1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Âm thanh và cuồng nộ của william faulkner dưới góc nhìn phân tâm học

152 42 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, trong phạm vi đề tài của mình, chúng tôi chỉ khảo sát tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ phần lớn dựa trên lý thuyết phân tâm học của Freud và Jung trong các công trình đã được dịch

Trang 1

ĐẶNG THỊ NHÃ

ÂM THANH VÀ CUỒNG NỘ

CỦA WILLIAM FAULKNER DƯỚI GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

ĐẶNG THỊ NHÃ

ÂM THANH VÀ CUỒNG NỘ

CỦA WILLIAM FAULKNER DƯỚI GÓC NHÌN PHÂN TÂM HỌC

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn:

Thầy giáo hướng dẫn, Phó Giáo sư Tiến sĩ Đào Ngọc Chương Các thầy cô Tổ Văn học nước ngoài, các thầy cô Khoa Văn học và ngôn ngữ

Phòng Sau Đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Tp Hồ Chí Minh

Gia đình và bạn bè đã tận tình góp ý, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Tp Hồ Chính Minh, ngày 10 tháng 10 năm 2011

Người viết luận văn

Đặng Thị Nhã

Lớp Cao học Văn học nước ngoài 2007-2010

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố ở các công trình khác

Người viết luận văn

Đặng Thị Nhã

Lớp Cao học Văn học nước ngoài 2007-2010

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Mục lục

Lời cam đoan

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỪ PHÂN TÂM HỌC ĐẾN VĂN HỌC 14

1.1 Giới thuyết về phân tâm học 14

1.1.1 Thuật ngữ 14

1.1.2 Freud và phân tâm học 17

1.1.3 Vô thức và các khái niệm trung tâm 18

1.1.3.1 Vô thức 18

1.1.3.2 Dục năng 21

1.1.3.3 Giấc mơ 24

1.2 Cách tiếp cận văn học dưới ánh sáng phân tâm học 26

1.2.1 Freud và Jung- hai nhà nghiên cứu văn học 26

1.2.2 Một số nhà phê bình tiêu biểu 31

1.2.3 Wiilliam Faulkner và phân tâm học 34

1.2.4 Dấu ấn phân tâm học trong tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ 37

CHƯƠNG II : NGÔN NGỮ GIẤC MƠ TRONG TÁC PHẨM ÂM THANH VÀ CUỒNG NỘ 44

2.1 Ngôn từ trong tiềm thức 44

2.1.1 Sự gặp gỡ giữa dòng ý thức và ngôn ngữ giấc mơ 44

2.1.2 Sự biến dạng của ngôn từ 47

2.1.3 Hệ thống biểu tượng về chủ đề mất mát 60

2.1.3.1 Biểu tượng 60

2.1.3.2 Biểu tượng về cái đẹp bị đánh mất 64

Trang 6

2 2 Thời gian tâm lí và nỗi ám ảnh quá khứ 80

2.2.1 Thời gian tâm lí 80

2.2.2 Các sự kiện chính trong quá khứ được hồi tưởng lại 83

2.2.3 Phương thức biểu hiện thời gian tâm lí 86

2.2.3.1 Thời gian đồng hiện 86

2.2.3.2 Thời gian trùng lặp 92

Chương III: THỦ PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM ÂM THANH VÀ CUỒNG NỘ 97

3.1 Nhân vật bản năng với thủ pháp ghép mảnh 98

3.1.1 Caddy- Con người của bản năng chăm sóc, che chở và bản năng tính dục 101

3.1.2 Jason – Con người của bản năng hành hạ 105

3.2 Nhân vật với cấu trúc ba tầng nhân cách 110

3.2.1 Benjy và nguyên lí khoái lạc 111

3.2.2 Quentin và nguyên lí thích ứng với thực tại 115

3.2.3 Jason và phức cảm Oedipe 119

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 128

PHỤ LỤC 135

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ra đời vào những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, trong giai đoạn đầu, phân tâm học chỉ là một ngành khoa học cung cấp những phương pháp chữa bệnh tâm thần, thế nhưng nó lại chứa đựng được cả một hệ thống lí thuyết có thể giải thích phần lớn những hiện tượng tinh thần của con người trong đó có hoạt động sáng tạo nghệ thuật Có thể nói, trong các hoạt động sáng tạo thì văn học gần với phân tâm học nhất bởi cả hai lĩnh vực đều liên quan đến hoạt động tâm lí của con người Trước hết, hoạt động sáng tạo văn học của nhà văn là một hoạt động tâm lí vậy nên nó cần phải được phân tích dưới góc độ tâm lí Kể từ khi Sigmund SchlomoFreud ( 1856 – 1939), nguyên là một bác sĩ về thần kinh - tâm lý người Áo gốc Do Thái, phát hiện ra mối

quan hệ giữa văn học với phân tâm học và phân tích, lý giải sắc sảo, thấu đáo mối quan

hệ đó trong các bài viết đầu tiên mang tính báo hiệu về phương pháp phân tích tác phẩm văn học dưới góc độ phân tâm học, đặt nền tảng cho một trường phái phê bình văn học Cho đến nay, trường phái phê bình phân tâm học làm việc trên văn bản và tiểu

sử tác giả đã trở thành một trào lưu rất thịnh hành ở phương Tây bởi phương pháp này

đã mở ra một cánh cửa mới cho ngành nghiên cứu, phê bình văn học và lịch sử văn học Thêm nữa, nếu như văn học mô tả các hiện tượng tinh thần của con người thì phân tâm học làm công việc giải thích nguyên nhân phát sinh các hiện tượng tinh thần đó Trong các ngành nghệ thuật, khi soi dưới ánh sáng của phân tâm học thì văn học có lợi

thế hơn hẳn bởi lẽ trong lúc lí giải các hiện tượng tinh thần Freud phần lớn dựa vào

việc phân tích ngôn ngữ mà văn học lại là sản phẩm của tâm lí miêu tả, tái hiện những

sự thật đang diễn ra trong tâm hồn của con người bằng ngôn từ

Yếu tố quan trọng nhất đưa phân tâm học trở thành một trường phái trong phê bình văn học là vô thức Vô thức ngã bóng vào địa hạt của văn học qua hoạt động sáng tạo của nhà văn, như thế cũng có nghĩa là từ khi mới ra đời văn học đã mang vô thức trong mình Thế nhưng, các nhà văn chỉ cảm nhận được sự có mặt của vô thức chứ

Trang 8

không xác định được nó là gì, có nguyên nhân từ đâu, hoạt động như thế nào cho đến khi Freud dùng các hình ảnh văn học chứng minh cho các lí thuyết phân tâm học của

ông Việc Freud tìm ra mặc cảm Oedipe trong vở bi kịch Oedipe làm vua của Sophocle và Hamlet của Shakespeare không chỉ làm giới phê bình, nghiên cứu văn

học sững sờ mà ngay cả Sophocle và Shakespeare được sống dậy chắc cũng kinh ngạc

Rõ ràng, nhà văn là người tạo nên những tác phẩm văn chương thế nhưng đôi khi chính

họ cũng không ý thức được hết những điều mà mình viết Cũng như một giấc mơ, nội dung của nó phần lớn nằm ngoài sự hiểu biết của người nằm mơ; bản thân một tác phẩm văn chương thường “biết” nhiều hơn cha đẻ của nó nghĩa là trong quá trình sáng tạo tồn tại sự không ý thức của tác giả Điều đó cho thấy rằng văn bản là một bản mật ước cần được cung cấp những mã số để giải mã Học thuyết phân tâm học với cách lí giải khoa học về hoạt động của vô thức đã đáp ứng được cơn khát này của phê bình văn học Nếu như văn học là chiếc xe chuyên chở những ước mơ, khát vọng, tiếng nói tâm hồn của con người thì phân tâm học là chiếc chìa khóa mở cánh cửa của chiếc xe này Trong luận văn của mình, chúng tôi sử dụng chiếc chìa khóa ấy mở vào thế giới

Âm thanh và cuồng nộ của William Faulkner

1.2 William Faulkner (1897-1962) là một bậc thầy trong lĩnh vực khám phá tâm hồn con người và cũng là bậc thầy trong nền văn học hiện đại Qua quan niệm sống, cảm quan và các tác phẩm của ông, thế giới đã khẳng định đều đó

Trong văn hóa - lịch sử Mỹ, Faulkner là người rung chuông thức tỉnh những giá trị tinh thần truyền thống, những giá trị đạo đức tốt đẹp tưởng chừng như đã bị vùi sâu dưới sự “bùng nổ” của cái mới, dưới sự “tàn tạ”của những giá trị nhân văn Ông kêu gọi mọi người hãy quan tâm đến đời sống tinh thần của nhân loại qua việc kế thừa và lưu giữ các di sản văn hóa tốt đẹp của tổ tiên Riêng đối với người da đen, Faulkner dường như bị mê hoặc trước nền văn hóa đa sắc màu, trước lòng can đảm và sức chịu đựng dẻo dai, bền bỉ để bảo tồn các giá trị truyền thống và nền văn minh cổ kính của miền Nam Cũng như một số nhà văn cùng thời, ông đấu tranh cho sự bất công và phi

Trang 9

lí mà người da màu phải gánh chịu dưới sự áp bức của người da trắng Nhà văn viết về nổi thống khổ của người da đen này lên tiếng khẳng định màu da không quyết định giá trị của một con người mà chỉ có vẻ đẹp tâm hồn mới là tiếng nói mạnh mẽ và uy quyền nhất

Trong nền văn học Mỹ, con người chọn hành trình khám phá tâm hồn ấy không

ngừng cách tân ngoài bút của mình: “Có ai trong chúng ta đạt được tới giấc mơ hoàn

hảo! Chính vì vậy mà mỗi người chúng ta mới tiếp tục sáng tác, mỗi lần lại hy vọng sẽ viết được khá hơn Trong toàn bộ tác phẩm, tôi chưa bao giờ đạt được mục tiêu mà tôi muốn đạt tới” [64, 23] Vì thế, trong hai mươi văn phẩm của Faulkner, mỗi văn phẩm

dường như có một phong cách kể chuyện độc đáo, chứa đựng những triết lí nhân sinh

về con người ngay cả trong cách xây dựng nhân vật Ông là một trong những nhà cải cách quan trọng

Faulkner đã từng tâm sự Âm thanh và cuồng nộ là đứa con tinh thần ông dành

cho nhiều tình cảm nhất vì nó đã lấy của ông nhiều thời gian và tâm sức Vì thế, nhiều nhà phê bình đã nhận định tác phẩm không chỉ là thiên tiểu thuyết hay nhất trong toàn

bộ văn phẩm của Faulkner mà còn là tiểu thuyết hay nhất của thế kỉ XX Giải Nobel văn học năm 1949 là phần thưởng cao quý xứng đáng cho sự vất vả trong quá trình sáng tạo “đứa con tinh thần này” Thế nhưng, đã một gần một thế kỉ trôi qua kể từ khi

Âm thanh và cuồng nộ được “khai sinh” mà nó vẫn còn là một thử thách đầy quyến rũ

cho bất kì độc giả nào muốn chạm tới bởi nó là một “thiên tiểu thuyết… biểu lộ một kĩ

thuật tinh vi, có thể là tài tình nữa” (chữ của O’Conor) kể về đời sống tinh thần của

con người bằng thứ ngôn ngữ giấc mơ của tầng sâu vô thức

Đây là lí do chúng tôi chọn đề tài: Âm thanh và cuống nộ của William

Faulkner dưới góc nhìn phân tâm học

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 10

Với đề tài như trên, đối tương khảo sát chính của chúng tôi là tác phẩm Âm

thanh và cuồng nộ, bản dịch của Phan Đan và Phan Linh Lan do nhà xuất bản Văn

học ấn hành vào năm 2008

Vì tiếp cận tác phầm dưới góc độ phân tâm học nên những tài liệu về lý thuyết phân tâm học là phần tài liệu chính yếu Song phân tâm học có một quá trình phát triển lâu dài với nhiều thành viên nên việc bất đồng về ý kiến và dẫn đến việc chia ra nhiều nhánh khác nhau, tạo nên một nguồn lý thuyết phân tâm học vô cùng phong phú Vì

thế, trong phạm vi đề tài của mình, chúng tôi chỉ khảo sát tác phẩm Âm thanh và

cuồng nộ phần lớn dựa trên lý thuyết phân tâm học của Freud và Jung trong các công

trình đã được dịch ở Việt Nam mà chủ yếu qua bốn công trình:

1 Nhập môn phân tâm học của Freud do Nguyễn Xuân Hiến dịch, nhà xuất

bản đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành năm 2002

2 Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật của nhóm tác giả do nhà xuất bản

Văn hóa Thông tin Hà Nội ấn hành năm 2000

3 Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ của Freud do nhà xuất bản

Thế giới ấn hành năm 2005

29 Thăm dò tiềm thức của Jung do nhà xuất bản Tri thức phát hành năm 2007

Về lí thuyết của Freud chúng tôi sử dụng cách lí giải về giấc mơ, vô thức, libido, cấu trúc ba tầng nhân cách, bản năng sống và bản năng chết,…còn trong lí thuyết của Jung chúng tôi chủ yếu sử dụng các kiến thức về biểu tượng, giấc mơ,…

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

William Faulkner được xem là một bậc thầy của tiểu thuyết hiện đại phương Tây vậy nên có rất nhiều công trình viết về Faulkner và các tác phẩm của ông được đăng trên các sách báo và tạp chí ở nhiều nước trên thế giới Trước sự đa dạng và phong phú này và do điều kiện có hạn, chúng tôi chỉ điểm qua một số công trình nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước liên quan đến phạm vi đề tài của chúng tôi

là: Âm thanh và cuồng nộ của William Faulkner dưới góc nhìn phân tâm học

Trang 11

Hiện nay, các bài nghiên cứu phê bình về William Faulkner trên thế giới có nhiều khuynh hướng tiếp cận khác nhau, nhưng tựu trung có thể chia thành hai khuynh hướng chính:

Thứ nhất là tập trung nghiên cứu về tư tưởng của nhà văn, các vấn đề về lịch sử

- văn hóa Mỹ, vấn đề về chủng tộc, vấn đề về cá nhân trong mối quan hệ với gia đình

và xã hội,…

Thứ hai là thiên về thi pháp tiểu thuyết của William Faulkner như: độc thoại nội tâm, tính nhạc,…

Tuy nhiên, sự phân chia trên của chúng tôi cũng chỉ có ý nghĩa tương đối vì đa

số các công trình nghiên cứu có sự giao thoa của cả hai khuynh hướng trên

Thuộc khuynh hướng thứ nhất là những bài nghiên cứu về nội dung, tư tưởng

của tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ Tiểu thuyết của Faukner thường khai thác miền

Nam dưới hai khía cạnh Đó là một miền Nam bị nguyền rủa bởi một thứ định mệnh vô

hình nhưng rất tàn bạo và khắc nghiệt: Một phục sinh không phục sinh (An Easter

Without resurrection) của André Bleikasten Cho nên, một số nhà nghiên cứu đã phân

tích và giải thích hành động nhân vật của tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ trong mối quan hệ với xã hội: “Những thế hệ buồn tìm kiếm nước”, giải thích về mặt xã hội

của chứng cuồng loạn ở O(phelia) và Q(uentin Compson) (“Sad generations

seeking water": the social construction of madness in O(phelia) and Q(uentin

Compson) của Erin E Camplell “Tiểu thuyết của ông ấy (Faulkner) khám phá việc

phá hỏng sự ngây thơ của miền Nam với hy vọng là hướng tới thời kì hiện tại bằng cách hiểu quá khứ” [ 75, 368 ] là nhận định của Ricky Floyd Dobbs trong bài viết:

Nghiên cứu trường hợp chứng loạn thần kinh xã hội: Quentin Compson và nguyên nhân mất mát (Case study social neuroris: Quentin Compson and the lost

cause) Theo Faulkner, tội lỗi ấy một phần bắt nguồn từ chế độ phân biệt chủng tộc hà khắc Faulkner căm ghét chế độ nô lệ, người da trắng coi người da đen là một công cụ chứ không phải là một con người nên đối xử với họ rất bất công Vậy nên, đề tài về

Trang 12

những bất công mà người da đen phải hứng chịu dưới sự tàn bạo của người da trắng luôn được Faulkner dành cho một sự quan tâm đặc biệt và khai thác một cách triệt để Viết về người da đen, Faulkner còn tỏ lòng khâm phục của mình trước hình ảnh những người da đen tuy sống trong những túp lều nhỏ bé lúc nào cũng bốc đủ thứ mùi khó chịu nhưng rất cần cù và trung nghĩa với sức chịu đựng bền bỉ và dẻo dai Không những thế, họ còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống và cổ kính của miền Nam nước Mỹ Theo hướng nghiên cứu này, gồm các bài viết tiêu biểu như:

Tiếng nói uy quyền của mục sư Shegog (Rev Shegog’s Powerful Voice) của Stephen

M Ross, Dilsey, Bài thuyết giáo của Shegog và ý nghĩa của thời gian (Dilsey, Shegog’s Sermon, and Meaning of Time ) của John Williams, “Sự suy tàn hay là cột

mốc?” Những người da đen như là Di chỉ kí ức trong Âm thanh và cuồng nộ

(“Ruin or landmark?” Black bodies as Lieux de Memoire in The Sound and the Fury) của Cynthia Dobbs,…

Tiếp cận Âm thanh và cuồng nộ từ xu hướng tư tưởng còn có các bài viết so

sánh đối chiếu với các tác phẩm cùng thời hoặc khác thời Đó là bài viết: Cái chết của ngài Tổng giám mục của Willa Cather và Âm thanh và cuồng nộ của William

Faulkner (Willa Cather’s Death Comes for the Archbishop and William Faulkner’s The Sound and the Fury) của Merrill M Skaggs Mày có em gái không? Holden

Caulfied của Salinger’s và Quentin Compson của Faulkner (Did you ever have a

sister?": Salinger's Holden Caulfield and Faulkner's Quentin Compson) của Robert W

Hamblin, Sự tự sát của Quentin: một nguồn gốc ở Balzac (Quentin Compson's

Suicide: A Source in Balzac) của Merrill Horton Nhìn chung, những bài viết này chủ yếu phân tích các tình huống mà các nhân vật gặp phải, cách giải quyết riêng của từng người để thấy được sự giống và khác qua nhãn quan của tác giả dưới sự tác động của lịch sử

Thuộc khuynh hướng thứ hai là những bài nghiên cứu về phong cách nghệ thuật của Faulkner Như đã đề cập ở phần lịch sử vấn đề, đóng góp lớn nhất của Faulkner

Trang 13

chính là sự cách tân trong nghệ thuật kể chuyện Nhiều nhà nghiên cứu nhận định Faulkner chịu ảnh hưởng kỹ thuật kể chuyện theo dạng bộc bạch của Balzac và nhất là dòng ý thức của James Joyce Tuy vậy, cái tài của Faulkner thể hiện ở chỗ, tùy vào trình độ nhận thức, tính cách, cảm xúc,… của từng nhân vật mà ông sử dụng linh hoạt những hình thức độc thoại nội tâm khác nhau Có khi cùng một nhân vật nhưng giọng điệu lại thay đổi liên tục: lúc chỉ là tiếng nói tự trấn tĩnh bản thân, lúc là những triết lí sâu xa, lúc là tiếng nói ẩn uất của tâm hồn, lúc đơn thuần chỉ là thuật lại những gì mắt đang thấy tai đang nghe,…Cảm xúc tư duy thế nào thì ngôn ngữ thể hiện thế ấy, vậy nên hình thức ngôn ngữ trong văn bản của Faulkner thường rất phong phú và đa dạng

về cách sử dụng dấu câu, liên từ, đại từ, câu ngắn, câu dài, biểu tượng,… Chính vì thế dưới góc độ thi pháp, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến hình thức độc thoại nội

tâm trong tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ, chẳng hạn như các bài viết: Độc thoại nội

tâm trong Âm thanh và cuồng nộ (The Interior Monologues of The Sound and The Fury) của Carvel Collins, Gail M Morrison có bài viết: Kết cấu của Âm thanh và

cuồng nộ (The Composition of The Sound and the Fury), Faulkner đã học điều gì từ

Joyce? (What Faulkner (might have) learned from Joyce?) của Thomson Gale Đặc

biệt, trong nhóm bài nghiên cứu này, chúng tôi chú ý đến: “Người đàn ông có trái tim

bão dậy”: Âm hưởng của “Nausicaa” trong chương Quentin của Âm thanh và

cuồng nộ (“The storm-Tossed Heart of Man”: Echoes of: “Nausicaa” in Quentin’s

section of The Sound and the Fury) Trong bài viết này, Joseph Csicsila đã cho rằng

chương thứ mười ba “Nausicaa” trong kiệt tác Ulysses của James Joyce chính là nguồn

cảm hứng để William sáng tạo ra chương hai Quentin trong tác phẩm Âm thanh và

cuồng nộ Hai chương này không chỉ giống nhau về cách hành văn, mà còn giống nhau

về motif tính dục, cách thức hoạt động tâm lí của nhân vật, Tiếp cận hình thức độc

thoại nội tâm trong tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ, chúng tôi còn gặp những bài

viết đơn lẻ tìm hiểu ý nghĩa của hệ thống biểu tượng hoặc một vài biểu tượng giữ vai

trò quan trọng trong tác phẩm như: Từ vựng của Âm thanh và cuồng nộ (The Words

Trang 14

of The Sound and the Fury) của Robert A.Martin, Biểu tượng của nước trong Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner (Symbolism of Water in Faulkner’s The Sound and

The Fury) của Biljana B Oklopčić,…

Trong quá trình điểm qua những công trình nghiên cứu về Âm thanh và cuồng

nộ, chúng tôi đặc biệt chú ý đến cụm bài khám phá tác phẩm dưới góc độ tâm lí vì nó

có liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn của chúng tôi: Âm thanh và cuồng nộ của

William Faulkner dưới góc nhìn phân tâm học

Có thể nói, đây là một mảng đề tài còn gây nhiều tranh cãi và có nhiếu ý kiến bất đồng với nhau bởi sinh thời Faulkner chưa bao giờ công nhận ông chịu ảnh hưởng của Freud Khi phân tích tác phẩm dưới góc độ này, các nhà nghiên cứu thường đi theo hai hướng Xuất phát từ những bài nói chuyện của Faulkner, hướng thứ nhất là nghiên

cứu vô thức của Faulkner trong quá trình sáng tạo Âm thanh và cuồng nộ như: sự nảy

sinh biểu tượng, cách hình thành chủ đề, kết cấu của tác phẩm,…Trong khi đó hướng thứ hai lại khai thác trực tiếp các nhân vật trong tác phẩm, nghĩa là xem các nhân vật như những con người thực ở ngoài đời Trong số những bài viết này đáng chú ý là:

“Cái chết của người em gái nhỏ”: Âm thanh và cuồng nộ và vô thức phủ nhận

(“Little Sister Death”: The Sound and The Fury and The Denied Unconscious”) của

Doreen Fowler, Về người mẹ, sự ăn cướp và ngôn ngữ: Faulkner và Âm thanh và cuồng nộ (Of Morther, Robbery, and Language: Faulkner and The Sound and The

Fury) của Deborah Clarke, “Giá tôi có mẹ”: Giải thích không thể nói về thiên chức

tính mẫu của Faulkner (“If I Could Say Mother”: Construing the Unsayable About

Faulknerian Maternity) của Philip Weinstein, Những bài viết trên chủ yếu hướng vào phân tích mối quan hệ giữa con người với xã hội với không khí gia đình dưới góc

độ tâm lí Sự suy nhược, vô trách nhiệm của cha mẹ là nguyên nhân làm cho những đứa con hư hỏng Quan niệm lệch lạc về tình yêu, sự sai lầm trong việc lựa chọn đối tượng đã đẩy các nhân vật vào ngõ cụt Trong đề tài này, chúng tôi cảm thấy thú vị với

bài viết của E.Brown: Một phân tích theo hướng Jung về Âm thanh và cuồng nộ:

Trang 15

Faulkner và cấu trúc bốn chức năng (A Jungian Analysis of The Sound and the

Fury: Faulkner and the Four Functions) E.Brown đã chia bài viết này thành hai phần:

Phần đầu ông phân tích trong quá trình viết Âm thanh và cuồng nộ Faulkner đã bị sức

mạnh của vô thức dẫn dắt Ở phần hai, E.Brown đã mô tả cách Faulkner xây dựng bốn anh chị em nhà Compson theo lý thuyết bốn chứ năng của Jung, trong đó Quentin là tư duy (thinking), Jacson là tình cảm (feeling), Benjy là cảm giác (sensation) và Caddy là trực giác (intuition)

Ở Việt Nam, chỉ có một trong số hai mươi tiểu thuyết của William Faulkner

được dịch ra Tiếng Việt, đó là kiệt tác Âm thanh và cuồng nộ vì vậy vấn đề nghiên

cứu về các sáng tác của William Faulkner còn rất hạn chế Nhìn chung, đa số các bài viết chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin về tác giả, phong cách nghệ thuật và phân

tích sơ lược nội dung các tác phẩm của ông, chẳng hạn như công trình: William

Faulkner –Cuộc đời và tác phẩm, xuất bản năm 1973 của Doãn Quốc Sĩ và Nguyễn

Văn Nha Đây được xem là công trình toàn diện nhất về Faulkner ở nước ta trong đó phần một viết về tiểu sử tác giả, tư tưởng, phong cách nghệ thuật còn phần hai phân tích sơ lược các tác phẩm đồng thời dịch một số truyện ngắn Tuy nhiên, theo chúng tôi một số nhận định trong công trình này là chưa đánh giá đúng vai trò và tầm vóc của

Wiliam Faulkner, chẳng hạn như nhận định: “Văn William Faulkner tuy về hình thức

thì kém điêu luyện và chọn lọc so với Hemingway, nhưng cũng đã làm nổi bật được vai

trò của nhà văn tiêu biểu cho một giai đoạn.” [43, 27] Tiểu luận phê bình Phương

Tây văn học và con người xuất bản năm 1999 của Hoàng Trinh cũng có đề cập đến

William Faulkner và tóm tắt một số tác phẩm của ông Khi viết về Âm thanh và

cuồng nộ, Hoàng Trinh đã nhận định: “Hò hét và phẫn nộ, một trong những tác phẩm

được xem là nổi nhất trong tiểu thuyết hiện đại phương Tây về mặt phát triển “phương pháp đồng hiện” theo kinh nghiệm của J.Joix” [54 ,40] Đến năm 2001, nhà xuất bản

Văn học phát hành công trình: Martin Heidegar và tư tưởng hiện đại: Sartre-

Marcel - Camus – Faulkner của tác giả Bùi Giáng Trong công trình này, Bùi Giáng

Trang 16

đã dành một phần lớn phân tích tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ, ông viết: “Kỹ thuật

điên đảo của Faulkner là “kỹ thuật” của những bàn tay Thiên Thần sử dụng để vẽ những hình ảnh điêu linh của Địa-Ngục, trong đó chợt sáng ngời ý nghĩa của những

ẩn ngữ kỳ bí nơi gương mặt những bà “mọi” già Disley” [24, 322] Ý thức siêu thể:

Linh hồn Faulkner và siêu hình học thời gian của Jean- Paul Satre và Aldous Huxley là một chương trong công trình Ý thức mới trong văn nghệ và triết học,

Phạm Công Thiện đã cho rằng: “The Sound and the Fury là tác phẩm mãnh liệt và

huyền bí nhất của Faulkner”, trong đó: “Vấn đề thời gian là một vấn đề quan trọng (chưa phải quan trọng nhất) Con người bị thời gian ám ảnh là một trong những đề tài

quan trọng của quyển The Sound and the Fury” [55] Ngoài ra, trên tạp chí Văn học số

10 năm 2003 có đăng bài “William Faulkner và những sáng tạo nghệ thuật của tiểu

thuyết Âm thanh và cuồng nộ” của Huy Liên Cũng trên tờ tạp chí này, số 9 năm

2006 Trần Thị Phương Trang còn có bài viết “Nhân vật trùng tên trong Âm thanh và cuồng nộ và trăm năm cô đơn” ,…

Ngoài những công trình trên còn có một số công trình tập hợp và giới thiệu các

bài phát biểu của Faulkner như:“Uy-liêm phooc-nơ” trong công trình Tiểu thuyết hiện

đại của Tràng Thiên, “William Faulkner: “Đấy là sự thất bị tuyệt vời” của Frederick L Gwynn và Joseph L Blotne ,“William Faukner “Trẻ con không phải chịu đau khổ””

của Joseph L Fant và Robert Ashley (Tựa đề do Lê Huy Bắc đặt ) trong cuốn Phê bình

– lý luận văn học Anh Mỹ xuất bản năm 2004, Lê Huy Bắc đã sưu tầm và giới thiệu,

Nguyễn Hữu Hiệu đã biên dịch và giới thiệu một số quan niệm về sáng tác của những tác giả phương Tây như: Nietzsche, Rimbaud, Henry Miller, Schopenhauer,… trong đó

có William Faulkner

Qua những vấn đề vừa tìm hiểu ở trên, người viết nhận thấy Âm thanh và

cuồng nộ là một tác phẩm đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu với hàng

loạt bài viết phong phú, đa dạng về nội dung và thi pháp trong tác phẩm Những vấn đề

Trang 17

trên ít nhiều liên quan đến đề tài luận văn của chúng tôi vì vậy chúng sẽ là nguồn tư liệu quý giá giúp chúng tôi có một cái nhìn toàn diện về tác phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này để làm rõ các vấn đề, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tâm học: Chúng tôi coi đây là phương pháp chủ yếu vì thực

tế cho thấy phương pháp này hoàn toàn phù hợp để nghiên cứu tác phẩm Âm thanh và

cuồng nộ trên nhiều phương diện nhất là tâm lí

Trong hành trình khám phá các kiệt tác văn học, Freud phát hiện ra tác phẩm văn học cũng giống như một giấc mơ được ghi chép lại bằng văn bản Sự giống nhau của giấc mơ và tác phẩm văn học là chúng cùng tồn tại ba loại thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai Một niềm mong muốn gắn liền với hoàn cảnh ở hiện tại, sự hồi tưởng lại những “ám ảnh”, những kí ức nào đó trong quá khứ và cuối cùng là sự tưởng tượng đến những điều sắp xảy ra Ba loại thời gian này trộn lẫn và kết dính vào nhau để bộc

lộ niềm ham muốn hiện tại và “thiết kế một bức tranh cho tương lai” Vì thế, để tìm

hiểu được nội dung tiềm ẩn của một giấc mơ cũng như một tác phẩm văn học chúng ta phải tiến về cái cội nguồn của nó, nghĩa là quay ngược thời gian trở về quá khứ xem lại những kí ức tự thuở còn ấu thơ giờ đã bị biến dạng và bóp méo qua lớp ngôn từ của văn bản

Giải thích giấc mơ (hay tác phẩm văn học) theo quan niệm của Jung còn là việc

đi giải mã những vô thức tập thể những nghi lễ, tín ngưỡng,…qua hệ thống biểu tượng của văn bản bởi quá trình sáng tạo là quá trình tạo sức sống cho cổ mẫu từ trong vô thức

Dựa vào những quan điểm trên, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp giải

mã giấc mơ của Freud và Jung để giải mã tác phẩm

Ngoài phương pháp phân tâm học, trong luận văn còn sử dụng một số phương pháp hỗ trợ khác như:

Trang 18

Phương pháp văn hóa học: Khi phân tích một giấc mơ, cả Freud và Jung đề chú

ý đến hoàn cảnh gia đình, xã hội đến những đặc điểm văn hóa đã tác động hình thành

ẩn ức trong vô thức của mỗi người Chính vì vậy, khi nghiên cứu các vấn đề trong tác

phẩm Âm thanh và cuồng nộ chúng tôi thường đặt các sự kiện vào không gian văn

hóa của nó khi tác phẩm ra đời cùng với không gian văn hóa mà người sản sinh ra nó

đã trải nghiệm W.Faulkner và những đứa trẻ trong nhà Compson đều là con của tầng lớp quý tộc ở miền Nam ít nhiều chịu tác động của đại thế chiến lần thứ nhất Thế nên, cuộc đại chiến thế giới thứ nhất và chế độ nô lệ ở miền Nam nước Mỹ là hai không gian văn hóa mà chúng tôi đặc biệt lưu tâm

Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trước hết, phương pháp này được chúng tôi sử

dụng để tìm hiểu hệ thống lí thuyết của Freud và Jung nhằm lựa chọn ra những phương

pháp phù hợp với việc lí giải từng vấn đề của tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ Tiếp

theo, phương pháp này còn được sử dụng trong việc tìm hiểu nghĩa gốc và ý nghĩa phát sinh của hệ thống biểu tượng trong tác phẩm Cổ mẫu xuất hiện từ thuở bình minh của nhân loại sau đó ngã bóng vào địa hạt của đời sống tinh thần các nhân vật sống trong những năm đầu thế kỉ XX của tác phẩm Tuy nhiên, William Faulkner không vay mượn nguyên xi các biểu tượng trong kho tàng văn hóa nhân loại mà luôn cải biến và nhào nặn cho phù hợp với đời sống tinh thần của nhân vật và thông điệp mà nhà văn muốn truyền tải

Ngoài ra, Phương pháp thấu cảm cũng được người viết vận dụng vào việc cảm

nhận cái hay và cái đẹp trong hành trình khám phá tác phẩm

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Từ phân tâm học đến văn học

Trong chương này, chúng tôi sẽ giới thuyết về những lí thuyết được xem là hạt nhân của học thuyết phân tâm học, quan niệm của Freud và Jung về văn học, xem chúng là chiếc chìa khóa để mở những cánh cửa ngôn từ bí ẩn của tác phẩm Đồng thời

Trang 19

chúng tôi cũng đưa ra một cái nhìn khái quát về vai trò của phân tâm học trong tác

phẩm Âm thanh và cuồng nộ

Chương 2: Ngôn ngữ giấc mơ trong tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ

Ở phần một: Ngôn từ trong tiềm thức, chúng tôi sử dụng những kiến thức về

giấc mơ của Freud và biểu tượng của Jung để giải mã những hình ảnh, sự kiện bị biến dạng qua lớp ngôn từ phi logic, cũng như hệ thống biểu tượng trong dòng ý thức của ba anh em nhà Compson: Benjy, Quentin, Jason để thấy được tiếng nói thực sự trong tâm

hồn của mỗi nhân vật Tiếp theo, ở phần hai Thời gian tâm lí và nỗi ám ảnh quá khứ,

chúng tôi tiếp tục khám phá nhân vật và quan niệm của tác giả qua việc chú ý đến tần

số xuất hiện của các sự kiện quá khứ và phân tích một vài phương thức biểu hiện thời gian tâm lí

Chương 3: Thủ pháp xây dựng nhân vật trong tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ

Nhân vật ghép mảnh dưới góc nhìn bản năng và nhân vật dưới cấu trúc ba tầng nhân cách là nội dung chúng tôi phân tích trong chương ba này

6 Những đóng góp mới của luận văn

1 Như chúng tôi đã đề cập ở những phần trên, William Faulkner được xem là bậc thầy văn chương của văn học phương Tây thế kỷ XX, vì vậy các tác phẩm của ông

có một sức hút mãnh liệt đối với các nhà nghiên cứu Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác

của William Faulkner, Âm thanh và cuồng nộ là tác phẩm được đánh giá cao nhất và

đã đem lại cho ông giải Nobel vào năm 1949 Tuy nhiên, ở Việt Nam tác phẩm tái hiện

“Trái tim đang gây hấn với nó” (chữ của Faulkner) này vẫn chưa được nghiên cứu một

cách hệ thống nhất là dưới ánh sáng của học thuyết phân tâm học mặc dù rất nhiều nhà nghiên cứu nhận định nó chịu ảnh hưởng các lí thuyết phân tâm học Vì vậy, chúng tôi

lựa chọn đề tài: Âm thanh và cuồng nộ của William Faulkner dưới góc nhìn phân tâm

học” để khảo sát với hy vọng có thể làm sáng tỏ được những mảng tối nhất trong kiệt

tác được xem là khó tiếp cận này

Trang 20

2 Nếu như ở các nước trên thế giới, nhất là Mỹ, các tác phẩm của William Faulkner được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học với rất nhiều bài phê bình nghiên cứu thì ở Việt Nam ta điều này rất hạn chế Bóng dáng của Faulkner không chỉ hoàn toàn vắng mặt ở các chương trình đại học mà các công trình nghiên cứu nhìn trên tổng thể dường như cũng chưa có cái nào xứng đáng với tầm vóc của một nhà văn bậc thầy, mà chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tác giả, tóm tắt và phân tích sơ lược nội dung của tác phẩm Cho nên, việc giới thiệu, nghiên cứu tác phẩm của William Faulkner ở nước ta là việc làm có ý nghĩa

Trang 21

CHƯƠNG 1: TỪ PHÂN TÂM HỌC ĐẾN VĂN HỌC

1.1 Giới thuyết về phân tâm học

Vào đầu thế kỉ XX, đời sống tâm linh của con người được một số nhà nghiên cứu định danh và nhìn dưới một góc độ hoàn toàn mới Nếu như trước kia, con người cho rằng bản chất của đời sống tâm linh thực chất chỉ là tín ngưỡng, tôn giáo và đối tượng của huyền môn,… thì đến giai đoạn này họ lại phát hiện ra những điều tưởng chừng như là siêu nhiên, kì bí kia tuy tồn tại một cách vô hình trong đời sống tinh thần của con người nhưng lại có một cơ sở khoa học vững chắc Một trong những người đi tiên phong trong việc nghiên cứu đời sống tâm linh, đưa nó trở thành đối tượng của khoa học chính là S Freud Tầm quan trọng của câu chuyện vô thức có sức mạnh chi phối đời sống tâm linh và hoạt động của con người mà Freud đưa ra không chỉ làm đảo lộn mọi quan niệm khoa học về tâm lí trước đó mà nó còn ảnh hưởng sâu rộng đến

nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu về con người

Vì tính phức tạp của học thuyết và để tiện cho việc theo dõi hai chương sau, trong chương này, ngoài việc trình bày một số luận điểm trọng tâm trong học thuyết phân tâm học chúng tôi còn đề cập đến quan niệm của Freud và Jung về văn học và cách tiếp cận một tác phẩm văn học dưới ánh sáng của học thuyết phân tâm học Từ đó,

đưa ra một cái nhìn khái quát về vai trò của phân tâm học đối với tác phẩm Âm thanh

và cuồng nộ của William Faulkner để giúp cho việc giải mã tác phẩm ở các phương

diện mà chúng tôi quan tâm

Trang 22

tới những hiện tượng của vô thức, và một kỹ thuật tìm tòi và chữa trị tinh tế, dựa vào việc sử dụng liên tục những liên tưởng tự do [44, 273]

Hiện nay ở nước ta có hai cách gọi: phân tâm học và tâm phân học chung cho một thuật ngữ trên Về vấn đề này, vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau

Giáo sư Phương Lựu trong công trình Mười trường phái lý luận phê bình văn

học phương Tây đương đại đã phân biệt rất rõ Phân tâm học (Psychoanalysic) thuộc

trường phái lý thuyết của Freud và Tâm phân học (Analytical psychology) thuộc trường phái lý thuyết của Jung

Trong bài nghiên cứu: Phân tâm học vô thức với việc nghiên cứu cấu trúc tác

phẩm văn học in trên tạp chí Văn học năm 2003 số 374, Nguyễn Văn Dân đã tổng

hợp các quan điểm đồng thời lí giải và đánh giá hai cách gọi trên Trước hết, với cách gọi phân tâm học dùng chung cho thuật ngữ của Freud và Jung, ông đã so sánh nội

hàm thuật ngữ gốc với định nghĩa từ phân tâm trong Tự điển Tiếng Việt: “Ở trạng

thái đang phải bận tâm suy nghĩ vào những việc khác, tư tưởng không được tập trung”,

sau đó ông đi đến kết luận là cách gọi nội hàm của từ phân tâm học đã đi khá xa so và thậm chí sai lệch hoàn toàn Theo Nguyễn Văn Dân sở dĩ cách gọi này sai nhưng vẫn được sử dụng một cách rộng rãi do xuất phát từ cách sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của

chúng ta: “có một số từ Hán-Việt có thể dùng đảo ngược mà vẫn không gây ra sự sai

nghĩa”, hoặc là cách gọi tắt theo quy tắc tiếng Việt “phân tích tâm lí” thành “phân tâm” sau đó ghép thêm chữ “học” vào Nguyễn Văn Dân còn cho biết thêm ngoài cách

gọi theo khuynh hướng trên còn có một cách gọi khác, đó là phân biệt rạch ròi nội hàm của khái niệm dựa trên đặc điểm của từng học thuyết: thuật ngữ phân tâm học dùng để chỉ học thuyết phân tích tâm lí của Freud, và thuật ngữ tâm phân học dùng để chỉ học thuyết tâm lí học phân tích của Jung

Năm 1900, sau khi xuất bản tác phẩm Giải mộng, Freud đã có một số lượng

những nhà tri thức sùng bái cố định trong đó có Jung Sau hàng loạt thư trao đổi với nhau về các kết quả nghiên cứu, hai người trở thành thầy trò Cho đến năm 1911, Freud

Trang 23

và Jung đã chung tay thành lập Hiệp hội phân tâm học quốc tế Với trí thông minh, những quan niệm sắc sảo, chức chủ tịch của hội sẽ do Jung nắm giữ nếu như ông

không công bố tác phẩm Những biến hóa và tượng trưng của libido để phê phán các

luận điểm về tính dục của Freud vào năm 1914 Sau sự kiện chấn động này, Freud đã tức giận tuyên bố li khai Jung ra khỏi hội phân tâm học và cấm ông sử dụng tên phân tâm học trong các bài nghiên cứu Sau khi bị Freud tẩy chay, Jung đã sáng lập ra

trường phái Tâm lý học phân tích (Analytical psychology) hay còn gọi là Tâm lý học

chiều sâu Tuy kế thừa, nhưng rất khác với phân tâm học của Freud, Jung không đi vào

cơ sở thực nghiệm mà đi sâu vào lĩnh vực văn hóa, tâm linh

Từ những vấn đề trên, Nguyễn Văn Dân đã kết luận: “việc dùng thuật ngữ

“phân tâm học” chỉ là một cách dùng dễ dãi và có phần tùy tiện cho một từ Hán- Việt

là “tâm phân học”, rằng trong ý thức của nhiều người, “phân tâm học” và “tâm phân học” chỉ là hai cách gọi dùng cho một khái niệm Chỉ có điều cách gọi thứ nhất là thiếu chính xác và cách gọi thứ hai mới đúng” Song, tuy đề xuất cách dùng thuật ngữ

tâm phân học thế nhưng Nguyễn Văn Dân vẫn dùng thuật ngữ phân tâm học làm tựa đề cho bài viết này

Khi tổng quan các sách dịch và công trình nghiên cứu về phân tâm học ở nước

ta hiện nay, chúng tôi nhận thấy việc phân biệt giữa hai thuật ngữ này khó mà thực hiện được Đa số các công trình đều dùng thuật ngữ phân tâm học khi đề cập đến học thuyết của Freud, Jung và các nhà phân tâm học khác, chẳng hạn: các sách của Freud

được dịch như Phân tâm học nhập môn (Nguyễn Xuân Hiếu dịch, Nxb ĐHQGHN, 1969), Nghiên cứu phân tâm học của Freud (Vũ Đình Lưu dịch, Nxb An Tiêm,

1969),… Các sách tập hợp các bài viết của S.Freud, C.G Jung, E Fromm, G

Bachelard đều được dịch là: Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật (nhiều người dịch, Nxb Văn hóa- Thông tin, 2000), Phân tâm học và văn hóa tâm linh (Nhiều người

dịch, Nxb Văn hóa thông tin, 2004),…thỉnh thoảng có người dùng thuật ngữ tâm phân học để nói về học thuyết của Freud, E Fromm như dịch giả Phạm Minh Lăng với hai

Trang 24

cuốn Freud và tâm phân học, Tâm phân học và tôn giáo Erich Fromm (Nxb Văn

hóa thông tin, 2000),…Còn trong các công trình nghiên cứu về văn học, triết học, tôn giáo,…có ứng dụng học thuyết của Freud, của Jung hay bất kỳ của một nhà phân tâm học nào khác thì đa số các nhà nghiên cứu cũng dùng chung thuật ngữ phân tâm học còn thuật ngữ tâm phân học thì hiếm hoi lắm mới thấy xuất hiện

Trong luận văn này, chúng tôi vừa dùng lí thuyết của Freud và môn đồ của ông

là Jung để soi sáng tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ vì thế chúng tôi dùng cách gọi

phổ biến là phân tâm học

1.1.2 Freud và phân tâm học

Sigmund Freud sinh ngày 06 tháng 5 năm 1856 tại Fribourg, Moravie (nay là thành phố Pribor thuộc nước Cộng hòa Séc) Cha của Freud là một nhà buôn len, mẹ ông là người vợ thứ ba kém chồng tới 20 tuổi Lớn lên ở thành phố Vienna - thủ đô văn hóa lớn của Tây Âu - nơi mà kinh tế, chính trị và văn hóa mâu thuẫn gay gắt với nhau

đã tạo nên một sức ép khủng khiếp đối với đời sống tinh thần của mỗi người Hơn thế nữa, tại nơi này còn xảy ra sự kỳ thị về chủng tộc của người Áo đối với người Do Thái hết sức dã man và thảm khốc Tất cả những điều này đã in đậm dấu ấn trong kí ức và ảnh hưởng lớn đến cuộc đời của Freud

Trong một bức thư gửi cho một người bạn, Freud đã tâm sự rằng ông rất say mê môn thần kinh học và tâm lí học Để thực hiện được niềm đam mê của mình, năm 1873 Freud đã thi vào ngành Thần kinh học của đại học Vienne và đến năm 1881 thì ông đạt được học vị tiến sĩ y học Sau cuộc hành trình dài tìm hiểu về sinh lí học và thần kinh giải phẫu học, Freud đã có một số lượng kiến thức vững chắc về thần kinh cho nên ông được mời giảng dạy tại một trường đại học ở Đức Song chỉ làm việc ở đó một thời gian ngắn, Freud chuyển đến sống ở Paris và tiếp tục nghiên cứu về các căn bệnh thần

kinh Cuối cùng, Freud trở về làm việc tại quê hương

Năm 1980, cuộc đời của Freud bước sang một bước ngoặt khác khi ông gặp và cộng tác với bác sĩ Eugen Bleuler (1857-1939), một bác sĩ được xem là giỏi nhất của

Trang 25

Đế Chế Áo – Hung lúc bấy giờ, để cùng nhau nghiên cứu và chữa trị một căn bệnh có tên là hysteria (chứng điên loạn) Để chữa trị căn bệnh này, bác sĩ Bleuler đã dùng nhiều phương pháp trong đó phương pháp thôi miên là đem lại nhiều khả quan nhất Thế nhưng, là một người thông minh và tinh tế, sau khi quan sát bệnh nhân Freud nhận thấy căn bệnh hysteria có nguồn gốc sâu xa từ các ham muốn bị chèn ép nằm trong vô thức nên phương pháp thôi miên chỉ đem lại hiệu quả tạm thời chứ không thể chữa trị tận gốc Vì vậy, Freud đã nảy ra ý tưởng dùng phương pháp tâm thần trị liệu bằng cách cho bệnh nhân kể lại các niềm mong ước, các giấc mơ của mình bằng “liên tưởng tự

do” Nội dung của vấn đề này được Freud kể lại rất rõ trong tác phẩm Giải mộng được

xuất bản 1900, một công trình gây chấn động lớn đối với giới nghiên cứu lúc bấy giờ Công trình này không chỉ là viên gạch đầu tiên mà còn là viên gạch nền móng cho toàn

bộ hệ thống lí thuyết về vô thức và tính dục của Freud

Ngoài tác phẩm Giải mộng (The Interpretation of Dreams), Freud còn có nhiều công trình quan trọng khác như: Tâm lý bệnh học của đời sống thường ngày (Psychopathologie de la vie quotidienne) 1904, Ba tiểu luận về tính dục (1905), Vật

tổ cấm kỵ (Totem et Tabou) 1913, Phân tâm học nhập môn (Introduction à la

psychanalyse) 1917, Bên kia nguyên lí của sự thích thú (Au-delà du principe de plaisir), 1920, Tâm lý tập thể và phân tích bản ngã (Psychologie collective et analyse du Moi) 1921, Cái tôi và xung năng vô thức (Le Moi et le Ca) 1923,…

Freud mất năm 1939 ở London

1.1.3 Vô thức và các khái niệm trung tâm

1.1.3.1 Vô thức (unconscious)

Lật lại những trang sách trong kho tàng văn hóa của nhân loại, chúng ta thấy quan niệm ý thức không phải hoặc không thể là toàn bộ tâm linh của con người đã được “khai sinh” từ rất sớm Vào thế kỷ thứ XVII, La Rochefoucauld, nhà triết học

người Pháp đã nhận thấy: “Con người tưởng mình tự do hành động trong lúc thật ra

mình bị bó buộc trong hành động”, còn triết gia người Đức G.W Leibnitz thì nhận ra

Trang 26

rằng con người không thể nhận biết được hết đời sống tâm linh của mình Cho đến giữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX thì khái niệm vô thức (unconscious) đã bắt đầu xuất hiện

ở Anh, Đức, Pháp,… trong đó đáng chú ý nhất là các bài viết nổi tiếng của hai nhà triết học người Đức: A Schopenhauer (1788-1860), F.Nietzsche (1844-1900) và một số nhà

triết học khác Trong tác phẩm Thế giới như là ý chí và biểu tượng (The World as

Will and Representation), A.Schopenhauer nhận định “Trí thông minh không biết gì hết

về những quyết định của ý chí” vì trong mỗi con người đều có một ý chí tăm tối xuất

phát từ căn nguyên của sự sống Cuối thế kỷ XIX, nhà triết học F.Nietzsche đã ghi nhận được có một số hành động của con người có nguồn gốc từ những ước muốn tối tăm trong tâm hồn Và đến năm 1846, nhà sinh học người Đức tên Karl G Carus

(1789-1869) đã xuất bản một cuốn sách có tên là Tâm linh (Psyche), Carus cho rằng:

“Chìa khóa dẫn đến sự hiểu biết về đặc tính của cuộc sống có nhận thức nằm ẩn dưới

vô thức” Theo hướng này, triết gia người Đức Von Hartmann (1842-1906) tìm hiểu vô

thức một cách cặn kẽ và kĩ lưỡng hơn trong tác phẩm Triết học của vô thức

(Philosophie des Unbewussten) xuất bản năm 1869 Ông đã xác định được hai mươi sáu khía cạnh của hoạt động vô thức xuất hiện từ thời Descartes,…Như vậy, nhìn chung sự có mặt của vô thức trong cỗ máy tinh thần đã được nhìn nhận từ rất sớm nhưng hầu hết các triết gia, các nhà khoa học khi đề cập đến vấn đề này vẫn chưa lí giải được cách thức hoạt động của bộ máy này Tình trạng trên kéo dài mãi cho đến tận đầu thế kỷ XX, khi Freud công bố đã “nhìn thấy” được cái nằm trong vô thức và cách

thức hoạt động của nó thì ngành khoa học tâm lí tiến thêm một bước quan trọng

Trong công trình Nhập môn phân tâm học (2002), Freud cho rằng đời sống

tâm linh của con người giống như một tảng băng khổng lồ đang nổi trên mặt đại dương

mà trong đó phần nổi lên trên mặt nước là ý thức, phần tiếp theo là tiền ý thức còn phần chìm sâu dưới đáy đại dương là vô thức Freud đã mô tả hệ thống cơ cấu tâm lý này bằng một minh họa khá thú vị, ông so sánh nó như hai căn phòng có một người gác đứng trước cửa Trong đó, vô thức là một cái phòng có chứa nhiều sự kiện tinh thần

Trang 27

chen chúc nhau, nằm bên cạnh căn phòng này là một căn phòng nhỏ bên trong có ý thức và trước cửa căn phòng này luôn có một người gác cổng Các khuynh hướng tinh thần chen chúc nhau để vào căn phòng có ý thức, thế nhưng không phải tất cả đều được vào bởi vì người gác cổng chỉ cho qua các sự kiện tinh thần mà anh ta thích Những sự kiện tinh thần được người gác cổng cho qua sẽ chia ra hai trường hợp: nếu được ý thức

để ý đến chúng sẽ trở thành hữu thức, ngược lại, sẽ trở thành tiền ý thức Những sự kiện tinh thần không được người gác cổng cho qua thì không thể trở thành hữu thức, ta gọi chúng là những sự kiện bị dồn nén Những sự kiện dồn nén này chính là kho chứa những bản năng dục vọng của con người mà nói rõ hơn đó là những khát vọng, những tình cảm, những ước mơ, những mong muốn “không chính đáng”, trái với luân thường

đạo lý, vi phạm vào tôn giáo, pháp luật, đạo đức…

Từ những tiền đề trên, Freud đã chia hoạt động tinh thần của con người thành ba cấp độ: tự ngã (id, ca), bản ngã (ego, moi) và siêu ngã (superego, surmoi) Trong đó cái

tự ngã chính là cái khát dục, phần nhân cách tối tăm mà ta chỉ có thể cảm nhận chứ không thể biết được Khi ta sinh ra cái tự ngã đã có sẵn, mục đích của nó là thỏa mãn những dục tính mà không cần biết đến hậu quả Cái bản ngã là bộ phận có tổ chức của nhân cách có nhiệm vụ kìm hãm các đòi hỏi bạt mạng của tự ngã, sửa đổi để nó phù hợp với những luân lý của xã hội Trong đời sống tinh thần, cái tự ngã và cái bản ngã luôn mâu thuẫn với nhau, những cuộc đấu tranh của chúng có thể dẫn tới căn bệnh tâm thần Còn cái siêu ngã thì được hiểu như là cái tâm thức đạo đức của con người Trong cuộc đấu tranh giữa tự ngã và bản ngã, nếu tự ngã thắng siêu bản ngã sẽ tạo ra cảm

giác lo lắng, cảm giác có tội

Sau này, người học trò xuất sắc nhất của Freud là Jung đã phát hiện thêm ẩn sâu bên dưới lớp vô thức cá nhân còn có vô thức tập thể Những vô thức tập thể này có nguồn gốc xa từ những kinh nghiệm nhân loại, chủng tộc được thể hiện ra thành các cổ mẫu (archétype), thể hiện qua những hình ảnh tượng trưng trong các giấc mơ, các hoạt

động tinh thần,…

Trang 28

Tuy có nhiều điểm khác nhau nhưng nhìn chung khi nói về vô thức cả Freud và Jung đều thống nhất với nhau ở ba đặc điểm: Thứ nhất, trong bộ máy tinh thần của con người luôn hiện hữu một căn phòng vô thức Thứ hai, vô thức này có tham gia vào các hoạt động trong đời sống của con người Thứ ba, vô thức không hiện nguyên hình hài

mà xuất hiện dưới hình thức được ngụy trang

trình Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục, một công trình bị dư luận chỉ trích lên án

mạnh mẽ nhưng đã giúp Freud rất nhiều trong việc nghiên cứu các căn bệnh về tinh thần Trong ba tiểu luận này, Freud đã đưa ra nhiều luận điểm mới mẻ về tính dục, nó không còn nằm trong cái khung chật hẹp chỉ sự giao hợp về thể xác của hai cá nhân thuộc hai giới tính khác nhau như quan niệm phổ biến lâu nay mà nội hàm được mở rộng biên độ đến tối đa bao gồm nhiều hoạt động không hề liên quan đến tính dục

Libido là một tiếng mượn của lý thuyết về tình cảm Chúng tôi dùng danh từ ấy

để gọi tinh lực của những khuynh hướng thuộc loại tình yêu (tinh lực ở đây được xét về phương diện lượng, nhiều hay ít, nhưng chưa thể đo lường được) Trung tâm của cái chúng tôi gọi là tình yêu là tất cả cái gì người ta coi là tình yêu và được thi sĩ ca ngợi, như tình yêu trong dục giới mà mục tiêu tối hậu là sự giao hợp Nhưng chúng tôi không phân biệt tình yêu trai gái với nhiều loại tình yêu như tình yêu chính mình, tình yêu cha mẹ, tình yêu con cái, tình bạn bè, tình

Trang 29

yêu nhân loại, chúng tôi cũng phân biệt đối tượng của tình yêu ra làm hai: sự vật cụ thể hay chỉ là ý nghĩ trừu tượng

[ 17, 81]

Như vậy với Freud, dục năng là bản năng có cả đặc tính tâm thần lẫn đặc tính

sinh lí Nó mang bao gồm các đặc tính: là một nguồn kích thích hữu cơ nội, một áp

lực kích thích, một mục đích là đạt được cảm giác khoái lạc bằng cách triệt tiêu áp lực

đó, một đối tượng là một vật hay một người cụ thể mà người ta cần để thỏa mãn mục

đích đó Dục năng này là một hệ thống mang tính chất toàn diện, đời sống tính dục không phải chỉ bắt đầu vào giai đoạn tuổi dậy thì mà từ khi con người vừa mở mắt chào đời nó đã được sinh ra, thay đổi và phát triển song hành với sự hoàn thiện của con người Đời sống tính dục có hai giai đoạn chính: giai đoạn tự thỏa mãn những khoái lạc với chính mình và giai đoạn thỏa mãn khoái lạc với người khác Trong đó, giai đoạn thứ nhất có hai thời kỳ: thời kỳ khoái cảm đầu tiên của một đứa trẻ từ 6 đến 8 tháng tuổi chính là miệng với hoạt động mút vú, thời kỳ tiếp theo là khoái cảm ở hậu môn từ

2 đến 4 tuổi khi tống các chất thải trong cơ thể ra ngoài Ở giai đoạn thứ hai đứa trẻ đã bắt đầu tìm ra thế giới bên ngoài để tìm sự khoái cảm, giai đoạn này được chia ra làm 3 thời kỳ: thời kỳ sùng bái dương vật với năng lượng tính dục được tập trung ở vùng này đối với trẻ từ 4 đến 6 tuổi, theo Freud thời kỳ thứ hai này giữ vai trò rất quan trọng vì

nó có nhiều mặc cảm nhất trong cuộc đời mà trong đó đáng chú ý nhất là mặc cảm Oedipe

Thuật ngữ mặc cảm (complexe) trong phân tâm học có nghĩa là cảm xúc bị dồn

nén vào vô thức của tinh thần sau đó tìm mọi cách chi phối hành động của con người

Mặc cảm này có nguồn gốc từ một câu chuyện thần thoại Hy Lạp tên là Oedipe

Chuyện kể rằng: Oedipe là hoàng tử con của vua Laius và hoàng hậu Jocasta của xứ Thèbes Trong thời gian hoàng hậu mang thai hoàng tử có một có một thầy bói phán truyền sau này lớn lên hoàng tử sẽ giết cha và lấy mẹ Vậy nên, vừa được sinh ra Oedipe đã bị vua cha sai người đem bỏ vào rừng sâu để cho thú rừng ăn thịt nhưng

Trang 30

hoàng tử không chết mà được người lạ cứu rồi đem về nuôi và dâng cho vua thành Corinthe Vì nghi ngờ vua Corinthe không phải là cha mình nên Oedipe đã tìm đến một người tiên tri trong thành để tìm hiểu sự thật Oedipe vô cùng hoảng sợ khi nghe nhà tiên tri bảo trong tương lai chàng sẽ giết cha lấy mẹ Nhầm vua và hoàng hậu Corinthe

là cha và mẹ mình nên Oedipe không dám ở lại vương quốc mà bỏ sang xứ Thèbes Trên đường đi, Oedipe gặp và gây sự với một người khách bộ hành và trong lúc tức giận chàng giết người này mà không biết đó là cha mình Sau đó, chàng lấy hoàng hậu Thèbes (mẹ chàng) sau khi giải đố và tiêu diệt được con nhân sư Rồi một thời gian sau

sự thật cũng được tỏ bày, hối hận về những tội ác mà mình không giải thích được, Oedipe tự chọc mù mắt mình bỏ đi lang lang và sống trong đau khổ cho đến khi chết

Dựa vào nhân vật Oedipe câu chuyện thần thoại Hy Lạp này, đặt biệt là vở bi

kịch Oedipe làm vua của Sophocle (495-406 TCN), Freud đã đưa ra một quan điểm

làm đảo lộn mọi lí thuyết về thời thơ ấu, việc hình thành nhân cách của con người trước đó Mặc cảm Oedipe trong phân tâm học chính là sự say mê thầm kín của bé trai đối với mẹ người đầu tiên gắn bó và gần gũi với nó, nhưng sự say mê này không được thỏa mãn vì mẹ nó không dànhtất cả tình cảm cho nó mà còn quan tâm đến bố nó theo một cách nào đó, vì thế trong bé trai hình thành những tình cảm ghen tị với bố và xem

bố là đối thủ Freud khẳng định đã là con người ai cũng có mặc cảm Oedipe này:

Mặc cảm Oedipe phải được hiểu như một nỗi sợ sự thật, nhưng bị dồn nén, của đứa trẻ sợ bị bố thiến hoạn nó để trừng phạt mong muốn hoàn toàn chiếm lấy

mẹ nó” và “những tình cảm mang nặng cảm xúc như vậy không thể kéo dài một cách có ý thức nên chúng dồn nén lại” [ 44, 129 - 130]

Như vậy, trong học thuyết của Freud về phức cảm Oedipe thì vấn đề hạt nhân là tình cảm chứ không phải là tính dục Trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật, phức cảm Oedipe này đã ảnh hưởng và chi phối khá nhiều đến hoạt động sáng tạo của nhà văn

Trở lại với giai đoạn đứa trẻ tìm ra thế giới bên ngoài để tìm sự khoái cảm với thời kỳ tiếp theo là thời kỳ tiềm phục với trẻ từ 6 tuổi đến dậy thì Lúc này, năng lực

Trang 31

tính dục của trẻ tập trung vào thế giới bên ngoài qua hành động kết bạn, trò chơi và kiến thức,…Thời kỳ cuối cùng trong giai đoạn này là thời kỳ sinh dục với nhiều xáo trộn về tâm lí của trẻ từ 12 đến 17 tuổi Đây là thời kỳ mà trẻ tò mò, thích khám phá cái mới nhưng do đã nhận thức được những chuẩn mực của đạo đức, pháp luật xã hội đã hình thành nỗi lo âu sợ hãi trong trẻ Vì vậy, những chấn thương mắc phải trong thời

kỳ này cộng với thái độ của cha mẹ có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách và

sự phát triển của trẻ về sau

Do những đặc điểm trên mà Freud yêu cầu chúng ta phân biệt biệt hai khái niệm tính dục (sexual) và sinh dục (génital) trong học thuyết phân tâm học vì theo ông đời sống tính dục là toàn thể những xúc cảm, khoái cảm từ những vùng khác nhau trong cơ thể còn sinh dục chỉ có chức năng sinh sản để duy trì nòi giống

Thuyết tính dục và mặc cảm Oedipe là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong học thuyết của Freud, thế nhưng, nó lại chính là một công cụ hữu hiệu

để soi sáng những vùng tối trong đời sống tinh thần của con người

giải mã các giấc mơ với công trình Giải mộng (The Interpretation of Dreams) được

xuất bản năm 1900 Đã là con người, trong cuộc đời ít nhất cũng có một lần nằm mơ, thế nhưng, cái hoạt động tinh thần trong lúc ngủ này vẫn là một cái gì đó bí hiểm, xa

lạ, và không thể lí giải vì nội dung của nó rất kì quặc, rất phi logic Giấc mơ là một thế giới đảo ngược kiểu như “chuột đi săn mèo”, hiếm khi xảy ra trong đời sống (những giấc mơ của người lớn) Song, trên thực tế, giấc mơ quan trọng hơn ta tưởng, nó là tiếng nói phát ra từ đời sống tinh thần mang theo những ước muốn thầm kín mà khi thức tỉnh ta không biết, mà nếu lỡ biết rồi thì cũng không bao giờ dám thừa nhận Vậy

Trang 32

nên, bằng một số cách, tinh thần đã “biến hóa” những ham muốn này thành những hình ảnh khó hiểu để che đậy sự thật phũ phàng trước cái “tôi” kiêu hãnh và đạo đức Quá

trình này, ông tổ của ngành phân tâm học gọi là việc chuyển đổi từ nội dung rõ rệt (le contenu manifeste) sang nội dung tiềm ẩn (le contenu latent) Để thực hiện công việc

chuyển đổi, những cơ chế chế biến giấc mơ phải thực hiện rất nhiều thủ thuật rắc rối và

phức tạp

Cô đặc (condensation): Nội dung biểu hiện của giấc mơ, thực chất chỉ là một

bảng tóm tắt sơ lược của nội dung tiềm ẩn, nói theo ngôn từ của Freud thì những cái

mà ta thấy trong giấc mơ đã được cô đặc lại Điều này cũng có nghĩa là một ý tưởng trong giấc mơ biểu hiện có thể tương ứng với nhiều chuỗi liên tưởng tự do trong nội dung tiềm ẩn và ngược lại Chẳng hạn như ta mơ thấy một chị E, nhưng khi phân tích thì chị E lại là tập hợp những điểm chung của anh A, chị B, chị C và anh D mà ta quen

Sự tập hợp các đặc điểm từ nhiều người vào một người người như thế này rất phổ biến

trong những giấc mơ

Dịch chuyển (déplacement): Đây là quá trình cho phép cảm xúc tách khỏi yếu

tố tinh thần quan trọng để dịch chuyển sang một một yếu tố có ý nghĩa hoàn toàn khác Chính sự dịch chuyển này làm cho cái nhạt nhẽo vô nghĩa trong một giấc mơ trở thành

có nghĩa, làm cho một giấc mơ có hình ảnh ghê rợn khủng khiếp chẳng gợi lên một chút tình cảm lo lắng hoặc sợ hãi nào, ngược lại một giấc mơ vô nghĩa lại dấy lên

những xúc động mãnh liệt

Hình tượng hóa (figuration): Trong một giấc mơ, không ít thì nhiều, lúc nào

cũng xuất hiện ngôn ngữ tượng trưng Để thể hiện được đặc trưng của ngôn ngữ giấc

mơ là những hình ảnh thị giác, các cơ quan của tinh thần đã làm công việc chuyển đổi những ý tưởng thành những hình ảnh của thị giác Song, công việc này gặp rất nhiều khó khăn vì những ý tưởng trừu tượng không thể thay thế được bằng những hình ảnh, cho nên quá trình xây dựng giấc mơ đã cố gắng lựa một hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng để thay thế Ngoài ra, nguyên nhân xuất hiện ngôn ngữ tượng trưng trong giấc

Trang 33

mơ còn phải kể đến mục đích muốn che dấu một ham muốn đã bị cấm đoán, bởi vì theo Freud giấc mơ là sự thỏa mãn một ham muốn bị đạo đức và phong tục văn hóa ức

chế

Nhìn chung, bằng cách đi sâu vào phân tích cách thức mà những ý tưởng vô thức biến hóa thành nội dung biểu hiện, người giải thích giấc mơ sẽ nắm được chìa khóa giải mã nội dung tiềm ẩn của giấc mơ

1.2 Cách tiếp cận văn học dưới ánh sáng phân tâm học

1.2.1 Freud và Jung- hai nhà nghiên cứu văn học

Nói về mới quan hệ giữa văn học và phân tâm học, sinh thời, có lần cha đẻ của

phân tâm học đã nói:

Các nhà thơ và các nhà tiểu thuyết là những đồng minh quý báu của chúng ta,

và các bằng chứng của họ phải được đánh giá thật cao, bởi lẽ giữa lưng chừng thinh không họ biết được nhiều điều mà túi khôn học đường của chúng ta còn chưa dám mơ tới Về kiến thức tâm lý, họ là bậc thầy của chúng ta, những kẻ tầm thường, bởi họ đã đắm mình trong những mạch nguồn nơi chúng ta còn chưa đưa khoa học lại gần được.[49, 635]

Xuất phát từ quan điểm người đi tiên phong trong việc khám phá những bí ẩn trong tiềm thức của con người chính là các nhà văn nhà thơ nên Freud đã tâm sự rằng ông luôn mang trong mình một “món nợ” với văn chương nhất là những nhà văn tên tuổi như: Shakespeare, Rabelais, Molière, Dostoievsky, Flaubert, Schopenhauer, Thomas Mann, Nietzsche,… Nhờ được tiếp xúc với những nhân vật “thật hơn cả con người thật” của các nhà văn này mà ông đã thu nhận một số lượng lớn kiến thức về đời sống tinh thần của con người Là một độc giả thông minh và tinh tế, Freud đã đọc được tiếng nói vô thức của người nghệ sĩ dưới lớp ngôn từ của văn bản qua việc chọn chủ

đề, hình ảnh, chi tiết, ngôn ngữ diễn đạt,… điều mà chưa ai có thể làm được trước khi

có học thuyết phân tâm học

Trang 34

Kết quả đầu tiên mà Freud thu lượm được từ việc đọc của mình là động cơ thúc đẩy nhà văn sáng tạo Freud đã phát hiện ra sáng tạo văn học không gì khác ngoài sự giải tỏa những dục vọng bản năng của người nghệ sĩ (cái mà họ không thể thỏa mãn

trong đời sống thực tại) thông qua những hình ảnh tưởng tượng Ông viết:

Bị thúc đẩy bởi những khuynh hướng vô cùng mạnh mẽ, nghệ sĩ muốn chiếm đoạt được danh vọng, quyền hành, của cải vinh quang và tình yêu Nhưng người nghệ sĩ không có phương tiện để đạt được mục tiêu đó Vì thế nên, cũng như những người không được thỏa mãn khác, nghệ sĩ quay mặt đi, không nhìn thực

tế nữa và tập trung hết mọi quan tâm, tính dục của mình vào những ham muốn

mà trí tưởng tượng của mình tạo ra [20, 420]

Dưới đây là một số quan điểm của Freud về quá trình sáng tạo của nhà văn:

Trò chơi: Freud cho rằng quá trình sáng tạo của nhà văn có nhiều điểm tương

đồng với trò chơi của trẻ con Chẳng hạn như trong lúc chơi, trẻ sẽ tạo ra một thế giới theo cách nghĩ hoặc niềm mong muốn của chúng, dồn hết tình cảm, tâm huyết vào trò chơi này dù rằng trong ý thức vẫn phân biệt được rất rõ đâu là thế giới của trò chơi và

đâu là thế giới của hiện thực Cũng như những đứa trẻ kia, nhà văn, nhà thơ “tạo ra cho

mình một thế giới tưởng tượng, rất coi trọng, nghĩa là dành cho nó nhiều tình cảm, trong khi vẫn phân biệt rất rõ thế giới đó với thực tế” [19, 38] Và quá trình sáng tác

qua những hình ảnh tưởng tượng sẽ giúp cho người nghệ sĩ “giải thoát thênh thang

khỏi khổ đau, sự bay bổng của cuộc đời” [28, 20]

Huyễn tưởng và giấc mơ : Huyễn tưởng là: những thế phẩm những dẫn xuất

của kí ức bị dồn nén, một sự kháng cự ngăn không cho xuất hiện vào ý thức dưới những nét thực sự, song đạt đến điều đó bằng những thay đổi và biến dạng do sự kháng cự của kiểm duyệt ấn định cho Một khi có sự nhân nhượng này rồi, những kí ức này trở thành huyễn tưởng” [19, 42] Freud đã lí giải khá rõ nguyên nhân huyễn tưởng

từ cái dồn nén quay trở lại trong công trình Hoang tưởng và giấc mơ trong truyện

Gradiva của Jensen (Délires et rêves dans la Gradiva de Jensen) xuất bản năm 1906

Trang 35

Trong suốt quá trình đọc Gradiva, Freud đã dành cho giấc mơ của nhà khảo cổ trẻ có tên là Norbert Honold một sự quan tâm đặc biệt Norbert Honold say mê một bức hình

chạm trổ một cô gái đang bước đi dưới một bức tường ở thành Roma và anh ta đặt cho

cô gái ấy cái tên là Gradiva Sau khi tìm hiểu kỹ, Norbert Honold xác định Gradiva là người Hy Lạp gốc Pompéi Điều kì lạ là không chỉ trong giấc mơ Norbert Honold mới thấy Gradiva mà khi tỉnh anh cũng thấy dáng của cô ấy đi ngang qua cửa sổ Để thỏa mãn trí tò mò và niềm say mê, Norbert Honold lặn lội sang Ý để tìm đến nơi mà anh ta mộng tưởng Kì lạ thay, ở đó Norbert Honold gặp Gradiva và nhận ra cô chính là Zoe, một người bạn từ thuở ấu thơ của mình Rõ ràng, khi đứng trước bức hình chạm trổ Norbert Honold đã không nhớ được mình đã thấy dáng đi của cô bạn thời thơ ấu Tuy nhiên, bức tượng chạm trổ kia lại tạo một ấn tượng đánh mạnh vào vô thức của anh ta Qua những vấn đề đã tìm hiểu được trong câu chuyện ở trên, Freud đi đến kết luận:

Khi một giấc mộng để lại trong đó một thời gian dài khác thường lòng tin vào thực tế của những hình ảnh mộng, đến mức chủ thể không tách mình ra được, thì đó không phải là một ngộ giác xét đoán do các hình ảnh mộng quá sắc sảo

mà là do một động tác tâm trí tự nó, có sự bảo đảm tương đối với nội dung mộng [19, 41]

Trong công trình Một kỷ niệm tuổi ấu thơ của Léonard De Vinci (Un

souvenir d’enfance de Léonard de Vince) xuất bản năm 1910, Freud lại tiếp tục phân tích sâu hơn về huyễn tưởng khi giải thích khá rõ mối quan hệ giữa huyễn tưởng và sáng tạo qua việc tìm hiểu tiểu sử và tác phẩm của Léonard de Vince Câu chuyện tất

cả các con chim kền kền đều là chim mái, chúng có thể sinh nở mà không cần con trống đã tạo cho Léonard de Vince một ấn tượng mạnh mẽ Nó đã đánh thức một kí ức lúc nhỏ khi còn nằm trong nôi, Léonard de Vince bị một con chim kền kền dùng đuôi

mở miệng và đánh vào môi Ngay lúc đó, Léonard de Vince nghĩ chính mình là con trai của chim kền kền Trên thực tế, theo Freud, huyễn tưởng này có nguồn gốc từ tuổi thơ bất hạnh của nhà họa sĩ thiên tài này, ông là một đứa trẻ sinh ra ngoài giá thú không có

Trang 36

cha Vậy nên, đối với Léonard de Vince mẹ ông đóng vai trò vừa là cha vừa là mẹ Kí

ức đau thương này tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng “lâu dài cho công việc của tư duy,

hoặc một thiên hướng tới nhiễu tâm ám ảnh không chống lại được” [19, 47] Đó là

nguyên nhân các sáng tác của Léonard de Vince được hình thành từ những huyễn

tưởng mang dấu ấn và kỷ niệm tận thuở ấu thơ, bởi: “Cuộc sống huyễn tưởng cho phép

cái tôi dồn nén lên tiếng bằng tác phẩm, cho nó một số phận khác bằng thăng hoa”

[19, 33] Freud đề cập đến giấc mơ thức tỉnh, đó là tình trạng người mơ vẫn tỉnh

nhưng lại tin vào những điều không có, vẫn tiếp xúc với thực tế nhưng đôi khi lại cắt đứt một phần nào đó của thực tế để nhập vào huyễn tưởng và xem nó như thật

Thăng hoa: Freud cho rằng ngoài việc giải tỏa những dồn nén qua hình thức trò

chơi như đã phân tích ở trên, các nhà văn còn giải tỏa những dồn nén qua sự tưởng tượng khi sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật Thăng hoa là hình thức giải tỏa sự dồn nén tích cực nhất do sự đụng độ giữa dục vọng và những quy ước về đạo đức, văn hóa,… Vì không thỏa mãn với thực tại, nên người nghệ sĩ quay lưng lại với nó và tập trung toàn bộ hứng thú của mình vào việc xây dựng một thế giới tưởng tượng Như vậy

có thể nói, sáng tạo nghệ thuật chính là hình thức thỏa hiệp giữa nguyên tắc khoái lạc

và nguyên tắc thực tại Với Freud, mọi cảm xúc thăng hoa của người nghệ sĩ không gì khác hơn là những ham muốn tình dục chuyển từ mục tiêu sinh lí sang mục tiêu thẩm

mỹ Tuy nhiên, Freud cũng nhấn mạnh rằng đây chỉ mới là điều kiện tâm lí khởi đầu, quá trình thăng hoa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố phức tạp khác như: khả năng sắp xếp các kí hiệu ham muốn một cách logic, phù hợp với ngôn ngữ của thực tại, quá trình đồng hóa không phải chỉ là đối thoại giữa người nghệ sĩ với cái tôi của mình qua các hình tượng nghệ thuật mà còn đối thoại với tha nhân, xây dựng những hình tượng nghệ thuật mang tính xã hội,…

Qua những bài nghiên cứu về văn học nghệ thuật nằm rải rác trong công trình phân tâm học đồ sộ của Freud, chúng tôi nhận thấy cha đẻ của phân tâm học luôn xem nhân vật trong các tác phẩm văn học giống như con người thực ở ngoài đời bởi ông

Trang 37

phát hiện được trong quá trình sáng tác các nhà văn với trực giác của thiên tài đã gắn cho nhân vật những kiến thức tâm lí Khi mổ xẻ các nhân vật dưới góc nhìn như thế, Freud đã lí giải và đưa ra được nhiều kết luận mới lạ chưa hề có trước đó Một trong

những vấn đề Freud phát hiện ra đó là mặc cảm Oedipe, motif về về những ham muốn

tình yêu và thù hận đối với cha mẹ Những quan niệm của Freud đưa ra khi nghiên cứu

các tác phẩm văn học cổ điển như Hamlet của Shakespeare, kịch Oedipe làm vua của Sophocle hay truyện ngắn Người đàn bà làm thẩm phán của Conrad-Friedrich

Meyer,… đã làm cho giới phê bình văn học đi từ choáng váng đến ngỡ ngàng rồi khâm phục Nhất là cách lí giải ẩn dưới hành động chần chừ giết kẻ thù của Hamlet là mặc

cảm vì tội lỗi yêu mẹ từ trong vô thức (truyện Hamlet của Shakespeare) Freud đã phát

hiện motif về Oedipe được thể hiện rất nhiều trong các tác phẩm văn học dưới nhiều hình thức khác nhau

Có sự tồn tại dồi dào mặc cảm Oedipe trong tất cả mọi người Tư tưởng về sự ham muốn vĩnh hằng dần dần lặp lại trong cuộc sống của mỗi con người, đã kết lại trong những khát vọng về quan hệ loạn luân: giết cha như tình địch để chiếm

mẹ Đề tài này chiếm vị trí trung tâm các môtíp nghệ thuật và đã cung cấp tài

liệu cho thơ ca với vô số biến thái [31, 283]

Liên quan đến môtíp này, Freud đưa ra quan niệm cấu trúc tiểu thuyết gia đình

(le roman familial), kiểu không khí ngột ngạt do nhà văn mà ở đây là đứa con sắp xếp

để thực hiện hai ước muốn: ước muốn buộc tội người mẹ đã quan tâm quá mức đến người cha hoặc nhân tình mà bỏ rơi mình, ước muốn thứ hai là giữ lại mẹ cho riêng mình Hiện nay, có khá nhiều nhà nghiên cứu vận dụng kiến thức này để tìm hiểu các tác phẩm văn học

Giống như Freud,Jung cũng chú ý đến sự chi phối của vô thức đối với quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ Song, nếu như Freud cho rằng tác phẩm văn học là sản phẩm của vô thức cá nhân thì Jung lại quả quyết đó là sản phẩm của vô thức tập thể:

“Từ sự không thỏa mãn với đương thời, nỗi buồn sáng tạo dẫn đưa người nghệ sĩ đi

Trang 38

vào bề sâu cho tới khi nó tìm thấy trong vô thức của mình cái nguyên tượng có khả năng bù đắp lại cao nhất sự tổn thất và què quặt của tinh thần hiện đại” [19, 82-83]

và quá trình sáng tạo là “hà hơi sống cho siêu mẫu từ trong vô thức, là trải nó ra và tạo

hình cho nó cho đến khi nó trở thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh” [19, 82]

Jung chia nhà văn ra làm hai loại: nhà văn hướng ngoại và nhà văn hướng nội Nếu như nhà văn hướng ngoại có thể làm chủ ngòi bút của mình, thoải mái chọn lựa cách thức

thể hiện: có thể thêm chỗ này, bớt chỗ kia,… vì “chất liệu tác phẩm đối với ông- chỉ là

chất liệu, nó buộc phải tuân theo ý chí nghệ thuật của các ông” [19, 64] thì nhà văn

hướng nội thì không làm chủ được quá trình sáng tạo của mình vì bị vô thức dẫn dắt

“cái ông muốn thêm vào thì bị gạt ra, còn cái ông không muốn có thì lại xuất hiện” nghĩa là “ý thức của tác giả bị gạt ra khỏi sự phát triển của tác phẩm” [19, 65] Theo

Jung, sở dĩ có hiện tượng ở dạng nhà văn thứ hai, là vì có một mặc cảm tự trị xuất

hiện trong nhà văn:“mặc cảm tự trị dùng để gọi mọi thành tạo tâm lí thoạt đầu phát

triển hoàn toàn vô thức và thâm nhập vào ý thức chỉ khi chúng có đủ sức mạnh để vượt qua ngưỡng của nó” [19, 75] Mặc cảm này có nguồn gốc từ những kế thừa truyền

thống văn hóa của ông cha truyền cho các thế hệ con cháu

Trong văn bản, những sản phẩm của vô thức cá nhân của Freud hay vô thức tập thể của Jung thường ẩn sau dưới lớp chữ nghĩa được ngụy trang bằng hệ thống biểu tượng Và cũng chỉ có cách lí giải trên của Freud và Jung mới giải thích được nguyên nhân thỉnh thoảng cha đẻ của những văn bản nghệ thuật loại này phải kinh ngạc thốt

lên: “Thật chính tôi không ngờ đã viết ra những cái hay mà các ông vừa nói” khi nghe

các nhà phê bình nói về đứa con của mình kiểu như nhà thơ Pháp Paul Valéry

(1871-1945) Như vậy, rõ ràng có đôi khi người nghệ sĩ không ý thức được những điều mà mình đã viết ra trong khi đó phân tâm học lại đưa ra một hệ thống lí thuyết để nghiên cứu và giải mã về cái vô thức, đây chính là một trong những lí do mà chúng tôi mạnh dạn đặt văn học dưới ánh sáng của học thuyết phân tâm học

1.2.2 Một số nhà phê bình tiêu biểu

Trang 39

Phân tâm học với những khám phá về cõi sâu vô thức của con người đã tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực văn học nghệ thuật, nó hình thành một khuynh hướng sáng tác mới đi sâu vào khám phá đời sống nội tâm của con người và hệ quả kéo theo là một trào lưu phê bình phân tâm học ra đời Tựu chung phân tâm học đi vào tác phẩm văn học bằng hai con đường chính: vô thức của bản ngã chi phối tác giả trong quá trình sáng tác (tác giả không ý thức được) và nhà văn ứng dụng lý thuyết phân tâm học vào trong tác phẩm của mình (tác giả ý thức được và sử dụng nó như là một loại chất liệu) Nếu xét ở con đường thứ nhất thì hiện tượng này xuất hiện cùng lúc với sự ra đời của hoạt động sáng tạo văn học chỉ có điều các nhà văn dường như cảm nhận được sự có mặt của nó nhưng không biết đó là gì và không thể gọi tên Nếu xét ở con đường thứ hai thì điều này chỉ xuất hiện ở thế kỷ XX trong văn học dòng ý thức Đây là điểm tạo

ra sự khác biệt giữa nền văn học hiện đại với các nền văn học trước đó, nó là cột mốc đánh dấu sự li khai với văn chương miêu tả và phân tích tâm lí để mở đầu dòng văn học tái hiện trực tiếp chiều sâu tiềm thức của con người

Dựa vào đặc điểm trên, khi tiếp cận văn học nghệ thuật dưới góc nhìn phân tâm học các nhà lí luận phê bình thường tập trung nghiên cứu theo hai hướng Hướng thứ nhất dựa vào tiểu sử của nhà văn để soi chiếu tìm ra cái bản ngã của nhà văn trong văn bản

Người tiên phong trong khuynh hướng này là công chúa người Pháp Marie

Bonaparte (1882-1962) với công trình Edgar Poe, Cuộc đời và tác phẩm (1933)

Trong công trình này, Bonaparte dùng phương pháp phân tâm học tiểu sử để nghiên cứu ảnh hưởng của vô thức đối với tác phẩm của Poe vì bà đã phát hiện ra trong lúc sáng tạo Poe đã bị bị sự dẫn dắt và chi phối của quá trình kiểm duyệt của đạo đức Nhìn thấy sự tương đồng giữa tác phẩm của Poe với các cơn ác mộng nên Bonaparte

đã sử dụng các thủ thuật chủ yếu của giấc mơ như: biểu tượng, dịch chuyển, sự quy tụ,…của Freud để giải vén tấm màn che giấu những điều bí ẩn trong tác phẩm của con người đa tài này Theo Bonaparte hình ảnh những người phụ nữ ốm yếu, bệnh tật và

Trang 40

chết yểu trong nhiều văn phẩm của Poe chính là hình ảnh mẹ của Poe (bà chết trẻ vì bệnh lao khi Poe chưa đầy ba tuổi) Ngoài ra, bà còn phát hiện trong các văn bản của Poe còn che giấu những ẩn uất, mặc cảm Oedipe và sự bất lực của ông Với những điều khám phá được bí mật trong văn bản của Poe, cho đến nay công trình của Bonaparte đuợc giới phê bình đánh giá rất cao, nó được xem là công trình kiểu mẫu của phương pháp phê bình phân tâm học tiểu sử

Người tiếp theo phải kể đến là Jean Delay với phương pháp phê bình có tên

Tâm lí tiểu sử Ông đã áp dụng lí thuyết phân tâm học để tìm hiểu phần lớn các tác

phẩm của nhà văn André Gide mà trong đó nổi bật nhất là chuyên luận Tuổi trẻ của

André Gide Đóng góp của Jean Delay, là làm sáng tỏ được sự ảnh hưởng của bố, mẹ,

sự khó khăn trong thời thơ ấu ảnh hưởng đến hoạt động sáng tạo nghệ thuật của André Gide

Charles Mauron (1899-1966), nhà phê bình văn học người Pháp được nhiều người biết đến với phương pháp phê bình tâm lí Ông có nhiều công trình nghiên cứu

về văn học mà cụ thể là vô thức của các tác gia: Mallarmé, Beaudelaire, Racine, Corneille, Jean Giraudoux, Victor Hugo,… trong các tác phẩm Mauron sử dụng phương pháp xếp chồng văn bản để tìm ra các mạng lưới liên tưởng rồi từ đó kết nối các biểu tượng ám ảnh, các chủ đề xuyên suốt qua các tác phẩm để khám phá huyền thoại cá nhân của người sáng tạo Theo Mauron huyền thoại cá nhân có nguồn gốc từ những hiện tượng tâm lí sâu xa mang theo kí ức của chính cá nhân đó sẽ tác động đến

quá trình sáng tạo Công trình Từ những ẩn dụ có tính ám ảnh đến huyền thoại cá

nhân (1963), là sự đóng góp đáng kể của Charles Mauron đối với lĩnh vực phê bình

văn học

Hướng phê bình thứ hai là không quan tâm tới lịch sử của nhà văn mà chỉ chú ý tới văn bản Ở khuynh hướng này các nhà nghiên cứu xem tác phẩm là một hiện thực của xã hội mà trong đó nhân vật là chính là những con người thực Nếu như Mauron dựa vào lí thuyết phân tâm học để từ tác phẩm văn học để khám phá ra vô thức của tác

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w