàn thành luận văn Em xin cảm ơn anh và con trai là nguồn động lực
cho em trong những lúc em thật sự nản lòng
Trên tất cả, tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học:
Thầy Lê Thanh Sang Qua sự hướng dẫn chuyên môn cũng như những lời động
viên, chia sẻ của thầy đã giúp cho tôi tăng thêm ý chí và nghị lực trong suốt quá
trình làm luận văn Nếu không có sự tận tâm hướng dẫn mà thầy dành cho tôi thì
thực sự luận văn này không thể hoàn thành
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý thầy
cô, bạn bè và người thân
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2010
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và
chưa có ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Số liệu được phân tích và những dẫn chứng trong đề tài này là kết quả xử lý thông
tin mà tôi đã tiến hành điều tra thực địa vào tháng 07/2010 tại Khoa Nam học, Bệnh
viện Bình Dân, thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 12 năm 2010
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 10
1 Lí do chọn đề tài 11
2 Mục tiêu nghiên cứu 12
2.1 Mục tiêu tổng quát 12
2.2 Mục tiêu cụ thể 13
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 14
4.1 Đối tượng nghiên cứu 14
4.2 Khách thể nghiên cứu 14
4.3 Phạm vi nghiên cứu 14
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 15
5.1 Ý nghĩa lý luận 15
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 15
6 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu 16
6.1 Phương pháp nghiên cứu 16
6.2 Kỹ thuật nghiên cứu 16
6.2.1 Kỹ thuật thu thập thông tin 16
6.2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng 16
6.2.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 18
Trang 76.2.1.3 Phương pháp chọn mẫu phỏng vấn sâu 18
6.2.1.4 Phương pháp quan sát 19
6.2.2 Phương pháp xử lý và dữ liệu phân tích 20
7 Những thuận lợi và hạn chế khi thực hiện đề tài 20
7.1 Thuận lợi 20
7.2 Hạn chế 21
8 Kết cấu luận văn 22
PHẦN NỘI DUNG 23
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 24
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 24
1.1.1 Các chính sách và văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề SKSS nam giới tại Việt Nam 24
1.1.2 Những nghiên cứu về SKSS nam giới 31
1.2 Các cách tiếp cận 41
1.2.1 Cách tiếp cận hệ thống 41
1.2.2 Cách tiếp cận lối sống 43
1.2.3 Mô hình niềm tin sức khoẻ 44
1.3 Lý thuyết ứng dụng đề tài 46
1.3.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng 46
1.3.2 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 47
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 48
1.5 Giả thuyết nghiên cứu 49
1.6 Khung phân tích 50
Trang 81.7 Các khái niệm 51
1.7.1 Tiếp cận 51
1.7.2 Sử dụng 51
1.7.3 Sức khỏe 51
1.7.4 Sức khoẻ sinh sản 51
1.7.5 Chăm sóc sức khỏe sinh sản 52
1.7.6 Dịch vụ CSSKSS 53
1.7.7 Nhận thức 54
1.7.8 Thái độ 54
1.7.9 Hành vi 55
1.7.10 Vô sinh nam 55
1.7.11 Rối loạn chức năng tình dục 56
1.7.12 Bệnh lây truyền qua đường tình dục 56
1.7.13 Nhiễm khuẩn đường sinh sản 57
1.8 Đo lường các biến số 57
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ MẪU NGHIÊN CỨU 58
2.1 Khái quát về tình hình bệnh nam khoa và việc cung ứng dịch vụ nam học hiện nay 58
2.1.1 Khái quát chung về ngành Nam học 58
2.1.2 Tình hình bệnh nam khoa hiện nay 60
2.1.3 Thực trạng việc cung ứng dịch vụ nam khoa trong cộng đồng 64
2.2 Khái quát về Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh 65
Trang 92.3 Mẫu nghiên cứu 68
2.3.1 Nhóm tuổi 69
2.3.2 Tình trạng hôn nhân 69
2.3.3 Nghề nghiệp 70
2.3.4 Dân tộc và Tôn giáo 71
2.3.5 Trình độ học vấn 71
2.3.6 Thu nhập 72
2.3.7 Nơi sinh sống hiện tại của nam giới 73
2.3.8 Loại bệnh nam giới thường gặp 74
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ CSSKSS CỦA NAM GIỚI TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 78
3.1 Nhận thức của nam giới về các vấn đề SKSS 78
3.2 Quan niệm của nam giới đối với việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS 81 3.2.1 Quan niệm của nam giới đối với một số vấn đề SKSS 81
3.2.2 Quan niệm của nam giới với việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSKSS 85
3.3 Mức độ nghiêm trọng của bệnh nam khoa 88
3.4 Chất lượng dịch vụ của CSYT 96
3.4.1 Hiệu quả điều trị 96
3.4.2 Giá cả dịch vụ 99
3.4.3 Thái độ của nhân viên y tế 103
3.5 Yếu tố truyền thông 106
3.6 Một số yếu tố khác 110
Trang 10PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 115
Kết luận 116
Khuyến nghị 121
Một vài hướng nghiên cứu đặt ra 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
PHẦN PHỤ LỤC 136
PHỤ LỤC 1: Bảng hỏi khảo sát nam giới 136
PHỤ LỤC 2: Tiêu chí hướng dẫn phỏng vấn sâu 153
PHỤ LỤC 3: Tổng hợp kết quả điều tra bằng bảng hỏi 159
Trang 11hôn nhân 92 Bảng 3.4: Nơi tìm hiểu thông tin SKSS/bệnh nam khoa của nam giới phân theo
trình độ học vấn 108
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Độ tuổi của nam giới 69
Biểu đồ 2.2: Nghề nghiệp của nam giới 70
Biểu đồ 2.3: Trình độ học vấn của nam giới 72
Biểu đồ 2.4: Thu nhập trung bình hàng tháng của nam giới 73
Biểu đồ 2.5: Nơi sinh sống hiện tại của nam giới 74
Biểu đồ 2.6: Loại bệnh nam giới thường gặp 75
Biểu đồ 3.1: Nghe, đọc hoặc biết các chủ đề SKSS 78
Biểu đồ 3.2: Nhận thức của nam giới về các loại bệnh lây truyền qua đường tình dục/NKĐSS 79
Biểu đồ 3.3: Nhận thức của nam giới về lý do dẫn đến vô sinh nam 80
Biểu đồ 3.4: Quan niệm về việc có thể QHTDTHN nếu hai người yêu 82
Biểu đồ 3.5: Người được nam giới chia sẻ về tình trạng bệnh nam khoa 85
Biểu đồ 3.6: Yếu tố bệnh tật quyết định việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS 87
Biểu đồ 3.7: Ảnh hưởng của bệnh nam khoa đến đời sống của nam giới 91
Biểu đồ 3.8: Lý do nam giới chọn Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân 96
Biểu đồ 3.9: Nhận xét của nam giới về chi phí dịch vụ 100
Biểu đồ 3.10: Nhận xét của nam giới về thái độ của nhân viên y tế 104
Biểu đồ 3.11: Nguồn tiếp nhận các thông tin SKSS 107
Biểu đồ 3.12: Nhận xét về số lượng CSYT cung cấp dịch vụ CSSKSS cho nam giới 112
Trang 13DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh 65Hình 3.1: Nam giới đang ngồi đợi trước phòng khám Nam khoa, Bệnh viện Bình Dân, thành phố Hồ Chí Minh 86 Hình 3.2: Bệnh viện Bình Dân, thành phố Hồ Chí Minh 97
Trang 14DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BPTT Biện pháp tránh thai CSSKSS Chăm sóc sức khoẻ sinh sản CSYT Cơ sở y tế
DS-KHHGĐ Dân số – kế hoạch hoá gia đình HIV/AIDS Vi rút gây suy giảm miễn dịch (HIV)/ Hội
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (AIDS)
ICPD Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển
tại Cario
QHTDTHN Quan hệ tình dục trước hôn nhân RLCD Rối loạn cương dương
SKSS Sức khoẻ sinh sản UNFPA Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc WHO Tổ chức Y tế thế giới
Trang 15PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 161 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự xuất hiện của loài người thì những nhu cầu tình dục và sinh sản cũng tồn tại và phát triển Ngoài chức năng duy trì nồi giống, nhu cầu sinh sản còn mang đến hạnh phúc cho con người Do vậy, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản đóng vai trò quan trọng trong đời sống của chúng ta vì thông qua việc tiếp cận các dịch
vụ CSSKSS sẽ giúp bản thân mỗi người tự bảo vệ sức khỏe một cách an toàn hơn Chính vì thế, nâng cao sự hiểu biết và khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSKSS không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà còn với cả nam giới Hội nghị Quốc tế về Dân
số và Phát triển tổ chức tại Cairo, Ai Cập năm 1994 đã nhấn mạnh tầm quan trọng
về quyền sinh sản và sức khỏe sinh sản của cả nam và nữ giới Chương trình hành động đã lưu ý rằng: nam cũng như nữ cần phải tiếp cận với các thông tin và dịch vụ thích hợp để đạt được sức khỏe sinh sản tốt nhất Và sự tham gia của nam giới vào vấn đề sức khỏe sinh sản cũng sẽ làm tăng nhận thức, chấp nhận và ủng hộ đối với những nhu cầu, sự lựa chọn và các quyền của vợ (bạn tình) của họ; giúp họ sẽ tham gia vào CSSKSS để ủng hộ và nâng cao vị thế của nữ giới
Tuy nhiên, ngay cả trên thế giới cũng như tại Việt Nam, trong lĩnh vực y tế cộng đồng, các dịch vụ CSSKSS và KHHGĐ được thực hiện qua một hệ thống mang tính chất hoàn chỉnh, chẳng hạn, Trung tâm Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em và KHHGĐ mà trong đó phụ nữ vẫn được xem như là đối tượng phục vụ chính Và ngay trong nhận thức của chúng ta, việc khám phụ khoa hay khám thai đã trở thành một hoạt động không còn xa lạ trong xã hội ngày nay Vậy còn với nam giới hiện nay thì sao?
Một vấn đề khác đặt ra là tình hình các bệnh giới tính nam đang tồn tại và có chiều hướng ngày càng gia tăng nhanh chóng không chỉ trên thế giới mà cả ở Việt Nam Chẳng hạn như vô sinh nam, theo thống kê, tại Mỹ, Anh, một số nước châu
Âu khác, hiếm muộn do nam hiện nay, chiếm trên 40% nguyên nhân Ở Việt Nam,
“10% cặp vợ chồng bị hiếm muộn, mà trong đó nguyên nhân do nam đơn thuần là 30% và do cả hai nam và nữ là 20%”[66] Kế đến là rối loạn cương dương thì theo
Trang 17“nghiên cứu của Feldman năm 1994 có đến 39% nam giới tuổi 40 bị RLCD, con số này tăng lên 66% khi đến tuổi 70 Riêng ở Việt Nam, một nghiên cứu tại Bệnh viện Bình Dân trong 3 năm (2000 – 2002) có khoảng 2.150 người đến điều trị RLCD Tuy nhiên số lượng này chưa phản ánh hết nhu cầu điều trị RLCD” [52]
Từ đó cho thấy, vấn đề SKSS của nam giới đang tồn tại và cũng quan trọng không kém gì so với SKSS của phụ nữ Song song với thực tế đó là nhu cầu được tiếp cận các cơ sở y tế để khám và điều trị các bệnh giới tính nam nói riêng và được cung cấp các dịch vụ CSSKSS dành cho nam giới nói chung đòi hỏi nhiều sự quan tâm và giải quyết Trong những năm gần đây, các cơ sở y tế bắt đầu triển khai cung cấp các dịch vụ CSSKSS và hình thành các trung tâm hay các phân khoa dành cho việc khám và điều trị các bệnh giới tính nam Các bệnh viện tuyến cuối có cung ứng các dịch vụ chuyên môn hóa cao về SKSS nam giới đã thu hút một lượng khá lớn những người có nhu cầu Vậy điều gì đã tác động đến khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới? Đây là vấn đề mang tính cấp bách đòi hỏi nhiều hơn sự quan tâm và nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp và kịp thời khắc phục những thiếu sót bất cập trong việc xây dựng cũng như triển khai các chương trình CSSKSS nói chung và các dịch vụ CSSKSS cung cấp cho nam giới ở các tuyến bệnh viện nói riêng
Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn xã hội đang đặt ra, tác giả đã
quyết định chọn đề tài: “Các yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nam giới” (Điển cứu tại Khoa Nam học,
Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh) để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Thông qua việc tìm hiểu một cơ sở y tế công tiêu biểu, cuộc nghiên cứu chỉ ra các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSKSS của nam giới
Trang 18- Tìm hiểu về chất lượng dịch vụ (hiệu quả điều trị, thái độ của cán bộ y tế
và giá cả dịch vụ) tác động đến việc quyết định tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới
- Tìm hiểu yếu tố truyền thông về SKSS hiện nay có giúp gì cho việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS dành cho nam giới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra, đề tài sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Thu thập tài liệu và số liệu thứ cấp liên quan đến đề tài đang nghiên cứu
- Nghiên cứu, khái quát và làm rõ một số lý thuyết cũng như khái niệm nhằm làm cơ sở lý luận trong việc nghiên cứu đề tài
- Tìm ra những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới
- Từ những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp một phần nhỏ những giải pháp hỗ trợ và tăng cường cho công tác CSSKSS cho nam giới nhằm nâng cao chất lượng dân số
Trang 194 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới
đã tính đến cả yếu tố sức khỏe, học tập, thể chất và kinh tế đối với thanh niên để đi tới kết hôn Vì vậy, trong việc lựa chọn các dịch vụ CSSKSS, sự trưởng thành tâm sinh lý và đủ độ chín chắn giúp cho nam giới đưa ra những quan điểm, ý kiến của mình liên quan đến một số vấn đề SKSS/tình dục mang tính nhạy cảm cũng như có quyền quyết định lựa chọn cho mình một dịch vụ CSSKSS phù hợp nhất
Bên cạnh đó, từ độ tuổi này trở đi, nam giới bắt đầu bước vào tuổi lao động Những yếu tố công việc, môi trường và cuộc sống gia đình với trách nhiệm của người chồng, người cha đã ảnh hưởng rất nhiều đến SKSS của họ Theo đó, những nhu cầu về tình dục và sinh sản cũng gia tăng nhanh chóng cũng như các về bệnh giới tính nam cũng có những biểu hiện rõ ràng hơn
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên đề tài không thể nghiên cứu trên bình diện rộng như tác giả mong muốn Chính vì thế, đề tài chỉ nghiên cứu tại Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh
Lý do chọn Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân vì hiện nay, trong các CSYT tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và trong cả nước nói chung thì Bệnh viện Bình Dân được xem là một cơ sở y tế công đầu tiên có sự chuyên môn hóa cao
Trang 20về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản nam giới Do vậy, Khoa Nam học Bệnh viện Bình Dân đóng vai trò quan trọng nhất đối với việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của nam giới cũng như thu hút đông đảo nhất những người thụ hưởng ở các tỉnh thành phía nam và trong cả nước
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
5.1 Ý nghĩa lý luận
Thông qua đề tài này, chúng tôi vận dụng các cách tiếp cận và lý thuyết xã hội học phù hợp để triển khai nghiên cứu và cung cấp các kết quả thực nghiệm về việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ csskss nam giới, qua đó hiểu rõ hơn các vấn đề mang tính lý thuyết
Đề tài hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vấn đề
này
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nêu lên các vấn đề mà thực tiễn đặt ra, làm cơ sở cho việc đề xuất những kiến nghị cho Chương trình “Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001-2010” của Đảng và Chính phủ cũng như tiến tới thực hiện “Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2011-2020”
Đề tài đi sâu tìm hiểu vấn đề chính sách và thực tế việc triển khai các chương trình CSSKSS cho nam giới trong cộng đồng hiện nay Bên cạnh đó, đề tài cũng tìm hiểu thực trạng sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới tại các cơ sở y tế điển hình và chỉ ra các yếu tố tác động đến việc tiếp cận các dịch vụ CSSKSS của nam giới
Từ đó, chúng ta có những khuyến nghị giúp cho các nhà làm chính sách, nhà quản lý có cơ sở điều chỉnh thiết thực đảm bảo tính pháp lý và phù hợp với tình hình thực tiễn công tác CSSKSS đối với nam giới hiện nay
Một ý nghĩa khác chính là từ việc kế thừa những nghiên cứu trước, đề tài tuy không quá mới nhưng luôn có những điểm nhấn để tạo nên sự khác biệt trước
Trang 21những thay đổi của điều kiện xã hội mới Do vậy, đề tài hy vọng góp thêm một số giải pháp điều chỉnh và tăng cường cho công tác CSSKSS cho nam giới trong tình hình hiện nay và có những định hướng cho các vấn đề nghiên cứu tiếp theo
6 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài nghiên cứu thực nghiệm xã hội học nên phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài là phương pháp nghiên cứu định lượng Thông qua việc thu thập, xử lý và phân tích các thông tin định lượng, cũng như các dữ liệu thống kê sẵn có, đề tài sẽ tìm hiểu những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới hiện nay Từ đó, có cái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu và dự báo xu hướng biến đổi trong tương lai
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để phân tích những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới tại địa bàn nghiên cứu Để từ đó có thể đưa ra những đánh giá sát thực các yếu tố tác động tích cực lẫn tiêu cực trong việc tiếp cận, sử dụng các dịch vụ CSSKSS cũng như sẽ có những đề xuất mang tính giải pháp phù hợp với tình hình thực tế
6.2 Kỹ thuật nghiên cứu
6.2.1 Kỹ thuật thu thập thông tin
6.2.1.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Bằng cách phỏng vấn dựa trên bảng hỏi anket, thông tin định lượng được thu thập sẽ phản ánh được nội dung chính đó là những yếu tố tác động đến việc tiếp cận
và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới tại Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, do sự nhạy cảm của đối tượng nghiên cứu trong đề tài cũng như để thuận lợi cho việc thu thập thông tin, chúng tôi chọn mẫu theo nguyên tắc chọn mẫu
Trang 22phân suất (mẫu định ngạch) nghĩa là chọn mẫu theo cách thuận tiện nhưng vẫn phải đảm bảo các tiêu chí đã đề ra ở mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Việc chọn mẫu được tiến hành như sau:
- Bước 1: chọn mẫu tuân theo tiêu chí là nam giới, độ tuổi từ 20 trở lên, bao gồm 4 nhóm tuổi: từ 20 – 30 tuổi, từ 31 – 40 tuổi, từ 41 – 55 tuổi và trên 55 Lý do: nam giới đang tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS tại địa bàn nghiên cứu chiếm đa số là những người đang trong độ tuổi sinh sản và tuổi lao động nên nhu cầu tình dục, sinh sản gia tăng cũng như những biểu hiện bệnh nam khoa cũng rõ ràng hơn, đặc biệt là nhóm 20-55
- Bước 2: ở địa bàn nghiên cứu, tác giả sẽ tiến hành lựa chọn mẫu theo tiêu chí
đã đưa ra ở bước 1 trên nguyên tắc thuận tiện Việc chọn mẫu sẽ kết thúc khi xác định đủ số mẫu điều tra theo yêu cầu
- Dung lượng: 150 đơn vị mẫu
- Cấu trúc bảng hỏi gồm có 55 câu trong đó có câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi có nhiều lựa chọn và câu hỏi kết hợp Nội dung chính bao gồm những phần cơ bản sau:
Các thông tin nhân khẩu – xã hội của đối tượng được phỏng vấn như tuổi, trình độ học vấn, tôn giáo, thu nhập, nghề nghiệp, địa bàn sinh sống, mức sống…
Việc truyền thông về vấn đề SKSS dành cho nam giới
Đánh giá của nam giới về chất lượng dịch vụ CSSKSS của CSYT đang cung cấp
Trang 236.2.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu: bằng hình thức phỏng vấn sâu, nghiên cứu
định tính nhằm hỗ trợ trong việc khai thác sâu các khía cạnh, các yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới cũng như những quan điểm, nhận thức và thái độ của nam giới liên quan đến một số vấn đề SKSS/tình dục… bằng cách chọn mẫu phân suất đối với nam giới đang điều trị nội trú và ngoại trú tại địa bàn nghiên cứu
Bên cạnh đó, tác giả tìm hiểu những quan điểm từ phía nhà cung cấp dịch vụ đối với việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS dành cho nam giới
Ngoài ra, để khắc phục hạn chế là việc không khảo sát trên đối tượng nam giới đang có những vấn đề về SKSS/ bệnh nam khoa nhưng họ lại không tiếp cận và
sử dụng các dịch vụ CSSKSS, tác giả sẽ tăng cường khảo sát ý kiến, quan điểm của những chuyên gia là các bác sĩ trong lĩnh vực SKSS nam giới, phụ sản, lãnh đạo trung tâm CSSKSS thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, giúp tác giả có nhìn khái quát hơn về vấn đề đang nghiên cứu
Hình thức: phỏng vấn bán cấu trúc, dựa theo danh mục các câu hỏi mà đề tài nghiên cứu quan tâm
6.2.1.3 Phương pháp chọn mẫu phỏng vấn sâu
10 nam giới, trong đó 5 người đang điều trị ngoại trú và 5 người đang điều trị nội trú để khai thác những thông tin sâu hơn về những quan điểm, nhận thức và
thái độ của nam giới về một số vấn đề SKSS và những lý giải của họ về các yếu tố ảnh hưởng
01 bác sĩ Trưởng khoa Nam học: để tìm hiểu thực trạng tiếp cận và sử dụng
các dịch vụ CSSKSS của nam giới cũng như những thuận lợi và khó khăn của Khoa Nam học đang có Bên cạnh đó, tìm hiểu lý do nam giới không tiếp cận dịch vụ trong khi họ có nhu cầu thực sự
02 bác sĩ điều trị nam khoa: là những người tiếp xúc thường xuyên với các
nam giới đến tư vấn, khám và điều trị bệnh nam khoa Họ là người hiểu được những
Trang 24tâm tư, tình cảm, thái độ và hành vi của nam giới Và cũng là họ thì những chia sẻ của nam giới về các vấn đề SKSS nhiều và xác thực hơn
01 bác sĩ sản khoa nhưng phụ trách phần nam khoa: là người có quan điểm, ý
kiến khách quan xung quanh vấn đề CSSKSS dành cho nam và nữ hiện nay Bên cạnh đó, có những chia sẻ xung quanh vấn đề điều trị và chi phí cho bệnh vô sinh
01 Phó Giám đốc Trung tâm CSSKSS thành phố Hồ Chí Minh: để tìm hiểu
thực trạng việc CSSKSS dành cho nam giới trong cộng đồng hiện nay Khảo sát những yếu tố thúc đẩy và cản trở nam giới đến tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSKSS cũng như công tác truyền thông và việc tiếp cận thông tin SKSS của nam giới Tóm lại, toàn bộ mẫu điều tra có 150 đối tượng điều tra định lượng, 15 đối tượng điều tra định tính
6.2.1.4 Phương pháp quan sát
Quan sát không tham dự
Để có cái nhìn khái quát hơn cho đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp quan sát không tham dự với nam giới đến tư vấn, khám và điều trị các bệnh nam giới tại Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh về các khía cạnh: thái độ và hành vi của họ trong việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS cũng như những chia sẻ khi bác sĩ thăm hỏi bệnh
Bên cạnh đó, tác giả quan sát cơ sở vật chất của phòng khám nam khoa và khu điều trị nội trú của Khoa Nam học, giờ làm việc, thái độ phục vụ của nhân viên y tế Kết quả quan sát nhằm giúp tác giả bổ sung và củng cố cho những lập luận khi tiến hành trả lời các câu hỏi nghiên cứu, chứng minh, bác bỏ hay chỉ ra xu hướng của những giả thuyết nghiên cứu đã đề ra
Quan sát có tham dự
Nhằm hạn chế đến mức tối đa việc nam giới không chia sẻ những điều chưa tốt của bệnh viện cũng như của nhân viên y tế, tác giả đóng vai là vợ của một nam giới
Trang 25đến khám bệnh và cùng tham gia vào nơi họ đang ngồi chờ tại phòng khám Nam khoa Từ đó, thông qua ghi chép cuộc trao đổi với họ về những vấn đề quan tâm nhằm giúp tác giả thu nhận được những thông tin phần nào trung thực hơn về những mặt hạn chế của bệnh viện và nhân viên y tế
Bên cạnh đó, tác giả còn đóng vai như một bác sĩ thực tập trong Khoa Nam học nhằm giúp tác giả có cơ hội tiếp cận với bệnh nhân trong việc khai thác những thông tin mang tính chiều sâu về tâm tư, tình cảm, lo lắng trước căn bệnh mà họ đang đối mặt cũng như những khó khăn khi họ đến tiếp cận dịch vụ CSSKSS
6.2.2 Phương pháp xử lý và dữ liệu phân tích
Các tư liệu thu thập từ nhiều nguồn như sách, báo, tạp chí, internet… sẽ được tiến hành tổng kết và điểm luận theo chủ đề, đề mục cụ thể và rõ ràng nhằm có một cái nhìn bao quát về việc sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới hiện nay Ngoài ra, các tài liệu này cũng sẽ dùng để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn sử dụng dịch vụ CSSKSS của nam giới
Các thông tin định lượng, thu thập từ bảng hỏi anket được xử lý và hệ thống theo nội dung dựa vào phần mềm SPSS 11.5 Các câu hỏi mở cũng sẽ được mã hóa lại và cũng được xử lý như những câu hỏi đóng
Đối với các cuộc phỏng vấn được ghi âm bằng phương pháp phỏng vấn sâu
sẽ được gỡ băng phỏng vấn và phân tích thông tin được ghi nhận
7 Những thuận lợi và hạn chế khi thực hiện đề tài
7.1 Thuận lợi
- Được sự giúp đỡ của Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh tạo điều kiện cho tác giả được tham gia như là bác sĩ trong Khoa nên việc tiếp cận các đối tượng khá nhạy cảm trong việc khai thác thông tin cũng phần nào
thuận lợi hơn
- Ngoài ra, trước khi tiến hành phỏng vấn, tác giả đã có nghiên cứu tài liệu về các bệnh nam khoa thường gặp cũng như học hỏi những kinh nghiệm của các bác sĩ
Trang 26trong Khoa Nam học về việc bệnh nhân ngại nên sẽ nói tránh nói giảm về bệnh của
họ Ví dụ như họ bệnh rối loạn cương dương nhưng họ lại nói là “bệnh thận”, “thận suy thận yếu” Từ đó, giúp cho việc chuyển tải kinh nghiệm với điều tra viên nhằm hạn chế tối đa việc lung túng, ngỡ ngàng của họ khi xuống địa bàn nghiên
cứu
- Việc tuyển chọn sinh viên nam chuyên ngành công tác xã hội có nhiều lợi thế như các bạn đã được trang bị những kỹ năng cơ bản trong phỏng vấn nên phần còn lại là chuyển tải nội dung bảng hỏi cũng như hướng dẫn các bạn cách dẫn dắt khéo léo để người trả lời có thể cung cấp thông tin một cách thật tự nhiên Kế đến, các bạn là nam nên phần nào cũng dễ tiếp cận đối tượng hơn so với tác giả đề tài
(nữ)
7.2 Hạn chế
- Hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu: là một chủ đề khá mới nên việc tiếp cận các tài liệu liên quan còn khó khăn cũng như kinh nghiệm để nghiên cứu các vấn đề khá nhạy cảm với tác giả còn quá ít
- Hạn chế trong chọn mẫu: với phương pháp chọn mẫu như trên (xem phần
“phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu”), điều đầu tiên khẳng định là mẫu thiết kế của đề tài không mang tính chất đại diện cho khu vực rộng, mà phần nào chỉ đại diện cho địa bàn nơi khảo sát Vì vậy, việc so sánh kết quả của nghiên cứu này với nghiên cứu khác chỉ mang tính tham khảo cũng như việc suy rộng nghiên cứu cần được cân nhắc trước khi sử dụng
- Hạn chế trong tuyển chọn điều tra viên: việc tuyển chọn điều tra viên có nhược điểm như tuổi của điều tra viên không phù hợp Các điều tra viên đều là sinh viên có năm sinh >1981, chưa lập gia đình cho nên ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý của một số nam giới lớn tuổi, đã có gia đình khi cung cấp thông tin, đặc biệt là các thông tin nhạy cảm
- Một số hạn chế khác: SKSS là một chủ đề khá nhạy cảm trong bối cảnh văn hóa truyền thống Việt Nam Chẳng hạn như vấn đề QHTDTHN, mặc dù dư luận
Trang 27cho rằng hiện tượng này ngày càng gia tăng nhưng trên thực tế không nhiều người dám nhận mình đã từng trải nghiệm Chính vì thế, việc thu thập thông tin đầy đủ, trung thực về các vấn đề SKSS, đặc biệt là SKSS nam giới bao giờ cũng có những hạn chế nhất định
8 Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận - khuyến nghị
Trong phần mở đầu, chúng tôi trình bày về lý do của việc lựa chọn nghiên cứu những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới, đối tượng, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, tình hình vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật nghiên cứu và một số nội dung khác có liên quan
Trong phần nội dung, chúng tôi chia làm 3 chương: chương 1 về cơ sở lý luận và thực tiễn, chương 2 về đặc điểm địa bàn nghiên cứu và mẫu nghiên cứu và
chương 3 là kết quả nghiên cứu Ở chương1: cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng tôi
tập trung trình bày những vấn đề chung nhất liên quan đến chủ đề nghiên cứu như tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài, các lý thuyết, các cách tiếp cận, các khái
niệm và việc đo lường các biến số Trong chương 2, chúng tôi sẽ trình bày kết đôi
nét về tình hình bệnh nam khoa và thực trạng cung ứng dịch vụ nam học trong cộng đồng hiện nay, kế đến là khái quát chung về Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tư vấn, khám, điều trị bệnh nam giới và mô tả mẫu
nghiên cứu Cuối cùng, ở chương chính, tác giả sẽ phân tích nhận thức của nam giới
xung quanh các vấn đề SKSS nhằm chỉ ra những yếu tố tác động đến việc tiếp cận
và sử dụng các dịch vụ CSSKSS của nam giới từ số liệu điều tra thu được của cuộc khảo sát
Trong phần kết luận và khuyến nghị, chúng tôi tổng kết lại các nội dung đã trình bày ở chương 2 và chương 3, trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 28PHẦN NỘI DUNG
Trang 29CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
1.1.1 Các chính sách và văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề SKSS nam giới tại Việt Nam
Sớm nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa dân số, phát triển
và cuộc chiến chống đói nghèo, Việt Nam đã tham gia chương trình dân số toàn cầu
từ những năm 1960 Các văn bản đầu tiên về chính sách dân số đã nhấn mạnh đến việc thực hiện KHHGĐ, trong đó, nam giới là nhóm đối tượng đóng vai trò quan trọng để chính sách dân số được thành công trọn vẹn Chính vì thế, Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ chỉ thị 99/TTg ngày 16 -10 -1963 của Thủ tướng Chính phủ
về công tác hướng dẫn sinh đẻ có kế hoạch, trong đó có phần phương pháp tiến hành công tác hướng dẫn sinh đẻ có đề cập:
“Đối tượng tuyên truyền, giáo dục là những người vợ chồng, những người sắp trở thành vợ chồng Đối tượng bao gồm nam, nữ thanh niên, những người trung
niên và các bậc phụ lão, vì các cụ hay đòi sớm có con Cần chú trọng thanh niên và
nam giới Tuyên truyền, giáo dục phải thích hợp với từng đối tượng”
Và những năm sau thì quan điểm giới luôn được chú ý và nhắc lại trong các văn bản về chính sách dân số của nước ta:
“Đối tượng là những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đồng thời phải coi trọng
tuyên truyền vận động trong nam giới, trong quân đội và công an Phải giải thích
cho những bậc phụ lão hiểu rõ để ủng hộ chủ trương này” theo chỉ thị 265/CP ngày
19 – 10 -1978 của Chính phủ về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch Không những thế mà nam giới còn được xem là nhóm đối tượng cần có sự quan tâm riêng biệt như Quyết định số 315/HĐBT ngày 24/08/1992 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chiến lược thông tin – giáo dục – truyền thông trong Dân số
- KHHGĐ (1992 – 2000), ở chương III “các nhóm đối tượng”, có đề cập:
Trang 30“2 Nam giới:
Mặc dù trong nhóm đối tượng thứ nhất đã đề cập đến cả nam và nữ, song xét đến những đặc điểm tâm lý truyền thống, đến tình hình thực hiện kế hoạch hóa gia
đình ở Việt Nam, nam giới cần được tách thành một nhóm đối tượng riêng để có
những thông điệp đặc thù và cách tiếp cận đặc thù
Trong nam giới cần đặc biệt chú ý đến:
- Nam giới trung niên, chủ gia đình
- Nam giới trong những gia đình không và chưa có con trai
- Nam giới thuộc những gia đình và khu vực chưa thực hiện kế hoạch hóa gia đình hoặc tỉ lệ tham gia còn thấp.”
Ngoài ra, trách nhiệm của nam giới ngay từ đầu được xác định trong chương
V “Thông điệp truyền thông” của Quyết định số 315/HĐBT:
“f.Trách nhiệm của nam giới
Làm cho nam giới hiểu rằng kế hoạch hóa gia đình không chỉ là việc riêng của phụ nữ Là một công dân, người chồng, người cha, nam giới có trách nhiệm và bổn phận tham gia tích cực vào các chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình, ủng
hộ người vợ và bản thân cũng áp dụng các biện pháp tránh thai”
Từ những chủ trương, chính sách dân số nêu trên càng khẳng định rằng Đảng
và Nhà Nước ta đã rất quan tâm và coi trọng đến chất lượng dân số, quyền sinh sản, SKSS và đặc biệt chú ý đến vai trò và trách nhiệm của nam giới trong công tác dân
số và kế hoạch hóa gia đình
Và tư tưởng này trong những năm sau đó đã được cộng đồng quốc tế đề cập và trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu Rõ nhất là trong các mục tiêu của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairô (1994) có nêu: “Tăng cường sự tham gia và chia sẻ trách nhiệm của nam giới trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình.”
Trang 31“Bảo đảm rằng phụ nữ và nam giới được tiếp cận thông tin, giáo dục và các dịch vụ cần thiết để đạt được sức khỏe tình dục tốt và thực hiện trách nhiệm về quyền sinh sản của họ (tránh bạo lực)”
Đặc biệt, vai trò và trách nhiệm của nam giới trong SKSS và quyền sinh sản đều được nhắc đến tại Hội nghị Cairô và Hội nghị Bắc Kinh cho thấy “nam giới có vai trò quan trọng trong SKSS và thực hiện nam nữ bình đẳng, do vậy mọi chương trình và dịch vụ về SKSS phải đặc biệt chú ý đến vai trò và trách nhiệm của nam giới SKSS sẽ không được cải thiện đáng kể nếu không có sự bình đẳng nam nữ là những mối quan hệ chăm sóc lẫn nhau giữa hai giới” [23, tr.21] Vì thế, “cần có những nỗ lực đặc biệt thúc đẩy nam giới chia sẻ trách nhiệm và khuyến khích họ tham gia tích cực trong chức năng làm cha, hành vi tình dục và sinh sản kể cả kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe của mẹ và con trước khi đẻ, phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục…” [45] Từ đó, nhiều tổ chức quốc tế như UNFPA, WHO có những chương trình làm tăng tính chấp nhận bao cao su hoặc đình sản nam hay Qũy Ford coi SKSS là một trong những chiến lược quan trọng trong thập kỷ 90 và xác định rõ: “chương trình thu hút nam giới trong những nỗ lực cải thiện sức khỏe sinh sản” [23, tr.208] Trong những năm gần đây, WHO cũng chú trọng đến sự tham gia của nam giới trong kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản
Đó cũng là lý do vì sao Việt Nam chính thức tham gia và cam kết chương trình hành động quốc tế về dân số và phát triển được Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairo (1994) và Cương lĩnh hành động quốc tế vì sự tiến bộ của phụ nữ được thông qua tại Hội nghị Quốc tế và Phụ nữ tại Bắc Kinh (1995) Từ đó, những văn bản luật, nghị định, pháp lệnh liên quan đến chương trình Dân số - KHHGĐ và SKSS cho thấy Chính phủ Việt Nam đã có những quan điểm sáng suốt, tầm nhìn chiến lược trong việc định hướng tích cực về mặt chính sách cũng như ngày càng quan tâm hơn đến vấn đề CSSKSS cho người dân, trong đó nam giới đã dần có sự chú ý nhiều hơn
Trang 32Và quan điểm này càng được củng cố và nhấn mạnh trong chỉ thị số
50/CT-TƯ ngày 6-3-1995 của Ban bí thư Trung ương Đảng về việc đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chính sách
dân số - kế hoạch hóa gia đình trong khi vận động các đối tượng cần chú ý: “Vận
động nam giới, làm cho nam giới thấy đầy đủ trách nhiệm của bản thân với việc sinh đẻ trong gia đình Từ khi có cuộc vận động sinh đẻ đến nay, chúng ta có phần thiếu chú ý vận động nam giới một cách đầy đủ, do đó có nhiều người chồng chưa nhận thức đúng trách nhiệm trong công tác này”
Tuy nhiên, dù đối tượng nam giới đã được Đảng và Nhà nước ta có sự quan tâm nhiều hơn trong các chính sách dân số, chương trình CSSKSS nhưng hơn 30 năm (kể từ những năm 60 đến những năm 90), vai trò và trách nhiệm của nam giới cũng chỉ hạn chế ở mảng KHHGĐ, bình đẳng giới nhằm hỗ trợ cho đối tượng chủ yếu là “phụ nữ” và “trẻ em”
Tất cả các chính sách và chương trình CSSKSS cho nam giới trong thời gian qua chỉ mới trong giai đoạn khởi đầu như một nhận xét của tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam thì "chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000 nhấn mạnh rất rõ vào các mục đích giảm sinh nhưng ít quan tâm tới các khía cạnh rộng rãi của sức khỏe sinh sản” [23, tr.40] Chính vì thế, cũng chưa thật sự có những chính sách, văn bản hoặc chương trình CSSKSS cụ thể nào cho nam giới như cung cấp các dịch
vụ tư vấn, khám và điều trị các bệnh nam khoa chẳng hạn
CSSKSS là một trong những quyền cơ bản và được quy định rõ trong pháp lệnh dân số năm 2003: “Mọi công dân có quyền được cung cấp thông tin và dịch vụ dân số có chất lượng, thuận tiện, an toàn và được giữ bí mật theo quy định của pháp
luật” (Khoản a và khoản b, điều 4, Pháp lệnh dân số năm 2003) và “Mọi công dân
có quyền được lựa chọn các biện pháp CSSSKSS/KHHGĐ nhằm nâng cao chất
lượng dân số” (Khoản c, điều 4, Pháp lệnh dân số năm 2003) Để người dân tiếp
cận các dịch vụ này, “nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân
Trang 33đầu tư, hợp tác, giúp đỡ, hỗ trợ chương trình CSSKSS/KHHGĐ” (Khoản 2, điều 5,
Pháp lệnh dân số năm 2003)
Những nội dung và các hoạt động cần được triển khai trong Nghị định số
104/2003/CP-NĐ ngày 16/09/2003: “thông tin dân số bao gồm kiến thức dân số, SKSS/KHHGĐ, bình đẳng giới…”, riêng “các loại dịch vụ dân số bao gồm cung cấp thông tin, số liệu, các phương tiện và sản phẩm phục vụ công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục và tư vấn về dân số, cung cấp phương tiện tránh thai, dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ…”
Chỉ đến ngày 22 tháng 12 năm 2000, Chính phủ đã ban hành quyết định số 147/2000/QĐ-TTg về Chiến lược dân số Việt Nam 2001 – 2010 với mục tiêu chuyển hướng tiếp cận từ số lượng sang chất lượng, trọng tâm là giảm sinh và giải quyết những vấn đề dân số rộng hơn như quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng
dân số, phân bố dân cư, sức khỏe sinh sản, bình đẳng giới
Công tác dân số của Việt Nam trong thế kỷ 21 chuyển hướng nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề về dân số, trong đó tăng cường CSSKSS là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu Chính vì thế, nam giới dần có được vị trí nhất định trong các chính sách dân số nói chung và các chương trình CSSKSS nói riêng Cụ thể, mục tiêu của Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010 là: “Đảm bảo đến năm 2010, tình trạng sức khỏe ở Việt Nam sẽ được cải thiện đáng kể, khoảng cách giữa các vùng và các đối tượng sẽ được thu hẹp bằng việc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu đa dạng về chăm sóc sức khỏe sinh sản phù hợp với điều kiện của các địa phương, đặc biệt quan tâm tới những vùng và đối tượng khó khăn” [48]
Trong đó, việc cải thiện SKSS và Sức khỏe tình dục của thanh niên, vị thành niên và
nam giới, thông qua công tác truyền thông – thay đổi hành vi cũng như cung cấp dịch vụ SKSS phù hợp với các lứa tuổi
Nhóm các giải pháp cụ thể được Ủy ban Dân số - KHHGĐ thực hiện trong Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010 bao gồm: thứ nhất, truyền thông thay đổi hành vi nhằm “tạo ra sự chuyển đổi hành vi bền vững về dân số,
Trang 34SKSS/KHHGĐ trên cơ sở cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin với nội dung hình
thức phù hợp với từng khu vực, từng vùng và từng nhóm đối tượng” Thứ hai, “chú
trọng hình thức tư vấn, đối thoại, vận động trực tiếp các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, nam giới…” [49, tr.15] trong khi đáp ứng nhu cầu SKSS/KHHGĐ của
người dân thì “chú trọng phổ biến các BPTT cho nam giới, hướng dẫn sử dụng đúng các BPTT tự nhiên” [49, tr.17] Đặc biệt, thứ ba là “giải quyết từng bước, có trọng điểm nội dung dự phòng và điều trị vô sinh, ung thư vú, ung thư đường sinh sản,
các bệnh liên quan đến SKSS phụ nữ và nam giới Quan tâm thích đáng đến dự phòng và điều trị các bệnh liên quan đến thời kỳ mãn kinh của phụ nữ, áp dụng những kỹ thuật y sinh học tiên tiến về nam học” [49, tr.18]
Đặc biệt, lần đầu tiên trong quyết định số 4620/QĐ-BYT ngày 25/11/2009 của
Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ CSSKSS có bổ sung thêm phần Nam học với 12 bệnh nam giới thường gặp Qua đó thể hiện sự quan tâm thích đáng của Đảng và Nhà nước ta đối với nam giới
Chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010 của nước ta đã tiến hành triển khai các dịch vụ CSSKSS nam giới, cụ thể là khám và điều trị các bệnh nam khoa ở các tuyến trung tâm tỉnh và thành phố Bên cạnh việc đạt được những kết quả khả thi, chiến lược quốc gia 2001 – 2010 vẫn còn tồn tại một số hạn chế như:
“Việc đáp ứng nhu cầu thông tin, kiến thức, dịch vụ về SKSS, SKTD cho nhóm vị thành niên, thanh niên, nam giới, người di cư, người khuyết tật, người có HIV; dự phòng và điều trị các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản / bệnh lây truyền qua đường tình dục (RTI/STI), vô sinh đã được đề cập trong chiến lược nhưng việc can thiệp còn hạn chế” [55, tr.6]
“SKSS, Sức khỏe tình dục ở các nhóm đối tượng đặc thù còn nhiều thách thức…Kiến thức, thái độ và hành vi về Dân số và SKSS trong cộng đồng và ngay cả cán bộ y tế còn hạn chế Dịch vụ CSSKSS nam giới, người cao tuổi, người di cư chưa sẵn có, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng Tình dục được coi là vấn
Trang 35đề tế nhị và nhạy cảm và còn hạn chế thảo luận trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các chương trình nghị sự Nhận thức về giới trong cộng đồng còn hạn chế…quan niệm lạc hậu về vai trò của nam và nữ” [55, tr.13-14]
Chính vì thế, chiến lược dân số và SKSS Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 một lần nữa khẳng định cần tăng cường và nâng cao “vai trò của nam giới trong CSSKSS và thực hiện bình đẳng giới” [55, tr.18] Đồng thời, tiếp tục được cải thiện
và mở rộng CSSKSS cho các nhóm dân số đặc thù cũng như cung cấp các dịch vụ CSSKSS nam giới (cụ thể là dịch vụ nam học, dịch vụ điều trị vô sinh, điều trị NKĐSS/LTQĐTD…) trong những năm tiếp theo:
“Nâng cao nhận thức, tạo sự chuyển đổi bền vững về thái độ và hành vi SKSS trong các nhóm dân số đặc thù (người di cư, người khuyết tật, nam giới…), xác lập các điều kiện thuận lợi, thân thiện để các nhóm dân số đặc thù tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSKSS có chất lượng” [55, tr.31]
Nhìn chung, tầm quan trọng của nam giới trong SKSS và quyền sinh sản đã được Đảng và Nhà Nước ta nhận thức rõ trong các chính sách Dân số ngay từ những năm 60 Các văn bản đều nhấn mạnh đến vai trò và trách nhiệm của nam giới trong mọi chương trình và dịch vụ CSSKSS Tuy nhiên, vì những điều kiện thực tế của xã hội nên hơn 30 năm (từ những năm 60 đến những năm 90), vai trò của nam giới cũng chỉ hạn chế trong lĩnh vực KHHGĐ và bình đẳng giới nhằm hỗ trợ cho đối tượng chính là “phụ nữ và trẻ em” Chưa có một chương trình cụ thể nào cho riêng nam giới Cùng với gia tăng nhanh chóng của các bệnh nam khoa, nhu cầu tư vấn, khám và điều trị bệnh của nam giới đã đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý phải có những biện pháp giải quyết kịp thời Vì thế, trong chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 – 2010, những nội dung, chương trình và các dịch vụ CSSKSS cho nam giới bắt đầu triển khai Tuy nhiên, việc cung cấp dịch vụ cho nam giới cũng chỉ hạn chế ở tuyến Trung ương/ tuyến Tỉnh Cho nên, chiến lược dân số và SKSS Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 tiếp tục cải thiện
và tăng cường để kịp thời khắc phục những tồn tại trong việc cung cấp các dịch vụ
Trang 36CSSKSS cho nam giới Qua đó cho thấy, để có thể xây dựng và hoàn thiện một hệ thống CSSKSS dành riêng cho nam giới đòi hỏi phải cần nhiều thời gian và công sức từ sự hợp tác từ nhiều phía như những người làm chính sách, người cung cấp dịch vụ, của cộng đồng và quan trọng là bản thân những người nam giới
1.1.2 Những nghiên cứu về SKSS nam giới
Sức khỏe tình dục và SKSS là vấn đề mang tính toàn cầu thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc lĩnh vực y học, xã hội học, nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách… Ở các nước Phương Tây, trong thập kỷ 60 và đầu thập
kỷ 70 của thế kỷ trước, cuộc cách mạng tình dục đã thực sự đem lại những thay đổi quan trọng về quan niệm và hành vi tình dục Và những ảnh hưởng của nó đã đặt ra cho những nhà quản lý cần có sự quan tâm đến sức khỏe tình dục từ rất sớm Do vậy, vào năm 1975 tổ chức Y tế Thế giới đưa ra khái niệm sức khỏe tình dục Theo
đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu về giới tính và tình dục đã được thực hiện Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ dừng trong khuôn khổ của vấn đề tình dục, giáo dục giới tính nói chung trong phạm vi một số nước ở Châu Âu, Châu Mỹ, riêng ở Châu
Á vấn đề sinh sản và giới tính vẫn còn xem là điều tế nhị ít được đề cập đến [16] Còn ở Việt Nam, những hoạt động nghiên cứu ở khu vực giới, tính dục và SKSS vẫn còn là một miền đất ít người khai phá Vài năm gần đây, một số nhà nghiên cứu có khảo sát điều tra đánh giá thực trạng một số vấn đề KHHGĐ, HIV/AIDS, mại dâm và vài khía cạnh của SKSS Còn nhiều vấn đề khác, vẫn còn
bỏ ngõ hoặc mới chỉ khai hoang, đặc biệt là những chủ đề về SKSS nam giới [23, tr.180-181]
Tuy nhiên, cũng có một số công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan đến chủ đề đang nghiên cứu mà chúng tôi có thể tìm hiểu và tham khảo, xin được trình bày dưới đây:
Đầu tiên là Dự án VIE/01/P10, “Thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ
CSSKSS tại 7 tỉnh tham gia chương trình quốc gia do UNFPA tài trợ”, Bộ Y Tế, Hà
Nội/ 2006 [72]
Trang 37Nghiên cứu thực trạng ban đầu về “Cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKSS”tại
7 tỉnh UNFPA thuộc Chương trình Quốc gia 7 được tiến hành từ tháng 11/2005 đến tháng 2/2006 theo thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang Mục đích chính là mô tả thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ CSSKSS ở 7 tỉnh, đồng thời xác định các chỉ số hỗ trợ công tác theo dõi và giám sát việc thực hiện dự án ở các tỉnh trong Chương trình Quốc gia 7, làm cơ sở cho đánh giá tác động của Chương trình Quốc gia tại 7 tỉnh Đối tượng nghiên cứu bao gồm các CSYT, người cung cấp dịch vụ, cán bộ quản lý chương trình SKSS, DS-KHHGĐ, cán bộ trực tiếp truyền thông ở cả
3 tuyến và ba nhóm đối tượng trong cộng đồng: phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49, nam giới có vợ tuổi 15 - 49 đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi và vị thành niên tuổi 15 -
49 Mẫu nghiên cứu là mẫu ngẫu nhiên
Nghiên cứu cho chúng ta cái nhìn tổng quan về thực trạng kiến thức chuyên môn và thực hành của người cung cấp dịch vụ cũng như cán bộ quản lý chương trình CSSKSS và DS-KHHGĐ Bên cạnh đó, bài viết còn cho thấy sự hiểu biết, thái
độ và hành vi của các nhóm đối tượng khác nhau về CSSKSS Nghiên cứu cũng phát hiện ra những hạn chế về cơ sở vật chất, kiến thức và thực hành về CSSKSS từ phía người sử dụng cũng như người cung cấp dịch vụ CSSKSS
Tuy nhiên, đây cũng là một báo cáo tổng quát về CSSKSS cũng như chưa đi sâu vào từng đối tượng riêng biệt (nam giới) hay những vấn đề cụ thể nhưng phần nào cũng giúp cho người đọc có sự hình dung chung về việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ CSSKSS trong cộng đồng hiện nay
Tiếp theo là công trình “Nghiên cứu về SKSS tại Việt Nam Báo cáo rà soát
các nghiên cứu giai đoạn 2000 – 2005” của UNFPA, năm 2007 [76] cho chúng ta
hiểu hơn về thực trạng của các nghiên cứu trong lĩnh vực SKSS hiện nay
Có 221 nghiên cứu thực hiện trong lĩnh vực SKSS được thu thập và rà soát nhằm xác định những vấn đề còn chưa được nghiên cứu cũng như những nội dung cần bổ sung và các chủ đề nghiên cứu tiếp theo Phương pháp rà soát hệ thống của WHO đã được sử dụng trong báo cáo này Bản báo cáo tập trung chính vào các khía
Trang 38cạnh thuộc phương pháp nghiên cứu như thiết kế, đối tượng tham gia, các thông tin
cơ bản khác, kết quả và chất lượng báo cáo Nhiều nghiên cứu đã tiến hành với các chủ đề đa dạng bằng cả các tiếp cận y học và y tế cộng đồng Các nghiên cứu xã hội trong tổng quan có nhiều hơn các nghiên cứu dịch tễ học Báo cáo đã cung cấp cho người đọc một bức tranh khá toàn diện về thực trạng các công trình nghiên cứu về SKSS nói chung và SKSS nam giới nói riêng
Trong phần phương pháp nghiên cứu, báo cáo đã chỉ ra rằng hơn một nửa các nghiên cứu có đối tượng nghiên cứu gồm cả nam và nữ, khoảng 1/3 có đối tượng đích chỉ là nữ giới và rất ít nghiên cứu chỉ chọn đối tượng đích là nam giới Và các nghiên cứu có đối tượng đích là nam giới rất ít (2,6%) và khu trú vào vấn đề nhạy cảm như đồng tính nam, tình dục hay vô sinh Tuy nhiên, báo cáo cũng khẳng định rằng sự tham gia của nam giới trong SKSS là một trong những chiến lược quan trọng của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairô (ICPD), nên cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa tìm hiểu vai trò của nam giới trong SKSS Ngoài ra, các chủ đề nghiên cứu được quan tâm nhiều nhất là làm mẹ an toàn là 26,87%, tiếp theo
là KHHGĐ (18,2%) và chủ đề về Giới & Tình dục (13,6%), NKĐSS/LTQĐTD (10,5%) Thấp nhất là các nghiên cứu về chủ đề mãn kinh, vô sinh, ung thư sinh dục
và thông tin – giáo dục – truyền thông Những chủ đề chiếm tỉ lệ thấp chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây và thậm chí ngay trong Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản 2001 – 2010 vẫn chưa có mục tiêu cụ thể được thể hiện Trong khi đó, chủ đề về tiếp cận và sử dụng CSSKSS nam giới, đặc biệt là các dịch
vụ nam khoa, vẫn còn rất hiếm những nghiên cứu quan tâm Đây chính là lý do vì sao cần có nhiều hơn nữa các nghiên cứu trong lĩnh vực này
Bên cạnh đó, những kết quả báo cáo tìm được đã chỉ ra nhiều luận điểm quan trọng giúp chúng tôi có cơ sở đánh giá và kiểm chứng kết quả của nghiên cứu như:
+ Vấn đề vô sinh: đặc điểm của cặp vợ chồng vô sinh phụ thuộc vào 2 yếu tố
giới và tuổi Về nguyên nhân vô sinh nam, cao nhất là số lượng tinh trùng thấp, kế đến là tinh trùng sống thấp hoặc khả năng di động kém Về kiến thức vô sinh, các
Trang 39nghiên cứu chỉ ra rằng các cặp vô sinh có hiểu biết sai về vô sinh và nguyên nhân gây bệnh Nhiều cặp vợ chồng phủ nhận khái niệm vô sinh, đặc biệt là nam giới luôn từ chối tìm kiếm các dịch vụ CSSK khi vô sinh Chọn con nuôi và chăm con nuôi không phổ biến ở các cặp vô sinh Về hậu quả của vô sinh thì báo cáo cũng cho thấy các cặp vô sinh được coi là có vấn đề hoặc mắc tội trong hành vi của họ ở kiếp trước vì thế họ bị hành tội trong kiếp hiện tại Vì vậy, các cặp vô sinh bị tách khỏi hoạt động xã hội và qua các nghi lễ thần thánh ở các chùa chiền để tìm được sự bình yên và hạnh phúc của tâm hồn Thêm vào đó, chi phí điều trị vô sinh không được bảo hiểm chi trả do chính sách giảm dân số Chi phí cho các biện pháp chữa trị hiện đại như thụ tinh trong ống nghiệm ở mức rất cao từ 2000 – 5000 đô la Mỹ (30 – 80 triệu đồng) và tỷ lệ thành công thấp hơn 25% Đồng thời, cùng với những yếu tố khác và khó khăn vô hình làm cho các cặp vợ chồng khó tiếp cận với các dịch vụ y
tế này
+ Giới và tính dục: Nhận thức về giới và tình dục có khác biệt giữa nam và nữ
Quan niệm thông thường là nam giới thì khỏe mạnh, hào phóng và rộng rãi Và tình dục là niềm tự hào của nam giới, là cơ sở của lòng tự tin, hành động hào phóng và khả năng cũng như tự tin để chiến thắng Mặc dù có quan niệm chung như thế nhưng bản thân nam giới cũng có các vấn đề sức khỏe tình dục và những vấn đề này cần phải được để tâm đến Qua đó, chúng tôi sẽ xem xét quan niệm trên sẽ còn ảnh hưởng đến nam giới trong cuộc nghiên cứu này trong việc tìm kiếm thông tin SKSS, chia sẻ và tiếp cận các dịch vụ CSSKSS như thế nào?
+ Thông tin – Giáo dục – Truyền thông về SKSS: có rất nhiều kênh Thông tin –
Giáo dục – Truyền thông về SKSS ở Việt Nam, trong đó phổ biến nhất là các phương tiện truyền thông đại chúng Tuy nhiên, chất lượng của các tài liệu truyền thông còn rất hạn chế, các thông tin SKSS và KHHGĐ chưa được đề cập trong nội dung và nhiều tài liệu còn hạn chế về ngôn từ Thông qua đó, khi tiếp nhận và tìm hiểu thông tin về SKSS/bệnh nam khoa thì nam giới trong nghiên cứu có xu hướng như thế nào? Vì sao họ lại chọn kênh truyền thông đó?
Trang 40Trong phần khuyến nghị, một lần nữa báo cáo khẳng định sự tham gia của nam giới trong SKSS là chiến lược của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairo Các can thiệp cần huy động nam giới tham gia, nếu không tác động sẽ không bền vững Do đó, nam giới cần phải được quan tâm nhiều hơn trong các nghiên cứu
Từ hai công trình trên giúp chúng tôi có cái nhìn rõ hơn về thực trạng cũng như đối tượng, chủ đề mà các cuộc nghiên cứu và điều tra về SKSS nhắm đến Dù trên các văn bản và chính sách cũng chỉ rõ được tầm quan trọng của nam giới đối với các chính sách dân số nhưng trên thực tế vẫn còn quá ít các công trình nghiên cứu cho đối tượng là nam giới, đặc biệt là những nghiên cứu mang tính chất riêng biệt như những yếu tố tác động đến việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKSS (dịch
vụ nam khoa) của nam giới Đó là lý do vì sao cần thiết phải có nhiều hơn những công trình đi sâu tìm hiểu và giải quyết một nhu cầu có thật về CSSKSS nam giới trong cộng đồng hiện nay
Còn đối với những công trình nghiên cứu về SKSS nam giới hiện nay thì thường
đi sâu tìm hiểu về những chủ đề gì?
Hai tác giả Chu Thái Thành và Trần Ngọc Thanh có bài viết “Lôi cuốn sự
tham gia của nam giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam” trên Tạp chí Cộng sản, số 83 [63] Bài viết từ được rút ra từ kết quả của
một nghiên cứu về bình đẳng giới trong sức khỏe sinh sản của Hội Nông dân trong
đó 3 khía cạnh chính mà bài viết quan tâm:
Thứ nhất, tác giả nhấn mạnh vai trò và sự cần thiết phải lôi cuốn nam giới tham gia các chương trình CSSKSS và KHHGĐ với nhận định nam giới là người quyết định trong việc sinh con, đặc biệt là có vai trò quan trọng trong các biện pháp tránh thai (BPTT), các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục và bạo lực của nam giới đối với phụ nữ
Thứ hai, thực trạng tham gia của nam giới trong CSSKSS và KHHGĐ ở nước ta hiện nay với đánh giá nam giới chưa thực sự chia sẻ trách nhiệm một cách