Khái niệm không gian bao hàm trong nó nhiều vấn đề và khía cạnh khác nhau như: hình dáng, kích thước, chiều kích không gian, quan hệ không gian, v.v...Theo định hướng này, chúng tôi lựa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
LÊ THỊ THANH TÂM
CƠ SỞ TRI NHẬN CỦA HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT
(trên cứ liệu nhóm từ định hướng và nhóm từ
vị trí, có liên hệ với tiếng Nga)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh- đối chiếu
Mã số:62.22.01.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2011
Trang 2_
LÊ THỊ THANH TÂM
CƠ SỞ TRI NHẬN CỦA HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT
(trên cứ liệu nhóm từ định hướng và nhóm từ
vị trí, có liên hệ với tiếng Nga)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh- đối chiếu
Mã số:62.22.01.10
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÝ TOÀN THẮNG
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 3Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu riêng của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Lý Toàn Thắng Tất cả các số liệu, kết quả có nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 7
5.1 Phương pháp nghiên cứu 7
5.2 Nguồn ngữ liệu 8
6 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận án 8
6.1 Ý nghĩa khoa học 8
6.2 Đóng góp của luận án 9
7 Bố cục của luận án 10
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 12
1.1 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ 12
1.1.1 Nguyên nhân chuyển nghĩa 13
1.1.2 Các dạng chuyển nghĩa 14
1.1.3 Các phương thức chuyển nghĩa 15
1.1.4 Đa nghĩa 18
1.2 Chuyển nghĩa xét trong mối quan hệ bộ ba: ngôn ngữ - tri nhận - văn hóa……… 24
1.3 Hiện tượng chuyển nghĩa nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận 26
1.3.1 Quan điểm ngôn ngữ học tri nhận về chuyển nghĩa 26
1.3.2 Sơ đồ ý niệm (контцептyaльнaя cхeмя) 30
1.4 Sự tri nhận không gian và ngôn ngữ không gian 32
1.4.1 Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian 32
1.4.2 Ý niệm hóa và quá trình ý niệm hóa không gian 34
Trang 5tâm lý 40
1.4.5 Từ không gian của cơ thể người đến không gian của “cơ thể” vật 43
1.4.6 Định hướng không gian và bản đồ tri nhận không gian 44
Tiểu kết chương I 49
CHƯƠNG II: HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT 51
2.1 Khái quát về nhóm từ chỉ hướng không gian trong tiếng Việt 51
2.1.1 Đặc điểm của hai nhóm từ chỉ hướng không gian 52
2.1.2 Những quan hệ không gian được biểu thị bởi nhóm từ chỉ hướng 53
2.1.3 Hình thức phản ánh không gian 58
2.2 Sự chuyển nghĩa của nhóm các từ chỉ hướng không gian 61
2.2.1 Sự chuyển nghĩa của hai từ có hướng “ra, ngoài” 62
2.2.1.1 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ “ra” 62
2.2.1.2 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ “ngoài” 69
2.2.2 Sự chuyển nghĩa của hai từ chỉ hướng “vào, trong” 74
2.2.2.1 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ “vào” 74
2.2.2.2 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ “trong” 78
2.2.3 Sự chuyển nghĩa của hai từ chỉ hướng “lên, trên” 81
2.2.3.1 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ “lên” 81
2.2.3.2 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ “trên” 85
2.2.4 Sự chuyển nghĩa của hai từ chỉ hướng “xuống, dưới” 90
2.2.4.1 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ “xuống” 90
2.2.4.2 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của từ “dưới” 92
2.2.5 Sự chuyển nghĩa của từ chỉ hướng “ qua” 95
2.2.5.1 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của động từ “qua” 95
2.2.5.2 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của phụ từ và giới từ “qua” 97
Trang 62.2.7 Sự chuyển nghĩa của từ chỉ hướng “đi” 102
2.2.7.1 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của động từ “đi” 102
2.2.7.2 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của phụ từ “đi” 106
2.2.8 Sự chuyển nghĩa của từ chỉ hướng “về” 107
2.2.8.1 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của động từ “về” 107
2.2.8.2 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của phụ từ và giới từ “về” 110
2.2.9 Sự chuyển nghĩa của từ chỉ hướng “đến” 111
2.2.9.1 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của động từ “đến” 111
2.2.9.2 Nghĩa và hiện tượng chuyển nghĩa của phụ từ “đến” 114
Tiểu kết chương II 116
CHƯƠNG III: NHỮNG CƠ SỞ TRI NHẬN CỦA HIỆN TƯỢNG CHUYỂN NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT (trên ngữ liệu của nhóm từ chỉ hướng không gian và trong sự liên hệ với tiếng Nga) 120
3.1 Những cơ sở tri nhận của ẩn dụ ngôn từ 120
3.1.1 Ẩn dụ ngôn từ theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống 120
3.1.2 Ẩn dụ ngôn từ chỉ hướng 129
3.2 Chuyển nghĩa như một hiện tượng ý niệm 137
3.2.1 Phạm trù tỏa tia(Radial category) 139
3.2.2 Các lược đồ hình ảnh trong chuyển nghĩa 141
3.3 Cơ chế tri nhận của các ẩn dụ ý niệm về không gian 153
3.3.1 Ẩn dụ ý niệm 153
3.3.2 Ẩn dụ ý niệm về không gian 154
3.3.3 Ẩn dụ ý niệm về cấu trúc và bản thể không gian 160
3.3.4 Ẩn dụ ý niệm định hướng không gian 165
Tiểu kết chương III 172
KẾT LUẬN ……… 175
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở châu Âu, Humboldt, từ thế kỉ XVII đã đưa ra luận điểm “con người bị vây
kín trong cái vòng tròn ngôn ngữ huyền bí của tiếng mẹ đẻ của họ mà vốn tự nó đã
có một thế giới đặc thù ràng buộc tất cả những ai sử dụng nó” [dt.66, tr.24] Ở
Châu Mĩ, Boas, Sapir và Whorf cũng quan niệm:“nghiên cứu ngôn ngữ là một bộ
phận không thể tách rời của việc nghiên cứu tâm lí các dân tộc trên thế giới…ngôn ngữ là một địa hạt thuận lợi nhất để nghiên cứu các biểu tượng đạo lí” [dt.66,
tr.24] Như vậy, giữa ngôn ngữ, tư duy (rộng hơn là: tri nhận) và văn hóa luôn có mối quan hệ hết sức chặt chẽ và từ lâu đã được giới nghiên cứu khoa học rất quan tâm
Trong ngôn ngữ, mối quan hệ “bộ ba” này được biểu hiện ở nhiều đơn vị, nhiều cấp độ khác nhau, trong đó “từ” và “ý nghĩa của từ” là nơi thể hiện rõ nhất;
bởi vì theo lý thuyết phản ánh của Lênin, “từ” được hiểu là “kết quả phản ánh hiện
thực, nhưng là sự phản ánh đặc biệt qua ý thức của con người với tư cách là đại diện cho một cộng đồng văn hóa – ngôn ngữ nhất định” [dt.76, tr 24]
Qua ý nghĩa của từ nói chung cũng như qua hiện tượng chuyển nghĩa của từ nói riêng, chúng ta có thể thấy rằng: mỗi cộng đồng ngôn ngữ bên cạnh cái “phổ quát”, cái “chung”, còn có cái “đặc thù”, cái “riêng” trong cách chia cắt và phạm trù hoá hiện thực khách quan, trong cách tri giác về hiện thực khách quan đó
Trong số các điạ hạt mà ở đó chúng ta thấy rõ nhất mối quan giữa ngôn ngữ
và tri nhận – đó là không gian Khái niệm không gian bao hàm trong nó nhiều vấn
đề và khía cạnh khác nhau như: hình dáng, kích thước, chiều kích không gian, quan
hệ không gian, v.v Theo định hướng này, chúng tôi lựa chọn cho luận án của mình một trong những vấn đề đó là nghiên cứu mối quan giữa ngôn ngữ và tri nhận ở
hiện tượng chuyển nghĩa của các từ đa nghĩa, đi sâu vào nhóm các từ chỉ hướng không gian bao gồm hai nhóm: các từ chỉ sự chuyển động có hướng và phương
hướng trong không gian (ra - vào, lên - xuống, qua - lại) và nhóm các từ chỉ sự định hướng và phương vị trong không gian (trên - dưới, trước - sau, trong - ngoài)
Trang 8Đó là những nhóm từ mang tính phổ quát, tồn tại tất yếu trong nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Nga – là ngôn ngữ mà chúng tôi đối chiếu
Luận án đặc biệt chú ý tới cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận về hiện tượng đa nghĩa và chuyển nghĩa, cũng như tới cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận về ẩn dụ (một trong hai phương thức của hiện tượng chuyển nghĩa) vốn được
khởi xướng từ năm 1980, khi tác phẩm Metaphor we live by (Chúng ta sống nhờ ẩn
dụ) của G Lakoff và M Johnson [100] ra đời Ẩn dụ do đó không thể chỉ được xem
xét ở riêng phạm vi ngôn từ mà cả ở các phạm vi tư duy và hành động; trong đời sống thường nhật chúng ta không chỉ dùng các ẩn dụ được qui ước hóa và trừu tượng hóa mà còn dùng cả những ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) Hiện tượng chuyển nghĩa theo phép ẩn dụ, vì thế, được hiểu không phải và không phải chỉ là vấn đề “mở rộng ý nghĩa” từ một phạm trù này sang một phạm trù ở một trường khác và cốt lõi cũng không phải là vấn đề “ý nghĩa”, mà là vấn đề mở rộng “ý niệm” tương ứng vốn là cái chứa đựng sự hiểu biết đời thường hay tri thức khoa học của con người về thế giới
Đồng thời thông qua việc đối chiếu hiện tượng chuyển nghĩa từ vựng của nhóm từ chỉ không gian trong tiếng Việt và có liên hệ với tiếng Nga chúng tôi muốn góp phần làm rõ thêm lối tư duy, dấu ấn văn hóa của hai dân tộc
Vì những lý do nêu trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: Cơ sở tri nhận của
hiện tượng chuyển nghĩa tiếng Việt (trên cứ liệu của nhóm từ định hướng và
nhóm từ vị trí, có liên hệ với tiếng Nga) cho luận án này của mình
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa trên thế giới từ trước tới nay có thể tạm chia làm ba khuynh hướng chính:
Thứ nhất là khuynh hướng nghiên cứu theo logic học mà Paul là người khởi
xướng Những quan niệm của ông được thể hiện qua bảng phân loại logich học các hiện tượng chuyển nghĩa, trong đó chú ý so sánh nội dung khái niệm trước và sau khi biến đổi, đồng thời nêu lên mối quan hệ logich giữa chúng
Trang 9Thứ hai là khuynh hướng nghiên cứu theo tâm lý học mà đại diện là Wundt
Khuynh hướng này giải thích hiện tượng chuyển nghĩa căn cứ vào đặc trưng tâm lý
với phương châm “việc nghiên cứu sự chuyển nghĩa cuối cùng phải vĩnh viễn quy
thành nghiên cứu tâm lý”[dt.2, tr 4]
Thứ ba là khuynh hướng nghiên cứu theo lịch sử do Wellander đứng đầu
Những người theo khuynh hướng này quan niệm: “sự chuyển hóa ý nghĩa là một
quá trình lịch sử, chỉ khi nào nó được chứng thực trong quá trình thực tế trưởng thành của nó, quá trình này mới được trưởng thành một cách vừa ý”[dt.1, tr.50]
Với phương châm này, các nhà nghiên cứu chú trọng đi tìm sự trả lời cho câu hỏi là
ý nghĩa mới của từ nảy sinh như thế nào trong lịch sử Họ cho rằng kết quả của quá trình chuyển nghĩa được bảo lưu trong ý nghĩa mới của từ
Ngoài ba xu hướng này, còn có những tác giả khác đi theo một quan niệm về hiện tượng chuyển nghĩa có phần mang tính chiết trung hơn giữa ba nguyên tắc trên
và xác định từ giác độ của ngôn ngữ học Chẳng hạn, như các nhà nghiên cứu từ vựng – ngữ nghĩa học nổi tiếng ở Việt Nam: Nguyễn Văn Tu (1960, 1968, 1976),
Đỗ Hữu Châu (1962, 1981, 1986), Nguyễn Thiện Giáp (1975, 1985), …
Ngoài ra, còn có một số luận văn, luận án đã đề cập đến hiện tượng chuyển
nghĩa từ vựng nói chung, chẳng hạn, Nguyễn Nhã Bản (1973) viết về “ Tìm hiểu
hiện tượng chuyển nghĩa trong tiếng Việt”[2] Nguyễn Đức Tồn trong “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (trong sự so sánh với các dân tộc khác)”[79] đã nghiên cứu đặc điểm của quá trình chuyển nghĩa của từ
vựng chỉ động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người (có so sánh giữa tiếng Việt và tiếng Nga) Tác giả đã thống kê số lượng chuyển nghĩa, các phương thức chuyển nghĩa và có những kết luận nhất định về hiện tượng này Tiếp tục hướng nghiên cứu
đó, là những công trình nghiên cứu về từ vựng và trường từ vựng ngữ nghĩa như:
“Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật” của Nguyễn Thúy Khanh
[34], “Tâm lý văn hóa người Việt phản ánh trong sự chuyển nghĩa của từ” của Kỳ
Quảng Mưu [43]
Trong phạm vi nghiên cứu các từ chỉ không gian, Nguyễn Đức Dân (1992)
Trang 10viết về “Triết lý tiếng Việt: không gian – điểm nhìn và sự chuyển nghĩa của
từ”[13], đi vào nghiên cứu những quan hệ không gian của nhóm từ chỉ hướng
không gian Dư Ngọc Ngân [49] trong “Từ chỉ không gian thời gian khái quát trong
tiếng Việt (từ thế kỉ XV đến nay)” đã khảo sát, hệ thống hóa lớp từ chỉ không gian,
thời gian tiếng Việt Đặc biệt là Nguyễn Lai trong cuốn sách “Nhóm từ chỉ hướng
vận động tiếng Việt hiện đại”[37] đã đi sâu nghiên cứu sự phát triển nghĩa của
nhóm từ này đồng thời với sự phát triển nhận thức, tư duy của người Việt Tác giả
Lý Toàn Thắng [66] cũng có nhiều nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa, ông đã
so sánh hiện tượng chuyển nghĩa của một số từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt sang các từ chỉ bộ phận đồ vật và định vị không gian với các từ tương ứng trong tiếng Anh, thông qua nó để thấy được cách nhận thức về hiện thực của từng dân tộc
Những công trình này của các tác giả đi trước đã gợi ý cho chúng tôi rất nhiều trong việc nghiên cứu mối quan giữa ngôn ngữ và tri nhận ở hiện tượng chuyển nghĩa của các từ đa nghĩa, đi sâu vào nhóm các từ chỉ hướng không gian, so sánh hiện tượng chuyển nghĩa từ vựng trong tiếng Nga và tiếng Việt
Gần 20 năm qua, với sự ra đời và phát triển của ngôn ngữ học tri nhận đã xuất hiện những nghiên cứu mới về đa nghĩa và chuyển nghĩa Điểm nổi bật của các nhà ngôn ngữ học tri nhận là đã tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa nói riêng trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự tri giác của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người tri giác, ý niệm hóa và phạm trù hoá các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó Các nhà ngôn ngữ học tri nhận chỉ ra rằng:
a Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị, cơ chế ngôn ngữ chỉ
là một phần của cơ chế tri nhận phổ quát
b Ngữ nghĩa là sự ý niệm hóa Nguyên lí này nói lên cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận tới các phương diện của cấu trúc ý niệm như cấu trúc phạm trù,
tổ chức của các tri thức, cũng như quá trình ý niệm hóa ở các hiện tượng ngữ nghĩa từ vựng, như đa nghĩa, ẩn dụ và một số quan hệ từ vựng ngữ nghĩa khác
Trang 11c Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ sự sử dụng ngôn ngữ Ngôn ngữ học tri nhận định hướng vào sự sử dụng và người sử dụng ngôn ngữ, bao quát các bình diện chức năng, dụng học, tương tác và xã hội - văn hóa của ngôn ngữ trong sử dụng
Vào những năm 90, khi mà ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới đang phát triển mạnh, thì ở Việt Nam đã xuất hiện một số bài viết nghiên cứu về tiếng Việt theo phương pháp tiếp cận đó của tác giả Lý Toàn Thắng, đầu tiên năm 1994 với
bài “Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian” mở ra một cái nhìn mới về một số vấn đề
ngữ nghĩa của các từ chỉ không gian Tác giả đã đưa ra một phương hướng nghiên cứu phạm trù không gian trong tiếng Việt rất mới như: định hướng không gian, các bản đồ tri nhận không gian,…từ đó, khái quát về mô hình không gian và cách tri
nhận không gian của người Việt Nam Năm 2001, Lý Toàn Thắng lại cho đăng bài
“Sự hình dung không gian trong ngôn ngữ của loại từ và danh từ chỉ đơn vị”, nêu
lên cách thức mà người Việt dùng các loại từ để mô tả các thuộc tính không gian của vật thể và từ đó xếp loại chúng Trên cơ sở đó có thể suy đoán về một cách thức riêng của tiếng Việt trong việc ý niệm hóa, phân loại và mô tả thế giới khách quan, một vấn đề đang rất được chú ý dưới ảnh hưởng của trào lưu ngôn ngữ học tri nhận
Đặc biệt là công trình “Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn
tiếng Việt” (2005) của tác giả Lý Toàn Thắng [70] đã có những đóng góp không
nhỏ trong việc nhận diện và trình bày một cái nhìn bao quát về sự tri nhận không gian nói chung và cách thức tri không gian của người Việt nói riêng, trong so sánh với các dân tộc khác
Cùng với Lý Toàn Thắng còn có tác giả Trần Văn Cơ viết về những vấn đề
chung của ngôn ngữ học tri nhận:“Ngôn ngữ học tri nhận: Ghi chép và suy ngẫm”
(2007) [5], đặc biệt là ông đi sâu vào ẩn dụ ý niệm (mà ông gọi là: ẩn dụ tri nhận)
trong cuốn “Khảo luận - Ẩn dụ tri nhận” (2009) [6]
Bên cạnh những cuốn sách có nhiều đóng góp về mặt lí luận và thực tiễn nói trên, còn có khá nhiều bài báo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ quan tâm đến những
vấn đề của ngôn ngữ học tri nhận như:“Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tri nhận của
người Anh và người Việt” của Dương Thị Nụ [47], “Tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt từ
Trang 12góc độ ngôn ngữ học tri nhận” của Võ Thị Dung [16], “Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận” của Nguyễn Ngọc Vũ [85], “Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (Qua các cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt)” của Phan Thế Hưng [31],…
Song cho đến nay vẫn chưa có luận văn, luận án nào nghiên cứu chuyên sâu
và toàn diện về hiện tượng chuyển nghĩa nói chung và phép ẩn dụ nói riêng theo quan niệm ngôn ngữ học tri nhận như một công trình độc lập, chi tiết; nhất là có
liên hệ đối chiếu với tiếng Nga
Do đó mà như đã nói ở trên, luận án đã lựa chọn để triển khai nghiên cứu đề
tài về “Cơ sở tri nhận của hiện tượng chuyển nghĩa tiếng Việt (trên cứ liệu của
nhóm từ định hướng và nhóm t ừ vị trí , có liên hệ với tiếng Nga)” Luận án sẽ, một
mặt, xem xét lại những vấn đề về chuyển nghĩa theo truyền thống của ngôn ngữ học và mặt khác, đặt ra những vấn đề mới chưa được nói đến, dựa theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận như là vấn đề về mối tương quan giữa ngữ nghĩa và thực tại khách
quan, vấn đề không gian ngoài ngôn ngữ được “phóng chiếu” vào trong ngữ nghĩa của các ngôn ngữ tự nhiên và “bức tranh thế giới” (hay “thế giới được phóng chiếu”) về
không gian được thể hiện trong ngôn ngữ là khác biệt với không gian trong thế giới thực v.v…Bởi vì trong các cấu trúc và quá trình tri nhận - mà trong đó ngôn ngữ chỉ là một trong số đó, đều có phản ánh một “lối nghĩ riêng” của cộng đồng bản ngữ về các sự vật và sự tình của thế giới hiện thực vốn cho ta thấy có những giới hạn và ràng buộc của văn hóa đối với lối nghĩ ấy Đây chính là tư tưởng chủ đạo mà luận
án dựa vào để từ đó trình bày về những cơ sở tri nhận trong sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ hướng không gian trên ngữ liệu của nhóm từ chỉ hướng không gian tiếng Việt có liên hệ với tiếng Nga
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là tìm hiểu hiện tượng chuyển nghĩa từ
vựng của các từ chỉ sự chuyển động có hướng và phương hướng trong không gian
(ra - vào, lên - xuống, qua - lại) và của các từ chỉ sự định hướng(orientation) và
phương vị trong không gian (trên - dưới, trước - sau, trong - ngoài), trên cơ sở mối
Trang 13quan hệ giữa ngôn ngữ và tri nhận, và có đối chiếu với tiếng Nga
Mục tiêu cụ thể của luận án:
1 - Tìm hiểu những quan điểm ngôn ngữ học truyền thống và quan điểm
ngôn ngữ học tri nhận về đa nghĩa, chuyển nghĩa, các quy luật phát triển nghĩa, khả
năng chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ hướng không gian
2 - Khảo sát nghĩa, sự chuyển nghĩa và các kết hợp của các từ chỉ sự chuyển
động có hướng và phương hướng trong không gian (ra - vào, lên - xuống, qua - lại)
và của các từ chỉ sự định hướng và phương vị trong không gian (trên - dưới, trước -
sau, trong - ngoài )
3 - Tìm hiểu cơ sở và những đặc trưng tri nhận trong sự chuyển nghĩa và
cách dùng của nhóm từ chỉ hướng không gian trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng
Nga) Tìm ra được những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thức tri nhận không gian của người Nga và người Việt qua mối quan hệ giữa tư duy, ý thức
và ngôn ngữ
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là: những cơ sở tri nhận qua hiện tượng chuyển nghĩa từ vựng của nhóm từ chỉ hướng không gian trong tiếng Việt bao gồm hai nhóm
nhỏ: các từ chỉ sự chuyển động có hướng và phương hướng trong không gian (ra -
vào, lên - xuống, qua - lại), nhóm từ chỉ sự định hướng và phương vị trong không
gian (trên - dưới, trước - sau, trong - ngoài) có liên hệ, đối chiếu với tiếng Nga
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được tiến hành trên cơ sở áp dụng các phương pháp phổ biến trong
nghiên cứu ngôn ngữ như: phương pháp miêu tả, phương pháp thống kê, phương
pháp đối chiếu, phương pháp phân tích ngữ nghĩa Luận án thực hiện bằng cách kết
hợp giữa phân tích miêu tả định tính lẫn định lượng Phương pháp miêu tả giúp luận
án nêu lên được các nghĩa khác nhau của từ không chỉ trong từ điển mà còn trong các văn bản nghệ thuật, sách, báo,… từ thực tiễn Phương pháp miêu tả còn là cách
Trang 14thức nêu ra cụ thể các nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, nghĩa chuyển của từ Phương pháp đối chiếu là cách thức giúp luận án tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa tiếng Việt và tiếng Nga của nhóm từ đang xét Phương pháp phân tích ngữ nghĩa được sử dụng để phân tích nghĩa của các từ trong nhóm đối tượng khảo sát Qua khảo sát nhóm từ chỉ hướng không gian tiếng Việt và tiếng Nga chúng tôi có xem xét thống kê tỉ lệ sử dụng ở hai phạm vi chức năng động từ và chức năng ngoài động từ của nhóm từ này
5.2 Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu được lấy từ các tác phẩm văn học đương đại, các báo, tạp chí
và các sách chuyên luận, sách tham khảo, các từ điển tường giải tiếng Việt, từ điển tường giải tiếng Nga, từ điển Việt - Nga, từ điển Nga - Việt, …
Từ định hướng nghiên cứu đặt ra, chúng tôi thu thập các cứ liệu trong từ điển, sách, báo, để phân tích các nét nghĩa, các mối liên hệ ngữ nghĩa của chúng thông qua hiện tượng đa nghĩa, so sánh từng cặp các từ chỉ hướng, chỉ vị trí, xem xét các hiện tượng mở rộng nghĩa, chuyển nghĩa, các mối tương quan trong các cấu trúc so sánh của nhóm từ được mang ra khảo sát Sau đó tiến hành so sánh với những dạng thức tương đương trong tiếng Nga, tìm ra những điểm tương đồng dị
biệt giữa tiếng Việt và tiếng Nga
6 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận án
Giải quyết thấu đáo những nhiệm vụ đề ra, luận án có những ý nghĩa nhất định đối với lí luận và thực tiễn của ngôn ngữ học:
6.1 Ý nghĩa khoa học
Về lí luận
Kết quả của luận án sẽ góp thêm vào công việc nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa trong ngôn ngữ học hiện thời, cung cấp thêm khía cạnh lý luận mới về hiện tượng chuyển nghĩa của các từ chỉ sự chuyển động có hướng và phương hướng trong không gian và của các từ chỉ sự định hướng và phương vị trong không gian
Kết quả đạt được của luận án cũng sẽ góp phần thẩm định thêm đối với giả
Trang 15thuyết Sapir – Whorf về mối quan hệ hữu cơ giữa tri nhận, văn hóa, và ngôn ngữ Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng góp phần thẩm định lý thuyết về hiện tượng đa nghĩa, đồng âm và chuyển nghĩa từ vựng của các nhà ngữ nghĩa học từ vựng
Ngoài ra, hiện nay do nhu cầu học tập và giao lưu văn hóa với các nước nói tiếng Nga ở Việt Nam, ngành ngôn ngữ học đối chiếu đang thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều trong giới nghiên cứu Việc bắt buộc giảng dạy bộ môn ngôn ngữ học so sánh đối chiếu cho tất cả sinh viên chuyên ngữ ở các trường đại học từ năm
2007 cho thấy vai trò quan trọng của ngành học này trong tình hình mới Bên cạnh
đó, bộ môn ngôn ngữ học tri nhận cũng đang được đưa vào giảng dạy cho sinh viên Ngữ văn của các trường đại học Tuy nhiên, các Giáo trình phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận của sinh viên Việt Nam hiện nay còn rất thiếu, vẫn chủ yếu chỉ là nguồn từ tiếng Anh, tiếng Nga hoặc tài liệu dịch Như vậy,
về mặt khoa học, luận án hy vọng sẽ làm phong phú thêm kho tàng lí luận ngôn ngữ học so sánh đối chiếu và cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam
Về thực tiễn
Việc giải quyết các vấn đề được đặt ra trong luận án đề xuất những ứng dụng
cơ bản cho việc dạy tiếng Nga cho người Việt, dạy tiếng Việt cho người Nga, đặc biệt là về hiện tượng chuyển nghĩa của các từ ngữ chỉ không gian Những kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể được sử dụng khi biên soạn từ điển Nga – Việt, Việt – Nga, thậm chí là cả từ điển giải thích tiếng Nga hay tiếng Việt Ngoài ra, công việc dịch thuật giữa hai ngôn ngữ Nga, Việt cũng có thể vận dụng những kết quả nghiên cứu này để chuyển ngữ một cách sinh động và chính xác, phù hợp với
văn hóa của ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn
6.2 Đóng góp của luận án
Thực hiện được những nhiệm vụ đã đề ra, luận án sẽ có đóng góp nhất định vào việc phân tích các đặc điểm chuyển nghĩa từ vựng của nhóm từ chỉ hướng không gian trên cơ sở mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và tri nhận, cung cấp thêm những nhận xét, những dữ liệu về hiện tượng chuyển nghĩa này trên cơ sở lý luận mới của
Trang 16ngôn ngữ học tri nhận và trên ngữ liệu của các từ chỉ sự chuyển động có hướng và phương hướng trong không gian và của các từ chỉ sự định hướng và phương vị trong không gian Luận án có thể góp phần làm phong phú thêm các lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu và bổ sung thêm tư liệu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận
Về thực tiễn, với cách tiếp cận chuyên sâu vào hiện tượng chuyển nghĩa của những từ chỉ hướng không gian và có sự liên hệ so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ Việt – Nga, việc phân tích cặn kẽ các nét nghĩa của một nhóm từ cụ thể cũng sẽ giúp cho người dạy và người học tiếng có cái nhìn cụ thể hơn khi sử dụng nhóm từ này trong ngôn cảnh, sử dụng chúng tốt hơn, đa dạng hơn, tinh tế hơn, đạt hiệu quả giao tiếp cao Mặt khác, các kết quả so sánh đối chiếu hai ngôn ngữ Việt – Nga sẽ giúp làm sáng tỏ hơn những đặc thù về tri nhận, về văn hóa của người sử dụng hai ngôn ngữ này
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục, danh mục sách tham khảo
và nguồn tư liệu trích dẫn, luận án gồm ba chương sau đây:
Chương 1 : Cơ sở lý thuyết
Chương này chúng tôi trình bày một số vấn đề lí luận cơ bản liên quan đến đề tài: Hiện tượng chuyển nghĩa của từ tiếng Việt, các phương thức chuyển nghĩa,… xét trong mối quan hệ bộ ba “ngôn ngữ - tri nhận - văn hóa”, sự chuyển nghĩa nhìn
từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, và những cơ sở tri nhận của cách dùng các từ chỉ không gian như: ý niệm hóa và quá trình ý niệm hóa không gian, nguyên lí: “dĩ nhân
vi trung”, định hướng không gian và bản đồ tri nhận không gian v.v
Chương 2 : Hiện tượng chuyển nghĩa trong tiếng Việt (trên ngữ liệu
nhóm từ chỉ hướng không gian và có liên hệ với tiếng Nga)
Chương này chúng tôi tập trung khảo sát miêu tả sự chuyển nghĩa và cách
dùng của nhóm từ định hướng (ra - vào, lên - xuống, qua - lại, đi - về,… và nhóm
từ vị trí không gian: (trên - dưới, trước - sau, trong - ngoài) trong tiếng Việt, song
song với việc khảo sát ngữ nghĩa đó chúng tôi tiến hành đối chiếu nhằm chỉ ra sự
Trang 17tương đồng và khác biệt trong khả năng chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ hướng không gian tiếng Việt và tiếng Nga, qua đó tìm hiểu sự tri nhận không gian của người Nga và người Việt
Chương 3: Những cơ sở tri nhận của phép ẩn dụ trong tiếng Việt (trên ngữ liệu của nhóm từ chỉ hướng không gian và có liên hệ với tiếng Nga)
Trong chương này chúng tôi sẽ đi sâu vào những cơ sở tri nhận ẩn chứa trong hiện tượng chuyển nghĩa theo phép ẩn dụ của nhóm từ chỉ hướng không gian trong tiếng Việt và có liên hệ với nhóm từ tương đương của tiếng Nga Cụ thể là
những cơ sở tri nhận trong phép ẩn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học truyền thống
và theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận hiện đại - tức là các ẩn dụ ý niệm Từ đó
tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau trong cơ chế, cách thức tri nhận không
gian của người Nga và người Việt
Trang 18CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Chuyển nghĩa từ vựng là một hiện tượng ngôn ngữ phổ quát trong các ngôn
ngữ Chuyển nghĩa theo Từ điển tiếng Việt [89, tr.188] là “Chuyển sang một nghĩa
mới, ít nhiều vẫn còn mối liên hệ với nghĩa trước” và “Chuyển biến ý nghĩa là một phương thức để tạo thêm từ mới bên cạnh các phương thức ghép hoặc láy” [7, tr.27]
Sự chuyển nghĩa từ vựng có thể làm cho ý nghĩa của từ mở rộng ra hoặc thu hẹp lại Nói nghĩa của từ “mở rộng” tức là nói tính khái quát của nó tăng lên, các nét nghĩa cụ thể, quy định phạm vi biểu vật bị loại bỏ hay mờ nhạt đi Nói cách khác, sự
mở rộng ý nghĩa là hậu quả của hiện tượng tăng thêm các ý nghĩa biểu vật của từ
Và sự thu hẹp ý nghĩa của từ đi kèm với sự cụ thể hóa ý nghĩa, đi kèm với việc tăng
thêm những nét nghĩa cụ thể, quy định phạm vi biểu vật của từ
Mở rộng ý nghĩa là một quá trình phát triển ý nghĩa từ cái riêng đến cái
chung, từ cái cụ thể đến cái trừu tượng Ví dụ: từ ra nghĩa ban đầu “biểu thị sự dời
chỗ có hướng” dùng ở lĩnh vực chỉ mối quan hệ không gian, nhưng về sau ra đã
được dùng rộng rãi ở nhiều phạm vi và nhiều lĩnh vực khác, thí dụ như chỉ kết quả
quá trình thay đổi về hình thức: thon ra, đẹp ra, béo ra,…hay đánh giá theo thang
độ như: trắng ra, đỏ ra, dài ra, to ra v.v…
Trong sự chuyển biến ý nghĩa, bình thường nghĩa biểu vật “ít nhiều vẫn còn
mối liên hệ với nghĩa trước” [89, tr.188], nhưng cũng có khi nghĩa biểu vật đầu tiên
không còn nữa, chúng ta đã quên đi, như nghĩa “bên phải bên trái” của từ đăm
chiêu; nghĩa “cái búa để điều khiển voi” của từ vố; nghĩa “không tiền, không tài
sản” của từ ngặt; nghĩa “ở tình thế nguy hiểm, quẫn bách, có thể nguy hiểm” của từ
nghèo
Hiện tượng chuyển nghĩa từ vựng trong đó việc mở rộng và thu hẹp ý nghĩa không nhất thiết làm cho ý nghĩa cũ mất đi mà có khi cả hai nghĩa - nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới - cùng tồn tại, tạo nên tính đa nghĩa của một từ Những người bản ngữ
Trang 19bình thường nhiều khi khó nhận biết hay khó khẳng định nghĩa nào là nghĩa đầu tiên của từ
Hiện tượng mở rộng nghĩa và thu hẹp ý nghĩa có khi xảy ra đối với cùng một
từ và đôi khi lại là kết quả của một quá trình khái quát hóa, trừu tượng hóa Quá trình chuyển nghĩa thứ hai diễn ra theo qui luật ẩn dụ và hoán dụ Sự hình thành các
từ mới dựa trên những từ vốn có được thể hiện bằng các phương thức chuyển nghĩa này
1.1.1 Nguyên nhân chuyển nghĩa
Sự chuyển biến ý nghĩa của từ xảy ra do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, bên trong và bên ngoài khác nhau như: sự phát triển không ngừng của thực tế khách quan, nhận thức của con người thay đổi, hiện tựơng kiêng cữ, sự phát triển và biến đổi của hệ thống ngôn ngữ,
Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng hơn cả là nhu cầu giao tiếp của con người Những nhu cầu về mặt trí tuệ và những nhu cầu về mặt tu từ buộc ngôn ngữ phải luôn thay đổi và sáng tạo để biểu thị những sự vật, hiện tượng cùng những nhận thức mới, để thay thế cách diễn đạt, những tên gọi cũ đã mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa Thay đổi ý nghĩa của từ có sẵn, thổi vào chúng một luồng sinh khí mới là một biện pháp tiết kiệm, sống động, giàu tính dân tộc, dễ dàng được sự chấp nhận của nhân dân, đáp ứng được kịp thời nhu cầu của giao tiếp
Nguyên nhân tiếp theo là sự biến đổi không ngừng của đời sống xã hội Qua quá trình đấu tranh lâu dài với thiên nhiên và xã hội, con người đã làm cho xã hội ngày càng văn minh, đời sống ngày càng trở nên phong phú, tế nhị Những cái mới nảy sinh trong thiên nhiên, xã hội và con người đòi hỏi phải được biểu hiện Trong khi đó người ta không thể tăng vốn từ của mình lên mãi Điều này tất yếu sẽ dẫn tới phải phát triển thêm các nghĩa mới của từ thể hiện phương thức diễn đạt
Đồng thời với sự phát triển của xã hội, nhận thức của con người cũng ngày một nâng cao Vẫn những sự vật, hiện tượng hay quan hệ ấy nhưng càng ngày người ta càng nhận thức sâu sắc hơn Nhiều thuộc tính của sự vật trước đây bị che
Trang 20mờ thì bây giờ được phát hiện Do đó, ý nghĩa không thể không thay đổi với sự phát triển của nhận thức, suy nghĩ về sự vật
Sự phát triển của hệ thống ngôn ngữ cũng ảnh hưởng tới kết cấu ý nghĩa của
từ, với tư cách là nhân tố bên trong Với thời gian, ngôn ngữ đã được bổ sung thêm nhiều yếu tố mới, đồng thời yếu tố cũ bị đào thải Do đó, mối quan hệ giữa các từ trong ngôn ngữ cùng với kết cấu chung của nó cũng bị thay đổi Điều này cũng có thể làm cho từ có thêm nghĩa mới.
Những nguyên nhân trên là động lực làm cho các từ phát triển thêm nghĩa mới, còn bản thân quá trình phát triển thêm ý nghĩa mới của từ lại gắn liền với hiện
tượng chuyển nghĩa
1.1.2 Các dạng chuyển nghĩa
Hiện tượng chuyển nghĩa từ vựng có thể xảy ra dưới những dạng khác nhau:
a Dạng “móc xích”
Giữa nghĩa đầu tiên với các nghĩa mới có thể diễn ra sự biến đổi theo kiểu
“móc xích”, nghĩa đầu tiên chuyển sang nghĩa S 1, từ S1 chuyển sang S2, từ S2
chuyển sang nghĩa S3, v.v…
b Dạng “toả” ra
Các trường hợp của từ chuyển biến theo lối “tỏa” ra nghĩa là các nghĩa mới
đều dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện Mối liên hệ giữa nghĩa đầu tiên với những nghĩa xuất hiện sau có khi còn thấy rõ nhờ nét nghĩa cơ sở Song có khi mối liên hệ này đã bị đứt quãng, lúc này, từ vốn là một, nhưng đã tách ra thành hai từ đồng âm Như thế, lúc này sự chuyển biến ý nghĩa cũng là một phương thức để tạo thêm từ mới bên cạnh các phương thức ghép hoặc láy
c Mối quan hệ giữa các ý nghĩa
Các từ có ý nghĩa biểu vật cùng thuộc một phạm vi hoặc có ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng giống nhau
Ví dụ: từ mũi là từ chỉ bộ phận cơ thể, được chuyển sang phạm vi đồ vật, vật thể địa
lý, chỉ bộ phận của các đối tượng này Những từ khác cũng chỉ bộ phận cơ thể như:
cổ, chân, sườn, mặt, lòng…đều có khả năng chuyển sang phạm vi đồ vật, vật thể địa
Trang 21lý… chỉ bộ phận của chúng Ta có: mũi dao, mũi đất, thì cũng có cổ áo, cổ chai;
chân giường, chân tủ; sườn núi, sườn đồi; mặt bàn, mặt biển; lòng sông, lòng hồ v.v…
Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là ý nghĩa sau khác hẳn với nghĩa trước Thậm chí ngay cùng một từ, sự chuyển nghĩa có thể khiến cho nó trở thành
đồng nghĩa với cái từ trái nghĩa trước kia của nó
Khi các nghĩa chuyển còn liên hệ với nhau, sự chuyển nghĩa có thể làm cho ý
nghĩa của từ mở rộng ra hoặc thu hẹp lại Tác giả Đỗ Hữu Châu nhận định: “từ (đơn
hoặc phức) lúc mới xuất hiện đều có một nghĩa biểu vật Sau một thời gian được sử dụng, nó có thể có thêm nhiều nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi” [7, tr.146]
Chẳng hạn mối quan hệ giữa các ý nghĩa biểu vật của từ đi Phân tích cách nói đi
học? đi làm? ta thấy đi học, đi làm có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là chỉ những hành
động cụ thể dời chỗ hằng ngày để đến chỗ học hoặc làm việc, thứ hai là nghĩa miêu
tả sự bắt đầu tham gia một hoạt động có tính chất nghề nghiệp trong xã hội Với nét nghĩa “dời chỗ không cách thức, theo hướng xa rời vị trí gốc” Ở nghĩa này, nét
nghĩa thứ nhất vẫn là nét nghĩa chi phối Trong các phát ngôn: “Tuổi lên bảy là tuổi
đi học”, “Sau ba tháng nghỉ cô ấy mới đi làm hôm qua” là đều hàm ý rời bỏ tình
trạng gốc “tuổi ấu thơ vô tư lự”, hay “tình trạng nghỉ ngơi”, hoặc “tình trạng chưa
có việc làm”…Hay trong các cách diễn đạt chúng ta vẫn thường dùng hàng ngày
như: “gầy đi”, “xấu đi”, “đen đi” (chứ không nói “béo đi”,“đẹp đi”), chúng ta nói
như vậy là vì trong cách nói đó vẫn hàm ý “rời bỏ trạng thái gốc” vốn là trạng thái
được xem là tích cực (béo hoặc khỏe mạnh, đẹp hoặc trắng trẻo…) Cái nghĩa hàm
ý một sự mất mát, không còn như lúc ban đầu cũng hiện hữu trong cách dùng “Ông
cụ đã đi hôm qua”
1.1.3 Các phương thức chuyển nghĩa
Xem xét đến hiện tượng chuyển nghĩa của từ không chỉ là việc tiến hành phân tích các hiện tượng liên quan như: đồng âm, đa nghĩa, đồng nghĩa, v.v mà còn
là việc xem xét các quy luật phát triển nghĩa của từ trong quá trình sử dụng Sự phát
triển nghĩa này của từ dựa vào hai quy luật:
Trang 221 Quy luật logic, gồm mở rộng và thu hẹp nghĩa
2 Quy luật liên tưởng, gồm ẩn dụ và hoán dụ
Liên quan đến đề tài luận án, chúng tôi sẽ xem xét kỹ những vấn đề sau:
a Mở rộng nghĩa: Đối với các từ chỉ hướng không gian, đây là con đường
chuyển nghĩa chính theo logic Chẳng hạn, hồ có nghĩa đầu tiên là: “bột quấy đặc để
ăn”, nhưng giờ đây từ này được dùng phổ biến với nghĩa là “bột quấy đặc để dán” Việc thu hẹp – mở rộng nghĩa còn được xem xét ở phạm vi các nghĩa trong từ nhiều
nghĩa Ví dụ: chân trong cách dùng chân bàn, chân đồi… dường như ta đã loại bỏ
nét nghĩa “chi dưới của động vật hoặc người”
b Ẩn dụ: Đối với các từ chỉ hướng không gian, đây là con đường chuyển
nghĩa chính theo liên tưởng Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật, hiện tượng khác dựa trên sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau Thực chất của ẩn dụ cũng như hoán dụ là sự chuyển biến từ ý nghĩa sở thị này sang ý nghĩa sở thị khác, từ ý nghĩa sở biểu này sang ý nghĩa sở biểu khác Nếu là chuyển biến nghĩa sở thị thì giữa các nghĩa sở thị vẫn có sự đồng nhất với nhau ở các nét nghĩa
trong cấu trúc nghĩa sở biểu của chúng Ví dụ: trong tiếng Nga, từ гнездо có nghĩa
là: “tổ chim”, “nhóm (người)”, “cụm (nấm)”, “ổ (gián điệp)”, “ụ (súng máy)”,
v.v…Những đối tượng mà гнездо biểu thị rất khác nhau nhưng giữa chúng đều có một điểm chung là “chỗ chứa”
Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa trên mối liên tưởng tương đồng Có thể diễn giải định nghĩa này như sau: Giả sử ta có từ T là tên gọi của đối tượng Đ1(và lẽ đương nhiên T có nghĩa S1) Khi cần gọi tên cho một đối tượng Đ2 nào đó, mà người ta thấy giữa Đ1 và Đ2 có những nét, những mặt nào đó giống nhau, người ta
có thể dùng T để gọi tên cho cả Đ2 Lúc này, một nghĩa S2 tương ứng được xác lập trong T Chúng ta nói rằng ở đây đã diễn ra một phép ẩn dụ Hoặc có thể nêu khái niệm ẩn dụ từ vựng như sau: Cho A là một hình thức ngữ âm, x và y là những nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của x (x là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn
dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi tên y (biểu thị y) thông qua sự giống
Trang 23nhau giữa x và y
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt” [21] đã phân
chia ẩn dụ từ vựng trên tính chất của sự giống nhau Kết quả là có những loại ẩn dụ dựa trên những sự tương đồng về:
- Hình thức: (lá- lá phổi);
- Màu sắc: (lá cây- màu xanh lá cây);
- Chức năng (huyết mạch- con đường huyết mạch);
- Thuộc tính, tính chất (khô – tình cảm khô khan, tình cảm ướt át);
- Đặc điểm, vẻ ngoài nào đó (Hoạn Thư – máu Hoạn Thư);
- Ẩn dụ cụ thể trừu tượng (nắm tay – nắm công thức);
- Chuyển tên các con vật thành cách gọi con người (cún con, chó con – cún
con của mẹ);
- Chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng khác (con tàu
chạy, thời gian đi)
Dựa trên nhiều tiêu chí, Đỗ Hữu Châu [9] phân chia thành các kiểu ẩn dụ từ vựng khác nhau:
Thứ nhất, tùy theo x và y là các sự vật cụ thể (có thể cảm nhận bằng giác
quan) hay trừu tượng mà ẩn dụ được chia thành ẩn dụ cụ thể - cụ thể (miệng người
– miệng chén), ẩn dụ cụ thể - trừu tượng (con đường – con đường tiến lên chủ
nghĩa xã hội)
Thứ hai, quan trọng hơn là phân biệt cơ chế ẩn dụ theo nét nghĩa phạm trù
dựa vào đó mà xuất hiện ẩn dụ Theo đó có các kiểu ẩn dụ sau:
+ Ẩn dụ hình thức, tức là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức,
ví dụ: mắt - mắt nai;
+ Ẩn dụ vị trí, tức là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về vị trí giữa các sự
vật xét trong chỉnh thể sự vật, ví dụ đầu – đầu làng, đầu giường,…;
+ Ẩn dụ cách thức, tức là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức
Trang 24thực hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng như cắt hộ khẩu, nắm vấn đề;
+ Ẩn dụ chức năng, tức là dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự
vật, chẳng hạn gốc cây – gốc của vấn đề;
+ Ẩn dụ kết quả, tức là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của
các sự vật đối với con người, ví dụ ẩn dụ ấn tượng nặng nề Trong ẩn dụ kết quả có
một loại ẩn dụ đặc biệt, đó là những ẩn dụ dùng tên gọi của những cảm giác thuộc giác quan này để gọi tên những cảm giác thuộc giác quan khác hay những “cảm
giác” của trí tuệ, tình cảm như chua, ngọt, mặn, cay, chát…là những cảm giác thuộc
vị giác được dùng để gọi những cảm giác thính giác như: giọng nói chua loét, lời
nói ngọt ngào, bị nói cay quá… (có thể gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác)
Các hiện tượng chuyển nghĩa không phải tất cả đều có thể giải thích bằng phương thức ẩn dụ và phương thức hoán dụ, vì từ vựng là một hệ thống chịu chi phối bởi những quy luật ngôn ngữ khác nhau Một trong những quy luật chi phối sự biến đổi nghĩa của từ vựng tiếng Việt là phương thức dùng từ đồng nghĩa Tác giả
Đỗ Hữu Châu cho rằng: “…theo quy luật này, một sự vật, hiện tượng, hoạt động,
tính chất … khi trở thành ý nghĩa của từ, thì thường được phân hóa thành một số ý nghĩa biểu vật, tuy có cấu trúc biểu niệm giống nhau nhưng có chứa một vài nét nghĩa nào đó khác nhau, tức trở thành những đồng nghĩa khác nhau về sắc thái biểu hiện.” [7, tr.168]
nhau của một từ ông nhận xét “các nghĩa biểu vật trong một từ nhiều nghĩa chia
thành từng nhóm, mỗi nhóm thường xoay quanh một cấu trúc biểu niệm nào đó” [7,
Trang 25tr.140] Tác giả Nguyễn Thiện Giáp [21] lại cho rằng hiện tượng đa nghĩa từ vựng của tiếng Việt chỉ có hai kiểu sau đây:
1 Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa hoạt động tự do;
2 Hiện tượng đa nghĩa của các từ độc lập về nghĩa hoạt động hạn chế
Ở Việt Nam trong những nghiên cứu ngữ nghĩa học - từ vựng tiền tri nhận, các nhà nghiên cứu đều cho ra rằng: hiện tượng “đa nghĩa” (hay: “nhiều nghĩa”) là kết
quả của sự “chuyển biến” ý nghĩa của từ Trong đa nghĩa có sự phân biệt giữa
“nghĩa chính” (nghĩa cơ bản/ cơ sở), “nghĩa gốc”, “nghĩa đen” - từ đó mà “móc xích” ra hay “tỏa” ra các nghĩa mới, xuất hiện sau, tức các “nghĩa phụ”, “nghĩa chuyển”, “nghĩa bóng”
Ở nước ngoài nhà ngữ nghĩa học nổi tiếng S Ullman từ lâu đã nhận định:
“Đa nghĩa là một phổ quát ngữ nghĩa, có cội nguồn sâu xa trong cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ Nếu không như thế thì khó mà hình dung ra được là chúng ta sẽ phải lưu giữ trong óc chúng ta một khối lượng vốn từ kinh khủng gắn với các tên gọi cho từng hiện tượng mà chúng ta cần phải nói đến” (1970, tr.167) [dt70] Các tác giả
khác gần đây như M A Cтеpнина cho rằng: “Hiện tượng đa nghĩa là do tác động
của quy luật về tính nhị phân của tín hiệu ngôn ngữ: cái biểu đạt và cái được biểu đạt đều cố gắng ra khỏi những “khuôn khổ” bị quy định của mình, cái biểu đạt cố gắng có chức năng mới khác với chức năng đã có; cái được biểu đạt cố gắng có được phương tiện biểu đạt khác với tín hiệu đã có của mình” [138, tr.6]
So với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, hiện tượng đa nghĩa trong tiếng Việt có những đặc điểm riêng Để biểu thị những sự vật, hiện tượng hoặc khái niệm mới ra đời, tiếng Việt có thiên hướng cấu tạo các đơn vị từ vựng mới theo kiểu kết hợp mới các đơn vị đã có sẵn hơn là phát triển nghĩa của các đơn vị từ vựng đã có
từ trước Số đơn vị có nhiều nghĩa, cũng như số nghĩa trong những từ đa nghĩa của
tiếng Việt đều thấp so với nhiều ngôn ngữ khác (cụ thể như với tiếng Nga) “Trong
khi đó, số lượng các đơn vị từ vựng mới tăng lên rất nhanh, đặc biệt là những đơn
vị 2 âm tiết Hiện tượng đa nghĩa của tiếng Việt chủ yếu xảy ra ở các từ Các ngữ
Trang 26(các đơn vị từ vựng đa âm tiết) cũng có hiện tượng nhiều nghĩa, song tỉ lệ rất thấp”[9]
Đáng chú ý là trong một công trình gần đây “Hiện tượng nhiều nghĩa trong
ngôn ngữ và các cách thức trình diễn chúng” (Многознaчность в языке и cпocoбы ee прeдcтaвлeния) của mình, tác giả người NgaАнна А Зализняк [131]
đã chỉ ra là: trong ngôn ngữ học truyền thống Nga có ba thuật ngữ là: nhiều nghĩa
(многознaчность), không đơn nghĩa (неoднознaчность) và đa nghĩa (пoлиceмия) Sự khác nhau của chúng là:
+ Nhiều nghĩa (многознaчность), chỉ ra sự tồn tại ở một đơn vị nào đó (là
từ, câu) nhiều hơn một ý nghĩa
+ Không đơn nghĩa (неoднознaчность) chỉ sự tồn tại đồng thời ở một biểu đạt ngôn ngữ hay một tác phẩm ngôn từ (như văn bản) của một số nghĩa (cмыcли)
khác nhau
+ Đa nghĩa (полисемия) thường chỉ hiểu hẹp là nhiều nghĩa từ vựng của từ
Về nguyên tắc, bất kỳ từ nào cũng là (hay có thể dùng làm) cầu nhảy (трамплин), làm điểm gốc (точка отсчета) để mở rộng ngữ nghĩa, bởi vì ở bất kỳ từ nào cũng
có thể xuất hiện nghĩa phái sinh Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu đa nghĩa, thú
vị nhất là một phạm vi không lớn các đối tượng và tình huống “đời thường”, “căn bản”, nền tảng đối với các hành động của con người vốn bị qui định bởi những nhu cầu tự nhiên và xã hội (trong phạm vi nền văn hóa đó) Đây là một tập hợp có tính
điển dạng của các dạng (вид) hành động cơ bản Các hành động cơ bản này (cũng như các trạng thái, sự kiện, quan hệ căn bản) thường được mô tả bằng các “từ căn” (корня)
tương ứng với:
+ Các kiểu tư thế căn bản trong không gian (đứng, ngồi, nằm), các kiểu vận động căn bản (đi, chạy); các phương thức căn bản di chuyển đối tượng (lấy,
để, đặt, mang, ném, kéo);
+ Các phương thức căn bản tái tạo đối tượng và tác động vào đối tượng (cắt,
xé, bẻ, đập) và các tình huống căn bản khác của đời sống: sinh học (ăn, uống,
Trang 27ngủ), sở hữu (cho, lấy, có), tri giác (thấy, nghe), nói năng v.v
Để hiểu rộng hơn và sâu hơn về đa nghĩa, chúng ta cần chú ý đến những ý kiến phủ định Về mặt này rất đáng chú ý là những nghiên cứu gần đây của tác giả người Nga Г И Куcтова Đa nghĩa, theo Куcтова, được xem như là một hiện tượng khiên cưỡng [132, tr.14-15] Theo bà, có hai lí do như sau:
Thứ nhất là vì người ta dường như không đặc biệt quan tâm đến việc gia tăng
số lượng ý nghĩa của từ
Thứ hai, đa nghĩa là hậu quả của sự sử dụng “thứ cấp”, nhiều lần cùng một
từ, kết quả là tín hiệu gốc được áp dụng cho hiện tượng mới mà hiện tượng này từ đầu vốn không được nhắm tới
Trong đời thường (tức là phạm vi ngoài ngôn ngữ) điều này giống như khi ta
sử dụng một vật không theo đúng chức năng nhiệm vụ của nó, ngay cả trong các chức năng không tiêu biểu của nó Ví dụ như khi người ta dùng cái áo dạ ca-pốt (vốn để làm trang phục cho quân đội) để đắp (thay cho chăn), để gối dưới đầu (thay cho gối), để treo trên cửa sổ (thay cho màn), để che khe hở Thậm chí người ta còn mặc nó (như là dấu hiệu thuộc về quân đội), nhưng cả khi đó họ vẫn không phải là người lính v.v… Trong cuộc sống bình thường, con người hành xử khác: người ta chế ra các vật chuyên dụng với các chức năng riêng Còn trong ngôn ngữ thì hình như nếu theo logic ta phải có cho mỗi hiện tượng một biểu đạt từ ngữ chuyên dụng, hay nói một cách hình tượng thì phải may cái chăn thay vì dùng áo ca-pốt để đắp Mặt khác, do sử dụng nhiều lần và áp dụng cho các biểu vật mới như thế, các từ mất
đi một phần đáng kể cái ngữ nghĩa gốc của chúng do bị phân nhánh ra, bị thành ngữ hóa hay ngữ pháp hóa - nghĩa là dần dần biến thành các đơn vị hình thức, không có nghĩa Cho nên không chỉ nhiều nhà thơ mà nhiều nhà ngôn ngữ cũng coi đa nghĩa như sự “hư hỏng”, như “cái chết” của từ Nếu tiếp cận hiện tượng đa nghĩa từ các chỗ đứng như vừa nói, thì nó đối lập lại hoàn toàn với đồng nghĩa: đồng nghĩa thì con người quan tâm, còn đa nghĩa thì họ buộc phải hòa hoãn với nó [132, tr.15]
Cũng theo tác giả Куcтова, đa nghĩa thường được coi là cái cửa trước của
Trang 28đồng âm, mà theo các phương thức mô tả nó trong các công trình ngôn ngữ học và theo các cách thức trình diễn trong các từ điển thì nó đôi khi đơn giản chẳng khác gì đồng âm cả
Khó mà hình dung ra có một nhà ngôn ngữ nào đó dám khẳng định rằng đa
nghĩa không tồn tại
Tuy nhiên có khá nhiều nhà ngôn ngữ (trong đó có những vị nổi tiếng trong
lịch sử ngôn ngữ học) khẳng định rằng (với các mức độ quyết đoán khác nhau): đa
nghĩa (như hiện tượng đồng đại) không tồn tại Một trong những đại biểu của quan
niệm này là А.А Потебня [136] cho rằng đa nghĩa là chuyện lịch đại, là sự kiện
lịch sử ngôn ngữ: hình thái bên trong (thuộc tính của ý nghĩa gốc trong ý nghĩa mới) dần dần bị “tắt đi” và cùng với cái đó cũng tắt đi mối liên hệ giữa các ý nghĩa của từ
và ý nghĩa phái sinh tách ra khỏi ý nghĩa gốc và xảy ra sự tan rã của từ thành các từ đồng âm
Mặc dù các nhà biên soạn từ điển không khi nào phủ nhận đa nghĩa, nhưng trong các từ điển có thể phát hiện ra vô số các minh họa cho thấy rằng các ý nghĩa của từ đa nghĩa không liên quan với nhau Vậy thì tiêu chuẩn chủ yếu của đa nghĩa
là gì? Người ta thường công nhận rằng: đa nghĩa có chỗ đứng đến khi nào mối liên
hệ ngữ nghĩa giữa các ý nghĩa còn theo dõi được, nếu liên hệ này mất đi thì biến
thành từ đồng âm, là hai từ khác nhau Nhưng liên hệ này phải được biểu hiện trong cái gì?
Trước hết, chắc chắn là có một điều rằng: giữa các ý nghĩa phải có các thành
tố nghĩa chung, có một bộ phận chung, như nhận xét của nhiều tác giả:
Аничков(1997) [120, tr.349]; Апресян (1995) [124, tr.86]; Васильев (1990) [129, tr.142-151], Weinreich (Вейнрейх) (1981); Кузнецова (1989), Kurilovich (Курилович) (1955), Новиков (1982); Новиков и др (1987) v.v
Tuy nhiên, theo Куcтова, cái tiêu chí “thành tố nghĩa” chung này không phải
bao giờ cũng là “cần” và “đủ” Nói về điều này, Потебня [136] đã viết: “Trong thực
tế đòi hỏi này quá yếu, và đơn giản là sự có mặt của những thành tố nghĩa chung là hoàn toàn không đủ: vì có các thành tố chung thì cả đồng nghĩa lẫn đồng âm, và cả
Trang 29các từ của một lớp ngữ nghĩa (thậm chí các lớp ngữ nghĩa khác nhau nữa!” [136,
tr.126]
Theo Куcтова, chúng ta không thể nói gì về đồng nghĩa nếu chúng không có những thành tố chung, bởi vì các từ đồng nghĩa nhất thiết phải có thành tố nghĩa chung, không thì không có từ đồng nghĩa Còn ở các nghĩa của từ đa nghĩa thì hóa
ra không cần thiết phải như thế Lẽ tất nhiên trong từ điển có gặp những cặp ý nghĩa
mà ta dễ dàng dõi theo các liên hệ “thân tộc” của chúng dưới dạng các thành tố chung Tuy nhiên, về nguyên tắc, điều này không làm thay đổi vấn đề, bởi vì có nhiều nghĩa phái sinh có thể định nghĩa không cần tới ý nghĩa gốc xuất phát, tức là không cần sử dụng tài liệu của nghĩa gốc
Куcтова cũng chỉ ra rằng: trong các miêu tả ngôn ngữ học về đa nghĩa, các nhà nghiên cứu dĩ nhiên là xuất phát từ chỗ rằng: từ đa nghĩa - đó là một chỉnh thể
ngữ nghĩa thống nhất, một hệ thống các ý nghĩa Nhưng thực tế thì các nghĩa khác
nhau của từ được mô tả như các đơn vị từ vựng tách biệt, độc lập với nhau (như các
từ riêng rẽ) Quan niệm “tách biệt” ra như thế có lý do của nó, vì ở các từ vị khác nhau thì có các quan hệ hệ hình và cú đoạn khác nhau, đi vào các lớp ngữ nghĩa khác nhau, có các đồng nghĩa và trái nghĩa khác nhau, có các sự phái sinh khác nhau, có các thuộc tính tổ hợp và các hạn chế ngữ nghĩa khác nhau, có các thuộc
tính cú pháp khác nhau Chính trong tinh thần đó mà Л В Щерба (1940/1974) nói
rằng: “Từ ngữ âm có bao nhiêu ý nghĩa thì chúng ta có bấy nhiêu từ”
Trong luận án này, chúng tôi đi theo quan điểm chung là thừa nhận có hiện tượng đa nghĩa từ vựng như một phổ quát ngôn ngữ học
Một cách tổng quát, tựu chung lại trong ngôn ngữ học truyền thống, hiện tượng đa nghĩa từ vựng theo nhiều nhà nghiên cứu thực ra chỉ là một bộ phận trong
sự chuyển biến ý nghĩa của từ và có thể nêu lên những đặc điểm của từ nhiều nghĩa như sau:
+ Giữa nghĩa đầu tiên với các nghĩa chuyển có thể có sự biến đổi theo quan
hệ kiểu “móc xích” hay “tỏa ra từ gốc” nhưng chủ yếu là theo kiểu “tỏa ra từ gốc”
Trang 30+ Các từ có ý nghĩa biểu vật cùng thuộc một phạm vi hoặc có các ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc thì chuyển nghĩa theo cùng hướng
+ Khi các nghĩa chuyển biến còn liên hệ với nhau, sự chuyển biến ý nghĩa có thể làm ý nghĩa “mở rộng ra” hoặc “thu hẹp lại”, và điều này, trước hết, được xét ở phạm vi từ Chẳng hạn, “hồ” có nghĩa đầu tiên là: “bột quấy đặc để ăn”, nhưng giờ đây từ này được dùng phổ biến với nghĩa là “bột quấy đặc để dán” Việc thu hẹp –
mở rộng nghĩa còn được xem xét ở phạm vi các nghĩa trong từ nhiều nghĩa Ví dụ:
chân trong cách dùng chân bàn, chân đồi…dường như ta đã loại bỏ nét nghĩa “chi
dưới của động vật hoặc người”
Dựa trên những cơ sở lý luận nêu trên, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu hiện tượng nhiều nghĩa, chuyển nghĩa trong tiếng Nga và tiếng Việt qua các từ chỉ hướng không gian với hy vọng quá trình nghiên cứu có thể làm sáng tỏ thêm những
đặc điểm trên, ngoài việc chứng minh tính đúng đắn của những quan niệm này
1.2 Chuyển nghĩa xét trong mối quan hệ bộ ba: ngôn ngữ - tri nhận - văn hóa
Bộ ba ngôn ngữ – tư duy, ý thức (hay rộng hơn: tri nhận) - văn hóa có mối
quan hệ hết sức chặt chẽ, nhất là vấn đề đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ đang ngày càng thu hút mạnh mẽ sự chú ý của các nhà văn hóa học, ngôn ngữ học, tâm lý học và cả những nhà triết học, dân tộc học, xã hội học cũng rất quan tâm…
Tuy nhiên, tài liệu ngôn ngữ học viết về hiện tượng chuyển nghĩa thường đề cập ở mức độ khái quát trên những bình diện khác nhau của cấu trúc ngôn ngữ
Những nhận định về tính hệ thống giữa các nghĩa khác nhau của cùng một
từ, phương thức chuyển biến ý nghĩa của từ…tuy là chính xác nhưng chưa đủ sâu
để có thể thấy được sự đa dạng và phong phú mà hiện tượng chuyển nghĩa của từ tiếng Việt đem lại và nhất là khi so sánh, đối chiếu một cách hệ thống với một ngôn ngữ khác thì đặc trưng văn hoá dân tộc và tư duy thông qua hiện tượng chuyển nghĩa mới thể hiện rõ Chính vì thế, mà chúng tôi chọn lựa để khảo sát những đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và của tư duy ngôn ngữ ở người Việt và người
Trang 31Nga qua hiện tượng chuyển nghĩa của từ Chúng tôi đã chọn tiếng Việt và tiếng Nga
là hai thứ tiếng thuộc hai loại hình ngôn ngữ khác nhau (tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, âm tiết tính nên không có khả năng tự bản thân diễn đạt những ý nghĩa về ngữ pháp hiển lộ như trong nhiều ngôn ngữ biến hình Âu châu mà điển hình là tiếng Nga) để đối chiếu vì muốn tìm ra sự khác biệt đến mức tối đa về phương diện văn hóa và tri nhận tiềm ẩn trong cấu trúc ngữ nghĩa của hai ngôn ngữ này
Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy hay rộng hơn là giữa ngôn ngữ và tri nhận đáng chú ý có một số công trình sau:
Người đầu tiên bàn sâu vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy là Lý Toàn
Thắng với bài báo “Vấn đề ngôn ngữ và tư duy” (1983, 2002) Sau này, ông đã mở rộng ra ngoài phạm vi của tư duy (ý thức), bàn đến vấn đề “Ngôn ngữ và sự tri nhận
không gian” (1994) Ông cũng là người đầu tiên giới thiệu về định hướng nghiên
cứu ngôn ngữ theo quan điểm tri nhận luận ở Việt Nam Theo Lý Toàn Thắng, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tri nhận thể hiện tập trung ở những luận điểm như sau:
1 Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị (autonomous), không nên coi khả năng ngôn ngữ là một bộ phận thiên bẩm hoàn toàn độc lập với khả năng tri nhận, cơ chế ngôn ngữ chỉ là một phần của cơ chế tri nhận phổ quát
2 Một phương diện chủ yếu của khả năng tri nhận của con người là sự ý niệm hóa kinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm hóa các tri thức ngôn ngữ mà chúng ta có được Vì vậy, cần phải nghiên cứu tất cả các phương diện của cấu trúc ý niệm cũng như quá trình ý niệm hóa ở các hiện tượng ngữ nghĩa từ vựng như đa nghĩa và
ẩn dụ và một số quan hệ từ vựng ngữ nghĩa khác
3 Ngôn ngữ học tri nhận có một mục đích là nghiên cứu một cách bao quát
và toàn diện chức năng tri nhận (nhận thức) của ngôn ngữ; ngôn ngữ vừa là sản phẩm của hoạt động tri nhận vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người
4 Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ngôn ngữ là cửa sổ để đi vào thế giới tinh thần của con người, là phương tiện để đạt đến những bí mật của các quá trình tư duy Cần phải chuyển trọng tâm nghiên cứu từ tư duy sang ý thức trong cách hiểu ý
Trang 32thức như là nơi tập trung tất cả vốn kinh nghiệm tinh thần mà một con người tích lũy được trong suốt đời mình Chính trong khi nghiên cứu ý thức, người ta phải khảo sát mối liên hệ của nó với hiện thực được lĩnh hội qua các ý niệm và khảo sát bản chất của các ý niệm đặc trưng cho ý thức này Nói cách khác, người ta phải quan tâm đến các quá trình ý niệm hóa và phạm trù hóa thế giới khách quan
5 Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ngữ nghĩa không hề đối ứng với thế giới khách quan bên ngoài mà đối ứng với thế giới phi khách quan được phóng chiếu lại (projected world) trong ý thức và đồng thời nó có quan hệ trực tiếp với cấu trúc ý niệm được ước định trong đó
Đây là những cơ sở lý thuyết cơ bản mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu những vấn đề mà luận án đặt ra
1.3 Hiện tượng chuyển nghĩa nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
1.3.1 Quan điểm ngôn ngữ học tri nhận về chuyển nghĩa
Theo các nhà ngữ nghĩa học tri nhận, thực tại được “phóng chiếu” vào trong
ngữ nghĩa của các ngôn ngữ học tự nhiên và “bức tranh thế giới” nhận được (hay
“thế giới được phóng chiếu” – theo thuật ngữ của Jackendoff) trong ngôn ngữ là
khác biệt với thế giới thực; vì thế, ngữ nghĩa của những ngôn ngữ khác nhau sẽ là khác nhau Điều này có thể được cắt nghĩa bằng ba lý do sau:
a Đặc điểm của cơ thể người, thí dụ con người có thể “nhìn được ánh sáng
và màu sắc” (và biểu đạt chúng trong ngôn ngữ), nhưng không nhìn được
các tia Rơnghen (nên chúng không được phản ánh trong ngôn ngữ)
b Cùng một sự tình hay sự vật nhưng có thể được người bản ngữ miêu tả một cách khác nhau, làm nổi rõ lên hoặc làm mờ nhạt đi một số bình diện
và thuộc tính nào đó của nó; thí dụ, cùng là cái hộp nhưng đi với giới từ
(active zone) của nó là phần bên trong để chứa đựng, còn đi với giới từ
trên(на/ над) thì ở cách nói “trên hộp” đó lại là phần bề mặt bên ngoài,
Trang 33phía trên của hộp
c Bức tranh ngôn ngữ về thế giới khác với thế giới thực do những đặc thù
về văn hóa, trong mỗi ngôn ngữ đều tồn tại một “sự qui ước hóa” (thuật ngữ của Langacker và Casad) giữa những người bản ngữ để diễn đạt tư
tưởng và tình cảm của mình theo một cách thức nhất định
Lẽ đương nhiên, ở đây không nên có một thái độ cực đoan, hoặc quá thiên về phổ quát luận (universalism) cho rằng cách tri giác đối với hiện thực của loài người phải là một, hoặc quá thiên về tương đối luận (relativism) cho rằng ngôn ngữ quyết
định cái cách thức một dân tộc “ý niệm hóa” và “phạm trù hóa” thế giới khách
quan Bên cạnh cái phổ quát, cái đồng nhất, còn có cái tương đối, cái đa dạng, và
trong ngôn ngữ phải có phản ánh một “lối nghĩ riêng” của cộng đồng bản ngữ về
các sự vật và sự tình của thế giới hiện thực và phản ánh những giới hạn và ràng buộc của văn hóa đối với lối nghĩ ấy
Đáng chú ý là những nghiên cứu về ẩn dụ không theo quan điểm truyền thống vốn chỉ tập trung khảo sát các khía cạnh cấu trúc và hình thức ẩn dụ Một số nhà ngôn ngữ học tri nhận nổi tiếng như Lakoff, Jonhson và Gibbs đã xem xét lại một cách hệ thống về bản chất của ngữ nghĩa trong ẩn dụ và hoán dụ và mối quan hệ giữa cấu trúc và ngữ nghĩa trong hiện tượng chuyển nghĩa Họ có đưa ra những lý thuyết quan trọng về ngữ nghĩa của từ vựng dựa trên cái cách thức mà chúng ta tri
nhận, khái niệm hóa và phân loại thế giới xung quanh Họ cho rằng hiện tượng
chuyển nghĩa là sản phẩm của quá trình ý niệm hóa và nó không chỉ thuần túy
là vấn đề ngôn ngữ Gibbs (1997) [94] khẳng định “hiện tượng chuyển nghĩa không
tồn tại với tư cách là những đơn vị nghĩa độc lập trong hệ thống từ vựng mà về bản chất chúng là những bộ phận của hệ thống các khái niệm đã được ẩn dụ hóa” Giải
thích cho điều này Gibbs cho rằng nghĩa trong hiện tượng chuyển nghĩa và nghĩa hiển ngôn liên hệ với nhau qua những cơ chế tri nhận như ẩn dụ, hoán dụ và tri thức nền.
Một tiền đề quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận theo Fauconnier (2004)[92]
Trang 34là “khi chúng ta tham gia vào bất kì hoạt động ngôn ngữ nào, ta cũng đều huy động
một cách vô thức rất nhiều khả năng tri nhận và tri thức văn hóa, thiết lập những mối liên hệ chằng chịt, xử lý những lượng thông tin rất lớn” Bản thân ngôn ngữ
không thể hiện nghĩa mà nó chỉ kích hoạt quá trình tạo lập nghĩa trong những văn cảnh nhất định với sự hỗ trợ các khả năng tri nhận và mô hình văn hóa nhất định Quan điểm trên đã đặt ra một số câu hỏi quan trọng cho việc đi sâu nghiên cứu bản
chất của hiện tượng chuyển nghĩa Nếu cho rằng hiện tượng chuyển nghĩa từ vựng
chính là khái niệm đã được ẩn dụ hóa thì nghĩa ẩn dụ của nhiều hiện tượng chuyển nghĩa có thể suy ra được bằng cách lập lược đồ tri nhận về mối liên hệ giữa ý niệm
nguồn và ý niệm đích Khi làm được điều này thì chúng ta có thể miêu tả chi tiết và
rõ ràng hơn nghĩa ẩn dụ của nhiều hiện tượng chuyển nghĩa trong gần như tất cả các
ngôn ngữ Một khi lập được bản đồ tri nhận về mối liên hệ giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích thì chúng ta lại có thể tìm ra những nét tương đồng giữa các dân tộc trong việc thiết lập mối liên hệ giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích Hay nói cách khác
chúng ta có thể dựa trên những nét tương đồng trong cách tri nhận thế giới của các dân tộc để đoán được nghĩa ẩn dụ của các dân tộc khác
Đồng tình với quan điểm trên, Steen (1997) [dt 85, tr 163] cho rằng: “trong
bộ nhớ của mỗi người đều tồn tại trong một tập hợp rất lớn các hình ảnh về thế giới xung quanh” Tập hợp hình ảnh này sẽ có những điểm khác nhau tùy theo từng môi
trường cụ thể mà người đó sống Ví dụ như đối với người Việt Nam thông thường những hình ảnh như ông Tiên, vua Hùng, cây tre, rau muống, áo dài là khá quen thuộc trong khi người Nga (nếu không nghiên cứu về văn hóa Việt) thì rất khó hình dung ra những sự vật cụ thể nêu trên Những hình ảnh như vậy được hình thành từ quá trình tri nhận thế giới và tạo thành cái mà Lakoff gọi là “image schema” (lược
đồ hình ảnh) Cũng theo Steen, những lược đồ hình ảnh tri nhận này không bị chi
phối bởi ngữ cảnh mà nằm trong tiềm thức của mỗi người Ví dụ như chúng ta rất ít
sử dụng hình ảnh ông Tiên trong bộ nhớ của mình nhưng hình ảnh này vẫn tồn tại
Trang 35trong trí nhớ của chúng ta và khi cần là nó sẽ tự hiện lên Hình ảnh tri nhận chính là
cơ sở hình thành các nghĩa mới cho từ mới và giúp cho chúng ta suy được nghĩa gốc của từ
Trang 361.3.2 Sơ đồ ý niệm (контцептyaльнaя cхeмя)
Về phương diện này đáng chú ý là công trình của tác giả người Nga Анна А
Зализняк có tên là “Hiện tượng nhiều nghĩa trong ngôn ngữ và cách thức trình
diễn chúng” (Многознaчность в языке и cпocoбe прeдcтaвлeния) [131] Việc giải
quyết nhiệm vụ mô tả hiện tượng nhiều nghĩa cần phải tiến hành theo con đường mở rộng phạm vi vấn đề ra là: hiện tượng nhiều nghĩa thực tế được tổ chức như thế nào (tức là người nói dùng nó ra sao trong tạo sinh và cảm thụ lời nói, các ý nghĩa nào thì được ghi nhớ, các ý nghĩa nào thì được tạo sinh theo các sơ đồ hay khuôn mẫu nhất định, và các ý nghĩa nào thì nói chung không được nhận thức là khác biệt nhau); phải miêu tả nó ra sao trong từ điển (loại từ điển bình thường không phải dành cho nhà ngôn ngữ học khác với loại từ điển nghiên cứu ngôn ngữ học gần đây)
Theo bà, hiện nay chúng ta chưa biết rõ thông tin về nhiều nghĩa được lưu trữ trong ý thức của người nói và người nói dùng nó như thế nào Nguyên nhân là vì:
Một là, chúng ta không biết trong dạng nào thì thông tin về nhiều nghĩa được
lưu trữ trong ý thức người nói Có cơ sở để khẳng định rằng: sự phát triển của nhiều nghĩa về mặt bản thể luận không xảy ra theo con đường từ “cụ thể” đến “trừu tượng”, mà có lẽ là từ cách hình dung chung nhất trong đó các chuyển di có tính ẩn
dụ hay hoán dụ (nói chung không được nhận thức như những thực thể được tạo sinh riêng lẻ) đi đến sự phân chia từng bước và đối lập các ý nghĩa bộ phận…Ví dụ, trẻ
em 3- 4 tuổi thường phủ nhận cách dùng của người lớn về nghĩa bóng (nghĩa
chuyển), người lớn nói: sữa “chạy đi” (убeжaть), nhưng theo trẻ con không thể
nói thế được vì sữa không có chân Trẻ con gọi những hạt sương đọng trên cây
thông là “nước mắt của cây thông” hay “cây thông khóc”, thì về nguyên tắc chúng
không làm cái gì khác y như người lớn khi gọi tai của con chó bằng từ chỉ tai người
(ухo) Trong mọi trường hợp ở đây không có ẩn dụ hay hoán dụ vì rằng không có sự
chuyển nghĩa nào cả Nói cách khác, trẻ con phủ nhận ẩn dụ trong chừng mực là
chúng có khả năng phát hiện ra nó; chúng không cần đến sự tương tự (пoдoбия)
mà là sự đồng nhất (тождecтвe) (như ở trường hợp là giọt sương trong hình dáng
giọt lệ - đó là nước mắt)
Trang 37Thứ hai là, có cơ sở nghiêm túc để cho rằng khả năng lưu trữ và thao tác với
thông tin này là khác nhau – phụ thuộc vào phong cách tri nhận của người nói hay các nhân tố khác như: xã hội, lứa tuổi, nghề nghiệp
Thứ ba là, thực tế dùng các từ điển các loại (song ngữ, giải thích) cho thấy
mọi định nghĩa cho dù hoàn chỉnh nhất đều cho ta một sự hình dung kém rõ ràng về
ý nghĩa của từ hơn là các ví dụ tốt về cách dùng từ đó trong ý nghĩa đang xét
Cách hình dung nhiều nghĩa dưới dạng một tập hợp các nghĩa riêng biệt – với tôn ti được xác lập giữa chúng và với các mô hình phái sinh ngữ nghĩa hay vắng chúng – luôn luôn không hoàn thiện (tức là không phù hợp với các sự kiện) và đó là
do bản chất của nhiều nghĩa vốn là không phân lập trong ngôn ngữ như một hệ thống: khi hiện thực hóa trong lời nói thì tính không phân lập này sẽ giảm đi đáng
kể nhưng không mất hẳn
Анна А Зализняк[131] đề nghị sử dụng một khái niệm mới là “sơ đồ ý
niệm” (концeптyaльнaя cхeмя) Theo bà, mô hình về nhiều nghĩa có đối tượng
nghiên cứu trước hết là các động từ và tính từ, trạng từ và danh từ phái sinh từ động
từ Phương thức, cách thức trình diễn nhiều nghĩa là “sơ đồ ý niệm” có mục đích trình diễn các ý nghĩa khác nhau của một từ nhiều nghĩa như một chỉnh thể đơn
nhất Với tư cách sơ đồ ý niệm có thể là: bất biến thể, ý nghĩa chung, kịch cảnh
điển dạng (пpoтотипическaя cцeнapия)
Theo Анна А Зализняк thì bộ máy sơ đồ ý niệm có thể khác nhau tùy theo
kiểu từ và đặc tính nhiều nghĩa của nó Đối với những từ nhiều nghĩa chỉ không
gian (giới từ, trạng từ, động từ vận động, các tiền tố) sơ đồ ý niệm này bao gồm một hình ảnh không gian hay “bức tranh” trong đó có một cấu trúc ý niệm nhất định cho phép tách ra, đưa ra những chiết đoạn nào đó của sơ đồ ý niệm vốn là cơ sở để xuất hiện các ý nghĩa cụ thể Còn đối với các từ nhiều nghĩa phi không gian thì sơ đồ ý niệm thường chỉ là một bộ các thành tố nghĩa cộng với một miêu tả không mang tính hình thức nào đó của kịch cảnh điển dạng
Анна А Зализняк thấy rằng: “Cần chú ý sơ đồ ý niệm khác với ý nghĩa gốc,
Trang 38cụ thể là sơ đồ không mang thông tin về giá trị giao tiếp tương đối của các thành tố Chỉ khi nào chỉ có ít thành tố hoặc tôn ti giao tiếp của chúng không đáng kể (chỉ có một thành tố) thì sơ đồ ý niệm có thể trùng với ý nghĩa gốc” [131, tr 40-43] Bước
tiếp theo của sự phái sinh ngữ nghĩa là ở khả năng chuyển nghĩa ẩn dụ của các
thành tố Phương thức trình diễn hiện tượng nhiều nghĩa bằng sơ đồ ý niệm là bổ
sung cho phương thức trong đó các mối liên hệ phái sinh ngữ nghĩa ràng buộc một trong các ý nghĩa của từ vốn được coi là nghĩa gốc, với các ý nghĩa phái sinh còn lại
1.4 Sự tri nhận không gian và ngôn ngữ không gian
Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu kĩ hơn về một số luận điểm của ngôn ngữ học tri nhận về sự tri nhận không gian, để chúng ta có thể rõ hơn về những đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy trong ngữ nghĩa và cách dùng các từ chỉ hướng không gian nói chung cũng như sự chuyển nghĩa diễn ra ở chúng nói riêng
1.4.1 Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian
Từ xa xưa, con người đã hiểu rõ rằng vật chất bất kì thế nào, dù ở dạng vận động hay không vận động cũng có một vị trí nhất định, ở một khung cảnh nhất định trong tương quan về mặt kích thước với các vật thể xung quanh Lênin đã khẳng
định: “Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang
vận động không thể ở đâu ngoài không gian và thời gian” (V I Lênin, tr 189 -193)
Như vậy, vật chất tồn tại với ba phạm trù đặc trưng: vận động, không gian và thời gian
Khái niệm không gian bao gồm không gian vật lý khách quan, không gian ngôn ngữ và không gian nhận thức Trong luận án này, chúng tôi đề cập tới đề tài không gian tri nhận thể hiện qua ngôn ngữ
Các nhà ngôn ngữ học, đặc biệt là các nhà ngôn ngữ học tri nhận, đều cho rằng: không gian tri nhận trong tư duy, trong nhận thức của chúng ta không phải là không gian vật lý khách quan, mà đó là không gian đã được khúc xạ qua nhận thức của con người chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, sự trải nghiệm của cộng đồng và cả cá nhân con người Không gian ngôn ngữ khác với không gian vật lý
Trang 39khách quan trong nhận thức khoa học cũng như không gian được phản ánh trong
đầu óc con người với tư cách là một chủ thể nhận thức
Thế giới, không gian mà ngôn ngữ phản ánh là thế giới, không gian được con người tri nhận Do đó, không gian ngôn ngữ khác với khái niệm “không gian vật lý khách quan” và khái niệm “không gian được tri giác” của con người (là sự phản ánh của không gian vật lý bên ngoài vào trong tâm lý, trong ý thức bên trong của con người) Không gian ngôn ngữ là không gian được biểu đạt trong ngữ nghĩa của các
từ chỉ không gian, được tác giả H Clark [90, tr 140] gọi là “L Space”
Không gian ngôn ngữ là kết quả của sự phản ánh có chọn lọc của không gian nhận thức, có nghĩa rằng không gian trong ngôn ngữ không phản ánh toàn bộ không
gian nhận thức Luận án sẽ tập trung vào khái niệm “Không gian ngôn ngữ”
(лингвистическое пространство) và góp phần lý giải sự chi phối của không
gian nhận thức đối với không gian ngôn ngữ, hay đúng hơn là sự nhận thức của con người có ảnh hưởng như thế nào tới việc phản ánh, tái tạo thế giới và ngôn ngữ
Để khẳng định về tầm quan trọng của không gian được thể hiện trong ngôn ngữ,
Nguyễn Đức Dân đã nhận định: “…Không gian có vai trò rất quan trọng trong ngôn
ngữ Những năm gần đây người ta nhận ra rằng không gian có vai trò cơ bản hơn thời gian trong tổ chức ngôn ngữ Hình ảnh thế giới được phản ánh qua ngôn ngữ trước hết
là phản ánh về nhận thức không gian rồi mới tới thời gian” [14, tr 27]
Tác giả Lý Toàn Thắng đã nhận xét và khẳng định: “ Trong các “bộ phận”
của mô hình “ngây thơ” về thế giới được phản ánh trong đầu óc người bản ngữ, không gian là bộ phận mang đậm những nét đặc thù dân tộc, đây cũng là một phạm trù quan trọng bậc nhất của cả ngữ nghĩa, văn hoá và ý thức…[69, tr 67]
Theo Lý Toàn Thắng, đến nay vẫn chưa có một công trình nào đi sâu và toàn diện nghiên cứu về “không gian” và chỉ rõ thực tế “không gian” có những thuộc tính nào và có những mối quan hệ nào?
Tuy vậy, qua các công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa của các nhà ngôn ngữ trên thế giới như Lyons [108], Leech [107], Talmy [114a], Herskovits [95], Clark [90]…và của những nhà ngôn ngữ học Việt Nam như Nguyễn Đức Dân [14],
Trang 40Nguyễn Đức Tồn [79], Lý Toàn Thắng [69]… chúng ta có thể thấy không gian ngôn ngữ có những thuộc tính và quan hệ sau đây:
- Hình dáng (форма): được biểu đạt trong ngôn ngữ với các từ như “tròn”
1.4.2 Ý niệm hóa và quá trình ý niệm hóa không gian
Các nhà ngôn ngữ học tri nhận chỉ ra rằng: Trong những cách ý niệm hóa kinh
nghiệm của chúng ta thì đặc sắc nhất là sự ý niệm hóa không gian, và nói cụ thể
hơn thì đó là cái cách thức mà một sự định hướng không gian được ý niệm hóa
cũng như những quá trình ý niệm hóa diễn ra ở địa hạt này Những cứ liệu sưu tầm
được của các ngôn ngữ trên thế giới cho thấy các mô hình tri nhận ở đây rất đa dạng
và tương đối về một phía, nhưng đồng thời lại cũng đồng nhất và phổ quát về một phía khác, nhất là xét về phương diện những giải pháp lựa chọn cho việc ý niệm hóa không gian
Trong sự ý niệm hóa về định hướng không gian con người chủ yếu sử dụng
ba lĩnh vực nguồn là theo Svorow (1994) [112, tr.79- 80]:
1 Các bộ phận cơ thể người (trong tư thế thẳng đứng chuẩn tắc) là lĩnh vực quan trọng, thường dùng nhất; vì thế người ta thường nói rằng: sự ý niệm hóa là dĩ nhân vi trung (anthropocentric)