ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “ KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA” LẦN 8 NĂM 2006 TÊN CÔNG TRÌNH: CƠ CẤU NG
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH
………
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “ KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”
LẦN 8 NĂM 2006
TÊN CÔNG TRÌNH:
CƠ CẤU NGHỀ NGHIỆP VÀ TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN ĐÔ THỊ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Nghiên cứu trường hợp: Phường 15, Quận 5)
THUỘC NHÓM NGÀNH: Khoa học xã hội
Mã số công trình:………
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “ KHOA HỌC SINH VIÊN – EURÉKA”
LẦN 8 NĂM 2006
TÊN CÔNG TRÌNH:
CƠ CẤU NGHỀ NGHIỆP VÀ TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN ĐÔ THỊ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Nghiên cứu trường hợp: Phường 15, Quận 5)
THUỘC NHÓM NGÀNH: Khoa học xã hội
Nhóm tác giả: Nguyễn Thái Đặng Hồng Ân Nam
Lê Thị Thanh Thảo Nữ Trưởng nhóm: Nguyễn Thái Đặng Hồng Ân
Lớp: Nhân học Năm thứ/ Số năm đào tạo: 4/4
Bộ môn: Nhân học Người hướng dẫn: GV Phạm Thanh Thôi
Trang 3ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH BCH TP HỒ CHÍ MINH
……… TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 8 năm 2006
PHIẾU DỰ GIẢI GIẢI THƯỞNG “KHOA HỌC SINH VIÊN - EURÉKA” LẦN 8 NĂM 2006
1 Tên công trình:
CƠ CẤU NGHỀ NGHIỆP VÀ TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CỦA
THANH NIÊN ĐÔ THỊ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Nghiên cứu trường hợp: Phường 15, Quận 5)
2 Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội
3 Tóm tắt mục đích của công trình – những vấn đề mới (không quá 100 từ):
Đề tài vận dụng các kiến thức lý thuyết trong các chuyên đề của ngành Nhân học vào việc nghiên cứu thực tiễn
Mục tiêu của đề tài là xác định cơ cấu nghề nghiệp và thực trạng việc làm của thanh niên đô thị ở độ tuổi cụ thể và các nhân tố tác động Từ đó, đề tài cũng đưa ra một số giải pháp hỗ trợ việc làm cho đối tượng nghiên cứu
Đề tài sẽ rất có ý nghĩa, giúp cho các nhà quản lý xã hội địa phương có thêm cơ
sở trong việc quy hoạch và có chính sách phát triển nguồn nhân lực hợp lý
Trang 4Địa chỉ: 88/22, Hương Lộ 9, ấp Vĩnh Hiệp,
xã Tân Bình, huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 10
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 10
1.1 Địa giới tự nhiên và lược sử phát triển của phường 15 10
1.2 Đặc điểm chung về dân cư trên địa bàn Phường 15 11
1.3 Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của Phường 15 14
CHƯƠNG 2 20
CƠ CẤU NGHỀ NGHIỆP VÀ TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN ĐÔ THỊ TẠI PHƯỜNG 15, QUẬN 5 20
2.1 Cơ cấu nghề nghiệp và tình trạng việc làm của thanh niên 20
2.2 Nhu cầu tìm việc và khả năng tiếp cận việc làm của thanh niên đô thị tại Phường 15, Quận 5 36
CHƯƠNG 3 45
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ 45
VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 45
3.1 Vấn đề hỗ trợ việc làm cho thanh niên dưới góc nhìn của nhà quản lý 45
3.2 Giải pháp hỗ trợ việc làm cho thanh niên từ kết quả nghiên cứu 49
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 58
Trang 6TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất cả nước, nổi bật với tốc độ tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa rất cao Từ những lợi thế đó, nơi đây đã và đang tạo nên nhiều cơ hội nghề nghiệp cho cư dân đô thị Trong đó, thanh niên vừa là lực lượng nòng cốt, vừa là những đối tượng cần được sự quan tâm nhiều nhất để phát triển
Với sức trẻ của mình, thanh niên hiện nay đã và đang đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của thành phố, trước tiên là trên lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường hiện nay đang tạo nên một sức ép không nhỏ cho thanh niên trong quá trình tìm kiếm cũng như thích nghi với công việc Đó là những vấn đề nổi cộm nhất hiện nay trong việc giải quyết nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế thành phố Qua việc nghiên cứu tình trạng nghề nghiệp của thanh niên trên một địa bàn cụ thể, công trình muốn đóng góp thêm những ý kiến, nhận định nhằm giải quyết vấn đề ngày một tốt hơn
Trong phạm vi công trình, chúng tôi quan tâm chủ yếu đến lực lượng thanh niên
đô thị trong độ tuổi từ 16 đến 35, có hộ khẩu thường trú trên địa bàn phường 15 quận
5, TpHCM Mục đích của công trình là phác họa lên một bức tranh chung về cơ cấu nghề nghiệp và tình trạng việc làm của thanh niên đô thị hiện nay, xem xét qua một địa bàn tương đối đặc trưng là phường 15, quận 5, TpHCM Ngoài nhiệm vụ chính là xác định cơ cấu nghề nghiệp và thực trạng việc làm của thanh niên, đưa ra một số giải pháp hỗ trợ,…; đề tài còn nhắm đến ý nghĩa xã hội là giúp cho các nhà quản lý địa phương có thêm cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực hợp lý
Trang 7MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thực tiễn qua 20 năm đổi mới, TP Hồ Chí Minh là một đô thị luôn dẫn đầu cả nước về quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế, bình quân tăng trên 10% mỗi năm Sự tăng trưởng kinh tế với các quy luật chung của nền kinh tế thị trường đã và đang làm thay đổi mạnh mẽ cơ cấu nghề nghiệp và tình trạng việc làm của nhiều nhóm
cư dân đô thị Thanh niên đô thị TP Hồ Chí Minh, một bộ phận của cư dân đô thị, cũng đa và đang có nhiều cơ hội để tiếp cận với những nghề nghiệp, loại công việc làm khá đa dạng và phong phú Nhiều thanh niên đã nhanh chóng nắm bắt được xu thế phát triển của nền kinh tế, cũng như các điều kiện xã hội (gia đình, trình độ học vấn, dân tộc,…) của bản thân để làm chủ nghề nghiệp cho mình Trên nhiều lĩnh vực kinh
tế mũi nhọn của thành phố như ngành công nghiệp, dịch vụ, khoa học công nghệ, vị trí đóng góp của thanh niên thành phố đã được ghi nhận
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, xu thế cạnh tranh cao trong môi trường hoạt động kinh tế tại đô thị và dưới tác động của các quy luật kinh tế thị trường, khiến cho không ít thanh niên đô thị rơi vào tình trạng hay chưa có việc làm, có việc làm những không ổn định hoặc gặp khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho mình
Có thể nói, trước bối cảnh biến đổi kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh, quá trình tiếp cận nghề nghiệp và việc làm của thanh niên đô thị đang đứng trước rất nhiều cơ hội và
thách thức mới Do vậy, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu cơ cấu nghề nghiệp và tình trạng việc làm của thanh niên đô thị tại TP Hồ Chí Minh là vấn đề cần thiết, có ý
nghĩa thực tiễn xã hội cao
2 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài được thực hiện trước hết sẽ là một nội dung quan trọng để chúng tôi vận dụng các kiến thức lý thuyết đã học trong các chuyên đề như Nhân học kinh tế, Nhân học đô thị,… vào việc nghiên cứu thực tiễn Quá trình thực hiện đề tài cũng đồng thời giúp cho chúng tôi, là những sinh viên năm thứ IV ngành Nhân học, có cơ hội trải nghiệm các phương pháp và kỹ thuật trong nghiên cứu khoa học xã hội
Trang 8Hơn nữa, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu cho các giảng viên và sinh viên của các ngành Nhân học, Xã hội học, Kinh tế học tham khảo
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Liên quan đến vấn đề việc làm của thanh niên nói chung và thanh niên đô thị tại TP Hồ Chí Minh nói riêng, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu Công trình nghiên cứu với quy mô lớn và có giá trị thực tiễn cao do Bộ LĐTB và XH phối
hợp cùng Viện Nghiên cứu Phát triển tiến hành được thể hiện trong báo cáo Hệ thống quan sát lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam, Hà Nội, 1999; Tại thành
phố Hồ Chí Minh PGS.TS Nguyễn Thị Cành (chủ nhiệm), đã thực hiện đề tài nghiên
cứu cấp thành phố: Thị trường lao động TP Hồ Chí Minh trong quá trình phát triển
và chuyển đổi nền kinh tế Các giải pháp nhằm phát triển và điều tiết thị trường lao động, đã cung cấp nguồn tư liệu khá phong phú về bức tranh lao động và việc làm của
người dân đô thị khá rõ nét, Viện Kinh tế TP Hồ Chí Minh 1998; rất nhiều các báo cáo và bài viết được đăng tải trên các tạp chí khoa học sẽ là nguồn dữ liệu quý cho đề
tài tham khảo, cụ thể như Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội TP Hồ Chí Minh đến 2010, UBND TP Hồ Chí Minh, 1996; Lý luận, phương pháp luận và
phương pháp xác định ảnh hưởng của điều kiện lao động đến mức độ suy giảm khả năng làm việc, khả năng lao động … Các biện pháp ngăn ngừa và phục hội Viện Khoa học Lao động và Các vấn đề xã hội, Hà Nội, 1997; Một số vấn đề về lao động nữ tại TP Hồ Chí Minh, Trần Thị Đặng, Tạp chí LĐ và XH, số 3 năm 1996; Về sự
Trang 9chuyển đổi tâm lý người lao động trong nền kinh tế thị trường, Phương Loan – Bích
Lộc, Tạp chí LĐ và XH, số 5 năm 1995
Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo rất nhiều các bản báo cáo, thống kê của UBND Quận 5 và các báo cáo hằng năm về tình hình phát triển kinh tế – xã hội của phường 15…
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những thanh niên là cư dân đô thị, họ đã sinh ra và lớn lên ngay tại đô thị TP Hồ Chí Minh Những thanh niên là nam và nữ, nằm trong độ tuổi từ
16 đến 35 tuổi, đang cư trú trên địa bàn phường 15, quận 5 Đề tài không chú ý nghiên cứu đến những thanh niên là người nhập cư từ các tỉnh khác đến hiện đang cư trú hoặc làm việc trên địa bàn Trong đề tài, chúng tôi phân chia độ tuổi của các đối tượng nghiên cứu thành ba nhóm theo quan sát thực tế chứ không căn cư theo văn văn bản quy định hành chính nào về độ tuổi này: nhóm 1 là những thanh niên trong độ tuổi 16 – 22, đây là độ tuổi đang còn đi học của mỗi người, tuy nhiên trong này bao gồm cả những người hiện đã bỏ học, gia nhập vào thị trường lao động; nhóm 2 là những thanh niên trong độ tuổi 23 – 30, đây là độ tuổi đánh giá sự trưởng thành của thanh niên sau khi đã tốt nghiệp đại học, tham gia chính thức vào thị trường lao động; nhóm 3 là những người thanh niên trong độ tuổi 31 – 35, đây là độ tuổi mà các đối tượng đã có
sự ổn định tương đối về nghề nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và kinh phí của đề tài có giới hạn, do vậy đề tài được chúng tôi thực hiện chỉ thực hiện nghiên cứu trường hợp tại không gian đô thị có tốc độ đô thị hóa cao, rất đặc trưng là phường 15, quận 5 Ở phường 15, quận 5 thanh niên có đủ mọi lứa tuổi, trình độ học vấn và chuyên môn, sự khác nhau về thành phần dân tộc,… cũng như các cơ hội tiếp cận việc làm khác nhau
Thời gian cụ thể, đề tài được thực hiện trong 6 tháng (từ tháng 11 năm 2005 đến hết tháng 4 năm 2006)
Trang 105 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
5.1 Cách tiếp cận và một số khái niệm liên quan
Để nghiên cứu và phân tích những nội dung về vấn đề lao động và việc làm của thanh niên đô thị, đề tài sử dụng tổng hợp các trường phái lý thuyết của các ngành học Nhân học kinh tế, Nhân học đô thị, Nhân học ứng dụng để làm cơ sở lý luận cho việc phân tích Để nhận diện và phân tích sâu sắc vấn đề lao động và việc làm của thanh niên đô thị trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, đề tài sẽ tiếp cận các khung
lý thuyết và phân tích của một số ngành khoa học khác như kinh tế học, xã hội học
Một số khái niệm liên quan đến đề tài cần xác định:
- Người có việc làm ổn định: là người có việc làm được trả lương từ 6
tháng trở lên
- Người có việc làm tạm thời: là người có việc làm không liên tục hoặc
làm việc có lương từ 3 tháng trở xuống
- Người không làm việc: người không có việc làm không phải là những
người không làm bất cứ công việc nào mà ở đây chúng tôi muốn nói đến những người nội trợ, hoặc đến tuổi lao động mà không có nhu cầu tìm việc làm để có thu nhập
- Thất nghiệp: là những người không có việc làm có lương từ 3 tháng trở
lên do đã hết hợp đồng lao động hoặc người chưa hề có việc làm hoặc chưa từng là người làm công ăn lương Nhưng những người này đang có nhu cầu tìm việc
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Bối cảnh đô thị hóa và sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của TP Hồ Chí Minh đã
và đang tác động nhiều mặt đến quá trình lựa chọn nghề nghiệp và tình trạng việc làm của thanh niên Sự tác động này diễn ra trên nhiều phương diện với những quy mô và tính chất khác nhau Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã đưa ra một số giả thuyết nghiên cứu như sau:
- Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tốc độ đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh đã tác động đến cơ hội và tình trạng việc làm của thanh niên đô thị (cả nam và nữ)
Trang 11- Trình độ học vấn và khả năng chuyên môn có tác động mạnh đối với cơ hội tiếp cận việc làm của thanh niên
- Nguồn gốc gia đình, vốn xã hội khác nhau của các nhóm thanh niên sẽ
có tác động đến nhu cầu và nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp, cũng như quá trình tiếp nhận cơ hội việc làm khác nhau
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp chung
Trong đề tài này, chúng tôi thấy cần thiết phải sử dụng các phương pháp phân tích, quy nạp, diễn dịch, so sánh, phân loại và thống kê Sử dụng các phương pháp chung là cần thiết để với các phương pháp, kỹ thuật thu thập thông tin chuyên ngành của Nhân học nhằm đưa đến kết quả khách quan và khoa học cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài
6.2 Các phương pháp thu thập và xử lý thông tin cụ thể
6.2.1 Phương pháp thu thập thông tin sẵn có
Đề tài nghiên cứu có chọn lọc các tài liệu có liên quan trên các sách, tạp chí, báo và kể cả các tham luận khoa học, các nghị quyết hội nghị của Đảng bộ các cấp… Đặc biệt, đề tài tham khảo rất nhiều thông tin đã trở thành văn bản trong các báo cáo của cán bộ ở địa bàn nghiên cứu (P15, Q.5)
6.2 2 Phương pháp thu thập thông tin định tính:
Đề tài sẽ xác định thời gian quan sát thành nhiều đợt tại địa bàn nghiên cứu
Về nội dung quan sát: Chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp và kỹ thuật quan sát trong nghiên cứu điền dã Dân tộc học để ghi nhận và tìm hiểu các hoạt động việc làm, tìn hiểu nhu cầu, thái độ và các nguyện vọng… về việc làm của thanh niên đô thị tại địa bàn nghiên cứu
Đề tài sẽ sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân, phỏng vấn chiến lược
để thu thập những thông tin từ phía đối tượng được nghiên cứu và cả những người là cán bộ chính sách ở địa phương Chúng tối đã phỏng vấn 15 trường hợp thuộc các độ
Trang 12tuổi và giới tính khác nhau, kể cả đối tượng nghiên cứu và cán bộ quản lý ở chính quyền địa phương
Là một sinh viên ngành Nhân học, chúng tôi đặc biệt rất quan tâm với 2 phương pháp thu thập thông định tính (quan sát tham dự và phỏng vấn sâu) này trong suốt quá trình thực hiện đề tài
6.2.3 Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Đề tài sẽ sử dụng bảng hỏi (ankét) được thiết kế dựa trên những nội dung cần thu thập những thông tin để tăng độ tin cậy và khoa học cho nội dung nghiên cứu và các kết luận của đề tài
Việc chọn mẫu trong phương pháp thu thập thông tin định lượng
Phường 15 Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh có 5 khu dân cư Trong đó:
- Khu dân cư 1 có 13 tổ (từ tổ 1 đến tổ 13);
- Khu dân cư 2 có 10 tổ (từ tổ 14 đến tổ 23);
- Khu dân cư 3 có 8 tổ (từ tổ 24 đến tổ 31);
- Khu dân cư 4 có 15 tổ (từ tổ 32 đến tổ 46);
- Khu dân cư 5 có 9 tổ (từ tổ 47 đến tổ 55);
Trong quá trình thực hiện đề tài, được sự cố vấn của UBND Phường và được căn cứ trên đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (xem thêm phần đối tượng nghiên cứu của để tài), chúng tôi chọn nghiên cứu ngẫu nhiên ba khu dân cư 1, 3 và 5 Ba khu dân
cư này có đầy đủ những đặc trưng của Phường, cụ thể như: ở đây có nhiều thành phần dân cư, người Hoa tập trung tương đối đông, có đầy đủ các loại hình hoạt động kinh tế của Phường, về vị trí địa lý có cả khu vực ngoài mặt đường lớn, nhỏ và khu dân cư trong hẻm
Do hạn chế về vấn đề kinh phí, thời gian tiến hành đề tài và nhất là những khó khăn về nhân lực khi vừa học tập vừa nghiên cứu; nhóm thực hiện đề tài chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu ngẫu nhiên 2 tổ dân phố ở mỗi khu dân cư, và trong mỗi
tổ chọn ngẫu nhiên 25 người thuộc độ tuổi nghiên cứu (16 đến 35) để phỏng vấn
Trang 13Cụ thể mẫu được chọn là để điều tra định lượng là 150 phiếu (tương đương với 150 người tại 150 hộ gia đình, đang cư trú tại:
o Trong khu dân cư 1, chúng tôi chọn 4 tổ: 1, 5, 7, 11
o Trong khu dân cư 3, chúng tôi chọn 3 tổ: 24, 26, 30
o Trong khu dân cư 5, chúng tôi chọn 5 tổ: 47, 49, 50, 52, 53
7 BỐ CỤC TRÌNH BÀY NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Địa giới tự nhiên và lược sử phát triển của phường 15
1.2 Đặc điểm chung về dân cư trên địa bàn phường 15
1.3 Đặc điểm chung về hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội
CHƯƠNG 2: CƠ CẤU NGHỀ NGHIỆP VÀ TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM
CỦA THANH NIÊN ĐÔ THỊ TẠI PHƯỜNG 15, QUẬN 5
2.1 Cơ cấu nghề nghiệp và tình trạng việc làm 2.1.1 Yếu tố giới trong lao động
2.1.2 Trình độ học vấn và chuyên môn 2.1.3 Thành phần gia đình và dân tộc 2.2 Nhu cầu tìm việc và khả năng tiếp cận việc làm của thanh
niên đô thị tại Phường 15, Quận 5 2.2.1 Việc làm và vấn đề tìm kiếm việc làm
2.2.1.1 Thay đổi việc làm 2.2.1.2 Tìm kiếm việc làm
2.2.2 Những yếu tố tác động đến việc làm
2.2.2.1 Thời gian làm việc
2.2.2.2 Tính ổn định và điều kiện lao động
2.2.2.3 Trả công lao động
Trang 14CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HỖ TRỢ VIỆC CHO THANH NIÊN 3.1 Từ phía chính quyền địa phương
3.2 Từ kết quả nghiên cứu của đề tài
KẾT LUẬN
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Địa giới tự nhiên và lược sử phát triển của phường 15
Quận 5 là một trong 24 quận, huyện của Thành phố Hồ Chí Minh và cũng một trong những quận trung tâm của thành phố Quận 5 bao gồm 15 phường, trong đó Phường 15 là một trong những Phường ở vị trí cuối Quận về phía Tây Phía Đông giáp với Phường 12, qua ranh giới đường Đỗ Ngọc Thạnh; phía Tây giáp với Phường 16 Quận 11, qua ranh giới đường Nguyễn Thị Nhỏ; phía Nam giáp Phường 14 qua ranh giới đại lọ Hùng Vương; phía Bắc giáp Phường 4 Quận 11 qua đường ranh giới đại lộ Nguyễn Chí Thanh
Tuy là một Phường nằm ở cuối Quận 5 nhưng Phường 15 lại có một vị trí vô cùng thuận lợi, vị trí tiếp giáp với quận 6 và Quận 11 Đây cũng là hai trung tâm kinh
tế xã hội quan trọng của quận 5 nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung Đặc biệt nơi đây là nơi cộng cư hoạt động kinh tế của cộng đồng người Hoa khá đông đúc
Và địa danh Chợ Lớn gần như trở thành một đặc điểm tượng trưng cho địa bàn nơi đây Với một vị trí địa lý thuận lợi, Phường 15 đã có nhiều đóng góp cho hoạt động kinh tế,
văn hoá, xã hội của Quận 5 nói riêng và của thành phố nói chung
Hiện nay, về địa giới hành chính, Phường 15 được chia làm 5 khu phố, bao gồm 53 tổ dân cư, với diện tích toàn Phường là 322.000 m2 Các đường phố chính của Phường bao gồm các đại lộ Nguyễn Chí Thanh ở phía Bắc, đại lộ Hùng Vương ở Phía Nam; chạy theo trục song song với các đại lộ là đường Tân Thành và đường Phạm Hữu Chí Theo hướng Bắc – Nam có các đường phố như: Đỗ Ngọc Thạnh, Dương Tử Giang, Tạ Uyên, Hà Tôn Quyền, Nguyễn Thị Nhỏ, Võ Trường Toản
Quận 5 là trung tâm kinh tế lâu đời của vùng Chợ Lớn cũ, đây là khu vực tập trung đông đúc người Hoa và người Việt định cư ở đây Chợ Lớn nằm trong địa hạt tổng Tân Long Chợ Lớn thời ấy gọi là chợ Sài Gòn hình thành từ rất sớm trong quá trình khẩn hoang lập ấp của cư dân Việt – Hoa Cách đây 300 năm, khi những cư dân người Việt dưới thời các chúa Nguyễn vào vùng đất này cư trú
Năm 1679, bộ phận người Hoa ở vùng đất Long Môn, Quảng Tây – Trung Quốc đã theo Dương Ngạn Địch vào vùng đất phương Nam được chúa Nguyễn chấp
Trang 16thuận cho cư trú ở vùng Mỹ Tho Qua thời gian, người Hoa cùng người Việt khai hoang lập ấp dựng lên các phố chợ làm ăn buôn bán phát triển ngược về phía trên và Sài Gòn – Chợ Lớn trở thành trung tâm trung tâm buôn bán của phủ Gia Định
Trước năm 1975, địa bàn Phường 15 có nhiều thay đổi và gần như nằm gọn trong Phường Trang Tử thuộc Đô thành Sài Gòn Phường Trang Tử lúc này bao gồm Phường 15, một phần Phường 12, một phần Phường 14 của Quận 5 ngày nay
Sau năm 1975, chính quyền Cách mạng vẫn giữ tên Phường Trang Tử và chia làm 6 khóm, trong đó khóm 1, 3, 5 là tiền thân của Phường 15 hiện nay Tháng 6 năm
1976, các khóm trên lập thành các Phường 4,5, 6 của Quận 5 Tháng 6 năm 1986, các Phường trên sáp nhập thành Phường 15 như hiện nay1
Phường 15 có lịch sử hình thành và sát nhập địa giới hành chính tương đối muộn so với các phường khác trong quận, đây là địa bàn sinh sống cộng cư giữa người Hoa và người Việt Từ những lớp cư dân đầu tiên đến đây sinh cơ lập nghiệp, họ đã mang đến cho vùng đất này một nguồn sinh khí mới biến nơi đây từ một vùng đất hoang hoá trở thanh một trung tâm kinh tế, xã hội phát triển và náo nhiệt Có thể nói rằng, trong suốt 20 năm đổi mới, cùng với các chính sách phát triển chung của thành phố, lực lượng lao động đông đảo trên địa bàn phường 15, quận 5 đã làm biến đổi không gian đô thị của khu vực này trở thành nơi hoạt động kinh tế, văn hóa rất sôi động
1.2 Đặc điểm chung về dân cư trên địa bàn Phường 15
Theo thống kê của UBND phường 15, đến cuối năm 2005, phường 15 có 2.350 hộ dân, với 12.683 nhân khẩu 2 (xem bảng 1) Trong cơ cấu dân cư của Phường, số
lượng nam là 5931 người, chiếm khoảng 47%; nữ 6752 người, chiếm 53% Như vậy, có thể nói sự chênh lệch về giới trong cơ cấu dân cư phường 15 là không quá lớn
Bảng 1: Tổng dân số và dân cư trên địa bàn phường 15
1
Lược sử quá trình định cư của cư dân người Hoa được tham khảo theo tư liệu của sách, Sài Gòn Thành phố Hồ
Chí Minh – 300 năm”, TP Hồ Chí Minh, 1998 và sách Địa chí Quận 5, TP Hồ Chí Minh
2
Báo cáo tổng kết của UBND phường 15 Quận 5, 2005
Trang 17Dân cư
Nhân khẩu Đơn vị: người
Về thành phần dân tộc, Phường 15 có hai bộ phận dân cư chính là người Kinh
và người Hoa, còn lại một số cư dân khác đa phần là người nhập cư, chiếm tỉ lệ rất nhỏ (1,75%) Người Kinh có 2950 người, chiếm 23% dân số toàn Phường; người Hoa có
9513 người, chiếm 75% dân số
Trang 18
Mặc dù sự chênh lệch về dân số tương đối lớn, nhưng trải qua quá trình sinh sống lâu đời, toàn thể cư dân Việt và Hoa đã có sự giao lưu về nhiều mặt, từ kinh tế cho đến tính ngưỡng, văn hoá, xã hội…
Về số người trong độ tuổi lao động và tình trạng việc làm:
Theo số liệu thống kê của UBND Phường 15, đến cuối tháng 12 năm 2005, số người trong độ tuổi lao động của Phường là 8713 người chiếm hơn 68% trên tổng số dân cư toàn Phường; trong đó nữ là 4.400 người, nam là 4313 người
Bảng 2: Số người trong độ tuổi lao động phường 15
Số lao động (người)
Tỉ lệ % theo giới tính
Bảng 3: Tình trạng việc làm của người trong độ tuổi lao động
Biểu đồ 1 : Biệu thị sự chênh lệch giửa cư dân người Việt và người Hoa ở phường 15, năm 2005
2950
9513
0 2000 4000 6000 8000 10000
Người Việt Người Hoa
Trang 19Tình trạng Số
người
Tỉ lệ % trên số người trong độ tuổi lao động
Chưa có việc làm 372 4%
Có nhu cầu tìm việc 259 3 %
Không có nhu cầu tìm việc
Trong tổng số lao động toàn Phường 15, lực lượng lao động trẻ là thanh
niên (từ 16 đến 35 tuổi) chiếm gần 47% Đây là lực lượng lao động có đóng góp
giá trị kinh tế không nhỏ vào bức tranh sinh hoạt kinh tế, xã hội của toàn phường nói riêng và quận 5 nói chung
1.3 Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của Phường 15
1.3.1 Kinh tế
Trong những năm qua bằng sự nỗ lực của các cấp chính quyền cũng như của các thành phần cư dân trên điạ bàn mà phường 15 đã có những bước phát triển vượt bậc
Đặc điểm cộng cư của cư dân Hoa – Việt có lẻ là nguyên nhân dễ thấy làm các hoạt động kinh tế của Phường 15 rất phong phú và đa dạng Có thể liệt kê ra đây một
số ngành nghề phổ biến của cư dân phương 15 như: dệt, nhuộm , sản xuất kim khí, kinh doanh cắt sắt, nhựa gia dụng, buôn bán các mặt hàng, kinh dịch vụ nhà hàng, khách sạn,… theo ý kiến của bà Trần Thị Đặng chúng ta thấy rõ thêm về bức tranh
chuyển đổi về kinh tế – xã hội của phường 15, theo bà: “ngày trước, … hoạt động kinh
tế chủ yếu cũng chỉ đơn giản là buôn bán nhỏ lẻ để sinh sống chứ không được như bây giờ Hiện nay, hoạt động sản xuất buôn bán kinh doanh của người dân trên địa bàn
Trang 20phường đã rất phát triển và vô cùng khấm khá, ăn nên làm ra nhà cửa khang trang, bộ mặt xã hội cũng thay đổi”3
Theo thống kê của UBND Phường15, hiện nay trên địa bàn Phường có tổng số
572 cơ sở sản xuất, trong đó công nghiệp là 115 cơ sở, thương nghiệp là 402 cơ sở, công ty là trách nhiệm hữu hạn – sản xuất – thương mại – dịch vụ là 52 cơ sở, hợp tác
xã là 3 cơ sở Đặc biệt đáng chú ý là ở hình thức kinh doanh gửi hàng của các hộ gia đình có 114 hộ với 33 kho hàng trong đó có 107 hộ có đang kí giấy phép kinh doanh, 7
hộ không có giấy phép
Doanh thu từ các loại hình kinh tế trên địa bàn hằng năm khá cao Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2005, ước doanh thu thương mại dịch vụ là 407,92 tỷ đồng, tăng 13,9% với năm 2004 Doanh thu sản xuất công nghiệp đạt 11,58 tỷ đồng, giá trị tổng sản lượng đạt 21,8 tỷ 4
Trong nhiều năm qua, tại phường 15, các cơ sở kinh tế chính thức do nhà Nhà nước thành lập và quản lý, cùng với các hộ kinh doanh thương mại – dịch vụ cá thể chính thức (nhà nước thu thuế trên doanh thu) và phi chính thức (nhà nước không thu thuế như: buôn bán rong, làm thuê,…) hoạt động rất sầm uất và hiệu quả Ở phường còn có các hình thức tổ chức hoạt động kinh tế như là công ty tư nhân và các hợp tác
xã, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp với các nghề như dệt, cơ khí, hoá nhựa,…
đã hoạt và thu hút được hàng trăm lao động thuộc nhiều lứa tuổi, trình độ ở trong và ngoài phường đến làm việc
Trong số các ngành nghề nêu trên thì nghề buôn bán thu hút được cư dân nhiều nhất, đó không chỉ là đặc điểm riêng của cư dân người Hoa và Việt trên địa bàn phường 15, mà còn trở thành một trong những điểm nổi bật của tình hình kinh tế tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 21H.1 Chợ bán hàng thực phẩm đường Tân Thành, P.15, Q.5
A Hồng Ân- Thanh Thảo, năm 2006
Như trong phần lược sử (phần 1.1) đã nhắc tới, một đặc điểm nổi bật của cư dân người Hoa tại phường 15 chính là tính cố kết cộng đồng khá cao Tính cộng đồng
này dẫn đến việc người Hoa thường sống tập trung trên một địa bàn nhất định để có thể cùng giúp đỡ nhau Nhắc đến Người Hoa không thể không nhắc đến nghề buôn bán của họ, bởi vì đó đã trở thành đặc điểm nổi bật của dân tộc này, không chỉ ở riêng Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới Ngoài hình thức buôn bán nhỏ của các tiểu thương trong chợ, các hộ dân nói chung và người Hoa ở phường 15 còn tự tổ chức theo khu phố buôn bán riêng với những ngành nghề nhất định, hay còn gọi là
những phố chuyên doanh Hiện nay phường 15 có trên 900 hộ kinh doanh bách hoá và
ăn uống, giải khát Các hộ này thường tận dụng mặt tiền các đường như: hùng Vương, Nguyễn Thị Nhỏ, Võ Trường Toản, Tạ Uyên, Nguyễn Chí Thanh,… để trực tiếp kinh doanh hoặc cho thuê mặt bằng Cư dân hiện nay kinh doanh ẩm thực dựa theo tuyến phố (tuyến đường) Họ tổ chức với sự cộng tác hỗ trợ giúp đỡ nhau của nhiều hộ gia đình cùng kinh doanh các món ăn Hoa, Việt rất đa dạng và phong phú, có ảnh hưởng chi tiêu, ăn uống của nhiều thành phần dân cư trong và ngoài phường đến đây và đây cũng là nét văn hoá ẩm thực phản ánh đặc trưng của Phường 15 Trong lĩnh vực ẩmthực, Phường 15 có tiềm năng rất lớn vừa tự kinh doanh buôn bán mang lại thu nhập cho gia đình nhưng đồng thời là tạo ra việc làm ra thu nhập cho gia đình và bản thân
Trang 22Khi Phường 15 được sát nhập địa giới hành chính thì nơi đây đã có nền tảng
cơ sở kinh tế do bộ phận người Hoa và người Việt xác lập Chính vì vậy, điều kiện ban đầu đã có cộng với lực lượng lao động trẻ đông đảo của Phường đã phần nào thúc đẩy kinh tế – xã hội của Phường phát triển và vươn lên một các mạnh mẽ như hiện nay
1.3.2 Văn hoá, xã hội
Phường 15 là nơi phát triển kinh tế khá nhộn nhịp, tuy nhiên đời sống văn hoá cũng vô cùng phong phú thể hiện rõ nét trên lĩnh vực tín ngưỡng – tôn giáo Cư dân Phường 15 theo tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, ngoài ra họ cũng theo nhiều tôn giáo khác như: đạo Phật, Thiên chúa, Tin Lành, Hồi giáo Islam, Cao Đài
Với lịch sử định cư khá lâu và ổn định, người Hoa đã tạo cho mình nhiều dấu
ấn đặc trưng, trong đó nổi bậc là hoạt động tôn giáo Họ thường tổ chức lễ và cúng bái các vị thần của mình như Ông Bổn, Bà Thiên Hậu, Quan Công, Thần tài, Thổ địa… vào các ngày mùng 1, mùng 2 ngày rằm và 16 trong tháng Phong tục này của người Hoa ảnh hưởng rất sâu rộng đến cộng đồng người Việt xung quanh Hiện nay, sự giao lưu văn hoá tín ngưỡng tôn giáo này vẫn đang ngày càng phát triển, tạo thành đặc trưng rất riêng cho địa bàn phường 15 nói riêng và vùng Sài Gòn – Chợ lớn nói chung
Cùng thực hiện mục tiêu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại, văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, dân cư Phường 15 cùng với chính quyền địa phương đang thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới xin, tang ma, lễ hội theo Chỉ thị 27/ CT – TW Trong 5 năm qua, hệ thống những nghi lễ, tục lệ rườm rà trong tín ngưỡng của người Hoa cũng như người Việt đã dần được tổ chức theo nếp sống thành thị và được đơn giản hoá Trong những dịp Tết, ngày rằm âm lịch đã hạn chế bớt được tình hình đốt nhang, vàng mã, mê tín dị đoan so với những năm trước, thực hiện nếp sống văn minh trên địa bàn dân cư
Phường 15 thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền cổ động chính sách của Phường của Đảng và Nhà nước như: chiếu phim, cắt dán khẩu hiệu, xe loa tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước và chào mừng các ngày lễ lớn để nhân dân nâng cao nhận thức đối với việc chấp hành quy định của pháp luật về các nội dung như sau: Luật phòng chống ma tuý, HIV/AIDS, phòng cháy chữa cháy, hôn nhân gia đình, Nghị định 14 – 15/CP, “Năm trật tự kỷ cương – Nếp sống văn minh
Trang 23đô thị”, kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2, ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4,… đặc biệt trong thế hệ trẻ
Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, thành lập 1 điểm sinh hoạt văn hoá Phường làm nơi sinh hoạt hội họp của các khu dân cư, tổ dân phố Tiếp tục thực hiện xây dựng “Gia đình văn hoá”, gương “Người tốt việc tốt”; câu lạc bộ “Ông bà cháu” luôn được duy trì; trong năm
2003 đã có 1929/2064 hộ đạt danh hiệu “Gia đình văn hoá”, 1 khu dân cư tiên tiến, 40
tổ dân phố xuất sắc, 12 tổ tiên tiến,… 130 gương “Người tốt việc tốt” Phong trào thể dục thể thao được Phường thường xuyên rèn luyện và tổ chức thi đầu cấp Quận và Thành phố với 600 vận động viên tham gia các giải như: bóng chuyền, kéo co, nhảy dây, bóng bàn, cờ vua, cờ tướng, cầu lông, việt dã
Trên lĩnh vực xã hội, Phường đã vận động 100% trẻ em đến trường, trao 78 suất học bổng cho các em có hoàn cảnh khó khăn Công tác vận động hiến máu nhân đạo được tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong trong cán bộ nhân viên và quần chúng nhân dân về mục đích của việc hiến máu cứu người Tổ chức các hội thảo chuyên đề
và vận động đối tượng thực hiện kế hoạch hoá gia đình Thực hiện khám chữa bệnh, nâng cao công tác giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng, thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, cấp thẻ bảo hiểm y tế, chăm lo cho người già neo đơn, xây dựng nhà tình thương, thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa nhân các ngày lễ lớn trong năm và Tết Nguyên Đán, huy động nghĩa vụ lao động công ích… Trong năm qua đã chứng nhận
334 trường hợp đơn xin việc tại các cơ quan, các cơ sở sản xuất, dịch vụ tư nhân5
Tình hình an ninh chính trị – trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định, công tác quản lí nhân hộ khẩu được thực hiện một cách triệt để, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy manh trong quần chùng nhân dân, góp phần đẩy lùi tện nạn xã hội, tham gia giữ gìn an ninh trật tự tại khu dân cư góp phần làm giảm các
vụ án hình sự Nhân dân trong Phường thực hiện tốt các quy ước tự quản về an ninh trật tự đối với tổ dân phố, nhóm hộ, hộ gia đình, xây dựng được 50/55 tổ tự quản, đạt 91%
5
Báo cáo UBND phường 15, Chương trình công tác năm 2004 và cuộc vận dộng “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá ở kuh dân cư” Phường 15 Quận 5, tr 9
Trang 24Như vậy, qua các con số thành tựu trên đây có thể thấy rằng phường 15 là một trong những phường trọng điểm phát triển của quận, và tất cả những yếu tố thuận lợi trên có tác động rất lớn tới tình hình lao động của dân cư trong phường, đặc biệt là đối với thành phần lao độngă1
Trang 25CHƯƠNG 2
CƠ CẤU NGHỀ NGHIỆP VÀ TÌNH TRẠNG VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN
ĐÔ THỊ TẠI PHƯỜNG 15, QUẬN 5
2.1 Cơ cấu nghề nghiệp và tình trạng việc làm của thanh niên
Trong bối cảnh chung về sự tăng trưởng kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh, Phường 15 là một trong những phường của quận 5 đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao Do những đặc điểm về vị trí địa lý và đặc điểm xã hội-dân cư (người Hoa),
phường 15 từ nhiều năm qua luôn nổi bật với các chỉ số tăng trưởng về quy mô của các hoạt động kinh tế theo hướng thương mại và dịch vụ Theo nhận định của ông
Trần Văn Ứng, một Đảng viên lâu năm ở Phường: Khi gia đình tôi chuyển vào sinh sống tại phường (năm 1986), lúc này kinh tế của phường cũng có cơ sở gọi là phát triển tương đối rồi, đời sống người dân trung bình, hoạt động kinh tế chủ yếu cũng chỉ
là buôn bán để sinh sống chứ chưa được phát triển như bây giờ Hiện nay, hoạt động sản xuất buôn bán kinh doanh của người dân trên địa bàn phường đã rất phát triển và nhiều người đã giàu lên hẳn Loại hình kinh tế phổ biến nhất ở địa bàn phường là gia công, buôn bán, làm công nhân, văn phòng ở những công ty liên doanh, tư nhân,… Trong đó chiếm số lượng đông đảo nhất vẫn là làm nghề buôn bán theo hình thức gia đình, vì đặc điểm của phường làm kinh tế buôn bán từ xưa đến nay mà phát triển nhất vẫn là của người Hoa 6
Hiện nay, cơ cấu nghề nghiệp trên địa bàn phường 15 rất phong phú và đa dạng Theo cách phân chia của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, cơ cấu nghề nghiệp bao gồm bốn dạng chính là nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại – dịch vụ Như trên đã trình bày, chính do đặc điểm dân cư là người Hoa chiếm tỉ lệ khá lớn, nên cơ cấu nghề nghiệp của Phường 15, Quận 5 chủ yếu thiên về loại hình nghề nghiệp thương mại, dịch vụ Minh chứng cho điều này, chúng ta xem lại số liệu thống
kê (bảng 4, phần 1.3.1) về loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh của phường 15:
6
Xem Phụ lục , trường hợp 4
Trang 26Loại hình sản xuất kinh doanh
Số lượng (cơ sở/hộ)
Lao động phổ thông: là những người làm những công việc không đòi hỏi
một trình độ chuyên môn Những đối tượng này đa phần có trình độ học vấn tương đối thấp, không qua đào tạo nghề Công việc của nhóm này cụ thể như: chạy xe ôm, xích
lô, bốc vác, làm thuê, buôn bán nhỏ…
Lao động có tay nghề: là những người lao động trong các ngành nghề có
đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu từ thấp đến cao Nghề nghiệp của những lao
Trang 27động có tay nghề được thể hiện rất đa dạng trên các thành phần kinh tế, lĩnh vực kinh
tế khác nhau, cụ thể như:
- Cơ quan Nhà nước: đối tượng chủ yếu là những người đang làm việc trong
các cơ quan trực thuộc Nhà nước quản lý, từ khối Hành chính sự nghiệp cho đến các đơn vị sản xuất do Nhà nước quản lý
- Công ty tư nhân, liên doanh nước ngoài : đối tượng chủ yếu là những người
đang làm việc trong các cơ sở sản xuất do cá nhân tự điều hành, do cá nhân liên kết với người nước ngoài hoặc cá nhân là người nước ngoài
- Cở sở sản xuất gia đình: đối tượng chủ yếu là những người đang làm việc
trong các cơ sở sản xuất do gia đình tự tổ chức sản xuất và điều hành
Theo kết quả điều tra của 150 trường hợp được phỏng vấn theo mẫu (là thanh niên đô thị) được chọn tại phường 15, đề tài có được kết quả như sau:
Bảng 5: phân loại lao động của thanh niên theo học vấn
Tuong quan nghe nghiep va hoc van
Qua kết quả điều tra chúng tôi nhận thấy tỉ lệ số người trong độ tuổi từ 16 đến
22 tuổi hiện đang trong độ tuổi đi học chiếm 24%; số lượng thanh niên không có việc làm chiếm tỷ lệ 21,3% (tức là 32 trường hợp trên tổng số 150 trường hợp được khảo sát) Tỉ lệ thanh niên không có việc làm chiểm tỉ lệ không nhỏ và có sự chênh lệch khá lớn theo như số liệu thống kê của chính quyền địa phương phường 15 Theo nhận định
của bà Tiêu Tú Anh, “Hiện nay, nhiều cơ sở sản xuất ngày cáng phát triển và mở rộng
Trang 28ra thêm, phải kể đến người Hoa làm kinh tế, cháu (ĐTV) thấy đó, những con đường ở đây như tân Thành, Võ Trường Toản, Tạ Uyên, Hà Tôn Quyền là có cửa hàng, cở sở làm ăn của người Hoa Như vậy, cũng hộ trợ rất nhiều cho người lao động nhưng số lượng có hạn thôi chứ không giải quyết hết được đâu” 7
Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng tỉ lệ thanh niên không có vệc làm cũng bao gồm
cả những không có việc làm nhưng ở nhà làm nội trợ và những người có việc làm không ổn định, tức là tại thời điểm đề tài điều tra thì đang không có việc làm
Ở đây, chúng ta cần chú ý khái niệm người không có việc làm được sử
dụng trong bài “là người không có việc làm không phải là những người không làm bất cứ công việc nào mà ở đây chúng tôi muốn nói đến những người nội trợ, những người có việc làm không ổn định và kể cả những người không có nhu cầu tìm việc” Qua khảo sát những người trong nhóm này thường ở vào hai nhóm tuổi: nam, nữ thanh niên hiện còn trẻ nhưng đã nghỉ học sớm và những phụ nữ đã lớn tuổi (trên 30) nhưng lại có trình độ học vấn thấp
Ngoài hai nhóm đối tượng kể trên, đa phần đối tượng thanh niên đều có công ăn việc làm ổn định (54,7%) Trong đó, lao động ở khu vực tư nhân, liên doanh, các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài là nhiều nhất 41 trường hợp chiếm 27,3% và đối tượng trong lĩnh vực lao động phổ thông là 26 trường hợp chiếm 17,3% Những con số này thể hiện sự khác biệt khá lớn về trình độ học vấn và khả năng tiếp cận nghề nghiệp của các đối tượng được phỏng vấn Trong khi đó, số lượng lao động ở khu vực Nhà nước là 3,3% và làm tại gia đình là 6,7% chiếm tỷ thấp hơn so với các lĩnh vực nghề nghiệp khác
7
Xem phụ lục, trường hợp 3
Trang 29Đối với khu vực Nhà nước, điều này có thể được giải thích từ nhiều
nguyên nhân, như trình độ học vấn, xuất thân gia đình, … Tuy nhiên, nhìn chung thì nguyên nhân về trình độ vẫn là quan trọng hơn cả Và cũng từ nguyên nhân này khiến cho trong số những người được khảo sát có rất ít người hội đủ điều kiện để làm việc trong khu vực này
Phường 15 là một khu vực cộng cư lâu đời giữa hai dân tộc Hoa – Việt, cùng với vị trí địa lý thuận lợi nên từ lâu nơi đây đã hình thành nên những khu chợ buôn bán sầm uất, trở thành một trong những điểm rất đặc trưng của Phường Tuy nhiên, qua quá trình khảo sát, các đối tượng được phỏng vấn lại không tập trung nhiều vào lĩnh
vực này (chỉ chiếm 6,7%), điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau: thứ nhất, phần đông những cá nhân hoặc những hộ dân có cơ sở buôn bán thường là những
người thuộc nhóm tuổi cao hơn, cụ thể là từ 30 tuổi trở lên; còn lại đa số những thanh
niên hiện nay không tham gia trực tiếp vào những ngành nghề này Thứ hai, có một
thực tế hiện đang diễn ra tại các khu chợ của phường, đó là việc ngày càng có nhiều người dân từ các nơi khác cùng đến làm ăn, tiêu biểu nhất là khu vực buôn bán xung quanh các chợ và số lượng các cơ sở sản xuất của tư nhân ngoài phường ngày càng gia
tăng Theo ý kiến bà Trần Thị Đặng thì “Các cơ sở kinh tế trên địa bàn phường phần
Biểu 3: Tình trạng việc làm của thanh niên phường 15
0 5 10 15 20 25
30
Lao Động phồ thông
Cơ quan nhà nước Cong ty Tư nhân Nghề ở gia đình Đang đi học Không có việc làm
Trang 30lớn là ở quy mô nhỏ, hộ gia đình, chưa có các cơ sở kinh tế lớn đủ mạnh để có thể thu hút và giải quyết việc làm cho một khối lượng lao động lớn, đặc biệt là nhân lực có trình độ học vấn cao Nếu có thể, chỉ giải quyết cho một lượng lao động có trình độ thấp, mà phần đông là lao động phổ thông Các cơ sở kinh tế ở phường phát triển nhanh chóng, nhưng số lượng người tham gia thị trường lao động sớm ngày càng cao, chính vì vậy những người này có trình độ học vấn rất thấp không có khả năng đáp ứng nhu cầu công việc đòi hỏi trình độ cao, nên dễ rơi vào đội ngũ thất nghiệp”8
H.2 Chợ nhỏ trên đường Hà Tôn Quyền, P.15, Q.5
A Hồng Ân- Thanh Thảo, năm 2006
Hơn nữa, quanh khu vực Phường 15 còn có khu “chợ sắt”, được biết đến như một khu chợ buôn bán sắt thép tương đối lớn của người Hoa từ trước đến nay Và có một thực tế đang diễn ra là có không ít hộ dân tận dụng một phần mặt bằng nhà ở để cho những người từ nơi khác đến thuê mở cơ sở sản xuất; tiêu biểu như dọc các con đường Võ Trường Toản, Tân Thành, Hà Tôn Quyền… Qua tìm hiểu những cơ sở này, chúng tôi còn nhận thấy các cơ sở này cũng thu hát một số lượng nhân công đáng kể Khi được phỏng vấn, số lao động này có thể ở phường và ở nơi khác đến
Những người hoạt động kinh tế tại gia đình ở phường 15 bao gồm những công việc như buôn bán tạp hoá tại nhà, bán các loại nước giải khát, bán tạp hoá hay trên
8
Xem phụ lục, trường hợp 1
Trang 31các sạp chợ, và các cơ sở sản xuất kinh doanh của các gia đình Loại hình kinh tế buôn bán này thu hút sự tham gia và có sức ảnh hưởng mạnh đến đời sống, sinh hoạt kinh tế của hàng trăm hộ dân cư
Như vậy, qua phần trình bày trên đây, chúng ta đã phần nào có được một cái nhìn bao quát về cơ cấu lao động và hiện trạng việc làm của thanh niên trong Phường
15 Quận 5 Tuy vậy, để hiểu sâu hơn Và để tìm hiểu sâu hơn, chúng ta cần đi vào những yếu tố tác động trực tiếp cũng như gián tiếp tới vấn đề này
2.1.1 Yếu tố giới trong lao động
Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, tại thành phố Hồ Chí Minh nói chung và phường 15 nói riêng đã dần hình thành quan hệ thị trường về lao động
Trong vấn đề thị trường lao động thì vấn đề thị trường sức lao động là vấn đề nổi lên hàng đầu trong xã hội hiện nay Số lượng lao động ngày càng gia tăng thu hút mạnh vào các khu công nghiệp tập trung từ các tỉnh đổ về, không chỉ lao động nam giới mà cả nữ giới cũng tham gia vào qui trình lao động ngày càng đông đảo Một trong những thay đổi lớn diễn ra hiện nay là số lượng lao động nữ làm công ăn lương
đã tăng lên, tạo ra tỉ lệ cân bằng với nam giới tham gia vào một số lĩnh vực mà trước đây chỉ dành cho nam giới Quá trình khảo sát mẫu 150 thanh niên tại phường 15 đã cho kết quả như sau:
Trang 32Bảng 6: Nghề nghiệp và giới tính của thanh niên
% within gioi tinh Count
% within gioi tinh Count
% within gioi tinh Count
% within gioi tinh Count
% within gioi tinh Count
% within gioi tinh
lao dong pho thong
co quan nha nuoc cong ty tu nhan nghe gia dinh dang di hoc khong co viec lam nghenghi
Total
gioi tinh
Total
nghenghi * gioi tinh Crosstabulation
Theo kết quả khảo sát, trong số 150 phiếu phỏng vấn thì có 73 nữ, chiếm 48,6% và 77 nam, chiếm 51,4% So sánh giữa giới tính và nghề nghiệp của người được phỏng vấn, ta thấy rằng có sự khác biệt nhau giữa nam và nữ thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho mình Nghề nghiệp nam giới theo nhiều nhất qua khảo sát là lao động phổ thông, chiếm 31,2%; trong khi đó tỷ lệ này ở nữ chỉ là 4,1% Lao động phổ thông thường là công việc đòi hỏi sức lực rất nhiều và điều này thường phổ biến ở nam giới hơn là nữ giới Tuy vậy vẫn có một số ngành nghề như gia công thuê sản phẩm, yêu cầu sự khéo léo và chủ yếu những trường hợp nữ được phỏng vấn rơi vào tình huống này
Hiện nay, số lao động thanh niên cả nam và nữ tham gia làm việc, bán hàng ở hầu hết các cơ sở sản xuất trong và ngoài địa bàn của phường chiếm số lượng khá lớn,
cụ thể tại các cơ sở gia công hàng nhựa, đồ sắt, dệt may hay giày da như cơ sở nhựa Đại Đồng Tiến; các cơ sở làm sắt, thép; hay các đội bốc xếp chuyển hàng từ trước tới nay trên các tuyến đường Hùng Vương, Nguyễn Thị Nhỏ…
Thực tế khảo sát cho thấy, việc làm ở công ty tư nhân, các đơn vị có vốn đầu
tư nước ngoài, các đơn vị liên doanh luôn là nơi mà số đông các thanh niên cả nam và
Trang 33nữ ở phường 15 hướng đến Tuy nhiên qua khảo sát, nữ giới lại chiếm ưu thế hơn trong lĩnh vực này, chiếm 38,4% so với nam giới là 16,9% Theo ý kiến của chị Nguyễn Thị Hoài Hoa làm nhân viên kế toán tại công ty TNHH Hương Mỹ ở Quận 1; hay chị Nguyễn Kim Chi là nhân viên văn phòng tại công ty Bảo hiểm nhân thọ
Prudential, nói: “làm việc ở công ty tư nhân được cái là lương cao, thu nhập ổn định, với lại điều kiện làm việc tốt”9
Như vậy, môi trường làm việc tốt cùng với thu nhập tương đối cao và ổn định được đánh giá là những yếu tố quyết định để lao động nữ chọn nơi làm việc Ngoài ra, cũng cần nhắc đến một lý do quan trọng nữa chính là khả năng chuyên môn của các đối tượng này là tương đối cao, nhờ vậy mới có thể đáp ứng được yêu cầu công việc Vấn đề này sẽ được đề cập sâu hơn ở phần sau
Về phía lao động gia đình thì số lượng lao động nam và nữ giới trong độ tuổi
từ 16 đến 35, tham gia vào thị trường lao động trên địa bàn phường tương đối ngang nhau về tỉ lệ Họ tham gia vào các công việc phụ giúp gia đình, buôn bán, hoặc làm các nghề truyền thống như làm hàng mã, sản xuất nhựa… Theo ý kiến của bà Trần T
Kim Phụng về nghề gia công tại nhà của mình rằng “mặc dù thu nhập không ổn định, nhưng nó không đòi hỏi gì nhiều, quen tay là làm được Với lại, mình có thể chủ động được thời gian để làm thêm việc nha”10 Và đây chính là nguyên nhân chủ yếu, phổ biến thường gặp ở những người là nữ giới nhưng không có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp cho mình
Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan đưa đến tình trạng này
Nguyên nhân khách quan dẫn đến việc nhiều thanh niên tham gia vào hoạt động kinh
tế tại gia đình, vì đây là những công việc phù hợp với khả năng của họ, đặc biệt là với lao động nữ, công việc này không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, công việc này đòi hỏi mức độ khéo léo, cũng khá nhẹ nhàng phù hợp điều kiện sức khoẻ cho phép, đặc biệt
là với lao động nữ Nguyên nhân chủ quan là do hầu hết lao động nữ ở đây đều không
có trình độ học vấn cao, chỉ một số ít được đi học đại học, cao đẳng hoặc trung cấp nghề… thì mới có thể tìm được những công việc ổn định và mức lương cao như: nhân
Trang 34viên văn phòng, kế toán… ở các đơn vị liên doanh, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài
Đặc điểm nổi bật của Phường là hoạt động buôn bán, kinh doanh như đồ sắt, bán tạp hoá, phụ tùng xe đạp,… đây là những cơ sở của gia đình nên số lượng thanh niên chủ yếu là làm công việc phụ giúp, buôn bán kinh doanh tại cơ sở của gia đình mình
Trường hợp của anh Tôn Tự Tường (phường 15) phụ giúp buôn bán hàng tạp hoá tại gia đình; hay tương tự là của anh Thạch Lê Phước (phường 15), anh nghỉ học
từ rất sớm nhanh chóng tham gia vào công việc buôn bán và quản lí của gia đình và tiếp quản công việc kinh doanh theo đúng truyền thống của người Hoa Đây cũng là trường hợp của chị Đỗ Thụy Phương Trang (phường 15), một lao động làm việc tại gia đình, nhận kí gửi hàng hoá cho các đơn vị và cá nhân có nhu cầu gửi hàng và trung chuyển hàng hoá về các tỉnh…
H.3 Chợ bán phụ tùng xe trên góc đường Hà Tôn Quyền, P.15, Q.5
A Hồng Ân- Thanh Thảo, năm 2006
Mặt khác, từ số liệu trên cũng cho thấy tỉ lệ thanh niên không có việc làm là rất khác nhau giữa nam 14,3% và nữ 30,1% Hiện tượng nữ trong độ tuổi lao động không
có việc làm khá phổ biến ở địa bàn Phường Một phần là vì những hoàn cảnh khác nhau của gia đình, họ không được tạo điều kiện học tiếp mà phải tham gia vào phụ giúp những công việc của gia đình từ rất sớm Mặt khác đây là địa bàn mà có 70% người Hoa sinh sống, nữ giới từ lâu rất hạn chế trong vấn đề làm việc bên ngoài, nhất
Trang 35là với những phụ nữ đã bước qua ngưỡng tuổi 30 Đúng như ý kiến đánh giá của ông
Nguyễn Văn Ố, người có trình độ đại học ở phường 15 rằng: “hồi trước thì có khác nhau, như người Hoa cho rằng không nên cho nữ giới làm việc nhiều ở bên ngoài, nhưng bây giờ thì hết rồi Tuy trình độ và khả năng mà hiện nay nam hay nữ đều có thể tìm việc cho riêng mình”11
Tham gia vào thị trường lao động trên địa bàn phường hiện nay còn có một bộ phận khá lớn là thành phần lao động phổ thông Những người trong nhóm này tham gia các hoạt động việc làm như: lái xe ôm, đạp xích lô, bóc dỡ hàng hoá, chở hàng mướn,… Những công việc này thường là nam giới đảm nhiệm Đây là những công việc có thời gian làm việc không ổn định, hoặc vất vả, nặng nhọc, đòi hỏi sức khoẻ rất nhiều, thu nhập lại không cao Trong khi đó, chỉ một bộ phận thanh niên có trình độ cao hoặc được trang bị kiến thức chuyên môn đầy đủ nên họ có thể đảm nhiệm các công việc tốt hơn với thu nhập cao, ổn định và hoạt động trí óc là chính Sự phân hoá nghề nghiệp giữa nam và nữ được thể hiện khá rõ ở những người có trình độ kiến thức chuyên môn khác nhau
2.1.2 Trình độ học vấn, chuyên môn và nghề nghiệp
Ngày nay, khi chúng ta lựa chọn một ngành nghề nào đó thì yếu tố học vấn luôn đóng vai trò rất quan trọng, vì đây là cơ sở cũng như là yêu cầu bắt buộc đối với bản thân mỗi người lao động
Trên thực tế khảo sát số người có trình độ học vấn cấp 1, cấp 2 chiếm tỷ lệ tương đối cao: cấp 1 là 2,7% và cấp 2 là 29,3% và phần lớn trong số này là những trường hợp rơi vào trong độ tuổi từ 27 đến 35 tuổi Đây là giai đoạn đất nước bước vào giai đoạn sau chiến tranh và chuyển sang thời kỳ tập trung bao cấp, hầu hết các gia đình đều rơi vào hoàn cảnh khó khăn về kinh tế chính vì thế, hoạt động giáo dục trong giai này cũng vô cùng khó khăn Đó là nguyên nhân làm cho trình độ học vấn của nhóm người trong độ tuổi này gặp nhiều hạn chế trong việc tìm kiếm việc làm12
Có thể nói, trong 20 năm đổi mới, trình độ học vấn của người dân ngày càng được nâng cao, thể hiện rõ nhất là ở nhóm tuổi từ 23 đến 30 Lúc này, nền kinh tế
Trang 36bước sang giai đoạn kinh tế thị trường trong đó yếu tố tri thức đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và phân phối trên thị trường Điều này cũng kéo theo nhu cầu
về sự tăng nhanh đầu tư trong vấn đề học hành của giới trẻ Không riêng ở người Việt
mà giờ đây người Hoa cũng đánh giá cao vấn đề tri thức, mà đặc biệt là nữ giới Trên thực tế số người có trình độ cấp 3, đặc biệt là trình độ đại học đã ngày càng gia tăng chiếm số lượng tương đối cao là 18,7% Trong đó phải kể đến vai trò của nữ giới, đặc biệt nữ giới là người Hoa có trình độ đại học ngày càng gia tăng trên địa bàn Phường
Số lượng người có trình độ học vấn cấp 3 là chiếm tỷ lệ cao nhất, phổ biến nhất là ở nhóm tuổi 16 đến 22 Trong giai đoạn này, công tác giáo dục được đáng giá cao, chính vì vậy mà những người trong độ tuổi này hầu hết đều được tiếp tiếp thu tri thức giáo dục tốt nhất Chỉ một số ít trong số họ bỏ học sớm do nhiều nguyên nhân
như: khả năng học hành, gia đình khó khăn, không có mong muốn đi học tiếp… “hồi
đó ở với bà nội đi học tới lớp 7, sau này ba mất phải nghỉ, học cũng chán quá, thôi nghỉ luôn”13
Yếu tố học vấn ngày nay có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tác động đến vấn đề lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên trên địa bàn Phường 15 Đối với thanh niên trong độ tuổi từ 23 đến 30 thì xu hướng lựa chọn nghề nghiệp có phần dễ dàng hơn, họ có trình độ cao hơn so với giai đoạn trước đó Đây là giai đoạn kinh tế xã hội có nhiều biến chuyển thay đổi bộ mặt đời sống xã hội, có tác động rất lớn đến thị
13
Phiếu phỏng vấn anh Lý Thanh Thêm, ngày 29.3.2006 (Phụ lục)
Biểu 4: Trình độ học vấn của thanh niên
Trang 37trường lao động và khả năng lựa chọn nghề nghiệp Đây cũng là độ tuổi thể hiện sự năng động và khả năng tiếp cận kiến thức chuyên môn cao hơn trong giới thanh niên, cho nên, điều này tạo nên sự biến chuyển khá lớn trên thị trường lao động của địa phương Số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhiều hơn, họ tự lựa chọn và tìm kiếm việc làm nhiều hơn, không còn phụ thuộc vào gia đình, thể hiện ở cả gia đình người Hoa và người Việt Họ làm việc ở các cơ sở bên ngoài Phường, tại các đơn vị công ty tư nhân hay các công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh (xem lại số
liệu biểu 3, phần 2.1)
Có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan đưa đến tình trạng này
Nguyên nhân khách quan đưa đến tình trạng này, đây là những công việc phù hợp với khả năng của họ, hầu hết họ đều đạt đến trình độ cao Đặc biệt là số lao động nữ tham gia ở lĩnh vực này chiếm tỷ lệ cao nhất Nữ lao động làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp ngày càng phổ biến, công việc này đòi hỏi mức độ khéo léo, cũng khá nhẹ nhàng phù hợp điều kiện sức khoẻ cho phép, đặc biệt là với lao động nữ Chỉ một số ít trong số họ không có trình độ học vấn cao hay có một chuyên môn nào cho nghề nghiệp Một phần do họ không có khả năng để học hành, một nguyên nhân khác là do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên công việc học hành cũng gặp nhiều hạn chế, cho nên
họ chỉ làm một số nghề phổ thông như: gia công đồ sắt, đồ nhựa, bóc vác, phụ buôn bán, phụ lái xe,…
Thanh niên trong độ tuổi từ 16 đến 22, đa phần trong nhóm vẫn còn đang đi học chiếm 24% Với những gia đình có truyền thống hiếu học hoặc có anh chị em đang làm việc tại các công ty kinh doanh quy mô lớn, sẽ là những yếu tố tác động đến con đường học hành Hiện nay, cả người Hoa và người Việt đều chú trong đến việc học hành của con cái nên số lượng người học đến đại học có xu hướng tăng dần Đặc biệt, hiện nay việc học hành của con cái có tác động các gia đình người Hoa, một mặt
họ có niềm tự hào về một nền văn hoá cao, mặt khác hiện nay nền kinh tế văn hoá xã hội có nhiều bước phát triển có tác động rất lớn đến vấn đề học vấn của người Hoa Trước đây, người Hoa chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế, họ có những hội đoàn hỗ trợ nhau nhau về tài chính nhưng hiện nay, những yếu tố hỗ trợ về kinh tế đã giảm dần, thay vào đó là thiên về mặt văn hoá xã hội nhiều hơn Vì vậy, họ phải tự lực trong sản xuất kinh doanh, điều đó đòi hỏi một trình độ học vấn cao, cộng với khả năng quản lí
Trang 38trong hoạt động kinh tế của gia đình Với người Việt, yếu tố học vấn có vai trò vô cùng quan trọng để có thể có một việc làm tốt và thu nhập cao trong xã hội
Đối với nhóm thanh niên đã nghỉ học, nguyên nhân đầu tiên có thể kể đến là việc gia đình không có khả năng cho con cái tiếp tục học hành nên họ phải nghỉ học từ khá sớm và nhanh chóng tham gia vào thị trường lao động, chủ yếu là lao động phổ
thông và có thu nhập thấp Theo nhận định của ông Lý Thanh Thêm rằng “Tôi hiện đang làm thuê gia công đồ sắt cho một cơ sở ở quận 8, thu nhập ngày được 35.000đ, nhưng không ổn định, có khi cả nửa tháng không có hàng, phải ngồi nha”14
Kế đến, có một hiện trạng đáng báo động hiện nay là việc không ít những thanh niên độ tuổi từ 16 đến 22 đã bỏ học giữa chừng, mặc dù gia đình không hề gặp khó khăn về kinh tế Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do chính bản thân những thanh niên này không ý thức được vai trò quan trọng của trình độ học vấn đối với tương lai của họ, cộng với sự quản lý không chặt chẽ của gia đình Phần đông những thanh niên này hiện nay trình độ học vấn chỉ dừng lại ở cấp 3, do đó sẽ là nguyên nhân gây khó khăn cho họ khi muốn tìm một công việc ổn định trong thị trường lao động ngày càng đòi hỏi trình độ chuyên môn như hiện nay
Tham gia vào thị trường lao động trên địa bàn phường còn có một bộ phận khá lớn là thành phần lao động phổ thông Hiện số lượng này chiếm 17,3% trên tổng số đối tượng được khảo sát Đây là bộ phận chiếm số lượng đông đảo có mặt trong thành phần dân cư của phường Lao động trong lĩnh vực này có trình độ học vấn thấp, trong
Trang 39lớn đều ở ngoài phường, mặt khác làm việc ở những khu vực này thì lương cao mà điều kiện làm việc tốt” 15
Tóm lại, hạn chế về trình độ học vấn, chuyên môn và khả năng đáp ứng công việc cũng là một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng thất nghiệp và không
có việc làm trên địa bàn Phường hiện nay với tỷ lệ khá cao là 21,3% Vấn đề việc làm
là nhu cầu cấp thiết trong giới trẻ hiện nay, đặc biệt yếu tố giới đóng một vị trí vô cùng quan trọng trong việc phân loại và lựa chọn ngành nghề phù hợp Hầu như tính chất của công việc đóng vai trò quyết định trong việc phân định giới tham gia vào công việc và gắn kết với nhiều yếu tố tâm sinh lí khác trong việc qui định ngành nghề tương ứng Việc lựa chọn đó cũng thể hiện sự thiên lệch, khác biệt giữa những nhóm người
và những nhóm học vấn, mức độ thu nhập mà đôi khi cả về vấn đề thiên kiến trong vấn đề lựa chọn nghề nghiệp phù hợp Chính điều này tạo nên sự mất cân bằng trong các ngành nghề và số lượng lao động ở những ngành nghề khác nhau
2.1.3 Thành phần gia đình và dân tộc
Ngoài các yếu tố như giới và trình độ học vấn, thành phần gia đình và dân tộc cũng là những yếu tố có tác động không nhỏ đến tình trạng việc làm của thanh niên đô thị tại phường 15 hiện nay Có một thực tế là với những gia đình mà cha mẹ có trình
độ hoặc đang tiếp cận với những công việc đòi hỏi trình độ cao, họ nhận thấy được tầm quan trọng của trình độ học vấn đối với công việc làm, từ đó hướng con cái theo con đường học vấn đến nơi đến chốn Còn ngược lại, phần lớn thanh niên không được
sự định hướng từ gia đình sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng bỏ học giữa chừng Qua khảo sát, hiện nay mặc dù các bậc cha mẹ đã quan tâm nhiều hơn đến việc học hành của con cái, tuy nhiên vấn đề định hướng nghề nghiệp cho con cái lại chưa nhận được sự quan tâm đúng mức Đây là một thực trạng chung của tất cả mọi gia đình đang có con em trong độ tuổi đến trường Hầu như đa số phụ huynh cả người Hoa lẫn người Việt khi được phỏng vấn đều cho rằng sẽ để các em tự lựa chọn nghề nghiệp cho mình theo nguyện vọng Điều này thể hiện một nét mới so với truyền thống gia đình của người Hoa xưa nay Vấn đề này có thể được giải thích là do sự thay đổi nếp sống của người dân dưới tác động của nền kinh tế thị trường
15
Xem phụ lục, trường hợp 6
Trang 40Ngoài gia đình, dân tộc từ trước đến nay vẫn được xem như một yếu tố có tác động không nhỏ tới việc làm của người lao động nói chung, đặc biệt là ở người Hoa Tuy nhiên, hiện nay, qua thực tế khảo sát, yếu tố này đã và đang mất dần ảnh hưởng trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay Nếu như ở thời gian những năm đầu
1986 trở về trước, kinh tế đất nước chưa thật sự mở cửa và phát triển theo hướng kinh
tế thị trường, người Hoa có được sự vươn lên mạnh mẽ trong kinh tế nhờ những ưu điểm trong quá trình làm kinh tế của mình như: giữ chữ tín,…; trong đó có cả yếu tố đoàn kết dân tộc trong kinh tế Tuy nhiên, dưới tác động của kinh tế thị trường hiện nay, yếu tố dân tộc đã không còn là nguyên nhân duy nhất, có tính quyết định đến sự thành đạt nữa Sự giao lưu diễn ra ngày càng mạnh mẽ giữa cộng cồng dân tộc Hoa – Việt trong quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế xã hội đã xóa nhòa dần ranh giới dân tộc trên địa bàn Qua kết quả khảo sát, hầu hết những người được phỏng vấn đều cho rằng không còn có sự phân biệt giữa các dân tộc trong việc tuyển dụng lao động cũng
như trong quá trình xin việc Theo nhận định của bà Trần Thị Đặng, “sự phân biệt về dân tộc ở đây nếu có chăng chỉ còn là sự ưu ái của người Hoa dành cho con em của mình, hoặc ưu ái dành cho người cùng dân tộc xuất phát từ vấn đề ngôn ngư16 Những nhận định trên đây có thể được minh chứng thông qua kết quả khảo sát mối tương quan giữa nghề nghiệp và dân tộc của các đối tượng phỏng vấn
16
Xem phụ lục, trường hợp 1