1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải cách bộ máy chính phủ (quốc vụ viện) nước cộng hòa nhân dân trung hoa từ năm 2000 đến nay

144 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN MINH TRÍ CẢI CÁCH BỘ MÁY CHÍNH PHỦ QUỐC VỤ VIỆN NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA TỪ NĂM 2000

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN MINH TRÍ

CẢI CÁCH BỘ MÁY CHÍNH PHỦ (QUỐC VỤ VIỆN) NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Châu Á học

Mã số: 60.31.50

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG VĂN VIỆT

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 4

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (đóng góp của luận văn) 7

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 7

7 Bố cục của luận văn 8

Chương Một: KHÁI QUÁT QUỐC VỤ VIỆN NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA 10

I Quá trình hình thành Quốc vụ viện 10

II Vị trí, tổ chức của Quốc vụ viện 13

III Chức năng, quyền hạn của Quốc vụ viện 16

IV Quốc vụ viện qua các lần cải cách (1978-2000) 25

4.1 Cải cách cơ cấu 25

4.1.1 Cuộc cải cách năm 1982 26

4.1.2 Cuộc cải cách năm 1988 28

4.1.3 Cuộc cải cách năm 1993 30

4.1.4 Cuộc cải cách năm 1998 31

4.2 Cải cách công tác cán bộ 34

4.2.1 Lược sử xây dựng công tác cán bộ 34

4.2.2 Kết quả của cải cách (1978-2000) 38

Chương Hai: CÁC NHÂN TỐ THÚC ĐẨY CẢI CÁCH QUỐC VỤ VIỆN 47

I Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị 47

II Nhân tố thúc đẩy cải cách bộ máy chính phủ 55

2.1 Nhân tố bên ngoài 57

Trang 3

2.2 Nhân tố bên trong 59

Chương Ba: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ CỦA CẢI CÁCH QUỐC VỤ VIỆN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 69

I Cải cách cơ cấu 69

1.1 Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003 69

1.2 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay 77

1.3 So sánh cải cách năm 2003 và năm 2008 82

1.4 Các yếu tố khó khăn, tồn tại trong cải cách 84

II Cải cách công tác cán bộ trong bộ máy chính phủ 87

2.1 Tinh giản cán bộ 87

2.2 Tứ hóa cán bộ 89

2.3 Bổ nhiệm người ngoài Đảng vào bộ máy chính phủ 97

2.4 Tác phong làm việc 102

III Mối quan hệ giữa chính phủ trung ương và chính phủ địa phương 105

3.1 Giới thiệu khái quát về chính phủ nhân dân địa phương 105

3.2 Mối quan hệ giữa chính phủ trung ương và địa phương 109

IV Liên hệ Việt Nam 118

KẾT LUẬN 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 131

I Tiếng Việt 131

II Tiếng Anh 134

III Tiếng Hoa 135

IV Báo và Internet 136

PHỤ LỤC 140

PHỤ LỤC I 140

PHỤ LỤC II 142

Trang 4

Phát triển kinh tế đòi hỏi phải hiện đại hóa chính trị Cải cách bộ máy chính phủ là một nội dung cấu thành cải cách hệ thống chính trị Trung Quốc Một nền chính trị được hiện đại hóa sẽ tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế Nền kinh

tế của Trung Quốc phát triển vượt bậc như thế là do chính phủ nước này đã thực hiện tốt công tác điều hành và quản lý, làm tốt công tác dự báo, đề ra nhiều biện pháp kích cầu thu hút sự đồng thuận cao trong xã hội để cùng vượt qua khó khăn

Bước vào thế kỷ thứ XXI, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên của

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2001 Gia nhập WTO đòi hỏi nước này phải tăng cường cải cách hơn nữa nhất là bộ máy chính phủ Một bộ máy chính phủ hoạt động hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước về mọi mặt Do vậy, việc cải cách bộ máy chính phủ Trung Quốc đặc biệt trong giai đoạn từ năm

2000 đến nay đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài

Trang 5

nước trong đó có học viên Đây chính là lý do học viên đã chọn đề tài này để thực hiện luận văn

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu đề tài Cải cách Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ năm 2000 đến nay nhằm mục đích:

Thứ nhất, phân tích các nhân tố thúc đẩy Trung Quốc tiến hành cải cách sâu

rộng cơ cấu Quốc vụ viện

Thứ hai, làm rõ các biện pháp, cách thức mà nước này đã thực hiện để cải

cách bộ máy chính phủ hoạt động ngày càng hiệu quả hơn

Thứ ba, đánh giá các chủ trương, chính sách của Chính phủ Trung Quốc

trong việc xây dựng một đội ngũ cán bộ theo phương châm “tứ hóa”

Thứ tư, trên cơ sở đó, luận văn sẽ đưa ra những liên hệ tại Việt Nam, vốn là

nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Cải cách Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã được nhiều học giả trong và ngoài nước tìm hiểu nghiên cứu, thể hiện qua các sách, các bài viết được đăng trên các tạp chí được dịch ra từ tiếng Trung

Tuy nhiên, việc nghiên cứu về cải cách Quốc vụ viện đặc biệt là giai đoạn từ năm 2000 đến nay thì hầu như chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào nếu có cũng chỉ là các bài viết chiếm một nội dung nhỏ trong các sách, báo và tạp chí Điều này cũng khiến người viết gặp không ít khó khăn trong việc tổng hợp và phân tích các tài liệu Tuy nhiên, có thể nêu ra những công trình tiêu biểu sau đây:

Cải cách chính phủ cơn lốc chính trị cuối thế kỷ XX của tác giả Tinh Tinh

được nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2000 Công trình này nêu khá chi tiết về các đợt cải cách Chính phủ Trung Quốc bao gồm cả cải cách cơ cấu và cải cách chế độ nhân sự từ khi nước này thực hiện cải cách mở cửa năm 1978 Tuy nhiên, “công trình” dường như là sự tập hợp các bài viết được đăng trên các báo

Trang 6

Trung Quốc viết về cải cách chính phủ Và việc nghiên cứu về cải cách chính phủ cũng chỉ dừng lại năm 1998

Trung Quốc cải cách và mở cửa (1978-1998) của tác giả Nguyễn Thế Tăng

xuất bản năm 2000 Công trình này có đề cập đến việc cải cách bộ máy chính phủ qua các giai đoạn nhưng ở gốc độ là cải cách mở cửa chung trên một số lĩnh vực trong đó có lĩnh vực chính trị Thêm vào đó, việc nghiên cứu về cải cách mở cửa của Trung Quốc chỉ dừng lại ở giai đoạn năm 1998 Trong khi từ năm 1998 đến nay, chính phủ nước này đã hai lần tiến hành cải cách cơ cấu

Trung Quốc sau khi gia nhập WTO thành công và thách thức do tác giả Võ

Đại Lược chủ biên, được xuất bản năm 2006 có đề cập đến sự chuyển biến chức năng của chính phủ khi Trung Quốc gia nhập WTO nhưng chưa sâu Nội dung cải cách ít đề cập đến cải cách công tác cán bộ trong bộ máy chính phủ

Trung Quốc với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do tác

giả Đỗ Tiến Sâm chủ biên được xuất bản năm 2008 Công trình này chủ yếu nhấn mạnh đến các nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trung Quốc chủ yếu qua các thể chế Đại hội Đại biểu nhân dân toàn Trung Quốc, các thể chế Tư pháp (Tòa án và Viện Kiểm sát) Cải cách chính phủ có được đề cập nhưng chưa sâu, chỉ dừng lại ở giai đoạn năm 2003 trong khi Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành đợt cải cách đến năm 2008

Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ ở Trung Quốc do các tác giả Trịnh Cư,

Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên biên soạn năm 2009 Công trình này có đề cập đến công tác cán bộ của Trung Quốc nhưng nội dung cải cách công tác cán bộ và cải cách cơ cấu Quốc viện từ năm 2000 đến nay thì chưa thật sự rõ; đồng thời, nội dung phần lớn chỉ cập nhật đến khoảng năm 2000

China’s new rulers: The secret files (Các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc: Những hồ sơ bí mật) của hai tác giả người Mỹ là Andrew J Nathan and Bruce

Gilley, xuất bản năm 2002, có đề cập đến cải cách chính trị nhưng ở mức độ chưa sâu, chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ công trình Nội dung đề cập chủ yếu xoay quanh vấn đề cải cách và dân chủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Bộ máy chính phủ trung ương Trung Quốc (Quốc vụ

viện)

Phạm vi nghiên cứu:

Về thời gian: Trung Quốc bước vào năm 2000 tức là bước vào một giai đoạn

mới, một kỷ nguyên mới, thế kỷ XXI Hội nghị trung ương 3 khóa XI vào tháng

12-1978 đánh dấu sự mở đầu của sự nghiệp cải cách mở cửa Trung Quốc Bước vào năm 2000 tức là sự nghiệp vĩ đại đó đã được tiến hành qua hơn 30 năm Và đây cũng là một giai đoạn chuyển tiếp để Trung Quốc tiến hành Đại hội Đảng Cộng sản đầu tiên của thế kỷ XXI, Đại hội XVI (năm 2002) Thế kỷ XXI đánh dấu mốc quan trọng không những đối với nền kinh tế của Trung Quốc mà còn đối với cả nền kinh

tế thế giới đó là việc nước này gia nhập WTO (năm 2001) sau 15 năm đàm phán Đây còn được xem là “một sự kiện có thể làm thay đổi cục diện thế giới” [Trần Quốc Hùng 2003: 31] Gia nhập WTO tức là bước vào một sân chơi lớn và cạnh tranh quyết liệt đòi hỏi nước này phải tiến hành cải cách nhiều hơn nữa để có thể thật sự đứng vững Cải cách chính phủ cũng không là ngoại lệ Vì vậy, học viên đã chọn mốc thời gian là từ năm 2000 đến nay để thực hiện nghiên cứu cho luận văn của mình

Về không gian: nghiên cứu cải cách bộ máy chính phủ ở nước Cộng hòa

nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc) không bao gồm các lãnh thổ Hồng Kông, Ma Cao

Về nội dung nghiên cứu: luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về các nhân tố chủ

quan và khách quan thúc đẩy cải cách chính phủ; mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị; nội dung và kết quả của cải cách cơ cấu Quốc vụ viện từ năm 2000 đến nay; cải cách công tác cán bộ trong bộ máy chính phủ; đưa ra những liên hệ tại Việt Nam đồng thời, nêu ra một số bài học kinh nghiệm trong công tác tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước

Trang 8

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn (đóng góp của luận văn)

Đề tài mang một ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

Thứ nhất, góp phần vào việc lý giải và làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa

kinh tế và chính trị Trong mối quan hệ này, kinh tế giữ một vai trò quyết định Muốn cải cách kinh tế được thành công đòi hỏi phải hiện đại hóa chính trị Cải cách kinh tế cần được tiến hành trước một bước

Thứ hai, cải cách chính trị đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển

của đất nước Bởi trong các yếu tố cấu thành nên kiến trúc thượng tầng thì yếu tố bộ máy nhà nước là quan trọng nhất Do vậy, cải cách chính trị luôn giữ một vị trí không thể thiếu cho sự ổn định và phát triển của một quốc gia

Thứ ba, hệ thống hóa tư liệu về cải cách bộ máy Chính phủ Trung Quốc,

cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập và giảng dạy những chuyên đề có liên quan đến cải cách bộ máy Chính phủ Trung Quốc

Thứ tư, sự thành công của công cuộc cải cách và mở cửa ở Trung Quốc đặc

biệt là cải cách bộ máy chính phủ nước này là bài học kinh nghiệm cho nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu về cải cách

bộ máy Chính phủ Trung Quốc có ý nghĩa gợi mở nhất định đối với Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Về phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lịch sử - logic là một phương

pháp quan trọng không thể thiếu trong nghiên cứu đề tài Phương pháp này giúp học viên có thể kế thừa những thành tựu của những học giả đi trước và mặt khác cố gắng giải quyết những khoảng trống trong việc nghiên cứu về cải cách bộ máy Chính phủ Trung Quốc

Phương pháp so sánh giúp học viên tìm ra những sự giống nhau và khác nhau về cải cách cơ cấu Quốc vụ viện và công tác tổ chức cán bộ trong bộ máy chính phủ giữa các lần cải cách lớn từ đầu thế kỷ XXI đến nay

Trang 9

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp phân tích, tổng hợp để có được cái nhìn toàn diện hơn về cải cách Quốc vụ viện

Về nguồn tư liệu: ngoài các tài liệu đã nêu tại phần lịch sử nghiên cứu vấn

đề, còn có một lượng lớn các bài viết được trên các báo và tạp chí chuyên ngành, trên các website có liên quan ít nhiều đến nội dung của đề tài Những tài liệu, tư liệu này cần thiết giúp người viết có một cái nhìn tổng thể và sâu sắc hơn đến vấn đề mà

đề tài đặt ra và thật sự cần thiết cho việc hoàn thành đề tài

7 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận

Chương Hai: CÁC NHÂN TỐ THÚC ĐẨY CẢI CÁCH QUỐC VỤ VIỆN

Chương Hai trình bày về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong đó chú trọng đến tính tất yếu của cải cách bộ máy chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đặc biệt tập trung trình bày các nhân tố (nhân tố bên ngoài và bên trong) thúc đẩy cải cách bộ máy chính phủ

Trang 10

Chương Ba: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ CỦA CẢI CÁCH QUỐC VỤ VIỆN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY

Chương Ba là chương chính của luận văn Nội dung và kết quả của cách cải cách từ năm 2000 đến nay sẽ tập trung trình bày trong Chương này Nội dung cụ thể gồm việc cải cách cơ cấu (tập trung hai cuộc cải cách cơ cấu lớn năm 2003 và năm 2008) và cải cách công tác cán bộ Ngoài ra, Chương Ba cũng sẽ nêu ra mối quan hệ giữa chính phủ trung ương (Quốc vụ viện) với chính quyền địa phương, gợi mở những liên hệ nhất định đối với Việt Nam; đồng thời rút ra một số kinh nghiệm trong cải cách bộ máy hành chính Nhà nước

Trang 11

Chương Một:

KHÁI QUÁT QUỐC VỤ VIỆN NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA

I Quá trình hình thành Quốc vụ viện

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nhật, toàn bộ nhân dân Trung

Quốc và nhân dân thế giới đều chú ý theo dõi Trung Quốc sẽ đi theo hướng nào chủ

nghĩa xã hội hay tư bản chủ nghĩa Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ đã đưa

ra Cương lĩnh Chủ nghĩa dân chủ mới

Tháng 01-1946, các nhân sĩ đảng phái và không đảng phái tiến hành hội nghị

hiệp thương chính trị, xác định phương châm chung xây dựng đất nước hòa bình,

dân chủ Đảng Cộng sản và các đảng phái dân chủ đều mong muốn nỗ lực thực

hiện Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, Quốc Dân đảng đã vứt bỏ quyết nghị mà hội

nghị đã thông qua [夏自强 (主编),蔡次明, 王泽农, 菜乐苏 1996:81]

Ngày 26-6-1946, cuộc nội chiến quy mô lớn giữa Quốc Dân Đảng và Đảng

Cộng sản bùng nổ Trong giai đoạn đầu, lực lượng của Quốc Dân đảng chiếm ưu

thế với hơn 4 triệu quân, lại được Mỹ viện trợ vũ khí và tài chính, trong khi Quân

giải phóng nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo chỉ có hơn 1 triệu, trang bị tương

đối kém Lợi dụng ưu thế ban đầu, quân đội Quốc Dân đảng đã mở cuộc tấn công ồ

ạt lên phía Bắc, tiến sâu vào khu giải phóng của Đảng Cộng sản Nhưng từ tháng

7-1947, Quân giải phóng nhân dân đã chuyển sang phản công, tiến hành những chiến

dịch lớn, lần lượt tiêu diệt từng cụm quân địch, giải phóng các thành phố và các

Trang 12

Thắng lợi của cách mạng ngày càng tới gần Đảng Cộng sản Trung Quốc và các lực lượng tham gia cách mạng vừa tiếp tục chiến đấu trên mặt trận quân sự, vừa chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của nước Trung Hoa mới Vào sáng ngày 30-4-

1948, trong dịp tổ chức lễ Quốc tế lao động 1-5, trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra các khẩu hiệu như: “Cùng nhau phấn đấu lật đổ Tưởng Giới Thạch, xây dựng nước Trung Quốc mới”, “nhanh chóng tổ chức Hội nghị hiệp thương chính trị”, “thành lập Chính phủ liên hiệp” Lời hiệu triệu của trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được các đảng phái dân chủ, nhân sĩ không đảng phái, và kiều bào ở nước ngoài nhanh chóng hưởng ứng

Căn cứ vào tình hình thực tế, khi ba chiến dịch lớn (Liêu Thẩm, Hoài Hải, Bình Tân) còn chưa kết thúc, Trung ương Đảng và Mao Trạch Đông đã giao cho Chu Ân Lai phụ trách công tác trù bị Hội nghị hiệp thương chính trị, tích cực thành

lập chính phủ nhân dân Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa [李大同

(主编)1998: 109]

Ngày 15-6-1949, tại Trung Nam Hải, Bắc Kinh đã diễn ra hội nghị trù bị Hội nghị Hiệp thương chính trị mới Tham gia hội nghị có đại biểu của Đảng Cộng sản, của các đảng phái dân chủ, các đoàn thể nhân dân, các nhân sĩ dân chủ, các dân tộc thiểu số, các tổ chức Hoa Kiều yêu nước, Hội nghị đã bầu một Ủy ban trù bị của Hội nghị hiệp thương chính trị do Mao Trạch Đông làm Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm là Chu Ân Lai, Lý Tế Thâm, Thẩm Quân Nho, Quách Mạt Nhược, Trần Thúc Thông Ủy ban này có nhiệm vụ lãnh đạo công tác chuẩn bị thành lập Nhà nước Trung Quốc mới

Ngày 30-6-1949, Mao Trạch Đông đã phát biểu bài “Bàn về chuyên chính dân chủ nhân dân”, nói rõ chủ trương của Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc thành lập nước Trung Hoa mới Mao Trạch Đông nhấn mạnh: trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Trung Quốc, không thể có nước cộng hòa tư sản, mà chỉ có nước cộng hòa nhân dân Chính quyền của nước Trung Hoa mới là “nền chuyên chính dân chủ

Trang 13

nhân dân, lấy liên minh công nông làm nền tảng, do giai cấp công nhân lãnh đạo (thông qua Đảng Cộng sản)” [Nguyễn Huy Quý 1999: 15]

Trải qua 03 tháng làm việc khẩn trương, các công việc chuẩn bị cho Hội nghị hiệp thương chính trị mới cuối cùng đã cơ bản hoàn tất vào thượng tuần tháng 9 năm 1949 Ngày 17-9-1949, tại hội nghị trù bị lần hai của Hội nghị hiệp thương chính trị mới do Chu Ân Lai chủ trì đã quyết định đặt tên cho Hội nghị hiệp thương chính trị mới là Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc Và hai ngày sau, ngày 21-9, hội nghị toàn thể lần thứ nhất của Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc đã long trọng khai mạc tại Hội trường Hoài Nhân, Trung Nam Hải, Bắc Kinh Tham dự hội nghị có 662 đại biểu gồm đại diện của Đảng Cộng sản, các đảng phái dân chủ, các đoàn thể nhân dân, Quân giải phóng nhân dân, các dân tộc, Hoa Kiều ở hải ngoại, các nhân sĩ yêu nước, Hội nghị đã thông qua “Cương lĩnh chung của Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc”, quy định tính chất của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là nền chuyên chính dân chủ nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy liên minh công nông làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và các dân tộc trong nước Chính quyền nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thuộc về nhân dân Các cơ quan chính quyền các cấp phải thực thi chế độ tập trung dân chủ “Cương lĩnh chung” còn quy định rõ cơ cấu

kinh tế, văn hóa, và chính sách ngoại giao của nước Trung Hoa mới Cương lĩnh

chung có vai trò như một bản hiến pháp lâm thời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc lần thứ nhất đã thay

mặt Đại hội đại biểu nhân dân toàn Trung Quốc định ra “Luật Tổ chức chính phủ

nhân dân Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Luật Tổ chức Hội

nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc”, Hội nghị đã bầu ra Hội đồng chính phủ nhân dân Trung ương gồm 56 người, do Mao Trạch Đông làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch là Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Tống Khánh Linh, Lý Tế Thâm,

Trang 14

Vào lúc 14 giờ ngày 01-10-1949, chính phủ nhân dân trung ương đã tiến hành hội nghị đầu tiên tại Trung Nam Hải, tuyên bố thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa [李大同(主编)1998: 111] Cuộc họp lần thứ nhất của Chính phủ nhân dân Trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bầu Lâm Bá Cừ làm

Tổng thư ký, Chu Ân Lai làm Thủ tướng Chính vụ viện kiêm Bộ trưởng Ngoại giao;

Mao Trạch Đông làm Chủ tịch Hội đồng Quân sự cách mạng nhân dân; Chu Đức làm Tổng tư lệnh Quân giải phóng nhân dân; Thẩm Quân Nho làm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, La Vinh Hằng làm Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

Đúng 15 giờ ngày 01-10-1949, tại Quảng trường Thiên An Môn, hơn 30 vạn nhân dân Thủ đô đã míttinh và dự lễ thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Chủ tịch Chính phủ nhân dân trung ương nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Mao Trạch Đông trịnh trọng tuyên bố với toàn thế giới: nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã ra đời

Căn cứ “Luật tổ chức Chính phủ Nhân dân trung ương nước Cộng hòa Trung Hoa” được thông qua năm 1949, Hội đồng Chính phủ nhân dân Trung ương đã tổ

chức ra Chính vụ viện Đến năm 1954, Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa I

họp thông qua Bộ Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước Cộng hòa nhân dân

Trung Hoa Bộ máy chính phủ đã được điều chỉnh tương đối lớn và từ đây Chính

vụ viện được đổi tên thành Quốc vụ viện

II Vị trí, tổ chức của Quốc vụ viện

Vị trí của Quốc vụ viện: Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

là Chính phủ nhân dân Trung ương, cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất trong hệ thống cơ quan hành chính ở Trung Quốc Thống nhất lãnh đạo công tác của cơ quan hành chính nhà nước các cấp địa phương trên toàn quốc

Quốc vụ viện quán triệt chấp hành hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) và của Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Ủy ban thường vụ Quốc hội) Phụ trách và báo cáo

Trang 15

công việc cho Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn Trung quốc đồng thời chịu sự giám sát của hai cơ quan này

Thành phần tổ chức của Quốc vụ viện gồm:

và không được nhậm chức liên tục quá 02 nhiệm kỳ

Quốc vụ viện thi hành chế độ trách nhiệm Thủ tướng Với tư cách là người đứng đầu chính phủ, Thủ tướng có quyền lãnh đạo toàn diện đối với các công việc của Quốc vụ viện, quyền quyết định sau cùng và quyền đề cử nhân sự Đồng thời, chịu trách nhiệm toàn diện đối với công việc của Quốc vụ viện Chế độ Thủ tướng

là chế độ tập trung dân chủ, hình thức biểu hiện cụ thể của cơ quan hành chính nhà nước Nó không giống với chế độ hiệp nghị mà cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện Nó không nhấn mạnh việc thiểu số phục tùng đa số trong hoạt động quyết sách Tuy nhiên, quyền quyết định sau cùng của Thủ tướng cũng phải dựa trên dân chủ Pháp luật quy định, các vấn đề quan trọng của Quốc vụ viện nhất định phải thông qua hội nghị Quốc vụ viện thảo luận quyết định [夏自强 (主编),蔡次明, 王泽农, 菜乐苏 1996:95-96]

Hội nghị của Quốc vụ viện được phân thành hai loại: Hội nghị toàn thể Quốc

Trang 16

chức và những nội dung nào sẽ được thảo luận tại hai hội nghị được quy định rõ tại Thông tri số 14 sẽ được học viên trình bày cụ thể tại phần ba dưới đây

Thủ tướng do Trung ương Đảng tiến cử, Chủ tịch nước đề cử, thông qua Đại

hội đại biểu nhân dân toàn quốc với số phiếu quá bán Thủ tướng chịu trách nhiệm

và lãnh đạo công việc của Quốc vụ viện Các Phó Thủ tướng và những Ủy viên của Quốc vụ viện là những người hỗ trợ đắc lực cho Thủ tướng Các thành viên của Quốc vụ viện do Thủ tướng đề cử, Đại hội đại biểu nhân toàn quốc thông qua và được Chủ tịch nước bổ nhiệm Trong thời gian Thủ tướng vắng mặt thì Phó Thủ tướng Thường trực sẽ thay mặt Thủ tướng xử lý công việc

Ủy viên Quốc vụ viện nhỏ hơn cấp Phó Thủ tướng nhưng lớn hơn cấp Bộ

trưởng Ủy viên thực hiện những công tác do Thủ tướng ủy nhiệm và có thể đại diện cho Quốc vụ viện tiến hành hoạt động đối ngoại

Tổng Thư ký chịu sự lãnh đạo của Thủ tướng Lãnh đạo Văn phòng Quốc vụ

viện, phụ trách giải quyết công việc hằng ngày của Quốc vụ viện; hỗ trợ công việc của Tổng Thư ký còn có một số Phó Tổng Thư ký Chức danh Tổng Thư ký và Phó Tổng Thư ký này ở một số nước gọi là Chủ nhiệm hoặc Phó Chủ nhiệm (trong đó

có Việt Nam); Chánh hoặc Phó Chánh Văn phòng Nội các (Nhật Bản)… Tuy về tên gọi là khác nhưng về nội dung hoạt động của những tổ chức này cũng không có

sự khác biệt nhiều

Cơ quan Kiểm toán phụ trách công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động thu

chi tài vụ và tài chính nhà nước Cơ quan này tiến hành kiểm tra và giám sát độc lập

mà không chịu sự can thiệp của các cơ quan hành chính khác

Các Bộ và các Ủy ban thi hành chế độ trách nhiệm Bộ trưởng và Chủ nhiệm

Bộ trưởng đứng đầu mỗi Bộ và các Chủ nhiệm Ủy ban đứng đầu các Ủy ban, chỉ đạo công việc của cơ quan Mỗi Bộ có 2 đến 4 Thứ trưởng Mỗi Ủy ban có 2 đến 4 Phó Chủ nhiệm và 5 đến 10 ủy viên để giúp việc cho Bộ trưởng và Chủ nhiệm Các

cơ quan này phụ trách công việc hành chính nhà nước dưới sự lãnh đạo thống nhất của Quốc vụ viện Những vấn đề quan trọng của cơ quan được thảo luận và giải

Trang 17

quyết ở những phiên họp hội đồng do Bộ trưởng nếu là các Bộ hoặc do Chủ nhiệm

Ủy ban nếu là các Ủy ban làm chủ tọa Các cơ quan này có quyền ban bố chỉ thị, quy chế, quy định trên cơ sở các đạo luật

Quốc vụ viện có thể căn cứ nhu cầu công tác và nguyên tắc tinh giản để thành lập các cơ quan hành chính trực thuộc Chủ yếu là các Bộ và Ủy ban, giúp Thủ tướng phụ trách lãnh đạo và quản lý một số công việc hành chính nhà nước Mỗi bộ phận có từ 2 đến 4 người phụ trách [Gov.cn: 中华人民共和国国务院组织

(Luật Tổ chức Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa)]

III Chức năng, quyền hạn của Quốc vụ viện

Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do Hội nghị lần thứ 5 Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa V thông qua ngày 4-2-1982 và Hiến pháp sửa đổi do Hội nghị lần thứ 2 Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa X ngày 14-3-

2004 thông qua, quy định tại Điều 89 chương Ba, phần thứ ba về chức trách, quyền hạn của Quốc vụ viện như sau:

1 Căn cứ theo hiến pháp và pháp luật, quy định các biện pháp hành chính, ban hành các văn bản pháp quy hành chính, ra các quyết định và các chỉ thị;

2 Trình các đề án với Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường

vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc;

3 Quy định nhiệm vụ và chức trách của các Bộ và các Ủy ban, thống nhất lãnh đạo công tác các Bộ, các Ủy ban và công tác hành chính trên phạm vị toàn quốc mà không thuộc phạm vi các Bộ hoặc các Ủy ban quản lý;

4 Thống nhất lãnh đạo công tác của cơ quan hành chính nhà nước các cấp địa phương trên cả nước, quy định ranh giới, chức năng, quyền hạn giữa cơ quan hành chính Nhà nước trung ương với các cấp địa phương như tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương;

Trang 18

6 Lãnh đạo, quản lý công tác kinh tế và xây dựng thành phố, thị trấn;

7 Lãnh đạo, quản lý công tác giáo dục, khoa học, văn hóa, vệ sinh, thể dục và sinh đẻ có kế hoạch;

8 Lãnh đạo, quản lý công tác dân chính, công an, hành chính tư pháp và kiểm sát ;

9 Quản lý công việc đối ngoại, ký kết hiệp định và các điều ước quốc tế với nước ngoài;

10 Lãnh đạo và quản lý sự nghiệp xây dựng quốc phòng;

11 Lãnh đạo và quản lý sự nghiệp dân tộc, bảo đảm quyền lợi bình đẳng của dân tộc thiểu số và quyền tự trị của địa phương tự trị dân tộc thiểu số;

12 Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Hoa kiều, bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của kiều bào và Hoa kiều về nước;

13 Sửa đổi hoặc hủy bỏ mệnh lệnh, chỉ thị và quy định không phù hợp do các

Bộ hoặc các Ủy ban ban hành;

14 Sửa đổi hoặc hủy bỏ các quyết định và mệnh lệnh không phù hợp do cơ quan hành chính Nhà nước địa phương các cấp ban hành;

15 Phê chuẩn ranh giới giữa các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc; phê chuẩn quy hoạch ranh giới giữa châu tự trị, huyện, huyện tự trị, thành phố;

16 Quyết định tình trạng khẩn cấp trong phạm vi bộ phận của tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc;

17 Xem xét biên chế của cơ quan hành chính, miễn nhiệm, bồi dưỡng, sát hạch, thưởng phạt cán bộ hành chính theo quy định của pháp luật;

18 Các quyền khác mà Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc trao cho [News.xinhuanet.com: 中华人民共和国宪法 (Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa)]

Trang 19

Để cụ thể hóa chức trách, quyền hạn của Quốc vụ viện, ngày 21-3-2008, Hội nghị toàn thể lần thứ nhất Quốc vụ viện đã thông qua và ban hành Thông tri số 14

về Quy tắc làm việc của Quốc vụ viện Khẳng định chức năng của chính phủ phải

được thi hành một cách toàn diện; thi hành quyết sách dân chủ khoa học; kiên trì hành chính dựa trên pháp luật; thúc đẩy sự công khai trong quản lý; kiện toàn chế

độ giám sát; tăng cường xây dựng liêm chính; xây dựng chế độ hội họp; xét duyệt, phê chuẩn công văn và chế độ kỷ luật

Về thi hành toàn diện chức năng của Chính phủ: Quốc vụ viện phải thi

hành chức năng điều tiết kinh tế, quản lý thị trường, quản lý xã hội và phục vụ nhân dân;

Kiện toàn hệ thống quản lý vĩ mô, chủ yếu vận dụng phương pháp kinh tế, pháp luật và phương pháp hành chính cần thiết để dẫn dắt và quản lý sự vận hành của nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển vừa nhanh vừa bền vững

Quản lý thị trường chặt chẽ, thúc đẩy sự công bằng thu nhập, hoàn thiện hệ thống quản lý, quy phạm chấp pháp thị trường, thống nhất mở cửa hệ thống thị trường hiện đại cạnh tranh có trật tự

Tăng cường quản lý xã hội, đẩy mạnh chức năng tạo công ăn việc làm và điều tiết sự phân phối thu nhập của chính phủ, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, kiện toàn thể chế quản lý hạ tầng cơ sở, hoàn thiện cơ chế xử lý mâu thuẫn xã hội, bảo vệ xã hội công bằng chính nghĩa và ổn định, kiện toàn cơ chế ứng phó xử lý với các sự việc xảy ra đột xuất

Thúc đẩy dịch vụ công, hoàn thiện chính sách công, kiện toàn hệ thống dịch

vụ công cộng, tăng cường cơ bản năng lực phục vụ công cộng

Thúc đẩy cơ bản sự bình đẳng trong phục vụ công

Về thi hành quyết sách dân chủ khoa học: Quốc vụ viện và các bộ ngành

phải kiện toàn quy tắc và trình tự quyết sách những vấn đề trọng đại, trong việc

Trang 20

quyết sách phải hoàn thiện cơ chế quyết sách có tham khảo ý kiến nhân dân, tư vấn

của các chuyên gia và Chính phủ

Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và ngân sách quốc gia, các biện pháp chính sách lớn trong việc quản lý vĩ mô và cải cách mở cửa, các vấn đề quan trọng trong việc quản lý đất nước, dự thảo pháp luật và văn bản pháp quy đều phải do hội nghị toàn thể hay hội nghị thường vụ Quốc vụ viện thảo luận quyết định

Những vấn đề lớn mà các cơ quan của Quốc vụ viện đề xuất Quốc vụ viện nghiên cứu quyết định nhất định phải thông qua điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng, ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, cơ quan tư vấn; phối hợp đầy đủ với các cơ quan hữu quan; lắng nghe ý kiến của địa phương trước khi quyết định một vấn đề nào đó; quyết định ban hành phải phù hợp với lợi ích xã hội và lợi ích thiết thân của đông đảo quần chúng nhân dân; công khai trưng cầu ý kiến xã hội nếu cần

có thể tổ chức hội nghị trưng cầu ý kiến của dân

Quốc vụ viện trước khi quyết định một vấn đề trọng đại nào đó, căn cứ vào nhu cầu, thông qua nhiều hình thức đa dạng, trực tiếp lắng nghe ý kiến và kiến nghị của các đảng phải dân chủ, đoàn thể xã hội, các chuyên gia và của quần chúng nhân dân

Các cơ quan của Quốc vụ viện phải kiên trì quán triệt sâu sắc quyết định của Quốc vụ viện Theo dõi và phản ánh kịp thời tình hình chấp hành cho Quốc vụ viện Văn phòng Quốc vụ viện phải tăng cường đôn đốc kiểm tra, đảm bảo quyết định của Quốc vụ viện được thực thi

Về kiên trì hành chính theo pháp luật: Quốc vụ viện và các bộ ngành phải

nghiêm chỉnh thi hành chức trách, nhiệm vụ của mình dựa theo các quyền hạn và

trình tự pháp luật quy định

Quốc vụ viện căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội đề xuất với Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc các văn bản pháp quy, sửa đổi hay hủy bỏ các văn bản không còn phù hợp; ban hành dự thảo các văn bản pháp quy liên quan mật thiết đến đời sống người

Trang 21

dân, trên nguyên tắc phải công bố bản thảo và trưng cầu ý kiến xã hội Sau khi thực thi các văn bản pháp quy phải tiến hành đánh giá và đúc kết vấn đề kịp thời hoàn thiện

Các bộ ngành ban hành văn bản pháp quy phải phù hợp với hiến pháp và các văn bản pháp quy của Quốc vụ viện Phải lấy ý kiến của các bộ ngành có liên quan Đối với các vấn đề có liên quan đến phạm vi chức trách quyền hạn của hai cơ quan trở lên thì Quốc vụ viện phải ban hành văn bản hay do các bộ ngành cùng ban hành các văn bản pháp quy liên tịch Trong đó, các vấn đề liên quan nhiều đến sự quan tâm của xã hội, lợi ích thiết thân của nhân dân, các vấn đề liên quan đến nước ngoài, Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan phải xin ý kiến Quốc vụ viện trước Các văn bản pháp quy liên tịch trước khi ban hành phải trình Quốc vụ viện phê chuẩn

Việc dự thảo và giải thích các văn bản pháp quy của Quốc vụ viện đều do Tổ Pháp chế của Quốc vụ viện đảm nhiệm

Về thúc đẩy công khai các công việc hành chính: Quốc vụ viện và các bộ

ngành phải tích cực thúc đẩy công khai các công việc hành chính, kiện toàn chế độ công bố tin tức của Chính phủ, hoàn thiện các chế độ làm việc công khai, nâng cao

tính minh bạch trong công tác của chính phủ

Các vấn đề do hội nghị toàn thể và hội nghị thường vụ Quốc vụ viện thảo luận quyết định, các chính sách do Quốc vụ viện và các bộ ngành ban hành trừ nhu cầu bảo mật đều phải được công bố kịp thời

Việc công khai các văn bản pháp quy được thực hiện thông qua các hình thức như trang tin điện tử (website) của chính phủ, công báo của chính phủ, Phòng Phát hành tin tức và các báo đài Việc công khai phải kịp thời, chuẩn xác theo đúng quy định pháp luật

Về kiện toàn chế độ giám sát: Quốc vụ viện phải chịu sự giám sát của Đại

hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân

Trang 22

toàn Trung Quốc (Chính hiệp), khiêm tốn lắng nghe ý kiến và kiến nghị của cơ

quan này

Các bộ ngành của Quốc vụ viện dựa trên các quy định pháp luật có liên quan chịu sự giám sát của các cơ quan Tư pháp và Thanh tra Các vấn đề phát hiện trong quá trình giám sát phải điều tra xử lý và báo cáo với Quốc vụ viện

Tăng cường giám sát hệ thống nội bộ hành chính, kiện toàn chế độ giám sát các cấp của chính phủ Các bộ ngành của Quốc vụ viện phải nghiêm chỉnh chấp hành chế độ dự thảo luật của Chính phủ để kịp thời loại bỏ hay chỉnh sửa các văn bản trái luật, uốn nắn hành vi vi phạm pháp luật, chủ động trưng cầu và thực sự lắng nghe kiến nghị và ý kiến của địa phương

Quốc vụ viện và các bộ ngành phải chịu sự giám sát của nhân dân và báo chí Đối với các bài viết của cơ quan báo chí về các vấn đề quan trọng, các cơ quan liên quan Quốc vụ viện tích cực điều tra xử lý, chỉnh sửa đồng thời báo cáo cho Quốc vụ viện

Quốc vụ viện và các bộ ngành phải xem trọng các tin tức do nhân dân cung cấp, hoàn thiện chế độ cung cấp thông tin Các lãnh đạo Quốc vụ viện và các bộ ngành phải đích thân nắm duyệt các tin tức quan trọng do nhân dân cung cấp

Quốc vụ viện và các bộ ngành phải thực hiện rộng rãi chế độ truy cứu trách nhiệm và chế độ quản lý hiệu quả Xác định rõ phạm vi, quy phạm và trình tự truy cứu trách nhiệm, nghiêm chỉnh truy cứu trách nhiệm để nâng cao năng lực quản lý

và lòng tin của nhân dân đối với chính phủ

Về tăng cường xây dựng liêm chính: Quốc vụ viện và các bộ ngành phải

chấp chính nghiêm minh Đối với các vấn đề trong phạm vi quyền hạn của mình phải tích cực giải quyết đúng trình tự và thời gian, không giải quyết đối với các vấn

đề vượt quá phạm vi quyền hạn của mình Phải truy cứu trách nhiệm đối với việc đùn đẩy khó khăn, tác phong quan liêu và thiếu trách nhiệm gây hậu quả Nghiêm túc điều tra xử lý các hành vi lạm quyền, sử dụng quyền lực vào mục đích riêng tư,

vi phạm các quy định của pháp luật

Trang 23

Quốc vụ viện và các bộ ngành phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định về tài chính, quy phạm tiếp đãi công vụ Không được sử dụng công quỹ để tặng quà, chiêu đãi nhau Không được nhận quà và chiêu đãi của địa phương Phải phấn đấu gian khổ, cần kiệm, thiết thực giảm thiểu chi phí hành chính, xây dựng cơ quan tiết kiệm

Các nhân viên của Quốc vụ viện phải liêm khiết trong khi thi hành công vụ, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về liêm khiết có liên quan của trung ương, không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích không chính đáng cho bản thân và người thân mình, phải nghiêm chỉnh yêu cầu nhân viên dưới quyền mình không được lợi dụng quan hệ đặc thù để mưu cầu lợi ích cho cá nhân

Về chế độ hội nghị: Quốc vụ viện tiến hành hội nghị toàn thể và hội nghị

thường vụ

Hội nghị toàn thể do Thủ tướng triệu tập và chủ trì Thành phần tham dự gồm: Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Ủy viên Quốc vụ viện, Bộ trưởng các bộ, Chủ nhiệm các Ủy ban, Thống đốc Ngân hàng, Tổng Kiểm toán và Tổng Thư ký Nhiệm

vụ chủ yếu của hội nghị toàn thể là:

Một là, thảo luận các quyết định quan trọng trong công tác của Quốc vụ viện Hai là, thảo luận công tác quan trọng của các bộ thuộc Quốc vụ viện

Hội nghị toàn thể Quốc vụ viện mỗi năm thường được tổ chức một lần Căn

cứ vào nhu cầu có thể mời người phụ trách tại các bộ ngành, đơn vị có liên quan dự hội nghị

Hội nghị thường vụ Quốc vụ viện do Thủ tướng triệu tập và chủ trì Thành phần gồm: Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Ủy viên Quốc vụ viện, Tổng Thư ký Hội nghị Thường vụ có nhiệm vụ:

Một là, thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng trong công tác của

Quốc vụ viện

Hai là, thảo luận dự thảo luật, dự thảo văn bản pháp quy hành chính

Trang 24

Hội nghị thường vụ Quốc vụ viện thông thường mỗi tuần tổ chức một lần Căn cứ vào nhu cầu có thể mời người phụ trách ở các bộ ngành, đơn vị cùng dự

Các vấn đề trình Hội nghị toàn thể và Hội nghị thường vụ Quốc vụ viện, do các lãnh đạo của Quốc vụ viện đã được phân công sau khi bàn bạc hay thẩm tra, trình Thủ tướng Quốc vụ viện quyết định Văn bản của Hội nghị do Thủ tướng ký Công tác tổ chức cả hai hội nghị do Văn phòng Quốc vụ viện phụ trách Các văn bản được phát cho người dự trước hội nghị

Lãnh đạo Quốc vụ viện không thể tham dự hội nghị được thì xin phép Thủ tướng Các thành viên khác xin vắng sẽ do Văn phòng Quốc vụ viện tổng hợp và báo cáo Thủ tướng

Kỷ yếu của Hội nghị toàn thể và Hội nghị thường vụ do Thủ tướng ký và phát hành

Hội nghị công tác do Quốc vụ viện và các bộ ngành triển khai phải giảm thiểu về số lượng, khống chế về quy mô, xét duyệt nghiêm chỉnh Hội nghị mang tính chất toàn quốc do các bộ ngành triển khai, không lấy danh nghĩa Quốc vụ viện

và Văn phòng Quốc vụ viện triển khai, không mời người phụ trách chính phủ nhân dân ở tỉnh, khu tự trị và thành phố trực thuộc trung ương tham dự, nếu cần thiết mời thì phải báo Quốc vụ viện phê chuẩn Hội nghị mang tính toàn quốc nên áp dụng hình thức triển khai hội nghị qua truyền hình và điện thoại để đảm bảo nhanh và tiết kiệm Đây được xem là “hội nghị trực tuyến” vốn đang được chính phủ các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam triển khai thực hiện

Về xét duyệt, phê chuẩn công văn: Văn bản của các bộ ngành trình Quốc

vụ viện phải phù hợp với quy định của “Biện pháp xử lý công văn của các cơ quan hành chính nhà nước” Trừ các vấn đề giao ban của lãnh đạo Quốc vụ viện và những vấn đề tuyệt mật phải trực tiếp trình Quốc vụ viện, nhìn chung không được trực tiếp trình công văn cho cá nhân lãnh đạo Quốc vụ viện Các công văn mang tính xin ý kiến của các bộ ngành gửi Quốc vụ viện, giữa các bộ ngành nếu có ý kiến

Trang 25

không thống nhất thì lãnh đạo các bộ ngành phải chủ động bàn bạc, thống nhất nếu

không thống nhất được thì đề xuất kiến nghị giải quyết

Công văn các địa phương và bộ ngành trình Quốc vụ viện phê duyệt, Văn phòng Quốc vụ viện phải căn cứ lãnh đạo Quốc vụ viện được phân công phụ trách lĩnh vực nào mà trình duyệt cho phù hợp Những vấn đề quan trọng do Thủ tướng phê duyệt

Các văn bản pháp quy hành chính, dự thảo đề xuất Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban thường vụ Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc do Thủ tướng

Những văn bản của các bộ ngành ban hành nhưng lấy danh nghĩa Quốc vụ viện thì lãnh đạo các ban ngành đó phải xem xét kỹ trước khi trình Thủ tướng ký ban hành Các văn bản hành dưới danh nghĩa Văn phòng Quốc vụ viện thì do Tổng Thư ký Quốc vụ viện ban hành Nếu cần thiết có thể do lãnh đạo Quốc vụ viện được phân công ký ban hành hay trình Thủ tướng ký

Những vấn đề thuộc thẩm quyền của các bộ ngành thì do các bộ ngành tự ban hành hay ban hành văn bản liên tịch Không được yêu cầu Quốc vụ viện ký phát hay Văn phòng Quốc vụ viện ký phát

Về chế độ kỷ luật: Thành viên của Quốc vụ viện phải kiên quyết quán triệt

chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật

Thành viên của Quốc vụ viện phải kiên quyết chấp hành quyết định của Quốc vụ viện, nếu có ý kiến không thống nhất thì đề xuất trong nội bộ Quốc vụ viện Trước khi có quyết định mới thì không được có những lời lẽ và hành động trái với quyết định của Quốc vụ viện Cá nhân muốn phát biểu phải được Quốc vụ viện đồng ý trước

Các bộ ngành Quốc vụ viện công bố thông tin có liên quan đến công tác

Trang 26

đến lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân phải được thẩm định chặt chẽ Tình hình quan trọng phải kịp thời báo cáo Quốc vụ viện

Các thành viên Quốc vụ viện phải nghiêm chỉnh tuân thủ việc bảo mật Cấm không được làm lộ bí mật quốc gia, bí mật công tác và bí mật của doanh nghiệp Kiên quyết bảo vệ an ninh, danh dự và lợi ích quốc gia

Các thành viên Quốc vụ viện phải thực hiện bảng học tập Quốc vụ viện và các bộ ngành phải xây dựng cơ quan học tập

Lãnh đạo Quốc vụ viện phải thâm nhập cơ sở, điều tra nghiên cứu, chỉ đạo công tác, giải quyết vấn đề thực tế Đi cơ sở cần giảm việc đi xe công, giảm thiểu người đi cùng, đơn giản việc tiếp đãi Không được yêu cầu lãnh đạo địa phương đón tiếp và đưa tiễn

Lãnh đạo Quốc vụ viện không gửi thư mừng, điện mừng cho hoạt động hội nghị của các bộ ngành và địa phương, trừ những trường hợp thật sự cần thiết

Các lãnh đạo Quốc vụ viện phải nghiêm chỉnh chấp hành chế độ xin nghỉ phép Khi Phó Thủ tướng, Ủy viên Quốc vụ viện đi công tác hay nghỉ phép thì trước hết phải báo cáo Thủ tướng, Văn phòng Quốc vụ viện thông báo lại cho các lãnh đạo Quốc vụ viện khác

Lãnh đạo các bộ ngành khi đi công tác phải báo cáo Văn phòng Quốc vụ viện Văn phòng Quốc vụ viện sẽ báo cáo lại cho lãnh đạo Quốc vụ viện [Gov.cn:

国务院关于印发《国务院工作规则》的通知 (Quốc vụ viện ban hành Thông tri

về quy tắt làm việc của Quốc vụ viện)]

IV Quốc vụ viện qua các lần cải cách (1978-2000)

4.1 Cải cách cơ cấu

Trung Quốc luôn coi trọng cải cách cơ cấu Quốc vụ viện, coi tinh giản cơ cấu là nhiệm vụ chủ yếu, xem “tinh giản cơ cấu là một cuộc cách mạng” Từ khi cải cách mở cửa đến năm 2000, đã tiến hành bốn lần cải cách bộ máy Chính phủ với

Trang 27

quy mô lớn vào các năm: 1982, 1988, 1992, 1998 Mỗi lần cải cách bộ máy chính phủ điều được triển khai trong những thời điểm mấu chốt của công cuộc cải cách thể chế kinh tế và phát triển kinh tế lý luận, mô hình mục tiêu, nội dung chủ yếu và tiến trình cải cách bộ máy đều phối hơp chặt chẽ với cải cách thể chế kinh tế Từ mặt thể chế và tổ chức, nó tạo ra điều kiện đảm bảo thuận lợi cho việc tiến hành cải cách thể chế kinh tế

4.1.1 Cuộc cải cách năm 1982

Cuộc cải cách năm 1982 được triển khai trong điều kiện cả nước Trung Quốc vừa thực hiện việc chuyển trọng điểm công tác sang xây dựng kinh tế Trong tình hình phương châm chính trị lớn của đất nước đã được vạch ra, điều chỉnh kinh tế giành được thắng lợi lớn, công tác thí điểm cải cách tiến triển, đặc biệt từ cuộc cải cách nông thôn thu được kết quả rõ rệt, cuc diện ổn định, đoàn kết ngày càng được củng cố Để thay đổi tình trạng đẻ ra nhiều bộ, ngành, bộ máy cồng kềnh, chồng chéo giẫm đạp, cản trở nhau trong công việc, hiệu quả thấp, Quốc vụ viện đã quyết định tiến hành cuộc cải cách cơ cấu nhằm lãnh đạo có hiệu quả công cuộc 4 hiện đại hóa cải cách thể chế kinh tế

Ngày 12-11-1981, tại hội nghị lần thứ 4 Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa V, Thủ tướng Quốc vụ viện đã tuyên bố cải cách phải bắt đầu từ các bộ, ngành trong Quốc vụ viện, thay đổi tình trạng bộ, ngành mọc lên như nấm, giả quá nhiều, hiệu suất công tác quá thấp Nhằm lãnh đạo công tác hiện đại hóa có hiệu quả, hội nghị lần thứ 4 Quốc hội khóa V đã nhất trí thông qua quyết định của Quốc vụ viện

và giao quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội đảm trách tiến hành xem xét quyết định phương án cải cách cơ cấu của Quốc vụ viện

Ngày 08-3-1982, tại hội nghị lần thứ 22 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa V, Thủ tướng Quốc vụ viện đã trình bày “Báo cáo về vấn đề cơ cấu Quốc vụ viện” Vấn đề tinh giản sáp nhập các cơ quan của Quốc vụ viện là điều dứt khoát

Trang 28

chính trị và thể chế lãnh đạo của nhà nước, làm cho nhân dân có thể sử dụng quyền lực nhà nước tốt hơn, các cơ quan nhà nước cũng có thể lãnh đạo và tổ chức xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách hữu hiệu hơn Báo cáo Đại hội XIII đã đưa ra biện pháp cải cách cụ thể trên 07 phương diện, đó là: Thực hiện phân tách đảng và chính quyền; nới rộng quyền hơn nữa cho cấp dưới; cải cách cơ cấu công tác của chính phủ; cải cách chế độ nhân sự cán bộ; xây dựng chế độ hiệp thương đối thoại xã hội; hoàn thiện một số chế độ của nền chính trị dân chủ xã hội chủ nghĩa; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở đó, bộ máy công tác của Quốc vụ viện từ 100 giảm xuống còn 61, trong đó số bộ và ủy ban từ 52 giảm xuống còn 42 Đội ngũ cán

bộ công chức của Quốc vụ viện từ 5,1 vạn giảm xuống còn 3 vạn người [Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam 1999: 5]

Cuộc cải cách này đã tiến thêm một bước trong việc thực hiện cơ cấu hợp lý hóa, vận hành hiệu quả Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan biên chế hành chính nhà nước còn quá nhiều, đặc biêt là các cơ quan “lửng lơ” và “lâm thời” không những có phần không giảm mà còn tăng lên, hình thành thế bành trướng mới

Ở một số bộ, ngành, đơn vị vẫn còn tồn tại chức năng không rõ ràng, công việc chồng chéo, giẫm đạp hay đùn đẩy nhau, phương pháp lãnh đạo, phương pháp công tác và hiệu quả công tác chưa được cải tiến và nâng cao rõ rệt Chưa xây dựng được một thể chế quản lý khoa học và chặt chẽ

Cuộc cải cách cơ cấu lần này do tiến hành trong hoàn cảnh cuộc cải cách kinh tế chưa được triển khai toàn diện, thể chế kinh tế kế hoạch truyền thống chưa

bị phá bỏ, cho nên mới chỉ giải quyết được những vấn đề nổi cộm trước mắt, chưa

có được những đột phá thực chất Vì vậy, “cuộc cải cách này hoàn thành chưa lâu thì bộ máy chính phủ lại phình to trở lại” [Nguyễn Thế Tăng 2000: 149] Tính đến cuối năm 1986, số các Bộ, Ủy ban, đơn vị trực thuộc Quốc vụ viện lại từ 61 tăng lên

72, số các đơn vị thành lập tạm thời từ 30 lại tăng lên 67 tạo nên tình trạng bành trướng về bộ máy, đòi hỏi phải tiến hành tinh giản và chỉnh đốn [Đinh Hữu Thiện 2007: 26-27] Điều này đòi hỏi chính phủ phải tiếp tục thực hiện cải cách cơ cấu trong giai đoạn tiếp theo

Trang 29

4.1.2 Cuộc cải cách năm 1988

Cuộc cải cách cơ cấu năm 1988 được tiến hành trong hoàn cảnh cải cách thể chế kinh tế không ngừng đi vào chiều sâu, cải cách thể chế chính trị cũng từng bước được triển khai, thể chế cũ dần dần nhường chỗ cho thể chế mới Rút ra những bài học và kinh nghiệm từ các cuộc cải cách cơ cấu trước đây, cải cách cơ cấu tiến hành vào năm 1988 tập trung vào điều chỉnh chức năng và cải cách tổ chức Theo những điều kiện của đất nước và phù hợp với những nguyên tắc tinh giản, thống nhất và hiệu quả, các cơ quan hành chính nhà nước từng bước được điều chỉnh và cải cách

Lần cải cách này tăng cường chức năng quản lý tổng thể của chính phủ và nâng cao vai trò của các cơ quan tư vấn và hoạch định chính sách, các cơ quan giám sát, các cơ quan xây dựng pháp luật, và các cơ quan cung ứng dịch vụ và quản lý xã hội, đồng thời giảm chức năng quản lý vi mô của Chính phủ và cắt giảm số lượng các cơ quan quản lý kinh tế đặc biệt Thành quả chính của lần cải cách này là:

Thứ nhất, chuyển đổi chức năng chính quyền với hạt nhân là tách chính quyền với xí nghiệp, tách hành chính với xí nghiệp Chuyển đổi chức năng chính

quyền là yêu cầu then chốt của cuộc cải cách cơ cấu và cũng là sự khác biệt căn bản của cuộc cải cách cơ cấu lần này so với những cuộc cải cách cơ cấu trước đây

Thứ hai, tinh giản các bộ, ngành chuyên môn, tăng cường các bộ, ngành giám sát và điều tiết Đồng thời với viêc tinh giản các bộ, ngành chuyên môn còn

tăng cường các bộ, ngành giám sát kỷ luật hành chính, giám sát kinh tế và giám sát

kỹ thuật trên ba mặt chức năng, cơ cấu và biên chế, thay đổi tình trạng yếu kém lâu nay của các bộ, ngành giám sát, tăng cường quyền lực và chức năng độc lập quản lý giám sát cho các cơ quan này Cơ cấu biên chế của các bộ, ngành giám sát đều đã được tăng đáng kể Bộ giám sát đặt cơ sở tại 46 bộ, ngành trong Quốc vụ viện; Cục giám sát đặt cơ sở tại 41 bộ, ngành trong Quốc vụ viện

Thứ ba, trên cơ sở chuyển đổi chức năng, lập cơ cấu và xác định biên chế hợp lý hơn so với trước đây Cuộc cải cách cơ cấu lần này đã thay đổi cách làm

Trang 30

chuyển đổi chức năng mà định cơ cấu, định biên chế theo chức năng, chỗ nào cần giảm thì giảm, chỗ nào cần tăng thì tăng, tìm tòi biện pháp mới để quản lý biên chế chặt chẽ Theo thống kê của Quốc vụ viện, các bộ, ủy ban của Quốc vụ viện từ 45 giảm xuống còn 41; các cơ quan trực thuộc từ 22 giảm xuống còn 19; các cơ quan đặc biệt từ 75 giảm còn 44 [Tinh Tinh (cb) 2000: 110-113]

Thứ tư, đã giải quyết được vấn đề chồng chéo chức năng giữa một số bộ, ngành Vấn đề chồng chéo, trùng lập chức năng giữa các bộ, ngành trong Quốc vụ

viện; giữa các bộ, ngành tổng hợp với bộ, ngành chuyên môn; giữa các bộ, ngành phi kinh tế với nhau đã tạo thành một số vấn đề nan giải lớn, kéo dài nhiều năm chưa được giải quyết Qua cuộc cải cách cơ cấu này, đại bộ phận đã được xác định

rõ ràng phương án “ba định” (cơ cấu, biên chế và chức năng), giảm bớt hiện tượng

lôi kéo nhau giữa các bộ, ngành

Ngoài ra, lần cải cách này cũng tách rời chức năng của Đảng và chính quyền, trả lại các chức năng của cơ quan hành chính về cho cơ quan hành chính

Tuy nhiên, do những hạn chế của điều kiện lịch sử, về phương diện chuyển đổi chức năng, tách rời chức năng của Đảng và chính quyền, tăng cường điều tiết vĩ

mô, giảm quản lý, can thiệp trực tiếp vào công việc kinh doanh vẫn chưa được thực hiện triệt để Trong điều kiện cải cách kinh tế mới bắt đầu đi vào chiều sâu, nhiều lĩnh vực quan trọng của cải cách kinh tế bắt đầu được triển khai, nền kinh tế hàng hóa mới định hình, cơ cấu quyền lực nhà nước song không dễ dàng xóa bỏ những ảnh hưởng của thể chế chính trị tập trung, quan liêu để nhanh chóng thích ứng với

cơ sở kinh tế hàng hóa [Đinh Hữu Thiện 2007: 27] Đa số các bộ, ngành và cán bộ quen với phương pháp quản lý trực tiếp trước đây, ít hiểu biết và không quen với phương pháp quản lý gián tiếp kết hợp giữa kế hoạch với điều tiết thị trường như thế nào cho thích hợp, thêm vào đó việc chuyển đổi chức năng và quan niệm lại cần phải có một quá trình thực tiễn, bởi thế, về vĩ mô cái cần quản lý thì chưa quản lý được, về vi mô cái đáng thả thì chưa thả hết, vẫn chưa thoát khỏi kiểu quản lý trực tiếp đối với các xí nghiệp

Trang 31

4.1.3 Cuộc cải cách năm 1993

Cuộc cải cách năm 1993 giảm mạnh hơn các chức năng quản lý vi mô và quản lý trực tiếp của chính phủ; tăng cường chức năng lập kế hoạch vĩ mô, xây dựng các chính sách, pháp luật và luật lệ quan trọng, và tăng cường chức năng giám sát và điều chỉnh cũng như chức năng phục vụ các cơ quan hành chính cấp cơ sở, nhằm tăng cường các cơ quan giám sát, kiểm tra vĩ mô và các cơ quan quản lý các công việc xã hội và cung cấp dịch vụ công

Mục tiêu của cải cách là xây dựng hệ thống quản lý hành chính có chức năng toàn diện, cơ cấu hợp lý, vận hành hài hòa, linh hoạt và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

Từ năm 1989-1993, bộ máy Chính phủ Trung Quốc lại phình lên 86 tổ chức Qua cuộc cải cách lần này, giảm xuống còn 59 tổ chức Tinh giản 20% trong tổng

số 48.000 cán bộ công chức của Quốc vụ viện [Nguyễn Thế Tăng (cb) 2000: 152] Cuộc cải cách lần này được tiến hành trong thời điểm giao thời giữa hai thể chế cũ

và mới, từ thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ quá độ sang thể chế kinh tế thị trường, không chỉ đơn thuần là một cuộc cải cách mà còn cần có một quá trình để thực hiện Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa không thể làm ngay một lúc Tính tiệm tiến của việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã quyết định tính quá độ của cuộc cải cách bộ máy lần này Xét về mặt ý nghĩa nào đó, phương án cải cách bộ máy lần này vẫn còn mang dấu ấn rõ ràng của thể chế kinh tế

kế hoạch và chỉ có thể thực hiện những mục tiêu có hạn Vì vậy, không thể đòi hỏi

cuộc cải cách lần này với một thái độ lý tưởng hóa thoát ly thực tế

Cuộc cải cách bộ máy lần này tuy đặt trọng tâm vào việc chuyển biến chức năng của chính phủ, nhưng cuối cùng vẫn chưa đạt được những tiến triển có tính đột phá Điều này do thể chế kinh tế thị trường mới được xây dựng, thể chế kinh tế kế hoạch vẫn còn phát huy tác dụng Mặt khác, muốn chuyển biến chức năng chính phủ thì phải kết hợp chặt chẽ với việc tinh giản cơ cấu Nếu không như vậy, việc

Trang 32

khó giải quyết Thực tế cho thấy, trong lần tinh giản cơ cấu này, số bộ và ủy ban trực thuộc Quốc vụ viện chỉ giảm được một mối Còn số cơ quan trực thuộc và giúp việc, tuy trên danh nghĩa giảm đi 11 cơ quan [Nguyễn Thế Tăng (cb) 2000: 152], nhưng phần lớn các cơ quan này lại chuyển sang khối các cơ quan chịu sự quản lý của Đảng, một số còn lại trước đây trực thuộc Quốc vụ viện nay chuyển sang trực thuộc các bộ, ngành, đơn vị Biện pháp này có thể xem là “bình mới rượu cũ” vì trên thực tế số cơ quan này vẫn tồn tại, vẫn thực hiện các chức năng vốn có của nó,

có khác chăng chỉ là mối quan hệ lệ thuộc của nó đã thay đổi

4.1.4 Cuộc cải cách năm 1998

Cuộc cải cách lần này đã tinh giản một nửa số cơ quan Quốc vụ viện và nhân viên chính quyền cấp tỉnh, việc tổ chức thực thi khá bình ổn, hiệu quả cũng khá rõ ràng Trước cải cách, số các cơ quan trực thuộc và giúp việc Quốc vụ viện là 59 đầu mối, trong đó gồm Văn phòng Quốc vụ viện, 40 bộ và ủy ban, 13 cơ quan trực thuộc và giúp việc của Quốc vụ viện giảm xuống còn 53, trong đó gồm Văn phòng Quốc vụ viện, 29 bộ và ủy ban, 17 cơ quan trực thuộc và 6 văn phòng giúp việc khác Số lượng các cục, vụ thuộc các bộ giảm được 200 đầu mối, tinh giản được 1/4 Tổng số biên chế cán bộ công chức giảm 47,5% Điều đáng chú ý là số lượng Phó Thủ tướng và Ủy viên Quốc vụ viện cũng giảm từ 6 giảm xuống còn 4 người, số Ủy viên Quốc vụ viện từ 8 giảm xuống còn 5 [Nguyễn Thế Tăng (cb) 2000: 155]

Kế hoạch cải cách tổ chức Quốc vụ viện đã được thông qua trong phiên họp đầu tiên của Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ 9 đã chỉ rõ các chức năng của chính phủ là điều tiết vĩ mô, quản lý xã hội và cung cấp dịch vụ công Liên quan tới cải cách cơ cấu của chính quyền trung ương bắt đầu từ năm 1998, việc hoàn thiện các chức năng của chính phủ và cơ cấu tổ chức của nó ngày càng hợp lý và

đúng đắn hơn Trước tiên, các cơ quan kiểm tra vĩ mô đã được tăng cường Ủy ban

Kế hoạch phát triển Nhà nước, Ủy ban Kinh tế và Thương mại Nhà nước, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã được chuyển đổi từ các cơ quan kinh

tế tổng hợp thành các cơ quan kiểm tra vĩ mô với các chức năng mới được xác định

Trang 33

như sau: duy trì sự cân bằng của toàn bộ nền kinh tế, kiềm chế lạm phát, tối ưu hoá

cơ cấu nền kinh tế để có được sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế, hoàn thiện hệ thống điều tiết vĩ mô, nâng cao các biện pháp kinh tế và cải cách hệ thống pháp luật và tăng cường cơ chế kiểm tra vĩ mô So sánh với trước đây, thì cơ

chế kiểm tra vĩ mô có sức mạnh rất to lớn Hai là các ban ngành kinh tế đặc biệt đã

được điều chỉnh hoặc giảm bớt, và một cơ cấu tổ chức nhỏ, gọn hơn được thành lập, hoạt động hiệu quả hơn và phù hợp hơn với hệ thống kinh tế thị trường Chỉ có 6 bộ (Đường sắt, Truyền thông, Xây dựng, Nông nghiệp, Các nguồn tài nguyên nước và Thương mại) được giữ lại, và các tổ chức kinh tế quản lý trực tiếp doanh nghiệp (lắp máy, than đá, hoá dầu, luyện kim, công nghiệp nhẹ, dệt may và điện lực) đã được chuyển đổi từ các bộ phận của Quốc vụ viện thành các đơn vị trực thuộc Ủy ban Kinh tế và Thương mại Nhà nước Hơn nữa, những tổ chức này đang trong quá trình chuyển đổi và được điều chỉnh sâu hơn Các bộ mới như Bộ Công nghiệp truyền thông và Ủy ban Nhà nước về Khoa học và Công nghệ đối với công nghiệp quốc phòng quốc gia đã được thành lập Các chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của các cơ quan quản lý kinh tế đặc biệt là xây dựng các kế hoạch dài hạn và các chính sách phát triển công nghiệp, chỉ đạo các cuộc cải cách doanh nghiệp và tránh sự chồng chéo, trùng lặp Rõ ràng là cải cách đã giảm chức năng của các cơ quan quản

lý kinh tế đặc biệt Ba là, các cơ quan giám sát và bảo vệ pháp luật đã được tăng

cường và chức năng giám sát và bảo vệ pháp luật đã được đề cao Đối với các cơ quan giám sát và thực thi pháp luật, tuân thủ nguyên tắc trách nhiệm rõ ràng (tách biệt giữa trọng tài và vận động viên) nhiệm vụ của các cơ quan này là quản lý thị trường, chứ không phải là điều hành thị trường nhằm đảm bảo tính công bằng và làm đúng chức năng giám sát và kiểm tra của các cơ quan đó Nếu so sánh với thực

tiễn trước đây, thì đây là một bước tiến hết sức cơ bản Bốn là, các cơ quan cung

cấp dịch vụ xã hội đã được điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao năng lực điều tiết của chính phủ đối với các dịch vụ xã hội Các hoạt động cụ thể đó là: trên cơ sở duy trì một bộ phận các cơ quan trước đây với các bộ chức năng như là Bộ Lao động và

Trang 34

được thành lập Trong quá trình hình thành và tăng cường hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm của chính phủ trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ công sẽ tăng lên, và tất nhiên chính phủ cũng phải nâng cao năng lực tương ứng nhằm kiểm soát các dịch vụ công đó

Xem xét các cuộc cải cách hành chính trước đây, năng lực hành chính và trình độ dịch vụ của Chính phủ Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể Việc xây dựng các chức năng và cơ cấu tổ chức của chính phủ từng bước được chuyển đổi từ

mô hình hệ thống kinh tế kế hoạch hoá sang mô hình hệ thống kinh tế thị trường xã hôị chủ nghĩa Những thay đổi về chức năng và cơ cấu tổ chức của chính phủ đã chỉ

ra rằng chính phủ đang thay đổi và đã thực sự thay đổi phương thức cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp, xã hội và công chúng khác xa với những cách thức kiểm soát trực tiếp của chính phủ trước đây đối với các doanh nghiệp và sản xuất của họ

[Caicachhanhchinh.gov.vn: Cải cách hành chính công của Trung Quốc trong kỷ

nguyên mới]

Nhìn chung, chủ trương cải cách bộ máy Chính phủ của Trung Quốc năm

1998 là “khả thi” nhưng những vấn đề tồn đọng cần giải quyết cũng không nhỏ Kiên quyết thực hiện tinh giản bộ máy chính quyền ở mức độ lớn, nhưng cũng phải thận trọng áp dụng những biện pháp có thể làm xáo động xã hội, bảo đảm sự ổn định của xã hội, duy trì hoạt động bình thường và nâng cao hiệu quả của bộ máy chính quyền Phương châm nêu ra là phải “vừa tích cực, vừa thận trọng” Vì lẽ đó, cuộc cải cách này đã được các nhà lãnh đạo Trung Quốc coi là “một cuộc cách mạng” [Đinh Hữu Thiện 2007: 28] và họ cũng lường trước rằng trong quá trình thực hiện “không thể không có trở ngại và rủi ro” Tuy nhiên, điều quan trọng là họ đều đã nhận thức được “sự cần thiết và tính cấp bách” của vấn đề, nếu không tiến hành cải cách thì Trung Quốc cũng “không còn con đường nào khác” để đưa đất nước tiến lên Cuộc cải cách lần này được xem là cuộc cải cách toàn diện lần thứ tư

kể từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa, đồng thời cũng là lần quy mô nhất

kể từ khi thành lập nước đến thời điểm này Tuy nhiên, do tính đến nhu cầu của cải cách và sức chịu đựng của xã hội nên cuộc cải cách bộ máy chính quyền lần này

Trang 35

vẫn mang tính chất quá độ và trọng tâm mới chỉ làm trong các cơ quan thành viên của Quốc vụ viện

4.2 Cải cách công tác cán bộ

4.2.1 Lược sử xây dựng công tác cán bộ

Công tác cán bộ là công tác của Đảng Cộng sản Trung Quốc Có nhiều cách phân chia các giai đoạn xây dựng công tác cán bộ Tuy nhiên, theo học viên có thể

chia ra 03 thời kỳ lớn Thời kỳ thứ nhất: 28 năm kể từ khi thành lập Đảng năm 1921 cho đến khi lập quốc năm 1949; thời kỳ thứ hai: 30 năm kể từ khi thành lập nước đến hội nghị trung ương 3 khóa XI năm 1978 và thời kỳ thứ ba: hơn 20 năm kể từ

hội nghị trung ương 3 đến năm 2000 Giai đoạn từ năm 2000 đến nay có thể xem là

giai đoạn thứ tư sẽ được trình bày tại chương ba

Thời kỳ thứ nhất (1921-1949)

Trong thời kỳ này, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tìm tòi, mò mẫm, từng bước xây dựng công tác cán bộ thích hợp nhu cầu của nhiệm vụ cách mạng Nội dung chủ yếu của công tác cán bộ thời kỳ này như sau:

Xây dựng đường lối, chính sách cán bộ đúng đắn Hội nghị Bộ Chính trị mở

rộng của Đảng tại Ngõa Oa Bảo, tỉnh Thiểm Tây năm 1935 đã nêu lên và nhấn mạnh vai trò then chốt của cán bộ, xác định một loạt chính sách cán bộ đúng đắn Đến hội nghị trung ương 6 khóa VI năm 1938, đã nêu lên vấn đề “Trung Quốc hóa công tác tổ chức cán bộ”, coi đó là một tư tưởng chỉ đạo quan trọng của công tác cán bộ Hội nghị cũng nêu lên đường lối cán bộ “sử dụng người hiền” “Hiền” ở đây vừa có nghĩa là tài năng vừa có nghĩa là đức độ, đồng thời cũng nêu lên tiêu chuẩn cán bộ là “vừa có tài, vừa có đức”

Trong phong trào chỉnh phong ở Diên An và Đại hội lần thứ VII của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1945 nêu ra chủ trương về công tác cán bộ gồm đoàn kết cán bộ, bảo vệ cán bộ, hiểu biết cán bộ, sử dụng cán bộ, giáo dục cán bộ

Trang 36

Bước đầu hình thành một hệ thống thể chế quản lý cán bộ một cách tập trung, thống nhất Để đáp ứng nhu cầu đấu tranh chống địch, năm 1938, Trung ương Đảng

quyết định Đảng ủy của các Trung ương cục, các liên khu, liên huyện, huyện, thành

phố và phân khu, đều thành lập Ban Tổ chức cán bộ Ban Tổ chức cán bộ có nhiệm

vụ quản lý cán bộ, tiến hành việc khảo sát, điều động và phân phối cán bộ; đồng thời bắt đầu có sự phân công trong việc quản lý cán bộ địa phương và cán bộ quân đội

Tháng 10-1941, Trung ương Đảng Cộng sản quy định Tổng cục Chính trị của Ủy ban Quân sự (gọi tắt là Quân ủy) Trung ương quản lý cán bộ quân đội; Ban

Tổ chức Trung ương thống nhất quản lý cán bộ Trung ương và cán bộ địa phương

Hình thành một hệ thống chế độ quản lý cán bộ Trong thời kỳ ở Diên An

(hơn 10 năm trước năm 1949), đã dần dần xây dựng các chế độ quản lý cán bộ như giáo dục - đào tạo, tuyển dụng, đề bạt, sát hạch, thẩm tra, điều động và phân công, giao lưu cán bộ

Thời kỳ thứ hai (1949-1978)

Thời kỳ này do chiến tranh kết thúc, tập trung tái thiết đất nước nên có thể xem là thời kỳ xây dựng và phát triển của công tác cán bộ trên quy mô cả nước Nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng kinh tế và yêu cầu của thể chế kế hoạch hóa tập trung, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc chú trọng tăng cường xây dựng các mặt của công tác cán bộ như giáo dục cán bộ, quản lý cán bộ, đào tạo cán bộ, tuyển dụng và đề bạt cán bộ Qua đó, phát triển và hoàn thiện công tác cán bộ của Đảng

Cụ thể:

Xây dựng chế độ phân ngành và phân cấp quản lý cán bộ Để thích ứng nhu

cầu kế hoạch 05 năm lần thứ nhất, tháng 11-1953, Trung Quốc đã ban hành Quyết

định tăng cường quản lý cán bộ, thực hiện chế độ phân ngành và phân cấp quản lý

cán bộ dưới sự thống nhất của Ban Tổ chức Trung ương Đảng và của Đảng ủy các

cấp Phân ngành quản lý cán bộ, tức là chia toàn bộ cán bộ ra 09 loại, trong đó Trung ương quản lý một số loại, các Ban Đảng các cấp quản lý một số loại Phân

Trang 37

cấp quản lý tức là phân cấp giữa Trung ương và Đảng ủy các cấp, có sự phân công

quản lý cán bộ các cấp, thực hiện chế độ hai cấp quản lý Về sau, để tăng cường quản lý cán bộ kinh tế tài chính, Đảng ủy các cấp lại thành lập các tổ chức tương ứng với cơ quan chính quyền như Ban Công tác công nghiệp giao thông, Ban Công tác tài mậu, Ban Công tác văn giáo Đó là một thay đổi lớn về thể chế quản lý cán

bộ Cơ quan quản lý cán bộ của Đảng và nhà nước tuy có một số điều chỉnh nhất định, phạm vi quản lý cán bộ có tăng hoặc giảm, quyền hạn quản lý có thay đổi nhưng về cơ bản vẫn theo thể chế phân cấp và phân ngành quản lý

Chú trọng tính hệ thống, đồng bộ và đổi mới công tác cán bộ Xuất phát từ

nhu cầu xây dựng kinh tế và nhu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ Trung Quốc đã lần lượt xây dựng một loạt chế độ: tuyển dụng, sát hạch, thưởng phạt, đào tạo bồi dưỡng, tiền lương, giao lưu, nghỉ hưu của cán bộ Kể từ trước Đại hội lần thứ VIII năm 1956 cho đến đầu những năm 1960 của thế kỷ XX, Trung Quốc tích cực tìm tòi

và chú trọng đổi mới và cải tiến công tác bộ, nhờ vậy, nêu lên nhiều tư tưởng và quan điểm quan trọng về lĩnh vực này, nhưng điều quan trọng nhất, then chốt nhất

là Đảng quản lý cán bộ của Đảng, quản lý tốt đảng viên của Đảng; hoặc như đã dần dần hình thành một chế độ tương đối hoàn chỉnh, trong đó, cán bộ có thể lên, cũng

có thể xuống; nghĩa là có thể làm lãnh đạo, cũng có thể không làm lãnh đạo; hoặc như xây dựng chế độ quy hoạch cán bộ kế cận, tích cực bồi dưỡng và đề bạt cán bộ mới

Giai đoạn này có thời kỳ 10 năm Cách mạng văn hóa (1966-1976) nhiều người cho rằng đây là thời kỳ “công tác cán bộ của Trung Quốc bị tổn thất nghiêm trọng nhất, bị xuyên tạc và sai lệch ghê gớm” [Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên 2009: 184] Hàng loạt cán bộ, tri thức bị quy là “hữu khuynh” dẫn đến bị đấu tố, kết tội oan sai, khai trừ khỏi Đảng như Lưu Thiếu Kỳ; cắt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài Đảng như Đặng Tiểu Bình

Thời kỳ thứ ba (1978-2000)

Trang 38

Thời kỳ này Trung Quốc tiến hành cải cách và đổi mới công tác cán bộ cũ, vốn được hình thành dưới thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung Công tác cải cách

và đổi mới này được tiến hành rất mạnh dạn và có nhiều kết quả, xây dựng chế độ cán bộ với các chính sách cụ thể để phù hợp với tình hình cải cách mở cửa, phát triển kinh tế Do vậy, từng bước hình thành đội ngũ cán bộ thích ứng với thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác lập lại đường lối tư tưởng, đường lối chính trị và đường lối tổ chức Marxist, chuyển trọng tâm công tác vào xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa Hội nghị còn nhấn mạnh, phải “tăng cường quyền hạn và chức trách của nhân viên quản lý và cơ quan quản lý”, “nghiêm túc thực hiện chế độ thi cử, thưởng phạt, thăng chức, giáng chức”, từ đó khơi dòng cho công tác cải cách chế độ cán bộ Giai đoạn từ năm 1978 đến trước năm 2000, công tác cải cách cán bộ của Trung Quốc chủ yếu là cải cách thể chế quản lý cán bộ quá tập trung, nới lỏng quyền hạn quản lý cán bộ, xây dựng chế độ quản lý cán bộ cụ thể theo yêu cầu của công cuộc xây dựng bốn hiện đại hóa

và tiến hành cải cách toàn diện đối với chế độ cán bộ [Từ Tụng Đào, Vương Đỉnh, Trần Nhân Vỹ 2008: 26-27]

Sau hội nghị Trung ương 3 khóa XI, Đặng Tiểu Bình nhiều lần nhấn mạnh phải cách thể chế quản lý quyền lực quá tập trung, nỗ lực tinh giản bộ máy hành chính kinh tế các cấp, thực hiện phân cấp, phân công người phụ trách; nhấn mạnh giải quyết vấn đề đường lối tổ chức, tức là giải quyết vấn đề chế độ hưu trí và cơ cấu cồng kềnh, đẩy nhanh việc thực hiện “cách mạng hóa, trẻ hóa, tri thức hóa, chuyên môn hóa” đội ngũ cán bộ

Từ khi tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã tiến hành 02 lần cải cách tương đối lớn, tương đối tập trung về chế độ nhân sự vào các năm 1979 và 1993 Mấu chốt là kiện toàn chế độ tuyển chọn, đề bạt, ghi tên dự thi, sát hạch, luân chuyển cán bộ…, đặt ra những quy định khác nhau đối với từng loại cán bộ khác nhau; khái quát thành “ba chế độ, ba hệ thống” (ba chế độ là chế độ nhân sự phân

Trang 39

loại quản lý, chế độ tiền lương hợp lý khoa học, chế độ bảo hiểm xã hội nhiều tầng nấc; ba hệ thống là hệ thống quản lý nhân sự, hệ thống thị trường nhân tài và hệ thống pháp quy nhân sự) Đặc biệt, cuối tháng 7-1998, Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Bộ Nhân sự, Quốc vụ viện phối hợp ban hành văn

bản “Ý kiến về việc cơ quan Đảng và chính quyền thực hiện cạnh tranh giữ chức

vụ” Đây là một cải cách quan trọng về phương thức quản lý cán bộ của Đảng,

chuyển biến từ chỗ trực tiếp quản lý các bộ, ngành sang thông qua cơ chế và chế độ quản lý cán bộ Mặc dù, việc “cạnh tranh giữ chức vụ” còn cần tiếp tục hoàn thiện thêm để có thể hình thành một cơ chế và chế độ hợp lý, nhưng theo các nhà khoa học Trung Quốc việc thực hiện văn bản trên về lâu dài sẽ có lợi cho việc xóa bỏ cơ bản những tàn dư của chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa phong kiến trong đội ngũ cán

bộ Trung Quốc

4.2.2 Kết quả của cải cách (1978-2000)

Công khai trong công tác tuyển chọn, đề bạt: phát huy dân chủ, giữ vững

đường lối quần chúng là phương hướng cơ bản của nhiệm vụ cải cách chế độ cán bộ,

là một thứ “đặc sắc” chủ yếu của chế độ cán bộ đặc sắc Trung Quốc Tiến hành sửa đổi tình trạng “để một nhóm người tuyển chọn một người, tuyển chọn một người trong một nhóm người” Việc duy trì tiền đề Đảng quản lý cán bộ, duy trì nguyên tắc công khai, dân chủ, cạnh tranh, nhằm nâng cao khả năng quần chúng tham gia vào công tác cán bộ,…đã làm tăng một cách đáng kể tính khoa học trong công tác tuyển chọn, đề bạt cán bộ

Công khai tuyển chọn cán bộ lãnh đạo Việc tuyển chọn cán bộ lãnh đạo

không qua bầu cử phải áp dụng phương thức công khai chức vụ và điều kiện, kết hợp quần chúng đề cử với cá nhân ứng cử, kết hợp kiểm tra, sát hạch để công khai tuyển chọn đề bạt cán bộ trước mọi người Việc áp dụng phương thức tuyển chọn đề bạt cán bộ kiểu này ngày càng phát triển theo chiều rộng và chiều sâu Từ đề bạt cán

bộ lãnh đạo xí nghiệp, mở rộng đề bạt cả cán bộ lãnh đạo các cơ quan đảng và chính

Trang 40

quyền Từ đề bạt cán bộ lãnh đạo từ cấp huyện trở xuống, mở rộng đề bạt cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh

Việc tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo được chú trọng từ nguồn cán

bộ luân chuyển, đặc biệt là những cán bộ đã công tác ở các tỉnh chưa phát triển và các tỉnh miền Trung, miền Tây Điều đó khiến người ta liên tưởng ban đầu họ từng được “lên rừng, xuống núi”, đến với những vùng khó khăn để rèn luyện và trưởng thành Bởi những cán bộ có quá trình công tác như vậy phần lớn đều có tác phong

“gần dân” Ngày từ lúc đầu họ đã gắn với quần chúng, hòa mình với nhân dân, điều

này dễ giải thích vì sao không ít cán bộ cấp cao sau khi nhậm chức đã có ngay hành động “gần dân” đầu tiên như xuống thăm hỏi những công nhân viên chức bị mất việc làm, thất nghiệp Từ đó họ sẽ định ra những chính sách hợp lòng dân hơn và khả năng thực thi cao hơn như thế sẽ góp phần vào sự phát triển kinh tế, ổn định

chính trị, xã hội Thậm chí một số địa phương “chỉ tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ

lãnh đạo cấp huyện và xã từ nguồn cán bộ luân chuyển như tỉnh Vân Nam, Trung Quốc” [Báo Pháp luật TP.HCM: Trung Quốc: Đưa cán bộ về cơ sở]

Dân chủ nhận xét cán bộ lãnh đạo Dựa vào ý kiến của đa số quần chúng để

làm căn cứ bổ nhiệm cán bộ Trưởng đầu ngành phải được công khai lựa chọn, cấp

phó “vừa đề bạt vừa thi tuyển”, cán bộ thường phải thi đua phấn đấu vươn lên, tất

cả cán bộ đều phải nâng bậc, nâng cấp

Việc thi tuyển cán bộ lãnh đạo cũng được tập trung thực hiện Trước mắt, các biện pháp này mới áp dụng thí điểm cho cấp huyện tức chính phủ địa phương nhưng trong tương lai sẽ áp dụng cho các cơ quan trực thuộc Quốc vụ viện tức chính quyền trung ương Địa phương thực hiện đầu tiên trong cả nước là tỉnh Giang

Tô đã công khai thi tuyển Huyện trưởng huyện Bái, thuộc thành phố Từ Châu Nhờ thông báo thi tuyển công khai, tính đến cuối năm 1999 đã có hơn 2.000 người xuất thân từ nông dân được tuyển dụng vào làm công chức nhà nước [Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên 2009: 21] Đa số các ban ngành ở cơ quan Trung ương Đảng và Quốc vụ viện đã liên tục nhiều năm liền công khai tuyển chọn người vào

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w