Trong khi đó, một số công trình nghiên cứu hiện nay của những nhà lý luận văn học mác - xít phương Tây đang để lộ khuynh hướng xã hội học tầm thường, giới thiệu các nhà nhân văn chủ nghĩ
Trang 1PHẠM THỊ THU
BƯỚC CHUYỂN TRONG QUAN NIỆM
VỀ CÁI ĐẸP TỪ MỸ HỌC TRUNG CỔ SANG MỸ HỌC PHỤC HƯNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2- -
PHẠM THỊ THU
BƯỚC CHUYỂN TRONG QUAN NIỆM
VỀ CÁI ĐẸP TỪ MỸ HỌC TRUNG CỔ SANG MỸ HỌC PHỤC HƯNG
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS Lê Đình Lục
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Lê Đình Lục
Các số liệu, tài liệu trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2011
Tác giả
Phạm Thị Thu
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 01
1 Tính cấp thiết của đề tài 01
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 03
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 07
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 07
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 07
6 Kết cấu của luận văn 08
Chương 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO BƯỚC CHUYỂN TRONG QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP TỪ MỸ HỌC TRUNG CỔ SANG MỸ HỌC PHỤC HƯNG 09
1.1 Cơ sở thực tiễn cho bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng 15
1.1.1 Sự thay thế phương thức sản xuất phong kiến bằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa - điều kiện kinh tế của bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng 15
1.1.2 Đấu tranh xoá bỏ chế độ chuyên chế phong kiến, thiết lập nền dân chủ tư sản - điều kiện chính trị và xã hội cho bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng 21
1.2 Điều kiện văn hóa, tư tưởng và khoa học cho bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng 26
1.2.1 Những chuyển biến tích cực từ phương thức tư duy Trung cổ sang tư tưởng nhân văn Phục hưng 26
1.2.2 Sự thúc đẩy của tinh thần khoa học trong nhận thức và tư tưởng 34
Kết luận chương 1 39
Trang 5MỸ HỌC PHỤC HƯNG 41
2.1 Sự thay đổi trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng 42
2.1.1 Quan niệm về cái đẹp trong mỹ học Trung cổ 42
2.1.2 Quan niệm về cái đẹp trong mỹ học Phục hưng 53
2.2 Ý nghĩa lịch sử của bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng 60
2.2.1 Quan niệm về cái đẹp của thời đại Phục hưng - sự đoạn tuyệt quan niệm duy tâm thần bí Trung cổ về cái đẹp 60
2.2.2 Quan niệm về cái đẹp của các nhà Phục hưng - sự khôi phục và phát huy các giá trị nhân bản thời Cổ đại 68
2.2.3 Lý tưởng về cái đẹp tự do trần thế của các nhà Phục hưng - niềm cảm hứng mãnh liệt, động lực lớn lao cho cuộc đấu tranh nhằm giải phóng con người vĩnh viễn thoát khỏi mọi sự trói buộc cả về thể xác lẫn tinh thần 70
Kết luận chương 2 85
KẾT LUẬN CHUNG 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cái đẹp là nhu cầu tất yếu của mỗi người, mỗi dân tộc và cả nhân loại Hạnh phúc lớn lao của con người là được sống với cái đẹp, trở thành một người đẹp trong cộng đồng của mình và làm cho cuộc sống mỗi ngày một đẹp hơn Cái đẹp có mặt trong tất cả các mối quan hệ của con người, nó góp phần thúc đẩy giáo dục và hoàn thiện nhân cách Không có nó thì không có văn hóa, không có hạnh phúc và ước mơ Vì vậy có thể nói, cái đẹp là một hiện tượng thẩm mỹ giữ vị trí quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong lao động, trong học tập, cái đẹp như tình yêu và ánh sáng, nó làm cho cuộc sống của con người thêm niềm vui và hạnh phúc
Trong lĩnh vực nghệ thuật, cái đẹp là linh hồn sống và là nhân tố quyết định các họat động sáng tạo của nghệ thuật Vì cái đẹp mà nghệ thuật mới tồn tại Công chúng đến với nghệ thuật là để nghệ thuật mách bảo mình con đường chiếm lĩnh cái đẹp Phản ánh nghệ thuật là phản ánh theo quy luật cái đẹp, nghệ sĩ đứng từ lý tưởng đẹp mà phản ánh cuộc sống vào tác phẩm của mình
Trong mỹ học, phạm trù cái đẹp luôn luôn giữ vị trí trung tâm Các khái quát của nó trở thành hệ chuẩn soi rọi và làm điểm tựa cho việc phân xuất các phạm trù thẩm mỹ khác Cái xấu, cái bi, cái hài, cái cao cả đều dựa vào hệ chuẩn cái đẹp mà nhận thức, đánh giá và sáng tạo Cái xấu chính là mặt đối lập của cái đẹp Cái bi chính là cái đẹp bị thất bại tạm thời và cái hài là cái xấu giả danh cái đẹp và bị phát hiện đột ngột Cái cao cả là cái đẹp vượt trên bản thân nó để xác lập giá trị mới
Như vậy, vai trò lớn lao của cái đẹp đối với cuộc sống và trong quan hệ thẩm mỹ là không thể phủ nhận Tuy nhiên, cái đẹp chẳng thể phát huy được vai trò của nó, nếu con người không giải quyết được một điều kiện có tính
Trang 7“tiên quyết”, đó là phải nhận thức cho đúng về bản chất của cái đẹp Đây thực
sự là vấn đề quan trọng, bởi trên thực tế, việc nhận thức sai về bản chất cái đẹp dễ khiến người ta nhìn xấu thành đẹp, lấy dở làm hay, nhận giả làm thật, biến ác thành thiện…
Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa đã và đang tác động mạnh
mẽ đến hầu khắp mọi lĩnh vực đời sống của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới Để phát triển, Việt Nam cũng đã và đang tích cực đẩy nhanh quá trình hội nhập sâu rộng với thế giới Tuy nhiên, quá trình hội nhập quốc tế này, ngoài việc đem đến những cơ hội thuận lợi cho sự phát triển thì đồng thời, nó cũng đặt ra cho đất nước ta không ít những thách thức to lớn Riêng trong lĩnh vực đời sống thẩm mỹ, biểu hiện mặt trái của toàn cầu hóa, quốc tế hóa chính
là sự biến đổi, sự đảo lộn trong quan niệm về cái đẹp, rộng ra là sự đảo lộn những chuẩn mực của các giá trị thẩm mỹ truyền thống Những quan niệm sai lầm về bản chất của cái đẹp đã sản sinh ra không ít các sản phẩm văn hóa phản thẩm mỹ, độc hại làm méo mó, biến dạng những thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn, lành mạnh, thậm chí làm xói mòn lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp mà Đảng ta
và nhân dân ta dày công xây dựng, vun đắp
Trong tình hình đó, tích cực và kiên trì đấu tranh loại trừ cái ác, cái xấu, xây dựng, bồi đắp cho cái tốt, cái đẹp chân chính, lành mạnh, tiến bộ phù hợp với quan điểm thẩm mỹ Mác - Lênin, lý tưởng cách mạng của Đảng Cộng sản, truyền thống văn hiến dân tộc… đang là vấn đề mang tính thời sự nóng hổi Công việc này đòi hỏi chúng ta phải có những nhận thức đúng đắn về lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là văn hóa thẩm mỹ để có thể xem xét, đánh giá một cách khoa học, toàn diện về cái đẹp Có như vậy mới tạo điều kiện cho cái đẹp được phát huy vai trò của nó và chúng ta mới đạt được mục tiêu “đưa cái đẹp vào cuộc sống hằng ngày”, gắn cái đẹp với sự nghiệp cách mạng đầy khó khăn gian khổ nhưng cũng đầy hào hùng và vẻ vang của nhân dân ta
Trang 8Tuy nhiên, muốn đạt được điều đó, ngoài những điều kiện kinh tế và điều kiện chính trị - xã hội thì vấn đề quan trọng là phải nhìn nhận, đánh giá,
kế thừa, sàng lọc và phát triển toàn bộ những di sản văn hóa nói chung và các giá trị thẩm mỹ nói riêng của quá khứ Trong quá trình đó, sẽ thật thiếu sót nếu như chúng ta bỏ qua việc xem xét bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng ở Tây Âu Bởi thời đại Phục hưng, như Ăngghen đã vạch rõ, “là cuộc chuyển biến tiến bộ vĩ đại nhất” so với tất cả các cuộc chuyển biến mà trước đó lịch sử đã từng kinh qua Chính trong thời đại đó, các giá trị văn hóa thẩm mỹ, nghệ thuật đã đạt được một mức độ phồn vinh chưa từng thấy, đã tỏ rõ là một “ánh hồi quang của thời đại
cổ điển”, và về sau nghệ thuật chưa bao giờ tự nâng lên được tới một đỉnh cao dường ấy Trong khi đó, một số công trình nghiên cứu hiện nay của những nhà lý luận văn học mác - xít phương Tây đang để lộ khuynh hướng xã hội học tầm thường, giới thiệu các nhà nhân văn chủ nghĩa thời Phục hưng như những người bị hạn chế về mặt lịch sử và về mặt giai cấp Vì vậy, hướng sự chú ý của chúng ta vào sự thay đổi quan niệm về cái đẹp trong hai giai đoạn lịch sử nêu trên và làm rõ ý nghĩa, giá trị lịch sử của sự thay đổi đó, thiết nghĩ,
là một điều cần thiết, vì nó giúp chúng ta nhìn nhận lại những mặt tích cực và
cả những hạn chế trong quan niệm trước đây về cái đẹp, trên cơ sở đó tiếp thu
và phát triển những tư tưởng tiến bộ để xây dựng nên một quan niệm đúng đắn hơn về cái đẹp nhằm đưa nó vào cuộc sống một cách có hiệu quả Và đây
chính là lý do để chúng tôi chọn đề tài Bước chuyển trong quan niệm về cái
đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng cho luận văn của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Là một trong những phạm trù cơ bản của mỹ học, nên cái đẹp đã được
tất cả các nhà mỹ học quan tâm nghiên cứu và dành cho một vị trí xứng đáng trong lịch sử tư tưởng mỹ học suốt từ thời Cổ đại cho đến nay Trong đó, quan
Trang 9niệm về cái đẹp thời kỳ Trung cổ và thời kỳ Phục hưng ở Tây Âu cũng đã được đề cập đến trong nhiều cuốn sách và tài liệu với nhiều cách tiếp cận khác nhau
Trước tiên, phải kể đến cuốn Nguyên lý mỹ học Mác - Lênin của Viện
hàn lâm khoa học Liên Xô, (Nxb Sự thật, Hà Nội 1961)
Trong khi trình bày những giai đoạn cơ bản trong lịch sử các học thuyết
mỹ học, cuốn sách đã khái quát những đặc trưng kinh tế, chính trị, tư tưởng và tác động của chúng đến sự hình thành quan niệm thẩm mỹ nói chung và quan niệm cái đẹp nói riêng Không nằm ngoài chủ trương đó, những chuyển biến lớn lao từ sự thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa cho phương thức sản xuất phong kiến, đến những thay đổi trong văn hoá tư tưởng từ thời Trung
cổ sang thời Phục hưng đã được tác giả của cuốn sách đề cập tới Quá trình đó không chỉ cho chúng ta thấy được sự thay đổi trong quan niệm thẩm mỹ, đặc biệt là quan niệm về cái đẹp ở hai giai đoạn lịch sử này, mà còn cho chúng ta thấy những tiền đề thực tiễn và tiền đề lý luận dẫn đến sự thay đổi ấy
Trong cuốn “Những phạm trù mỹ học cơ bản” của nhà nghiên cứu mỹ
học Liên Xô (cũ) I.U.B.Bôrép (Nxb Trường Đại học Tổng hợp, Hà Nội 1974), thông qua khái lược các phạm trù mỹ học, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống quan niệm về cái đẹp qua các thời kỳ lịch sử Trong đó, quan niệm về cái đẹp thời Trung cổ và Phục hưng ở Tây Âu cũng được dành cho một dung lượng đáng kể Thông qua phương pháp so sánh, đối chiếu, tác giả đã bước đầu giúp người đọc thấy được sự khác biệt trong quan niệm về cái đẹp ở hai giai đoạn lịch sử trên
Các tác giả của Liên Xô (cũ) còn có một công trình mỹ học khá quen
thuộc với những người quan tâm đến mỹ học ở Việt Nam, đó là cuốn “Mỹ
học cơ bản và nâng cao”, do giáo sư M.F Ốpxiannhicốp chủ biên (Nxb Văn
hóa - thông tin, Hà Nội - 2001) Trong công trình này, tuy chỉ dành cho vẻn
Trang 10vẹn hơn 4 trang sách, song các tác giả đã trình bày một cách khá trọn vẹn những đặc trưng cơ bản của tư tưởng mỹ học ở thời kỳ Trung cổ và thời kỳ Phục hưng ở châu Âu Đặc biệt, khi khái quát về mỹ học Phục hưng, các tác giả cuốn sách đã có một nhận định, theo chúng tôi, mang tính định hướng cho việc khảo sát toàn bộ tư tưởng mỹ học của thời đại lịch sử này, như sau:
“Những quan niệm cơ bản của thế giới quan nhân văn thực chất là: ca ngợi con người, tán dương sự sống trần thế, minh oan cho nhục cảm, niềm tin vào tiềm năng sáng tạo vô biên của cá nhân, quan tâm đến tự nhiên Lý tưởng của các nhà nhân văn chủ nghĩa là một cá nhân hoàn toàn tự do, phát triển hài hòa, nhạy cảm và chủ động, với tầm vóc khổng lồ và hứng thú lớn lao”[42, 45]1 Không bàn về mỹ học nói chung, cái đẹp nói riêng, nhưng nhà nghệ thuật học người Áo E.H.Gombrich (1909 - 2001) trong một công trình nghiên
cứu về mỹ thuật nổi tiếng của mình - cuốn Câu truyện nghệ thuật (Lê Sỹ Tuấn biên dịch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh - 1998), thông qua sự nghiên
cứu cực kỳ tỉ mỉ, công phu phong cách sáng tạo của hầu hết các bậc thầy nghệ thuật tạo hình ở hai thời kỳ Trung cổ và Phục hưng (được dành cho gần 200 trang sách) đã gián tiếp làm rõ được những nội dung cơ bản của tư tưởng thẩm mỹ của hai giai đoạn lịch sử này
Ở Việt Nam, cho đến hiện tại, những công trình, bài viết ít nhiều liên quan đến đề tài chúng tôi nghiên cứu có thể kể đến, trước hết là công trình
(thuộc đề tài khoa học cấp trường) có tên: “Lịch sử tư tưởng mỹ học phương
Tây từ Cổ đại đến Cận đại” (2007) của TS Trần Kỳ Đồng Đây là công trình
giới thiệu những tư tưởng mỹ học theo diễn biến của các giai đoạn lịch sử, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về lịch sử tư tưởng mỹ học phương Tây và phương Đông Theo đó, quan niệm về cái đẹp cũng được tác giả trình
1
Từ đây: số thứ nhất là số của tài liệu tham khảo, số thứ hai trở đi là số trang của tài liệu tham khảo
Trang 11bày theo sự phân kỳ lịch sử từ mỹ học Cổ đại Hy Lạp cho đến mỹ học Cận đại Ở đó quan niệm về cái đẹp thời Trung cổ và Phục hưng cũng được tác giả
đề cập thông qua tư tưởng của một số nhà mỹ học tiêu biểu Đặc biệt, sau khi trình bày hệ thống tư tưởng mỹ học ở mỗi thời đại lịch sử, tác giả còn rút ra những kết luận có tính tổng quát Nhờ đó mà người đọc có thể thấy rõ hơn mặt tích cực cũng như những hạn chế trong tư tưởng mỹ học nói chung và trong quan niệm về cái đẹp nói riêng ở mỗi giai đoạn lịch sử
Kế đến là một bài viết ngắn có tiêu đề “Phạm trù cái đẹp trong mỹ học
Phục hưng” của tác giả Nguyễn Thị Ngà, được đăng trên website
http://chungta.com Bài viết này đã đem đến cho người đọc một cái nhìn cụ thể về cái đẹp trong mỹ học thời Phục hưng ở Tây Âu, đó là cái đẹp mang tính chất thế tục rõ nét, hoàn toàn đối lập với cái đẹp trừu tượng nơi Chúa trong mỹ học Trung cổ
Cũng trên trang web này, tác giả Nguyễn Hồng Thư qua bài viết “Quan
niệm về cái đẹp trong nghệ thuật tạo hình Phục hưng” đã giới thiệu, đánh giá
và nhận xét một số tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng ở thời đại Phục hưng Bài viết tuy không dài nhưng cũng đủ để tác giả cho người đọc thấy một cuộc cách mạng trong nghệ thuật nói riêng và trong tư tưởng thẩm mỹ nói chung của các nhà nhân văn Phục hưng Bởi lẽ, các tác phẩm nghệ thuật của họ đều hướng tới cái đẹp của sự cân đối, hài hòa; con người luôn được coi là trung tâm, là kiểu mẫu cho tất cả - đó là cái mà nghệ thuật Trung cổ hoàn toàn chưa thể hiện được
Ngoài ra, hầu hết các giáo trình mỹ học hiện có ở nước ta cũng đều ít nhiều đề cập đến đặc điểm của cái đẹp thời kỳ Trung cổ và Phục hưng Dĩ nhiên, với tính chất là giáo trình nên những đề cập đó chủ yếu chỉ dừng lại ở mức độ tổng quát, sơ lược chứ không đi vào phân tích một cách cụ thể, chi tiết
Trang 12Như vậy, có thể khẳng định rằng, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào đi vào phân tích bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ
mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng ở Tây Âu một cách cụ thể và có tính hệ thống Tuy nhiên, những thành tựu nghiên cứu trên chính là cơ sở quan trọng, thiết thực và không thể thiếu để chúng tôi thực hiện đề tài luận
Thứ nhất, trình bày tiền đề thực tiễn; tiền đề văn hóa tư tưởng và khoa
học của bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng
Thứ hai, phân tích làm rõ nội dung và ý nghĩa lịch sử của bước chuyển
trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ trên, tác giả dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Cùng với đó, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích
và tổng hợp, so sánh và đối chiếu, lịch sử và lôgíc v.v…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về lý luận, trên cơ sở trình bày và phân tích quan niệm về cái đẹp
Trang 13trong mỹ học Trung cổ và mỹ học Phục hưng, đề tài góp phần làm rõ thêm nội dung của sự thay đổi trong quan niệm về cái đẹp ở hai giai đoạn lịch sử này
- Về thực tiễn, đề tài góp phần khẳng định ý nghĩa lịch sử của sự thay đổi trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập môn Lịch sử tư tưởng mỹ học” trong các trường Đại học, Cao đẳng cũng như cho những ai quan tâm đến vấn đề này
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 97 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương, bốn tiết
Trang 14Chương 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO BƯỚC CHUYỂN TRONG QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP TỪ MỸ HỌC TRUNG CỔ SANG MỸ HỌC PHỤC HƯNG
Trong suốt quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cái đẹp vẫn luôn là một bí ẩn có sức hấp dẫn, lôi cuốn lớn đối với con người Chính bởi thế mà con người đã tốn không ít công sức và thời gian để tìm hiểu và nghiên cứu về
nó Có thể nói, quan niệm về cái đẹp nảy sinh trong con người khi họ bắt đầu
có ý thức về mối tương quan giữa những hiện tượng khách quan và lần đầu tiên họ biết nhận thức về sự hài hòa, “mực thước của các sự vật” Ngay từ khi con người tự nhận ra “cái tôi”, “cái khác tôi” và cả “cái ngoài tôi”, thì đã đi tìm cái đẹp, biết làm đẹp rồi Song, do đối tượng hiện thực của cái đẹp là vô cùng đa dạng, phong phú và quan niệm về cái đẹp lại liên quan đến các đặc điểm tâm, sinh lý của con người nên ở những cá nhân khác nhau quan niệm
về cái đẹp có thể giống nhau hoặc khác nhau Mặt khác, quan niệm cái đẹp còn tùy thuộc vào thế giới quan nên các giai cấp, các dân tộc, các thời đại khác nhau có thể đưa ra cách lý giải không giống nhau về bản chất cái đẹp Ngoài ra, việc tiếp thu và đánh giá cái đẹp còn phụ thuộc vào điều kiện giáo dục, mà mỗi hệ thống xã hội, mỗi thời đại lịch sử thường có những cách giáo dục con người với những nội dung, mục tiêu khác nhau nên việc thưởng thức, đánh giá và sáng tạo cái đẹp cũng khác nhau… Đây chính là những nguyên nhân khiến cho loài người dù đã trải qua hàng ngàn năm không ngừng nghỉ
trên con đường truy tìm bản chất cái đẹp và “sách viết về cái đẹp đã chất
thành núi”, song, “cái đẹp vẫn còn là câu đố giữa cuộc đời” (L.Tônxtôi)
Một định nghĩa về cái đẹp được coi là cổ xưa nhất thuộc về mỹ học Hy Lạp cổ đại, qua lời phát biểu của Hêraclít như sau: “Cái đẹp là những gì tan rồi sẽ hợp, và từ những âm điệu khác nhau, hòa điệu đẹp nhất được hình thành, và mọi điều nảy sinh qua đấu tranh” [6, 14]
Trang 15Còn trong tác phẩm Bữa Tiệc của mình, Platôn khẳng định: “Cái đẹp
không tồn tại vĩnh viễn, nó không tự xuất hiện, không mất đi, không tăng thêm, không giảm đi, thậm chí nó không đẹp ở nơi đây mà lại xấu ở nơi kia, không đẹp ở quan hệ này mà lại xấu ở điểm khác, không đẹp đối với cái này
mà lại thấy đẹp đối với cái kia Cái đẹp không hiện ra như một mặt hoặc như một cánh tay, cũng không ở bất cứ phần nào của cơ thể Đẹp cũng không hiện
ra như một lập luận hoặc như một khoa học nào: Cái đẹp là nó” [22, 156] Cantơ - người mở đầu nền triết học cổ điển Đức đã giải quyết vấn đề nguồn gốc và bản chất của cái đẹp theo quan niệm duy tâm chủ quan của
mình Các tư tưởng về vấn đề này được trình bày trong tác phẩm “Phê phán
năng lực phán đoán” của ông Theo Cantơ, không có khoa học về cái đẹp, chỉ
có phán đoán cá nhân về cái đẹp Đẹp hay không đẹp là do sở thích của mỗi người Và ông đã nói một cách hình tượng rằng: “Cái đẹp không ở trên đôi
má hồng của cô thiếu nữ mà ở trong con mắt của kẻ si tình” [9, 73]
Xuất phát từ những quan điểm trong Hiện tượng học tinh thần, Hêghen
cho rằng, cái đẹp có nguồn gốc tinh thần và bản chất của cái đẹp là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối Ông khẳng định: ý niệm vận động đến tuyệt đối thì sản sinh ra cái đẹp đầy đủ Cái đẹp là biểu hiện đầy đủ của ý niệm phổ biến trong một hiện tượng cá biệt Cái đẹp của nghệ thuật là sự biểu hiện của tinh thần tuyệt đối trong hình tượng Kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, thơ ca, theo Hêghen, đều là sự tha hoá của tinh thần hay ý niệm và mỗi thời đại lịch
sử, sự tha hoá đó có các dạng khác nhau Và với ông, cái đẹp của nghệ thuật,
dù chỉ mới là một “ý tưởng thảm hại” cũng đã ngàn lần cao hơn cái đẹp của tự nhiên Tinh thần và những sáng tạo của nó càng cao hơn tự nhiên bao nhiêu thì cái đẹp nghệ thuật càng cao hơn cái đẹp tự nhiên bấy nhiêu Từ đó ông đi đến tuyên bố loại trừ cái đẹp trong tự nhiên ra khỏi phạm vi bộ môn khoa học
mỹ học của mình
Trang 16Nhà mỹ học Dân chủ cách mạng Nga Tsécnưsépxki đã có những đóng góp lớn lao trong việc phê phán mỹ học duy tâm và xây dựng những nguyên tắc cơ bản cho nền nghệ thuật hiện thực Thông qua phê phán hệ thống mỹ học Hêghen, Tsécnưsépxki đã hình thành nên hệ thống mỹ học của mình, trong đó có quan niệm về cái đẹp Theo Tsécnưsépxki: “Cái đẹp là cuộc sống Một thực thể đẹp là một thực thể trong đó ta nhìn thấy cuộc sống đúng như quan niệm của chúng ta: một đối tượng đẹp là một đối tượng trong đó cuộc sống được thể hiện hay là nó nhắc ta nghĩ tới cuộc sống” [51, 23]
Một số đại biểu lớn của trường phái lãng mạn cũng đưa ra những định nghĩa độc đáo về cái đẹp, tuy rằng định nghĩa của họ thường chỉ tập trung nhằm vào một sắc thái nào đó của cái đẹp và không ít định nghĩa mang đậm tính chất duy tâm tôn giáo Chẳng hạn:
Bôđơle nói: “Đẹp, là cái dị dạng” [21, 39]
V.Huygô cho rằng: Cái đẹp là cái hình thức Chứng tích quái lạ và bất ngờ rằng hình thức chính là nội dung Ông còn nói: “Đẹp và lý tưởng chỉ là một, và lý tưởng chính là thị hiếu của Chúa” [21, 39]
Lamennai viết: “Cái đẹp xa lìa với Chúa, đó là Satan v.v thật vậy, Satan là vị hung thần đẹp nhất trong các vị hung thần”
Santayana nói: “Cái đẹp là sự thích thú được xem như là cái đức tính của sự vật” [21, 39]
Tựu trung lại, trước khi mỹ học Mác - Lênin ra đời, trong lịch sử tư tưởng mỹ học nhân loại ít nhất đã tồn tại ba khuynh hướng quan niệm khác
nhau về cái đẹp, đó là khuynh hướng duy tâm chủ quan, khuynh hướng duy
tâm khách quan và khuynh hướng duy vật siêu hình
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại biểu nổi tiếng như Cantơ (I.Kant), Đavít Hium (D.Hume),… cho rằng, cái đẹp không tồn tại khách quan ngoài đời sống Vì vậy, họ đi tìm nguồn gốc của cái đẹp trong ý thức của
Trang 17chủ thể, trong cảm xúc chủ quan của cá nhân Với họ, tiêu chuẩn đánh giá cái đẹp có sẵn trong trong mỗi cá nhân Cá nhân coi cái gì gợi lên khoái cảm, sự thích thú của mình thì đó là cái đẹp, còn cái gì không gợi lên cảm xúc cá nhân, cái đó không thể là đẹp
Còn những nhà duy tâm khách quan với các đại biểu tiêu biểu như Platôn, Tômát Đacanh (Thomas Aquinas), Hêghen (Friedrich Hegel) lại coi cái đẹp là sản phẩm của tinh thần
Khác với hai khuynh hướng duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan, các nhà mỹ học duy vật trước Mác (Đêmôcrít, Arixtốt, Tsécnưsépxki ) lại cho rằng, cái đẹp là một thuộc tính của vật chất, nó có những yếu tố như tỉ lệ mực thước, trật tự và hài hòa Đối với họ thì thuộc tính đẹp cũng giống như các thuộc tính vật lý, tính sinh học, tính hóa học của sự vật tồn tại khách quan
và có trước loài người Ở đâu có vật chất thì ở đó có cái đẹp
Xem xét ba khuynh hướng tiếp cận trên về cái đẹp, ta nhận thấy, mỹ học duy tâm khách quan tuy không phủ nhận cái đẹp trong tự nhiên nhưng cho rằng, cái đẹp trong tự nhiên dù thể hiện dưới hình thức nào, chúng vẫn là cái đẹp không chủ ý, là cái phù du, là cái đẹp không có tinh thần, thiếu lý tưởng
Từ đó họ hướng con người đi tìm kiếm cái đẹp ở ý niệm tuyệt đối Thực chất, đây không phải là sự tìm kiếm khoa học, mà chỉ là sự giải thoát tâm linh Ngược lại, các nhà mỹ học duy tâm chủ quan đã bỏ quên cái đẹp vốn có của
tự nhiên và có khuynh hướng tuyệt đối hoá tình cảm cá nhân con người khi phán quyết cái đẹp của thế giới Tức là họ chỉ thấy được mặt chủ quan của cái đẹp Họ đã đẩy cái tôi cá nhân chủ quan lên thành tiêu chuẩn mực thước trong việc hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp khi cho rằng, cái đẹp không phải thuộc tính của bản thân sự vật, nó chỉ tồn tại trong ý thức của người quan sát
nó Trong khi đó, các nhà duy vật trước Mác lại tuyệt đối hóa mặt khách quan của cái đẹp Họ đã không thấy được thước đo giá trị của thuộc tính đẹp ấy của
Trang 18thế giới khách quan được hình thành không ở đâu khác ngoài cấu tạo của con người, các tập quán lao động và giao tế của con người Điều này được thể hiện trong nhận định của họ rằng, thuộc tính đẹp của sự vật tồn tại khách quan
và có trước con người
Như vậy, có thể thấy là cả ba khuynh hướng tiếp cận cái đẹp như trên đều có chung một hạn chế, đó là tính phiến diện Họ, hoặc là tuyệt đối hóa yếu tố khách quan, hoặc là tuyệt đối hóa yếu tố chủ quan của cái đẹp mà không ý thức được rằng, từ trong bản chất của nó, quan điểm về cái đẹp luôn
là sự thống nhất biện chứng của yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan
Khắc phục những hạn chế trên, mỹ học Mác - Lênin đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong việc nhìn nhận thấu đáo về cái đẹp khi cho rằng, cái đẹp bắt nguồn từ lao động và gắn liền với thực tiễn cuộc sống, con người sáng
tạo nên cái đẹp chứ không phải chủ thể nào khác Trong tác phẩm Biện chứng
của tự nhiên, Ph.Ăngghen (Friedrich Engels) đã viết rằng, chính quá trình lao
động quyết định sự ra đời của ngôn ngữ - hệ thống tín hiệu thứ hai của con người Nhờ vào ngôn ngữ mà con người giao tiếp để phát huy các nhu cầu thẩm mỹ Sở dĩ như vậy bởi vì, trong họat động lao động con người đã làm đẹp thêm những sản phẩm do họ tạo ra Lúc đầu, các sản phẩm đó chỉ mang các giá trị thực dụng, nhưng khi đã có công cụ lao động, con người không muốn các sản phẩm kia chỉ đơn thuần sử dụng được mà còn phải phù hợp với
sở thích và đem lại niềm vui sướng cho con người mỗi khi ngắm nhìn Xuất phát từ mong muốn đó, các sản phẩm của con người ngày càng hoàn thiện và đẹp hơn, đáp ứng với nhu cầu thẩm mỹ của con người Việc chuyển từ lao động kiếm sống sang lao động sáng tạo tất yếu sẽ mở ra nhiều trang mới trong việc sáng tạo ra cái đẹp Nhờ đó con người tự hoàn thiện bản thân mình, hoàn thiện luôn lao động sáng tạo và lao động của con người trở thành động lực tích cực nhất thúc đẩy sự hoàn thiện, hoàn mỹ của xã hội Đồng thời, họ cũng
Trang 19dần dần phát hiện và nhận thức ra quy luật phổ biến của cái đẹp
Như vậy, cái đẹp được hình thành qua thực tiễn lao động của con người,
nó được tạo ra từ sự tương tác của tự nhiên và xã hội, cũng như trong quá trình con người quan hệ với nhau trong tiến trình lịch sử xã hội, do đó mà cái đẹp mang tính khách quan Tuy nhiên, quan niệm về cái đẹp không phải là quan niệm thuần túy khách quan, bởi sự đánh giá cái đẹp luôn được đặt dưới lăng kính chủ quan của chủ thể thẩm mỹ Một vật thể, một hiện tượng thiên nhiên hay một tác phẩm nghệ thuật, mà ta cho là đẹp, người khác cũng có thể thấy là đẹp, nhưng cũng có người cho là xấu Do vậy, theo mỹ học Mác - Lênin, cái đẹp là sự kết hợp của cả hai yếu tố khách quan và chủ quan
Cũng chính bởi cái đẹp là sự kết hợp cả yếu tố khách quan lẫn chủ quan, nên người ta thật khó để đưa ra một quan niệm chung có tính tuyệt đối về cái đẹp Đây cũng chính là nguyên nhân khiến nhân loại đã mất hàng ngàn năm đi tìm kiếm một khái niệm phổ biến về cái đẹp và trong lịch sử mỹ học suốt từ thời cổ đại tới nay đã tồn tại vô vàn những định nghĩa khác nhau về cái đẹp
mà cái đẹp vẫn chưa minh định được rõ ràng
Như vậy, ta hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định rằng: Cái đẹp là một
khái niệm mang tính biến đổi rất cao
Dĩ nhiên, cho dù chịu sự chi phối tất yếu bởi những yếu tố chủ quan cá nhân của chủ thể thẩm mỹ, nhưng với tư cách là một thành tố của ý thức xã hội nên mọi biến đổi của quan niệm về cái đẹp hay của ý thức thẩm mỹ nói chung, đặc biệt là những sự biến đổi mang tính chất thời đại, đều không thể không chịu sự quy định của những đặc điểm về kinh tế, chính trị - xã hội và
cả những tác động của văn hóa, khoa học của thời đại đó Sự thay đổi hay bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng, hiển nhiên, cũng không nằm ngoài quy luật chung đó
Trang 201.1 CƠ SỞ THỰC TIỄN CHO BƯỚC CHUYỂN TRONG QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP TỪ MỸ HỌC TRUNG CỔ SANG MỸ HỌC PHỤC HƯNG
1.1.1 Sự thay thế phương thức sản xuất phong kiến bằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa – điều kiện kinh tế của bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng
Vào những năm đầu Công nguyên, ở các nước Tây Âu đã có sự chuyển biến căn bản trong xã hội Đó là sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và sự ra đời của chế độ phong kiến làm cho nền kinh tế bị suy sụp rõ rệt Kinh tế tự nhiên chiếm địa vị thống trị, nông nghiệp (gồm trồng trọt và chăn nuôi) là ngành sản xuất chủ yếu Trong giai đoạn đầu của thời sơ kỳ trung đại, công cụ sản xuất của những người nông nô vẫn còn thiếu thốn, hoặc hết sức thô sơ, cục mịch do họ tự làm lấy Kỹ thuật sản xuất hết sức lạc hậu và chưa biết đến phân bón, do vậy, thu họach rất thấp, thóc gặt về chỉ gấp hai hoặc ba lần thóc giống Chăn nuôi những súc vật lớn như trâu, bò,… còn hạn chế vì thiếu thức
ăn cho chúng, phần lớn các gia đình chỉ chăn nuôi các gia súc nhỏ như cừu,
dê, lợn và gia cầm Lũ lụt, hạn hán, sương giá, dịch bệnh luôn đe dọa cuộc sống của người nông dân, khiến họ không chỉ đói kém về vật chất, mà còn tăm tối về tinh thần
Song, để tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mình, người nông dân Tây Âu đã từng bước cải tiến công cụ lao động và nâng cao kỹ thuật sản xuất Khoảng thế kỷ IX, nhiều vùng ở Tây Âu, nông dân đã
sử dụng cái cày nặng có bánh xe, do ba hoặc bốn đôi bò kéo, nếu nhỏ hơn cũng do một đôi bò kéo Công cụ sản xuất tương đối đầy đủ và thuận lợi hơn như cái bừa bằng gỗ có răng sắt do bò kéo, cuốc xẻng, liềm hái, rìu búa… Kỹ thuật được cải tiến, như cày nhiều lượt (đối với vụ thu là vụ chính trong năm,
có khi người ta cày đến hai, ba lượt) Công việc khẩn hoang, đào cây dọn
Trang 21rừng, tát cạn hồ ao, biến rừng rú, bãi lầy thành ruộng đất khiến cho trồng trọt được phổ biến rộng rãi, nhờ đó thu họach trong nông nghiệp ngày càng cao Ngoài hai vụ chính người nông dân còn chú ý đến các hoa màu khác như nho, rau, cây ăn quả Họ chăm sóc cả đến đồng cỏ để chăn nuôi súc vật Gia súc gồm các loại bò, ngựa, cừu, lợn và gia cầm được săn sóc và phát triển tốt Tuy nhiên, lúc này họat động sản xuất của người nông dân chưa có sự phân công chuyên môn hoá rõ rệt Mỗi cá nhân hay mỗi một gia đình không chỉ sản xuất một loại sản phẩm, mà sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau
để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia đình Cụ thể là, mỗi một gia đình nông dân đều làm thêm các nghề phụ như dệt vải, may quần áo, làm công cụ và dụng cụ gia đình, xây dựng và sửa chữa nhà cửa… Bọn lãnh chúa phong kiến cũng có những xưởng thủ công riêng để sản xuất tự cấp, tự túc như xưởng rèn, mộc, thuộc da, đồ gốm, may mặc… Do đó, việc trao đổi mua bán hàng hóa chỉ đóng vai trò thứ yếu Vì vậy, kinh tế thời kỳ này mang tính chất khép kín, chủ yếu là tự cung tự cấp
Sang thế kỷ XII, họat động sản xuất nông nghiệp ở Tây Âu có một bước phát triển đáng kể Người nông dân đã mở rộng diện tích sản xuất, không ngừng cải tiến phương pháp canh tác, làm cho mùa màng thu về gấp năm, hoặc sáu lần thóc giống Chăn nuôi tăng về số lượng, đặc biệt là các gia súc
lớn Kết quả là số lượng nông phẩm có thừa được dành ra để trao đổi tăng lên
Trang 22thợ làm đồ da, thợ làm đồ gốm… Những chế phẩm thủ công do những người thợ thủ công chuyên môn làm ra vừa đẹp, vừa bền nên nó được lãnh chúa cũng như nông nô ưa thích Vì vậy, những người nông nô làm ruộng mang một phần sản phẩm nông nghiệp của mình để đổi lấy chế phẩm thủ công Và chính quá trình này làm cho thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp Tuy nhiên, những người thợ thủ công vẫn là nông nô và sống trong thôn xóm cùng với nông dân, họ phải nộp tô thuế nặng nề cho lãnh chúa và có rất ít khách hàng Vì thế, những người thợ thủ công bắt đầu rời bỏ lãnh địa bằng cách chuộc lại tự do thân thể của họ từ lãnh chúa hoặc bỏ trốn Những người thợ thủ công này tìm đến những nơi thuận tiện mở xưởng thủ công để buôn bán làm ăn, đó là những chặng đường nhiều ngả, những giải đất ven sông, dọc
bờ biển, những chân tường của các nhà thờ, tu viện, lâu đài phong kiến… là những nơi dân cư qua lại đông đúc, có đường giao thông thuận tiện, việc mua bán trao đổi dễ dàng Những nơi tập trung đông những người thợ thủ công đó dần dần lập thành thành thị Ngoài các thành thị do thợ thủ công lập ra, ở Tây
Âu thời Trung cổ còn có các thành thị Cổ đại được phục hồi và các thành thị mới do bọn quý tộc phong kiến và giáo hội xây dựng nên để cho thị dân thuê Dân cư chủ yếu trong các thành thị là thợ thủ công tự do và thương nhân tự do (gọi chung là thị dân) Sinh họat chính trong thành thị là họat động công thương nghiệp Nó không những cung cấp hàng hóa thủ công nghiệp cho nông thôn mà còn tiêu thụ sản phẩm của khu vực này Do vậy sản phẩm nông nghiệp ngày càng có xu hướng bán ra thị trường, kinh tế tự nhiên của nông thôn đang từng bước bị đẩy lùi
Bên cạnh việc hình thành các thành thị, đó là những cuộc Thập tự chinh,
với danh nghĩa giải phóng “đất thánh” Giêrusalem (Paletxtin) khỏi tay quân
“tà đạo” Hồi giáo, nhưng thực chất lại là sự bành trướng của các thế lực phong kiến Tây Âu sang các nước phương Đông với sự cổ vũ của giáo hoàng
Trang 23và nhà thờ Những cuộc viễn chinh ấy đã làm cho Tây Âu có những sự tiếp xúc ngày càng mạnh mẽ về văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như sự phát triển thương mại với Ai Cập, Trung Cận Đông và các nước phương Đông khác, làm cho nền kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp ở Tây Âu phát triển mạnh mẽ hơn Qua cuộc viễn chinh Chữ thập, Tây Âu đã tiếp xúc và kế thừa được nhiều thành tựu về văn hoá, khoa học và kỹ thuật của phương Đông, như kỹ thuật luyện kim, kỹ thuật nhuộm, nghề dệt lụa, nghề làm đồ thủy tinh… Đặc biệt ba phát minh lớn của người Trung Quốc là kỹ thuật làm giấy,
in ấn, làm thuốc súng thời kỳ này cũng đã được truyền bá sang châu Âu thông qua cá nước Trung Cận Đông làm cho thị trường Tây Âu được mở rộng Chẳng hạn, thành phố Pari vào giữa thế kỷ XIII có 78 phường hội, đến thế kỷ XIV đã tăng lên tới 300 phường hội Ngoài việc buôn bán bên trong thành thị, thì việc buôn bán giữa các nước cũng ngày càng phát triển Nước Ý và xứ Phơ-lăng-đrơ làm giàu thêm bằng cách bán thực phẩm, len dạ, vũ khí cho hai nước Pháp và Anh đang có chiến tranh Các nước cộng hòa thương nghiệp ở ven biển như Vơni, Giên, thành phố công nghiệp Phơlorăng trở thành những trung tâm kinh tế của châu Âu Những con đường thương mại xuất hiện nối liền mạch máu kinh tế Địa Trung Hải với các nước phía Bắc Âu Len, muối, rượu, đồ gia vị, lụa… đã theo các thung lũng sông Rôn và sông Xen đi ngược miền Bắc Pháp, theo các con đường xuyên qua dãy Anpơ sang Đức và đổ về các vùng ven biển Bantích Những con đường bộ và đường sông chạy ngang dọc khắp châu Âu và từ châu Âu sang châu Á Chung quanh Địa Trung Hải
và từ Địa Trung Hải tới Bắc Hải xuất hiện nhiều hải cảng sầm uất, thuyền bè qua lại tấp nập, đó là con đường thương mại quốc tế, đường biển chính của châu Âu thời Trung cổ
Tóm lại, từ những thế kỷ XI - XV, song song với sự ra đời của thành
thị là hàng loạt các cuộc Thập tự chinh, làm cho cuộc sống các dân tộc thời
Trang 24Trung cổ xảy ra những biến đổi cơ bản Đó là sự lớn lên của những lực lượng sản xuất và sự phát triển của công thương nghiệp khiến cho tình trạng bế quan tỏa cảng của nền kinh tế tự nhiên trước đây từng bước bị phá vỡ
Với xu thế phát triển kinh tế trên, đến cuối thời Trung cổ, bước sang thời Phục hưng, phương thức kinh doanh phong kiến hay phường hội không còn phù hợp Trong khi đó, cũng vào thời gian này, con đường giao lưu buôn bán của thương nhân châu Âu qua Tây Á và Địa Trung Hải bị người Ả Rập chiếm giữ Và một sự kiện đáng ghi nhớ nữa là năm 1453, Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng thành Côngxtăngtinốp Giờ đây con đường thương mại giữa châu Âu và phương Đông bị gián đoạn Các quốc gia mới trên con đường phát triển của
nó cần tìm những thị trường buôn bán mới Do vậy, việc tìm con đường mới đến phương Đông, đặc biệt là sang Ấn Độ - nơi có nhiều vàng bạc, hương liệu quý, ngày càng trở nên cấp thiết Đây là lý do xuất hiện nhiều cuộc phát kiến địa lý, trong đó đáng chú ý là cuộc phát kiến địa lý của Crixtốp Côlômbô (1492), Vaxcô đa Gama (1497), và Magienlăng Kết quả của các cuộc phát kiến địa lý này mang về cho châu Âu, cho giai cấp tư sản nguồn hương liệu, vàng bạc, đá quý dồi dào Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Pháp Misen Bô (Michel Beaud), chỉ trong khoảng hơn một thế kỷ (1521 - 1660) có tới 18.000 tấn bạc và 200 tấn vàng được chuyển từ châu Mỹ về Tây Ban Nha Theo số liệu thống kê của nhà sử học Đetberơ thì trong quãng thời gian từ năm 1493 đến những năm đầu thế kỷ XVI, lượng vàng tích luỹ ở châu Âu tăng từ 550.000kg lên 1.192.000kg, bạc từ 7.000.000kg lên 21.000.000kg Nguồn của cải to lớn này trở thành nguồn của cải đầu tiên của quá trình tích luỹ tư bản nguyên thủy
Nhờ quá trình tích luỹ tư bản nguyên thủy trên mà ở châu Âu đã hình thành một phương thức sản xuất mới - phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Nhiều công trường thủ công tư bản chủ nghĩa được xây dựng thay cho
Trang 25phường hội trước kia Hình thức sản xuất theo dây chuyền đã được tiến hành,
do đó năng suất lao động tăng lên đáng kể, số lượng sản phẩm làm ra nhiều, với tốc độ nhanh, giá thành hạ Trong thương nghiệp, quy mô và phạm vi buôn bán ngày càng mở rộng, dẫn tới sự ra đời của nhiều công ty thương mại lớn, thay thế vai trò phường hội thời Trung đại (ví dụ Công ty Đông Ấn của Anh) Trong nông nghiệp, hình thức sản xuất nhỏ của nông dân đã bị loại bỏ nhanh chóng vì không đáp ứng nhu cầu hàng hóa của thị trường, sản xuất của những đồn điền hay trang trại với quy mô lớn ngày càng gắn bó chặt chẽ với
thị trường
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với khả năng tạo ra thị trường kinh tế thống nhất, góp phần phá vỡ quan hệ kinh tế lỗi thời, làm đơn giản hóa môi trường giao tiếp, kích thích tính sáng tạo của cá nhân, tạo nên những hình thái mới trong đánh giá họat động của con người, xác lập những giá trị, những chuẩn mực phù hợp với thời đại đang biến đổi nhanh chóng Có thể khẳng định rằng, bằng việc thúc đẩy nhanh hơn tiến trình lịch sử - xã hội, thời đại tư bản trở thành thời đại năng động nhất so với các thời đại đã qua Điều này đã được Các Mác (Karl Marx) và Phriđrích Ăngghen (Friedrich Engels)
đánh giá trong Tuyên ngôn của đảng cộng sản: “Sự đảo lộn liên tiếp của sản
xuất, sự rung chuyển không ngừng của những quan hệ xã hội, sự luôn hoài nghi và sự vận động làm cho thời đại tư sản khác với tất cả các thời đại trước Tất cả những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ, với cả tràng những quan niệm và tư tưởng vốn được tôn sùng từ nghìn xưa đi kèm những quan hệ ấy, đều đang tiêu tan; những quan hệ xã hội thay thế những quan hệ đó chưa kịp cứng lại thì đã già cỗi ngay Tất cả những gì mang tính đẳng cấp và trì trệ tiêu tan như mây khói; tất cả những gì thiêng liêng đều bị ô uế, và rốt cuộc, mọi người đều buộc phải nhìn những điều kiện sinh họat của họ và những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt tỉnh táo”, và “…bóp nặn thị trường thế giới,
Trang 26giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính
chất thế giới” [34, 600 - 601]
Như vậy, các cuộc phát kiến địa lý đã mở đường cho thương nghiệp
châu Âu phát triển, làm cho thành thị ở khu vực này trở nên phồn thịnh hơn
Cùng với đó là quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản chủ nghĩa, với sự ra đời của thủ công thay thế cho phường hội vốn là lối tổ chức khép kín, mang nặng tính huyết thống, hết sức chật hẹp, chỉ phù hợp với nền kinh tế tự cung, tự cấp, từng bước phá vỡ hàng rào ngăn cách giữa các vùng Không gian buôn bán của các thương nhân giờ đây không chỉ bó trong phạm vi nhỏ hẹp như
trước, mà có quan hệ chặt chẽ với các lục địa khác Điều kiện kinh tế này đã
mang đến tác dụng kép: Từ góc độ chính trị - xã hội, nó tạo nên quá trình đơn giản hoá các quan hệ giữa người với người, phá vỡ chế độ đẳng cấp và thực trạng đạo đức hóa các quan hệ chính trị; từ góc độ thế giới quan và nhận thức luận, nó tạo động lực cho các nhà khoa học thực hiện quá trình sáng tạo, khám phá, vượt qua những cấm đoán, đem đến hiệu quả xã hội cho họat động của con người, và điều đó cũng có nghĩa mở ra cuộc tuyên chiến của tư tưởng tích cực “thế tục” chống triết học kinh viện và thần quyền Đó là thế giới quan của những nhà nhân văn Phục hưng - những con người đã vượt ra khỏi sự bủa vây của thần học để trở về với cuộc sống thực nơi trần gian Họ đã nhận ra giá trị đích thực của con người, tôn vinh con người Do vậy, khi bàn về cái đẹp,
họ không còn hướng về Chúa như các nhà mỹ học Trung cổ, mà hướng tới cái đẹp của con người
1.1.2 Đấu tranh xoá bỏ chế độ phong kiến, thiết lập nền dân chủ tư sản – điều kiện chính trị và xã hội cho bước chuyển trong quan niệm về cái đẹp từ mỹ học Trung cổ sang mỹ học Phục hưng
Ở Tây Âu, từ cuối thế kỷ thứ V đã diễn ra quá trình gạt bỏ những tàn tích của chế độ chiếm hữu nô lệ Rôma và tàn tích của chế độ thị tộc của người
Trang 27Giécmanh để xác lập một xã hội hoàn toàn mới - xã hội phong kiến Đây được gọi là quá trình phong kiến hoá với hai nội dung chính: Tập trung hóa ruộng đất lớn vào giới quý tộc, thủ lĩnh quân sự, đám thân binh người Giécmanh; làm thay đổi thân phận nô lệ, lệ nông và nông dân công xã để trở thành một giai cấp mới, giai cấp nông nô phụ thuộc
Quá trình tập trung hoá ruộng đất lớn vào giới quý tộc diễn ra song song với quá trình hình thành giai cấp nông nô Những người nô lệ, lệ nông Rôma cũ đã sống chung với người Giéc-manh trong các công xã nông thôn
“mác cơ” Công xã phân chia ruộng đất cho từng gia đình theo định kỳ để cày cấy, chăm bón và cứ vài năm lại phân chia lại Về sau, lâu dần các gia đình không trả lại ruộng đất cho công xã nữa Họ biến quyền sử dụng thành quyền
sở hữu vĩnh viễn - ruộng đất đã trở thành tài sản của riêng từng gia đình Từ những thế kỷ VI, VII, quý tộc địa phương luôn tìm mọi cách để chiếm đoạt ruộng đất của nông dân Sự áp bức của quý tộc, cùng với thiên tai, tô tức nặng
nề, lao dịch liên miên… đã làm cho nông dân bị phá sản và buộc họ phải bán ruộng đất cho quý tộc Những người nông dân không còn ruộng đất nên muốn sinh sống, họ phải lĩnh canh ruộng đất của quý tộc và giáo hội, nộp tô và phải chịu sự phụ thuộc vào chúa đất
Đến giữa thời kỳ Trung cổ, thủ công nghiệp đã có một bước phát triển Các thành thị, các xưởng sản xuất, thủ công và những tầng lớp, giai cấp mới trong xã hội như chủ xưởng, thương nhân, thợ thủ công xuất hiện, dần dần trở thành đối thủ của tầng lớp quý tộc ruộng đất Do sự phát triển của thương nghiệp và thủ công nghiệp, từ số dân cư công thương lúc ban đầu của thành thị thời Trung cổ đã nảy sinh ba nhóm hết sức riêng biệt
Đứng đầu xã hội thành thị là những dòng họ quý tộc thành thị, những người được gọi là những kẻ quyền quý Đó là những gia đình giàu có nhất Chỉ có những gia đình đó mới có chân trong trong hội đồng thành phố và họ
Trang 28chiếm tất cả các chức vụ của thành phố… Mạnh vì giàu có, vì có địa vị quý phái cổ truyền được hoàng đế và đế chế công nhận, các gia đình ấy bóc lột bằng mọi cách cả công xã thành thị lẫn những nông dân thuộc quyền của thành thị, như cho vay ngũ cốc và vay tiền nặng lãi
Trong xã hội Tây Âu thời Trung cổ, cùng với sự thống trị của quý tộc phong kiến, giới tăng lữ, giáo hội và nhà thờ cũng trở thành một lực lượng đầy quyền uy, nắm trong tay cả thần quyền và quyền lực chính trị Ăngghen cho rằng: “Giới tăng lữ cũng chia thành hai giai cấp hoàn toàn khác nhau Hệ tôn ti của giáo hội phong kiến hình thành nên giai cấp quý tộc: giám mục và tổng giám mục, trưởng tu viện, giáo chủ và các giáo chức cao cấp đó của xã hội đều hoặc giả tự nhận mình là những vương công của đế chế, hoặc giả là những chúa phong kiến phục tùng chức quyền tối cao của những vương công khác và chiếm hữu những vùng đất đai rộng lớn có nhiều nông nô và dân cư
lệ thuộc” [46, 24]
Giáo hội chiếm khoảng một phần ba đất đai Tây Âu và một phần lớn nông nô Mỗi giáo hội có một tu viện và cả trăm thôn xã phụ thuộc với hàng vạn héc-ta đất và hàng chục vạn nông nô Không những giáo hội bóc lột một cách tàn nhẫn các nông nô và bầy tôi của mình, không kém các quý tộc và vương công, mà còn dùng nhiều thủ đoạn để cướp đoạt đồng xu cuối cùng của bầy tôi để làm tăng thêm phần gia tài di chúc lại cho giáo hội Ngoài những sự khủng khiếp của tra tấn ra họ còn dùng tất cả mọi sự khủng khiếp của việc rút phép thông công và việc khước từ xá tội, mọi mưu kế của việc xưng tội
Trong thực tế, giáo hoàng La Mã đã trở thành vua của các nhà vua, là thượng đế ở trên trái đất Giáo hoàng Inôxăngtô III đã từng tuyên bố: “Chúng
ta được giao phó sứ mệnh thống trị mọi người và mọi nước” Ở Đức, một phần ba đất đai nằm trong tay giáo hội Với của cải vơ vét được bằng cách bóc lột các dân tộc, bằng những cách làm tiền bỉ ổi khác - ví như bán thẻ miễn
Trang 29tội cho những người có tội và cả cho những người trong tương lai sẽ phạm tội
- Giáo hội đã sống một cuộc sống hết sức xa hoa, trụy lạc La Mã, đất thánh của giáo hội Cơ đốc bấy giờ có tới một vạn gái điếm trên dân số mười vạn người Các linh mục, thầy tu đều có năm, bảy vợ khiến cho giáo hoàng Inôxăngtô đã buộc phải ra thông tư bắt phải bỏ vợ lẽ (1490)
Nằm dưới tất cả những giai cấp trên, trừ những người bình dân ra, nông dân là đối tượng đông đảo nhất bị bóc lột tàn tệ Toàn bộ cái cơ cấu xã hội gồm vương công, quý tộc, quan lại, linh mục, quý tộc thành thị và thị dân, đều
đè nặng lên vai nông dân Dù là thuộc về một vương công, một giám mục, về một tu viện hay một thành thị, ở đâu người nông dân cũng bị đối xử như là một súc vật thồ hoặc còn tệ hơn thế nữa Bất kỳ lúc nào muốn là lãnh chúa có thể tống nông dân vào nhà giam, ở đó việc tra tấn chắc chắn sẽ đến với họ… Lãnh chúa đánh người nông dân đến chết và có thể ra lệnh chặt đầu họ nếu hắn muốn
Trước tình trạng bóc lột của giai cấp địa chủ, đời sống của người nông dân hết sức khốn khó Yêu cầu bức xúc của họ là hủy bỏ ngay chế độ phong kiến và nhận lại đất đai đã bị khoanh chiếm Những thợ thủ công làm thuê trong các công trường thủ công sống nghèo khó và người lao động ở thành thị cũng luôn bị áp bức về mặt chính trị của chế độ chuyên chế Vì thế cuộc đấu tranh của người lao động liên tiếp xảy ra Tất cả những điều đó đã báo trước
sự sụp đổ của chế độ chuyên chế phong kiến, tạo tiền đề cho cuộc cách mạng
tư sản sau này
Cuối thời kỳ Trung cổ, cùng với sự xuất hiện của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, là sự ra đời của các giai cấp mới Chủ xuởng và thương nhân giàu có trở thành giai cấp tư sản, còn những người bán sức lao động, đi làm thuê cho nhà tư bản trở thành giai cấp vô sản Theo thời gian, giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh Tuy nhiên, dù có thế lực lớn về kinh tế, nhưng họ lại
Trang 30không có một địa vị xã hội tương xứng, không được tham gia vào đời sống chính trị của đất nước Thực chất, họ vẫn là giai cấp bị trị Giai cấp địa chủ phong kiến độc chiếm bộ máy chính quyền, tìm mọi cách kìm hãm, ngăn cản
sự phát triển của giai cấp tư sản Do vậy, giai cấp tư sản rất muốn san bằng những chướng ngại vật do chế độ phong kiến tạo ra để tự mở đường phát triển Khi chưa đủ sức để quật ngã giai cấp phong kiến, nó tạm thời bắt tay với chính quyền nhà vua Và chính quyền nhà vua dựa vào thị dân để bẻ gãy được sức mạnh của tầng lớp quý tộc phong kiến và lập ra những nước quân chủ lớn Nhà nước chuyên chế tập quyền được thiết lập và được sự ủng hộ của giai cấp tư sản, vì nhà nước khuyến khích công thương nghiệp phát triển Phong trào chống phong kiến của giai cấp tư sản thời bấy giờ thường xen kẽ với phong trào chống phong kiến của nông dân và thợ thủ công Từ thế
kỷ XIV, khởi nghĩa của nông dân như phong trào Giắccơri, cuộc khởi nghĩa của thợ thủ công Pari đã bùng lên mạnh mẽ Bất bình trước mọi thuế khoá chồng chất, những người Cơrôcăng vùng Limudanh, vùng Agiơne, vùng Kécxi liên tiếp nổi dậy vào những năm 1593, 1594… Thợ nhà in Lyông đình công năm 1539 kéo dài tới bốn tháng Ở Đức, cuộc chiến tranh nông dân chống phong kiến (1525) lan rộng
Xuất phát từ thực tiễn trên, từ thế kỷ XV chế độ phong kiến Tây Âu buộc phải có những điều chỉnh nhất định trong đường lối của mình Cụ thể là giảm bớt những cấm đoán trong các họat động sáng tạo, thậm chí đầu tư cho
sự phát triển một số ngành nghề phục vụ đời sống của con người Một số nền cộng hòa được xác lập tại Ý, mô phỏng cộng hòa Rôma thời Cổ đại với những cải cách nhất định, mặc dù quyền lực vẫn nằm trong tay các dòng họ quý tộc lâu đời Cơ cấu xã hội thay đổi, giai cấp tư sản cùng với nó là lực lượng tiền thân của giai cấp vô sản đã hình thành, mặc dù còn non yếu Tầng lớp tri thức phi tôn giáo, vốn xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau, tập trung trong tay
Trang 31các nghiệp đoàn tự do, tích cực truyền bá tư tưởng tích cực, tiến bộ giữa các tầng lớp xã hội Họ chính là những nhà nhân văn tiêu biểu của thời đại, đóng vai trò to lớn trong việc thể hiện diện mạo văn hoá Phục hưng, thúc đẩy cá nhân phát huy tư chất của mình trong một xã hội mà quyền uy của Giáo hội
đã không còn vững mạnh như trước Những biến động chính trị - xã hội trên dẫn tới kết quả là nền chuyên chế tinh thần của giáo hội bị đập tan Những cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt của các khuynh hướng khác nhau đã trở thành một trong những tiền đề cho việc giải phóng con người ra khỏi sự trì trệ Trung cổ Trong tình hình đó, quan niệm thẩm mỹ nói chung và quan niệm về cái đẹp nói riêng đã có những thay đổi tích cực phù hợp với tình hình chính trị
- xã hội mới
1.2 ĐIỀU KIỆN VĂN HÓA, TƯ TƯỞNG VÀ KHOA HỌC CỦA BƯỚC CHUYỂN TRONG QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP TỪ MỸ HỌC TRUNG CỔ SANG MỸ HỌC PHỤC HƯNG
1.2.1 Những chuyển biến tích cực từ phương thức tư duy Trung cổ sang tư tưởng nhân văn Phục hưng
Thế kỷ I trước Công nguyên, dân chúng La Mã vẫn theo truyền thống
đa thần Tuy nhiên, đời sống xã hội với đầy rẫy những mâu thuẫn, lo âu đã làm cho một bộ phận dân chúng hoặc tỏ ra dửng dưng trước mọi biến cố, hoặc tin vào may rủi, số mạng; hoặc lao vào những lạc thú vật chất để cố xua tan đi nỗi ám ảnh về một ngày tận thế đang đe dọa họ; hoặc ra sức tìm kiếm một tín ngưỡng để gửi gắm vào đó cơ may được giải thoát Bối cảnh xã hội đó chính
là mảnh đất màu mỡ cho sự đua nở của những tôn giáo thần bí, “lắm phép màu”, trong đó Kitô giáo là tôn giáo có sức lôi cuốn mạnh mẽ hơn cả
Khi mới hình thành, Kitô giáo là tôn giáo của người nghèo, đồng thời là tôn giáo của sự phản kháng chống lại trật tự hiện hành hà khắc, phi nhân tính
Nó kêu gọi xoá bỏ sự phân hoá giàu nghèo, đề cao tinh thần dân chủ trong
Trang 32sinh họat cộng đồng, tuyên truyền nguyên lý về sự bình đẳng Đồng thời, Kitô giáo chủ trương xây dựng một thế giới mới, khắc phục tội lỗi, sự đố kỵ và thù hận, đáp ứng những mong muốn thầm kín của đại chúng Mặc dù thế giới trong Kinh Thánh vẽ ra là hoang tưởng, tách khỏi mảnh đất trần tục, nhưng nó đem đến cho quần chúng nguồn an ủi, giúp họ quên đi những nỗi đau thể xác lẫn tinh thần
Nhưng đến thời Trung cổ, giới lãnh đạo nhà thờ đã nuôi tham vọng bành trướng của cải và thế lực, loại dần các tôn giáo khác Nó liên kết với chính quyền nhà nước, từng bước hoàn thiện tổ chức của mình và bắt đầu can thiệp vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trước đây, Kitô giáo đòi quyền tồn tại bình đẳng với các tôn giáo khác (khi nó còn bị truy bức, tàn sát), bây giờ nó cương quyết bảo vệ “chân lý duy nhất”, không cho phép bất kỳ sự khám phá nào, vì sợ phạm vào điều cấm kỵ Lúc này, nhà thờ Giáo hội Kitô giáo là một tổ chức tập quyền hùng mạnh, thống trị châu Âu về tinh thần Việc nghiên cứu khoa học và thần học chủ yếu tập trung trong các tu viện và trường học của nhà thờ Còn các nhà bác học và thần học thì ít khi vượt khỏi
sự bình luận và giải thích Kinh Thánh Bởi vậy, tín điều nhà thờ là điểm xuất phát của mọi tư duy, và thế giới quan thời Trung cổ chủ yếu là thế giới quan thần học bao trùm lên triết học, chính trị và nghệ thuật Minh chứng cho điều này là, bắt đầu từ thế kỷ IX, trong sinh họat tinh thần thời Trung cổ nổi lên xu hướng chuẩn hoá tri thức Triết học chuẩn hóa là triết học kinh viện - hình thức đặc thù của triết học Trung cổ Đó chính là sự khẳng định quyền uy của Thiên chúa Chúa Trời là đấng tối cao, là đấng sáng tạo duy nhất, có sức mạnh vạn năng, siêu phàm; lời Chúa là cội nguồn thiêng liêng của mọi thông thái; Chúa sáng tạo ra tất cả cùng một lúc theo kế họach đã định; con người
do Chúa sáng tạo từ bụi trần, và do vậy con người là hình ảnh của Chúa… Từ đấy dấy lên phong trào mô phỏng Chúa cả trong cuộc sống lẫn trong nhận
Trang 33thức, chứng minh sự tồn tại hiện thực của Chúa
Với chính sách liên minh nhà nước - nhà thờ trên, Kitô giáo phần nào làm nguôi lạnh tinh thần đột phá, sáng tạo trong văn hoá và khoa học, bởi lẽ
nó thay tinh thần đối thọai cởi mở bằng sự độc quyền tư tưởng Nếu như thời
Cổ đại các nhà tư tưởng thường tranh luận với nhau thông qua các phương pháp nhận thức khác nhau để mở rộng hiểu biết cho con người thì vào thời Trung cổ, Kitô giáo cũng chấp nhận tranh luận, nhưng không phải tranh luận
để khám phá chân lý mà để minh họa cho chân lý có sẵn Kinh Thánh trở thành nguồn chất liệu tiềm tàng cho toàn bộ đời sống tinh thần lúc bấy giờ Đây chính là cơ sở để Ăngghen đưa ra nhận xét: “Thời Trung cổ đã phát triển trên một cơ sở hoàn toàn thô sơ Nó đã xóa sạch nền văn minh Cổ đại, để bắt đầu tất cả ngay từ đầu Điều duy nhất nó mượn của thế giới Cổ đại đã diệt vong là đạo Cơ đốc và một số thành thị nửa tàn phá, đã mất hết nền văn minh
cũ của chúng Kết quả là cũng như tất cả những giai đoạn phát triển ban đầu, bọn giáo sĩ chiếm độc quyền trí dục, và bản thân nền giáo dục cũng mang một tính chất chủ yếu là thần học Trong tay bọn giáo sĩ, chính trị và luật học, cũng như tất cả những khoa học khác vẫn chỉ là những ngành của thần học, và những nguyên lý thống trị trong thần học cũng được áp dụng cho chính trị và luật học Và sự thống trị tối cao của thần học đồng thời cũng là hậu quả tất yếu của cái vị trí mà giáo hội đã chiếm với tính cách là sự tổng hợp chung nhất và sự phê chẩn chung nhất của chế độ phong kiến hiện tồn” [46, 26] Chỉ khi bước sang thời kỳ Phục hưng, dưới ngọn cờ đấu tranh của giai cấp tư sản thì đời sống tinh thần, tư tưởng ở Tây Âu mới có những chuyển biến tích cực Trước hết, phải kể đến phong trào văn hoá Phục hưng Điểm son trong văn hoá Phục hưng là tinh thần nhân văn Quê hương của chủ nghĩa nhân văn là nước Ý Từ nước Ý, chủ nghĩa nhân văn lan nhanh ra các nước Tây Âu và trở thành một phong trào rộng lớn, sục sôi khí thế, tinh thần đấu
Trang 34tranh chống phong kiến
Tư tưởng nhân văn sơ kỳ xuất hiện vào đầu thế kỷ XIV được xem như quá trình thay thế tất yếu triết học kinh viện hậu kỳ, thứ triết học chính thống,
“chuẩn mực”, được giảng dạy phổ biến trong các trường đại học Trung cổ theo các khuôn mẫu tư duy có sẵn, đã tạo nên tình trạng độc quyền tư tưởng trong nhiều thế kỷ Mầm mống của chủ nghĩa nhân văn thể hiện trong sáng tác “Thần khúc” của Đăngtê (1265 - 1321) Trong tác phẩm này, Đăngtê mô
tả thiên đường và địa ngục, nơi tôn vinh và trừng phạt con người sau khi từ giã cõi trần, nhưng lại ngụ ý rằng chỉ có cuộc sống trần gian mới là cuộc sống thực
Bên cạnh tư tưởng nhân văn, một đặc điểm nổi bật nữa của văn hoá Phục hưng là tính chất thế tục và phi tôn giáo Phi tôn giáo Phục hưng gắn liền với khát vọng giải phóng các lĩnh vực họat động văn học, nghệ thuật, lao động trí óc nói chung, khỏi ảnh hưởng của nhà thờ, sử dụng đề tài tôn giáo, thần thọai để bày tỏ các vấn đề của đời sống trần tục, khát vọng trần tục Nói khác đi, tính chất thế tục trong văn hoá Phục hưng có ý nghĩa chống chủ nghĩa kinh viện và thần quyền, chuyển sự quan tâm từ Thượng đế sang thế giới hiện thực, từ những vấn đề xa rời thực tiễn sang những vấn đề của chính con người, giải phóng từng bước tư tưởng ra khỏi ảnh hưởng của tôn giáo, thần học, qua đó gián tiếp chống lại trật tự xã hội phản nhân văn Sáng tác của các nhà nhân văn, từ Frăngcexcô Pêtrắcca (1304 - 1374) là nhà thơ Ý được xem như ông tổ của thơ mới châu Âu, đến Picô Đenla Mirăngđôla, Bôccaxiô, Mighen Đê Xécvăngtét, Uyliam Sếcxpia…, tuy có bám sát vào bản văn Kinh Thánh, nhưng đều cố gắng hướng ý tưởng của các bản văn đó đến mục tiêu thiết thực của cuộc sống con người, trước hết là con người như một cá nhân,
có tính cách và biết tự chủ Sự “nổi loạn” của cá nhân mặc dù không vượt qua khuôn khổ của trật tự xã hội đương thời, nhưng đã báo trước sự khủng hoảng
Trang 35khó tránh khỏi của trật tự ấy Pêtrắcơ là người theo Kitô giáo nhưng ông lớn tiếng chống lại chủ nghĩa ngu muội thầy tu, phê phán giới tăng lữ lạm quyền, chế giễu “sự thông thái kinh viện” như tri thức bác học “phòng giấy”, gọi các nhà triết học kinh viện là những nhà biện chứng lắm lời, tranh luận xung quanh các vấn đề trống rỗng, vô nghĩa, thiếu chất liệu cuộc sống Tính chất phi tôn giáo còn thể hiện ở chỗ, chủ đề tôn giáo được lý giải không từ góc độ của Kitô giáo đã kinh viện hóa, mà từ Kitô giáo nguyên thủy, dùng tư tưởng sáng thế để làm nổi bật vị trí con người trong quan hệ với thế giới thụ tạo còn lại, biến nội dung Kinh Thánh thành các bằng chứng về khả năng của con
người Theo Sáng thế ký, con người được trao cho sứ mệnh cai quản thế giới,
sau Thiên chúa chỉ có con người mới đạt tới sự hoàn thiện cao nhất
Một trong những đặc trưng khác của văn hoá Phục hưng mà chúng ta không thể không nhắc tới ở đây, đó là tính đa dạng, đa diện của các họat động trí tuệ Phục hồi văn hoá Cổ đại, phong trào Phục hưng đồng thời phục hồi lý tính và khoa học, từng bước vượt qua sự phong tỏa của hình thức tư duy kinh viện, hướng vấn đề nghiên cứu vào cuộc sống thường nhật của con người Hình ảnh con người cá nhân sáng tạo được nhắc đến và đề cao Các nhà nhân văn Phục hưng lập luận rằng, Chúa Trời ban cho con người lý tính, sức mạnh
và lòng can đảm để chinh phục tự nhiên và sáng tạo ra những điều kỳ diệu, làm ngạc nhiên ngay đến cả Ngài Như vậy, các nhà nhân văn chủ nghĩa đã rất khôn khéo khi dựa vào Kinh Thánh nhà thờ để chống đối lại chính nó Qua đó một lần nữa họ phát huy khả năng sáng tạo tìm tòi của con người trong mọi lĩnh vực của cuộc sống
Cuối cùng, khi nói đến văn hóa Phục hưng chúng ta không thể không đề cập tới những diễn biến tích cực về tư tưởng chính trị - xã hội Bàn về vấn đề này, C Mác nhận định rằng, từ thời đại Phục hưng trở đi, mặc dù các phương
án cải cách xã hội mang tính chất thế tục vẫn còn chưa rõ nét và không nhất
Trang 36quán, bị chi phối bởi điều kiện hiện thực của thời đại, song các nhà tư tưởng
đã phân tích nhà nước bằng đôi mắt của con người và rút ra các quy luật tự nhiên của nó từ lý tính và kinh nghiệm, chứ không phải từ thần học Nhận định trên của C Mác được minh chứng thông qua quan điểm của các nhà tư tưởng tiêu biểu cho thời kỳ này Trước tiên là N Machiavenli (1469 - 1527), với tác phẩm “Quân vương” đã xây dựng quan niệm mới, mang tính chất thế tục về lợi ích và nhu cầu, về bản tính vị kỷ của con người, về chính trị và đạo đức, khác với tư tưởng phong kiến Machiavenli đã đóng góp vào tư tưởng
chính trị của thời đại mới ở mấy điểm sau: Một là, đề cao quyền lợi vật chất, bác bỏ chủ nghĩa thầy tu; hai là, đề cao quyền tự chủ cá nhân, khẳng định rằng con người có thể vượt qua số mệnh, họat động tự do; ba là, quan niệm về
mẫu người lãnh đạo lý tưởng của một nhà nước thế tục là “khôn ngoan như cáo, dũng mãnh như sư tử”, kết hợp sự nhạy bén và tính quyết đoán trong công việc cai trị quốc gia Tiếp theo là Êraxmút (Erasmus,1469 - 1536) với tư tưởng khai sáng của chủ nghĩa nhân văn Kitô giáo đã kêu gọi con người trở về với những giá trị tốt đẹp của Kitô giáo sơ kỳ, xây dựng một xã hội dựa trên nền tảng của Kinh Thánh Kitô giáo, nhưng không phải từ thứ Kinh Thánh đã giải thích một cách lệch lạc dưới thời Trung cổ Bên cạnh hai đại biểu trên còn có Ph Rabơle (1494 - 1553) và M Môngtenhơ (1533 - 1592), họ đã phê phán gay gắt chủ nghĩa thầy tu và nền giáo dục kinh viện, xa rời thực tiễn Từ chủ nghĩa hoài nghi xã hội của Ph Rabơle và M Môngtenhơ, những cơ sở của lý luận giáo dục mới được xác lập, phát huy quyền chủ động của người học, kích thích óc tìm tòi, sáng tạo, và quan trọng hơn cả là “học đi đôi với hành” Các nhà nhân văn người Pháp khẳng định rằng thiên đường chẳng qua chỉ là một ý tưởng về một cuộc sống tốt đẹp: Thiên đường không ở đâu xa,
mà do chính con người xây dựng nên trên trái đất này
Tiếp nối phong trào văn hoá Phục hưng, đến nửa cuối thế kỷ XVI, ở
Trang 37Tây Âu đã cháy bùng lên ngọn lửa của phong trào Cải cách tôn giáo Đó là sự thể hiện tiếp theo của thế giới quan mới và những đột phá căn bản trong đời sống xã hội Nhiều cuộc đấu tranh của các phong trào dị giáo chống sự thống trị của Giáo hội đã nổ ra Đôi khi nó biến thành hình thức những cuộc đấu tranh của phong trào quần chúng chống lại Giáo hội với chế độ đẳng cấp hẹp hòi của nó, chống lại chế độ phong kiến đương thời Điều đó như Ăngghen đã nói: “Để có thể đả kích vào quan hệ xã hội hiện tồn thì phải cần tước bỏ cái vòng hào quang thiêng liêng của chúng” [35, 476]
Phong trào Cải cách tôn giáo bắt đầu bùng nổ ở Đức, nơi được coi là thành lũy phản động, bảo thủ nhất của chế độ phong kiến châu Âu Giáo hội Kitô giáo vốn là chỗ dựa, là sức mạnh tinh thần của chế độ phong kiến Nhà thờ dựa vào ánh hào quang của Chúa để bảo vệ chế độ phong kiến, củng cố sự vững bền cho ngai vàng của Chúa Nhà thờ đóng vai trò to lớn trong việc che chở cho ách thống trị của chế độ phong kiến suốt hàng ngàn năm Vì vậy, muốn lật đổ chế độ phong kiến, giai cấp tư sản trước hết cần phải tấn công vào Giáo hội, và sau đó là tấn công vào cơ sở kinh tế của Giáo hội Giáo sư thần học Máctin Luthơ (Martin Luther, 1483 - 1546) là người đã châm ngòi cho phong trào Cải cách tôn giáo và khởi nghĩa nông dân ở Đức Ngày 31 - 11
- 1517 (ngày mở đầu của phong trào Cải cách tôn giáo), Luthơ công bố “95 luận đề” tại Thánh đường Wittenberg, phê phán giới tăng lữ lộng quyền, sống
xa hoa trên nỗi khổ của tín đồ, và đòi hỏi giáo hoàng xử tội những kẻ lợi dụng niềm tin để hà hiếp dân chúng, cải cách sinh họat tôn giáo Ông phủ nhận tham vọng của giới tăng lữ đòi nắm giữ vai trò lãnh đạo đời sống tinh thần của tín đồ Theo ông, con người đạt được sự cứu rỗi không vì những nghi lễ rườm rà, những hành vi sùng bái phức tạp, mà chỉ vì niềm tin (sola fide) Quan niệm của Luthơ đã hạn chế sự lộng quyền của giáo hội, bởi lẽ nó cho phép tín đồ được lựa chọn giáo phái Nó tước bỏ vai trò chính trị của nhà thờ,
Trang 38đặt nhà thờ trong sự lệ thuộc vào nhà nước Và Giăng Canvanh (Jean Calvin,
1509 - 1546, người gốc Pháp) đã ủng hộ phong trào Cải cách tôn giáo ở Thụy
Sĩ Do hưởng ứng phong trào cải cách của Luthơ nên ông bị trục xuất khỏi Pháp sang sinh sống tại Giơnevơ Tư tưởng Cải cách tôn giáo của các nhà tư tưởng này được giai tư sản châu Âu tiếp nhận một cách nồng nhiệt Còn quý tộc phong kiến, giáo hội vẫn kiên quyết bảo vệ tôn giáo cũ Do đó, xung đột
tư tưởng, xung đột tôn giáo đã xảy ra quyết liệt, gay gắt và đẫm máu, nhất là ở Pháp và Hà Lan
Như vậy, có thể nói, ý thức hệ của phong trào Cải cách tôn giáo về hình thức là sự phản kháng chống lại tổ chức của Giáo hội và hệ tư tưởng của Giáo hội Kitô giáo Trung cổ, còn về nội dung thì chống lại trật tự chính trị - xã hội phong kiến đang tồn tại Nó phản ánh trước hết khát vọng của giai cấp tư sản thoát ra khỏi xiềng xích của Giáo hội như vũ khí của trật tự phong kiến, và từ
đó hợp thức giáo hội riêng, mang đậm tính tư sản Điều này giải thích vì sao
C Mác xem phong trào này là tôn giáo của thời đại tích luỹ tư bản ban đầu Phong trào Cải cách tôn giáo thể hiện sự đấu tranh của giai cấp tư sản chống chế độ phong kiến, chống giáo hội trên lĩnh vực tư tưởng, tôn giáo Đây là cuộc đấu tranh phức tạp, quyết liệt, đẫm máu, lôi cuốn mọi giai tầng xã hội đứng vào chiến tuyến Kết quả là, nó đã làm cho mối quan hệ giữa đạo và đời
ngày càng mở rộng và tác động tích cực đến tư tưởng nhân văn
Tới đây chúng ta có thể khẳng định, phong trào văn hoá Phục hưng và
phong trào Cải cách tôn giáo là hai đòn đánh liên tiếp của giai cấp tư sản tấn
công trực diện vào chế độ phong kiến trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng Nó đã
thúc đẩy châu Âu bừng tỉnh sau “đêm trường Trung cổ” dài hàng ngàn năm Một cuộc đảo lộn thực sự, một cuộc cách mạng về nhân sinh quan, về thế giới quan được bắt đầu Giờ đây người ta đề cao “nhân tính”, ca ngợi những giá trị đích thực của con người, lấy hình ảnh “con người tiến lên tự do” làm trung
Trang 39tâm, hướng đến thiết lập một xã hội tốt đẹp nhất dành cho con người, hay nói như các nhà nhân văn Phục hưng: thay sự thống trị của Thượng đế bằng “sự thống trị của con người”, xây dựng một “thiên đường trên mặt đất” bởi con người và cho con người Tất cả chúng đều góp vào tiếng nói chung của thời đại mới đang đến gần, từng bước đẩy lùi thần quyền và chủ nghĩa phổ quát Kitô giáo vào quá khứ Đồng thời khôi phục lại những gì đã bị lãng quên ở thời kỳ Trung cổ, đặt chúng vào giá trị cần trân trọng, tôn vinh Chủ trương xây dựng một xã hội tốt đẹp, chẳng những quan tâm thường xuyên đến khát vọng chân chính, trần tục, những giá trị thiêng liêng của con người, mà còn không ngừng hoàn thiện các thiết chế, tạo điều kiện cho sáng tạo của cá nhân
Nó phá vỡ “vầng hào quang thần thánh” (diễn đạt của C Mác - Ph Ăngghen
trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản) của văn hoá Trung cổ, vốn nặng về
khuôn mẫu, mực thước, mà xem nhẹ yếu tố sáng tạo, yếu tố “lệch chuẩn” và
“vượt khuôn khổ”, mở đường cho cái mới Nằm trong dòng chảy ấy, quan
niệm thẩm mỹ nói chung và quan niệm về cái đẹp nói riêng ở Tây Âu thời Phục hưng đã có những chuyển biến rõ rệt Giờ đây, khi đi tìm nguồn gốc của cái đẹp, các nhà tư tưởng không còn xuất phát từ Thượng đế hay Chúa nữa,
mà họ bắt đầu hướng về cái đẹp của thiên nhiên và của con người
1.2.2 Sự thúc đẩy của tinh thần khoa học đối với nhận thức và tư tưởng
Tây Âu thời kỳ Trung cổ gắn liền với phương thức sản xuất nông nghiệp Với kiểu kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, mỗi gia đình tiến hành sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho chính gia đình mình đã tạo nên một hình thái tổ chức sản xuất manh mún, nhỏ lẻ Điều kiện kinh tế này dĩ nhiên không thể tạo ra yếu tố kích thích cho khoa học phát triển Và kết quả dẫn tới là, ở giai đoạn đầu của thời kỳ Trung cổ, trong sản xuất nông nghiệp, người ta vẫn còn chưa biết đến phân bón và công cụ sản
Trang 40xuất còn rất thô sơ, chủ yếu là làm từ gỗ, chưa có các phương tiện sản xuất tiên tiến cho năng suất cao và giảm bớt sức lao động cho con người Hơn nữa,
ở giai đoạn này, các lãnh chúa phong kiến vẫn nắm quyền cai quản toàn bộ các họat động trong lãnh địa của mình Để dễ cai trị và có thể bóc lột người dân nhiều hơn, bọn lãnh chúa phong kiến cấu kết với nhà thờ để truyền bá những tư tưởng duy tâm và bác bỏ những tư tưởng tiến bộ, kể cả các thành tựu khoa học Nếu có quan tâm đến khoa học thì nó lại viện dẫn theo tính chất thần bí tôn giáo
Từ thực tế trên, chúng ta có thể khẳng định rằng, cũng giống như các lĩnh vực chính trị, pháp luật, giáo dục và văn học nghệ thuật, khoa học thời kỳ Trung cổ cũng mang một tinh thần cơ bản là thần học Chẳng hạn như trong lĩnh vực hóa học, vào thế kỷ XII ở châu Âu lần đầu tiên xuất hiện những tài liệu giả kim thuật dịch từ tiếng Ả Rập sang tiếng La tinh Theo các nhà giả kim thuật thì thủy ngân và lưu huỳnh là cơ sở của mọi kim loại Nhưng sau đó những người theo thuật giả kim đều rơi vào quan điểm thần bí Họ đặt ra mục đích là tìm ra phương pháp “hòn đá luyện kim” và muốn thế phải dựa vào ảo thuật, thần chú Những quan điểm thần bí đó đã kìm hãm sự phát triển của các tri thức khoa học
Sang thời Phục hưng, do nhu cầu của sản xuất, khoa học lúc này đã có những bước tiến lớn Nó mang lại cho con người những hiểu biết hoàn toàn khác với quan niệm thống trị trong xã hội trước đây về vũ trụ, tạo tiền đề cho tinh thần khám phá khoa học, bác bỏ các luận thuyết của tôn giáo và thần học, hướng con người đến nhu cầu thực tiễn Ở đây có thể kể đến mấy thành tựu lớn làm đảo lộn thế giới quan, nhân sinh quan Trung cổ thần bí Chẳng hạn, như thuyết Nhật tâm của Nicônai Côpécníc (Nicolas Copernic, 1473 - 1543) Nhà bác học vĩ đại người Ba Lan này là một trong những người đầu tiên nhận thấy thuyết Địa tâm của Arixtốt - Ptôlêmy, một giả thuyết cho rằng trái đất là