Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Do đặc thù của đề tài này, tác giả tạm chia thành hai nhóm chính: Một, nhóm công trình bàn về vấn đề mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại tron
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
MAI HỮU THÀNH
BIỆN CHỨNG GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG VĂN HOÁ HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ MỚI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Hoàng Hảo; chưa được ai công bố Các tư liệu trong luận văn là hoàn toàn chính xác và sự thật
TÁC GIẢ
MAI HỮU THÀNH
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
TRONG VĂN HOÁ 9
1.1 TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG VĂN HOÁ 9
1.1 Khái niệm văn hoá 9
1.1.2 Truyền thống trong văn hoá 27
1.1.3 Hiện đại trong văn hoá 37
1.2 BIỆN CHỨNG GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TƯ TƯỞNG VĂN HOÁ HỒ CHÍ MINH 43
1.2.1 Nhận thức về quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh 43
1.2.2 Những quan điểm của Hồ Chí Minh về giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong thực tiễn xây dựng văn hoá mới Việt Nam 61
Kết luận chương 1 95
Chương 2 NHẬN THỨC VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG XÂY DỰNG VĂN HOÁ VIỆT NAM CỦA ĐẢNG TA 97
2.1 THỰC TRẠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM CUỐI THẾ KỈ XIX, ĐẦU THẾ KỈ XX 97
2.1.1 Bối cảnh lịch sử văn hoá Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX 97
Trang 4xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về biện chứng giữa truyền thống và hiện đại
trong xây dựng nến văn hoá mới 103
2.2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BIỆN CHỨNG GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG VĂN HOÁ VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ MỚI CỦA ĐẢNG TA 122
2.2.1 Mô thức Dân tộc - Khoa học - Đại chúng - sự mở đầu có tính chất bước ngoặt cho văn hoá mới Việt Nam 123
2.2.2 Mô thức nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc - bước phát triển tất yếu của quá trình kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội 137
2.2.3 Mô thức nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - sự phát triển ở tầm khái quát cao nội dung kết hợp giữa truyền thống và hiện đại của Đảng trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh 145
Kết luận chương 2 161
KẾT LUẬN CHUNG 163
TÀI LIỆU THAM KHẢO 166
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi sự vật, hiện tượng – với tư cách là cái đang tồn tại, bao giờ cũng là sản phẩm của quá trình phát triển biện chứng, trên cơ sở kế thừa có phê phán cái cũ, cái truyền thống và tiếp biến cái mới, cái hiện đại
Văn hoá cũng vậy, trong mỗi thời kì, với những điều kiện lịch sử nhất định, cùng với những giá trị truyền thống được bảo tồn, theo đà phát triển, các giá trị tiếp tục được nảy sinh hoặc tiếp biến nhằm bổ sung và làm phong phú thêm bản thân nó cho phù hợp với thời đại
Sự kết hợp biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá, cũng như các sự vật hiện tượng khác như là một xu thế tất yếu trong đời sống xã hội Theo đó, một mặt các giá trị truyền thống - với tư cách là những giá trị được lựa chọn, lưu truyền, bảo tồn sẽ làm thành bản sắc riêng, tạo nên tính đặc thù cho mỗi dân tộc Và cũng chính nó còn làm nên nền tảng, động lực tinh thần cho mỗi dân tộc vượt qua những khó khăn, thử thách Nhưng, do tính lịch sử và
vì văn hoá còn là một trong những thành tố được sinh ra gắn với hoạt động sáng tạo của con người, phục vụ con người, nên trong sự tồn tại của mình, không tránh khỏi nảy sinh những giá trị mới, quá trình giao lưu, tiếp biến những yếu tố hiện đại Điều này không xuất phát từ sự cưỡng ép, mà vì bản thân mỗi nền văn hoá tất yếu cần tiếp thu và không ngừng bổ sung các giá trị mới nhằm phù hợp với nhiệm vụ thời đại Nếu truyền thống trong văn hoá làm nên bản sắc riêng, độc đáo và là yếu tố nội sinh của mỗi dân tộc, thì yếu tố hiện đại trong văn hoá lại đóng vai trò là cái được “cập nhật” làm cho cái truyền thống phù hợp với yêu cầu thời đại - với tư cách là cái được kết tinh, cái phản ánh cho một trình độ phát triển của sự vận động lịch sử trong điều kiện mới, hoàn cảnh mới
Dân tộc Việt Nam vốn có một nền văn hoá giàu truyền thống Bản thân các giá trị đó đã giúp chúng ta vượt qua nhiều thử thách Được như vậy là nhờ trong diễn trình sống của dân tộc, các giá trị truyền thống luôn được lưu giữ, phát huy một cách độc đáo Tuy nhiên, bên cạnh đó lịch sử cũng chỉ ra rằng,
Trang 6để tiếp tục tồn tại và phát triển, văn hoá Việt Nam đã không ngừng sáng tạo, tiếp biến những yếu tố hiện đại nhằm bổ sung, làm giàu và hoàn thiện mình
Ngày nay, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã được triển khai trên toàn bộ mọi lĩnh vực và càng phát triển đi vào chiều sâu của nó Nhằm vừa xây dựng một nền tảng tinh thần có giá trị đặc sắc, vừa tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội, nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá dân tộc trước hết cần phải chú trọng hơn nữa việc phát huy các giá trị truyền thống, mặt khác phải tỉnh táo lựa chọn các giá trị hiện đại phù hợp, để làm sao kết hợp được giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh, tạo thành sức mạnh tổng hợp góp phần vào công cuộc xây dựng đất
nước Cho nên, đặt vấn đề nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thống và
hiện đại trong văn hóa một cách có hệ thống là một việc nên làm và coi trọng hơn bao giờ hết
Bàn về vấn đề này, tự bản thân các quá trình văn hoá đã là một điển hình sống động cho những bài học kinh nghiệm Tuy nhiên, do lịch sử diễn ra quanh
co, phức tạp, đồng thời để quá trình ấy phát triển diễn ra một cách tự giác, bớt
mò mẫm, nó cũng chính thức chỉ ra rằng: Cần phải có đinh hướng về mặt tư tưởng lí luận, cũng như cần có những chiến lược khoa học, hợp lý trong thực tiễn cho những chủ trương, chính sách xây dựng nền văn hoá của từng quốc gia, dân tộc Theo ý nghĩa đó, đối chiếu với nội dung xây dựng nền văn hoá Việt Nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, thì điều này là vô cùng ý nghĩa
Tuy nhiên, có một thực tế cũng cần thừa nhận rằng, đây không phải là một vấn đề mới, bởi nội dung lí luận về quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá đã được Hồ Chí Minh đặt vấn đề trong rất nhiều bài viết, bài nói của mình lúc đương thời Không những vậy, chính Hồ Chí Minh còn là người tiên phong trong chủ trương xây dựng một nền văn hoá mới trên cơ sở kết hợp biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong thực tiễn Việt Nam ngay những năm đầu cách mạng
Từ góc độ giá trị luận, có thể xem tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá chính là nguồn lí luận nền tảng vô
Trang 7cùng quan trọng, mở đầu và định hướng cho chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến lược xây dựng nên văn hoá dân tộc trong suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tuy có một tầm ảnh hưởng quan trọng và to lớn như vậy, song công bằng mà nhìn nhận, ngoài những công trình nghiên cứu những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về văn hoá theo phương cách chủ yếu tiếp cận và đánh giá thông qua lăng kính văn hoá học và chính trị học Theo tài liệu chúng tôi
có được, có rất ít công trình nghiên cứu về biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh dưới góc độ tiếp cận triết học
Với mong muốn góp phần giải quyết yêu cầu cấp thiết về lí luận, đồng thời làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh ở khía cạnh biện chứng phép, cũng như khẳng định vị trí và vai trò của biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong
tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh ra đời như là bước ngoặt cách mạng thực sự trong đời sống lí luận và cả trong thực tiễn Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX
và trong suốt thế kỉ XX về văn hoá Tác giả chọn: “Biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh với việc vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng nền văn hoá mới” làm đề tài
luận văn thạc sĩ triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Do đặc thù của đề tài này, tác giả tạm chia thành hai nhóm chính:
Một, nhóm công trình bàn về vấn đề mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá
Ở Liên Xô (cũ), khoảng những năm 60 đến những năm 80, nhằm đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ công cuộc xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa, đã có
một số công trình tiêu biểu của các nhà lí luận mácxít về văn hoá như: Tính kế
thừa trong sự phát triển văn hoá (1969) của Bale A.E, Mátxcơva; Cơ sở lí luận văn hoá Mác – Lênin (1976) - Acnôdốp A.I (chủ biên), Mátxcơva; Tính kế thừa trong sự phát triển văn hoá trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội (1977) của
Actanốpxki S.N, Lêningrat…
Ở hệ thống lí luận ngoài mácxit, do sự khủng hoảng của các mô hình xây dựng văn hoá của các quốc gia, dân tộc, trong khi đó xu thế toàn cầu hoá kéo
Trang 8theo tình trạng xâm thực về văn hoá, báo hiệu nguy cơ các giá trị truyền thống ngày càng nghèo nàn và biến chất trước các làn sóng văn minh, hiện đại Nhằm khẳng định vai trò to lớn của các giá trị truyền thống dân tộc trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, nhấn mạnh yếu tố được - mất trong giao lưu văn hoá giữa các giá trị truyền thống và hiện đại, cũng như chứng minh tầm quan trọng của văn hoá trong sự phát triển văn minh nhân loại Một số công
trình đáng chú ý ra đời như: Phản phát triển - cái giá phải trả của chủ nghĩa tự
do (1995) của Richard Bergeron, Nxb Chính trị Quốc gia, HN; Tạo dựng nền văn minh mới chính trị của làn sóng thứ ba (1996) của A.Toffler & H Toffler,
Nxb Chính trị Quốc gia, HN; Sự va chạm của các nền văn minh (2003) của S
Huntinton, Nxb Chính trị Quốc gia, HN… Gần đây, có thêm hai tác phẩm
khảo cứu được T.L Friedman trình bày khá công phu đó là: Chiếc Lexus và cây
Oliu và Thế giới phẳng (2006) Nxb.trẻ.Tp HCM…
Ở Trung Quốc, dưới ánh sáng cải cách, cho tới nay đã có nhiều công trình lí luận biện giải, cũng như tổng kết kinh nghiệm thực tiễn vấn đề xây dựng nền văn hoá trên cơ sở kết hợp biện chứng giữa truyền thống và hiện đại,
rất có ích cho chúng ta tham khảo và nghiên cứu Tiêu biểu có: Cải cách thể
chế văn hoá (1996) của Khang Thức Chiêu (chủ biên); Thử bàn về quy luật đặc thù của phát triển văn hoá trong điều kiện kinh tế thị trường của Lưu Bôn
(1997); Lý luận mácxit mới về phê phán văn hoá và ý nghĩa gợi mở của nó
(1997) của Y Tuấn Khanh…
Ở Việt Nam, bàn về vấn đề này đã có nhiều công trình, bài viết Các công trình chủ yếu bàn về nội dung, bản chất của nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - một biểu hiện mới của sự kết hợp biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
trong tiến trình lãnh đạo văn hoá Trước đổi mới có các công trình: Chủ nghĩa
Mác và văn hoá Việt Nam (1974) của Trường Chinh, Nxb Sự thật, HN; Văn hoá và đổi mới (1974) và Xây dựng nền văn hoá văn nghệ ngang tầm vóc dân tộc ta, thời đại ta (1975) của Phạm Văn Đồng, Nxb Sự thật, HN… Sau đổi mới
có: Một số vấn đề về lí luận văn hoá thời kì đổi mới (1996) của Hoàng Vinh (chủ biên); Một số chuyên khảo khác như: Hiện đại hoá ở Việt Nam (1997) của
Trang 9Nguyễn Thế Nghĩa; Một số vấn đề về bảo tồn văn hoá và phát triển di sản văn
hoá dân tộc (1997) của Hoàng Vinh; Văn hoá với sự phát triển của xã hội Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa (1998) do Lê Quang Thêm (chủ biên); Truyền thống và hiện đại trong văn hoá (1999), của Lại Văn Toàn (chủ biên),
Viện thông tin khoa học xã hội…
Gần đây, trước những thách thức từ toàn cầu hoá Các công trình lại tiếp tục nhận định và đưa ra những giải pháp làm thế nào để bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống trong văn hoá dân tộc Đồng thời, định hướng tiếp nhận các thành tựu văn hoá hiện đại của nhân loại phù hợp với điều kiện xã hội ở nước
ta Tiêu biểu có: Văn hoá Việt Nam - truyền thồng và hiện đại (2000), Viện thông tin Khoa học xã hội (tổng hợp, giới thiệu); Giá trị truyền thống trước
những thách thức của toàn cầu hoá (2002) do Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn
Văn Huyên (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Văn hoá và phát triển (t.3, 2005) của Nguyễn Hồng Phong, Nxb Khoa học xã hội; Bản sắc dân tộc và
hiện đại hoá văn hoá Việt Nam - Mấy vấn đề lí luận và thực tiễn (2006) của
Thành Duy, Nxb Chính trị quốc gia, HN … Ngoài ra, còn có các bài đăng trên
các tạp chí như: Toàn cầu hoá và văn hoá dân tộc của Trần Văn Bính, tạp chí
Công tác Tư tưởng lí luận, số 7/2007; Văn hoá, triết lý, và triết học của Lương Việt Hải, Tạp chí triết học, số 10/2008; Văn hoá Việt Nam trong giao lưu văn
hoá quốc tế, của Vũ Minh Tâm, Tạp chí Khoa học xã hội, số 2/ 2008…
Hai, nhóm bàn đến tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, trong đó có khái quát vấn đề biện chứng giữa truyền thống và hiện đại của Hồ Chí Minh
Chúng tôi đặc biệt chú ý đến nhóm vấn đề này vì nó liên quan nhiều đến
đề tài sắp triển khai Song, dựa vào những tài liệu mà chúng tôi có được, hiện nay các công trình tương đối khiêm tốn, lại chỉ chủ yếu phân tích nội dung và những thành tựu, cũng như những vấn đề đặt ra xung quanh việc kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá là như thế nào dưới ánh sáng tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hoá Một số công trình, bài viết tiêu biểu thuộc nhóm nội
dung này có: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hoá Việt Nam (1998), nhiều tác giả Nxb Chính trị quốc gia; Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam
dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh (2004) của Thành Duy, Nxb Chính trị
Trang 10quốc gia, HN; Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá (2004) Ban tư tưởng văn hoá Trưng ương (giới thiệu); Chủ tịch Hồ Chí Minh với nền văn hoá Việt Nam
(2004) của Lê Xuân Vũ, Nxb Văn học; Văn hoá và triết lí phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh (2008) của Đinh Xuân Lâm - Bùi Đình Phong, Nxb Chính
trị Quốc gia, HN…
Gần đây có Biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình
xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Luận án tiến
sĩ triết học, 2005) của TS Trần Hoàng Hảo, trường ĐHKHXH &NV, Tp.HCM Đây là một công trình nghiên cứu công phu và có nhiều luận điểm có ý nghĩa quan trọng Nội dung công trình đã phác hoạ đầy đủ chân dung nền văn hoá Việt Nam vận hành theo cơ chế giải quyết mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng ta qua các thời kì Rất tiếc, vì giới hạn phạm vi đề tài, tác giả chưa có điều kiện phân tích một cách có hệ thống nội dung đặc sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này Phần lớn các nội dung của
tư tưởng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá của Hồ Chí Minh được tác giả nêu lồng vào quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng trong quá trình lãnh đạo văn hoá
Với đề tài “Biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng văn
hoá Hồ Chí Minh với việc vận dụng xây dựng nền văn hoá mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”, chúng tôi hi vọng sẽ chỉ ra một cách có hệ
thống tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá Đồng thời, chỉ ra giá trị lịch sử và ý nghĩa thực tiễn của nó đối với công cuộc xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Luận văn cũng mong muốn làm sáng tỏ thêm những khía cạnh của tưởng
Hồ Chí Minh về văn hoá dưới góc nhìn triết học
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trang 11trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhiệm vụ luận văn
Một, phân tích, làm rõ một số vấn đề về lí luận thế nào là truyền thống và hiện đại trong văn hoá
Hai, phân tích, làm rõ nhận thức của Hồ Chí Minh về vấn đề truyền thống và hiện đại trong văn hoá Đồng thời, rút ra các nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh khi vận dụng vào thực tiễn văn hoá nước nhà
Ba, luận văn khái quát quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về biện chứng giữa truyền thống và hiện đại của Đảng ta, từ đó rút ra những bài học cơ bản từ quá trình vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và lãnh đạo văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng của đề tài
Đó là; quan hệ giữa “truyền thống” và “hiện đại” trong văn hoá, với tư cách là quan hệ biện chứng của cặp phạm trù triết học về văn hoá trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh Cùng với nó là các thành quả văn hoá kết tinh từ quá trình vận dụng tư tưởng này của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng nền văn hoá mới
Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đó là; nội dung biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng
văn hoá Hồ Chí Minh Đồng thời, là quá trình vận dụng tư tưởng trên trong bối cảnh văn hoá Việt Nam, thông qua các chủ trương, chính sách, đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài dựa trên cơ sở lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hoá
Nội dung triển khai bằng các phương pháp; phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, logic và lịch sử… để chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh và chỉ ra ý nghĩa thực
Trang 12tiễn của nó trong xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
- Trên cở sở hệ thống lại nội dung biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh, đề tài đưa ra luận cứ khoa học chứng minh tính tất yếu kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá như là một xu thế tất yếu đảm bảo cho nền văn hoá phát triển liên tục và bền vững Từ
đó, nêu lên giá trị tầm nhìn có tính chiến lược của Hồ Chí Minh về vấn đề này
- Đề tài cũng phân tích, làm rõ vai trò vận dụng của Đảng ta trong chiến lược xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
- Đề tài góp phần làm phong phú thêm vào hệ thống các công trình tiếp cận về tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học
- Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu các vấn đề về triết học văn hoá, các chuyên đề về văn hoá hoặc các chuyên đề về tư tưởng và
tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về văn hoá
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận cuối chương, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 13Chương 1
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG VĂN HOÁ
1 1 TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI TRONG VĂN HOÁ
1 1 1 Khái niệm văn hoá
Nhiều tài liệu cho rằng, thuật ngữ “văn hoá” bắt nguồn từ động từ tiếng Latin “Colere”, sau chuyển thành “Cultura”, nghĩa là “cày cấy, vun trồng” Từ
đó, xuất hiện “agri cultura” là “trồng trọt ngoài đồng” Về sau, từ này chuyển từ nghĩa trồng trọt cây cối sang vun trồng, nuôi dưỡng tinh thần, trí tuệ Thành ngữ “Filosofia cultura animi est = Triết học là văn hoá (sự vun trồng) tinh thần
cũng ra đời theo nghĩa đó
Trước thế kỉ XIX, “văn hoá” được hiểu với rất nhiều nghĩa F.Bacon
(1561 - 1626) dùng để nói việc bồi dưỡng trí tuệ, rèn luyện con người; Th Hobbes (1588 - 1679) dùng để chỉ nghĩa vun trồng, chiêm ngưỡng Pufendorf (1873) dùng để chỉ cái đối lập với tự nhiên Herder (1744 – 1803) coi “văn hoá” là sự hình thành lần thứ hai của con người với tư cách là một thực thể xã
hội E Kant (1724 – 1804) gọi đó là sự bộc lộ các khả năng, sức mạnh, các lực thiên bẩm của con người v.v… Nửa sau thế kỉ XIX, với việc ra đời Khoa học chung về văn hoá (1855) của Klemm ở Đức và Văn hoá nguyên thuỷ của E B
Tylor (1871) ở Anh, “văn hoá” chính thức trở thành đối tượng của các khoa
học về văn hoá như: Lịch sử văn hoá (Đức), Nhân học văn hoá (Anh), Dân tộc
học, xã hội học (Pháp)…
Ở phương Đông, từ “văn hoá” do Fukusawa Sato Yoshi (1834 -1901), lần đầu tiên chuyển dịch chữ “Cultura” của châu Âu thành “Bunka”, tiếng Hán nghĩa là “văn hoá” Ở Trung Quốc, từ “văn hoá” được xem là xuất hiện
rất sớm - Thời Tây Hán (206 T.CN – 25 TCN), trong sách Thuyết Uyển Chỉ
Vũ của Lưu Hướng (77 T.CN – 6 TCN), với nghĩa là phương thức dùng văn
để “giáo hóa” và nhiều khi đặt đối trọng với “vũ lực” Theo Từ Hồng Hưng,
“cách giải thích này vẫn được bảo trì ở Trung Quốc đến ngày nay, đương
Trang 14nhiên nó không hoàn toàn giống nghĩa từ “Cultura” của phương Tây hiện đại” [126, 30 - 31]
Bỏ qua sự không đồng nhất trong ngôn ngữ khi gọi tên “văn hoá” với tư cách là một đối tượng nghiên cứu Về vị trí, có thể coi “văn hoá” là khái niệm nền tảng của khoa học xã hội và nhân văn như khái niệm “lực hấp dẫn” trong Vật lý học hay khái niệm “tiến hoá” trong Sinh học” [114, 47] Tuy nhiên, kể
từ khi xuất hiện, với tư cách là một phạm trù động, phản ánh thực tại sống của con người, cũng như do sự phát triển đa dạng, không ngừng của đời sống xã hội, mà khái niệm văn hoá có một quá trình lịch sử tìm hiểu, nghiên cứu khá lâu, đồng thời là khái niệm có nội hàm với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Cho đến nay, vẫn chưa có một cách hiểu thống nhất và dường như số lượng khái niệm về nó vẫn
tăng dần Điểm qua các mốc: Từ 1871 (ra đời cuốn Văn hoá nguyên thuỷ của
B Taylor) đến 1919 có 7 định nghĩa Từ 1920 - 1950 có 164 định nghĩa Năm
1967, Abraham Moles (Pháp) trong Động học xã hội của văn hoá cho biết có
250 định nghĩa Năm 1994, trong Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới,
Phan Ngọc cho rằng có khoảng 400 định nghĩa
Hiện nay, việc đi tìm cách hiểu chung nhất về văn hoá vẫn tiếp tục, nên
số lượng khái niệm có thể lớn hơn con số 400 rất nhiều Điều này gây không ít
khó khăn cho việc nghiên cứu Do đó, đã có người cho rằng, “khái niệm văn
hoá ghi nhận quan điểm của nhà nghiên cứu về cuộc sống chung của con người chứ không phải là một “khách thể” thực tại nào đó” [15, 75] Còn Jacques
Dérrida, khi bàn về hiện tượng này, đã nhận định: “Văn hoá chính là cái tên mà
chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩa về nó” [59, 35]
Như trên đã nói, dù có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hoá Nhưng Trần Ngọc Thêm lại chia các định nghĩa văn hóa ra làm hai loại Định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng; Hoàng Vinh lại phân thành 12 nhóm [126, 27 -30] Hồ Bá Thâm cũng quy các định nghĩa xuất phát về bốn cách tiếp cận [114, 47]; Phan Ngọc lại cho rằng, các định nghĩa trước đây chủ yếu
Trang 15xuất phát từ cách tiếp cận mang tính “tinh thần luận”, rồi đề nghị cách tiếp cận “thao tác luận”[38, 43]
Riêng trong giới học giả mácxit, trước khi bàn về Văn hóa trong nhận
thức duy vật lịch sử của C Mác, Nguyễn Huy Hoàng khái quát, chia thành bốn
cách tiếp cận: tiếp cận giá trị, tiếp cận hoạt động, tiếp cận nhân cách, tiếp cận kí hiệu học Theo tác giả, bốn cách tiếp cận tuy khác nhau nhưng không mâu thuẫn, mà bổ sung cho nhau mật thiết, bởi đó là những cấp độ tìm hiểu khác nhau về văn hóa, phản ánh quá trình phát triển của nhận thức con người khi ngày càng đi sâu vào tìm hiểu nội dung của văn hoá
Mặc dù vậy, tác giả cũng chỉ rõ hạn chế của bốn cách tiếp cận hầu như chỉ dựa vào lí luận hệ thống và những “biến thể” của nó Cách tiếp cận này bộc lộ hạn chế ở chỗ: nó xem đời sống xã hội như một hệ thống mang tính
“cơ khí”, “có sẵn”, không phải là một hệ thống mang tính hữu cơ Nó “thiếu
cách nhìn biện chứng về xã hội” Trong khi, xã hội vận động phát triển như một chỉnh thể hữu cơ từ trạng thái “tự mình” tới trạng thái “cho mình”, với hai phương diện vốn có của nó là: Mối quan hệ với môi trường bên ngoài và
sự tự tổ chức bên trong với hoạt động bản chất người của con người hiện thực là cốt lõi [38, 85-121]
Rút kinh nghiệm từ bốn cách tiếp cận trên, tác giả lưu ý: “Văn hoá không thể được nhận thức nếu xem xét nó trừu tượng ở bên ngoài lịch sử” Để hiểu văn hoá, “cần phải xuất phát từ việc nghiên cứu sự phát triển của con người trong quá trình lịch sử.” Tức là, để nhận thức văn hoá, cần phải suy ngẫm lịch
sử cả trong các chiều đo khác biệt, cả ở trong tính chỉnh thể của nó “Bởi thế, triết học phải dựa vào nhận thức duy vật lịch sử và xuất phát từ nó” “Phải tìm kiếm văn hoá trong quá trình chuyển động và phát triển không ngừng của đời
sống xã hội đang hướng tới chỉnh thể hữu cơ để thấy rằng văn hoá là một hiện
tượng mang tính tổng thể và phổ quát”, nhằm tránh lâm vào tuyệt đối hoá, tách biệt hoá một giai đoạn, một phương diện nào đấy của đời sống xã hội đang chuyển động để rồi tìm kiếm bản chất của văn hoá trong các giai đoạn, các phương diện đã khu biệt ấy [38, 69 -72]
Trang 16Với đề nghị quay về với nhận thức duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác
để khảo sát đời sống xã hội như một chỉnh thể hữu cơ Dẫn lời V.M Megiuep,
tác giả trích: “Bất kì một ý định nào muốn xem xét vấn đề văn hoá như một cái gì đó tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào học thuyết duy vật lịch sử hoàn chỉnh về xã hội sẽ không đem lại kết quả khả quan (nào)” [38, 50] Đây cũng là bước đi đầu tiên của chúng ta trong quá trình tìm hiểu văn hoá
Nhìn một cách tổng thể các nghiên cứu từ trước đến nay, văn hoá thể hiện ra như là một hiện tượng xã hội, bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần đã được xã hội hoá trong lao động sáng tạo của con người Nhờ tiếp cận được những giá trị ấy, con người trở thành con người có năng lực,
có tri thức và hoạt động của họ luôn hướng tới các giá trị Chân – Thiện –
Mỹ Nó phản ánh thực tại sống của con người, được truyền từ đời này sang đời khác, là sự thể hiện trình độ phát triển của con người trong mỗi thời kì lịch sử nhất định Nó là thành quả gắn với quá trình hoạt động sống của con
người, vì sự tồn tại, phát triển con người Bằng cách này cách khác, các cách
tiếp cận đã cố gắng tìm hiểu bản chất văn hoá, chỉ ra vị trí, vai trò cơ bản của
nó đối với đời sống xã hội
Tuy nhiên, “nếu như các khoa học khác quan tâm đến văn hoá từ những góc độ riêng biệt của mình, thì chỉ có triết học mới xem xét văn hoá trong chỉnh
thể, mới tìm ra bản chất sâu xa và cấu trúc hoàn chỉnh của nó và nhờ đó mà
thâm nhập vào đời sống hiện thực” Thực tế cũng cho thấy, “bất kì một triết học nào cũng đều thể hiện như lí luận, nhưng không phải bất kì lí luận nào cũng xem xét đối tượng của mình xuất phát từ cái nhìn bao quát của triết học đối với hiện thực” Không những vậy, “phân tích triết học với văn hoá có ý nghĩa lí luận và thực tiễn Nó có giá trị lớn lao bởi lẽ bên ngoài sự phản tư triết học, văn hoá có thể được suy ngẫm chỉ trong các biểu hiện riêng biệt của nó mà không phải là một chỉnh thể lịch sử xã hội Sự phân tích này có ý nghĩa phương pháp luận cho những lĩnh vực tri thức nhân văn khác nhau […] Hơn nữa, để trở nên khả thi, các chính sách thực tiễn trong lĩnh vực văn hoá cần phải dựa vào những
cơ sở triết học nhất định” [38, 14]
Trang 17Như vậy, để đưa đến những luận giải mang tính chung nhất về mặt lí
luận Đồng thời, rút kinh nghiệm khắc phục những ưu, khuyết đã nêu về các cách tiếp cận; tiếp đến là vận dụng, cũng như định hướng hoạt động của chúng
ta trong thực tiễn, thì triết học vẫn được xem là phương tiện tiếp cận văn hoá có tính khả thi và “ưu trội” nhất Kể từ sự thống nhất này, cùng với xuất phát điểm
xem văn hoá là một hiện tượng xã hội; là thành quả gắn với quá trình hoạt
động sống của con người và vì con người là nội dung chủ đạo Chúng tôi cho
rằng, muốn tìm hiểu văn hoá phải bắt đầu từ ngay chính cơ sở nội tại của nó,
mà trước hết phải dựa vào các “điểm tựa” cơ bản, đó là:
* Hoạt động
Hoạt động thực chất chính là phương thức tồn tại của con người và một cách tương ứng có thể định nghĩa chính bản thân con người như một thực thể đang hoạt động Hoạt động mà chúng ta nhắc đến là hoạt động của con người hiện thực,“hoạt động thực tiễn” (C.Mác) – hay hoạt động có ý thức của con người Nó khác hoạt động mang tính chất bản năng của loài vật vì “động vật vốn đã trực tiếp đồng nhất với hoạt động sống của mình Chính việc “ý thức thay thế bản năng hoặc bản năng của con người là bản năng đã được ý thức”
mà nó đã làm một cuộc cách mạng thực sự biến con người trở thành Con Người viết hoa, từ động vật mang tính hợp quần thành một động vật mang tính xã hội”
[57, 44] Nó còn làm sức sáng tạo trong bản thân con người là vô cùng, vô tận,
đây là nguyên nhân làm nảy nở hầu hết các giá trị của đời sống, làm giàu cho bản thân con người và cho xã hội [80, 24]
Hoạt động giúp con người làm cuộc cách mạng thoát khỏi đời sống động vật, cũng như duy trì và phát triển trong tiến trình lịch sử những đặc tính Người Bởi lẽ, nhờ có nó mà con người ngày càng hoàn thiện, phát triển về thể chất, các kĩ năng, kinh nghiệm và cả về phương diện tinh thần, đồng thời duy trì chính mình trong xã hội Nhưng ý nghĩa hơn hết - thông qua hoạt động, con người cũng đã xác lập một “thiên nhiên đầy nhân tính”, “một thiên nhiên lịch sử” cho mình, vì mình Cái “thiên nhiên thứ hai” đó chính là văn hoá Chính
mỗi một dấu ấn Người để lại trên sản phẩm và trong quá trình tiến hành các
Trang 18phương thức hoạt động với tất cả các phương tiện để tạo ra sản phẩm đó, chính
là một biểu hiện của văn hoá
Không có hoạt động (đặc biệt lao động) thì không có văn hoá trên cả hai phương diện (tư cách là kết quả của lao động và đặc tính Người thể hiện trong quá trình hoạt động tạo ra kết quả ấy, gồm cả những biểu hiện vật chất và phi
vật chất) Nói cách khác, văn hoá vừa là sản phẩm, đồng thời cũng vừa là cái
phản ánh tính đặc thù của hoạt động con người
Với hoạt động, con người đã “nhân hoá” các đối tượng tạo nên “thiên nhiên thứ hai” cho mình Do đó, “sự tồn tại, vận động, phát triển của văn hoá chỉ xuất hiện khi con người ý thức rõ ràng về đời sống xã hội của họ về hoạt động tự do, hoạt động lao động sáng tạo để không những cải tạo và biến đổi tự nhiên vì sự tồn tại, phát triển của chính mình” [99, 36] Vì điều này mà C Mác
đã coi lịch sử con người là lịch sử “tự sản xuất ra bản thân mình”, “tự phát triển”, tự biến đổi trong quá trình hoạt động có đối tượng của họ
Hoạt động vừa là điểm khởi đầu của văn hoá, vừa là phương thức tồn
tại và là môi trường để văn hoá thể hiện Do đó, hoạt động chứ không phải tư
duy thuần tuý của con người thể hiện rõ nhất tính tích cực của một dạng vật chất đặc biệt và là vòng khâu cuối cùng trong sự vận động và phát triển của
thế giới - tức đời sống xã hội C.Mác và không ít nhà khoa học đã lấy hoạt
động người là điểm xuất phát trong nhận thức duy vật lịch sử của mình để
nghiên cứu đời sống xã hội, cũng như chọn đó làm khởi đầu cho nhận thức về văn hoá là vì lí do này
Tuy nhiên, cũng cần chú ý - như ở phân tích trên, văn hoá chỉ ra đời khi hoạt động sáng tạo đó mang tính chất xã hội, nhưng không phải bất cứ dạng hoạt động sáng tạo mang tính chất xã hội nào của con người cũng đều có thể
tạo ra văn hoá và là văn hoá Trong thực tế, “chỉ có những hoạt động hoạt
động mang tính nhân bản, vì lợi ích của con người, mới tạo ra văn hoá và là văn hoá” [80, 25] Nhìn chung, kể từ những giai đoạn mông muội, hoạt động
với tư cách là hoạt động có mục đích, có động cơ đã bị chi phối bởi nhu cầu, càng về sau thường được chế định và hướng tới những định chuẩn phổ quát Chân - Thiên – Mỹ Song, cũng không ít hoạt động đi ngược với định chuẩn
Trang 19đó Do đó, không thể quy những dạng hoạt động và kết quả cuả nó như; trộm cắp, tham nhũng, buôn bán ma tuý … gọi là văn hoá dù nó mang tính xã hội
Hoạt động có thể chia làm hai dạng: Dạng có nội dung sáng tạo và dạng
có nội dung tái tạo Loại thứ nhất có tác dụng làm phát triển và bồi đắp cho vốn
văn hoá nhóm người, dân tộc nhất định Loại thứ hai, có tác dụng bảo tồn, phổ biến, phát huy các vốn văn hoá của nhóm hay dân tộc nào đó Lịch sử văn hoá chính là lịch sử vận động, tác động qua lại giữa hai loại một cách biện chứng Kết quả cuối cùng của nó làm cho văn hoá không ngừng được bồi đắp, phong phú và đa dạng [80, 25]
Như vậy, với điểm tựa đầu tiên là hoạt động, nó giúp ta một mặt hiểu rõ
nguồn gốc của văn hoá, cũng như những dạng biểu hiện của nó Đồng thời, giúp ta khắc phục được việc xem văn hoá như là kết quả sẵn có, một hiện tượng chết cứng, thiếu vận động và là cái gì đó tư biện như chủ nghĩa duy tâm từng làm Quan trọng hơn, nó giúp ta nhìn thấy văn hoá thể hiện trước mắt như sự thống nhất biện chứng giữa quá trình và kết quả của hoạt động người chứ không phải là một kết quả có sẵn
Không có sáng tạo không sinh ra con người và nhân cách của họ, do đó
cũng không có văn hoá Sáng tạo là thuộc tính bản chất của văn hoá Văn hoá
xa lạ với thói bắt chước, giáo điều, hẹp hòi, bảo thủ, khép kín Sáng tạo phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện và môi trường của con người hiện thực Ở những điều kiện khác nhau chi phối, nhờ có sáng tạo mà các giá trị được sinh ra theo phương án lấy tiêu chí thích ứng với môi trường sống của mỗi nhóm, mỗi dân tộc cụ thể Chính việc sáng tạo có tính đặc thù theo kiểu lựa chọn (Phan Ngọc),
đã có ảnh hưởng rất lớn đối với việc quy định sự phong phú, đa dạng và làm nên bản sắc văn hoá Tất nhiên, không phải sự sáng tạo nào cũng được chấp
Trang 20nhận nếu xét trên phạm vi giá trị, chỉ có những cái thực sự có ích đối với cộng đồng trên tiêu chí đáp ứng Chân – Thiện – Mỹ, mới gọi là văn hoá Ngược lại,
đó là phi văn hoá
Về đặc điểm, không nên lầm tưởng sự sáng tạo chỉ gói gọn trong những đối tượng mà con người tác động, biến đổi và để lại “dấu ấn vật chất”, cần nhớ rằng, chính hoạt động tinh thần cũng sáng tạo Vì thế, có những vật thuộc về tự nhiên, nhưng nếu được con người “nhìn ngắm”, “giải thích”,
“gửi gắm” những tâm tư tình cảm, ước vọng khát khao có tính nhân bản vào
nó (tức được nắm bắt và đặt “dấu ấn tinh thần”) chúng cũng là văn hóa Ngược lại, có những cái tưởng chừng như thuộc về con người cũng chưa hẳn được coi là văn hoá Những gì mang tính bản năng không mang nội dung văn hoá Theo lí đó, có người xem “tất cả những gì không là thiên nhiên đều
là văn hoá” [132, 23]
Ngoài những điểm trên, sự sáng tạo của con người trong hoạt động sống
là sự sáng tạo phù hợp với thế giới hiện thực và theo quy luật của cái đẹp
Bởi lẽ, con người thông qua hoạt động đã tiến hành sản xuất một cách toàn diện Có được điều đó là do con người ngay từ thời mông muội đã chứng tỏ mình “là động vật duy nhất” đã biết “chọn” cách thức thích nghi để phát triển
hệ thần kinh tới mức biết tư duy, biết chế tạo công cụ, biết sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ,… trong khi các động vật khác đã chọn cách biến đổi tứ chi của chúng để cải thiện dinh dưỡng “Con người giữa toàn bộ thế giới động vật
là loài đã phát triển được bộ não” [132, 12] Nhờ “biết” sản xuất một cách
“toàn diện” mà hoạt động sáng tạo không những đem lại cho con người những tài sản vật chất, mà còn làm cho con người ngày càng hoàn thiện “Cái hoàn
thiện ấy không chỉ mang tính thực dụng mà vượt lên trên đó là sự thoả mãn
những nhu cầu tinh thần của con người, nhờ đó con người mới phát triển và
một phần thậm chí lần đầu tiên được sinh ra: lỗ tai thính âm nhạc, con mắt cảm thấy cái đẹp của hình thức, nói vắn tắt là những cảm giác có khả năng về những hưởng thụ có tính chất người và tự khẳng định mình như những lực lượng bản chất của con người” [58, 175 -176] Chính ở đây, những năng lực
cảm giác sinh vật đã được chuyển hoá thành ý thức thẩm mỹ ở con người
Trang 21Nói chung, nếu xem văn hoá là toàn bộ hệ thống giá trị do con người sáng tạo ra do hoạt động mang bản chất người, chúng ta có thể hình dung: Với
hoạt động sáng tạo, con người đã không những tạo ra cho mình của cải theo
quy luật kinh tế, mà còn đồng thời theo “quy luật của cái đẹp” Nói cách
khác,“với bản chất nghệ sĩ của con người, quá trình lao động của con người không chỉ làm biến đổi giới tự nhiên mà quá đó làm cho tự nhiên biến thành khách thể thẩm mỹ”
Tuy nhiên, sáng tạo không chỉ tạo ra một thế giới văn hoá bên ngoài con người Điều có ý nghĩa cao cả hơn, nó còn sáng tạo ra quá trình hình thành và phát triển những phẩm chất bên trong, là hiện thân của sự phát triển văn hoá, phát triển nhân cách của chính chủ thể Ở góc độ cơ bản nhất, với các lực lượng bản chất người như; sức lao động, tài năng sáng tạo, chúng ta có thể xem “văn hoá là sự thăng hoa các lực lượng bản chất người, hướng vào việc chiếm lĩnh và cải tạo thế giới tạo thành những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thể hiện trong các hoạt động tư tưởng, học thuật, kĩ thuật, nghệ thuật, đạo đức […] của con người, nhờ đó mà chất người ở một cấp cao hơn […] Văn hoá là hoạt động sáng tạo của con người nhằm thực hiện quyền làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình” [126, 104] Do vậy, về vị trí có thể nói:
“Hoạt động sáng tạo là thành tố quan trọng của giá trị văn hoá… là sức sống,
là nhịp đập, là quả tim của văn hoá nên được coi là giá trị gốc Lôgíc vận động lạc quan của lịch sử chính là lôgic của sự sáng tạo và đó cũng là trung tâm của giá trị văn hoá” [2, 28]
Nhìn chung, hoạt động sáng tạo mang ở trong mình nhân tố phổ biến và
nội dung phổ biến này của nó gần như được đồng hóa trong văn hóa Chính nội dung này đã tạo nên bản chất của văn hóa như quá trình khai thác thế giới mang tính phổ quát của con người Tuy nhiên, vì sáng tạo tồn tại thông hoạt
động sống của các chủ thể trong hiện thực, tức thông qua cái riêng Do đó, nói sáng tạo gắn với hiện thực đời sống mỗi cộng đồng cũng đồng nghĩa nói đến nguồn gốc nảy sinh sự đa dạng phong phú của các nền văn hoá Mặt khác, sáng tạo trong văn hoá không phải là sáng tạo thiếu định hướng, bản thân nó vốn bị quy định bởi nhiều yếu tố mang bản chất người Vì thế, trong lịch sử, chế độ xã
Trang 22hội nào thể hiện được bản chất người ưu việt hơn thì nghiễm nhiên tính chất của nền văn hoá đó cũng ưu trội và đầy tiềm năng, cũng như sức sống luôn mãnh liệt và khó bị tiêu diệt
* Hệ thống giá trị, chuẩn mực
Thế giới văn hoá là thế giới các giá trị Lịch sử văn hoá là quá trình chiếm lĩnh những giá trị, tạo dựng các mô hình lý tưởng theo mục tiêu thoả mãn ngày càng cao các nhu cầu của con người Nếu hoạt động là cở sở của văn hoá; sáng tạo làm nên sự phong phú đa dạng của các dạng biểu hiện của văn hoá, đồng thời phản ánh trình độ, năng lực bản chất Người của văn hoá, thì giá trị, chuẩn mực nói lên cái gì là văn hoá, vị trí vai trò của nó đối với đời sống con người hiện thực là gì?
Giá trị có thể xem là đặc tính của sự vật, hiện tượng Chúng không phải
là cái vốn có do thiên nhiên ban cho, không đơn thuần do kết quả bên trong của bản thân khách thể, mà do khách thể bị hút vào phạm vi tồn tại xã hội của con người và trở thành cái mang những quan hệ xã hội nhất định Nói cách khác, giá trị văn hoá là thuộc tính xã hội của đồ vật, không tách rời với con người đã sáng tạo ra chúng
Khái niệm giá trị được sử dụng nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của khách thể ấy đối với con người và xã hội [35, 16] Nó còn là nhân tố có
ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại, phương thức sống và lí tưởng của mỗi
dân tộc [10, 179] Tức nó được xem như “là một khái niệm chỉ ý nghĩa của các
hiện tượng vật chất, cũng như tinh thần mà mỗi cộng đồng người quan tâm dựa trên cơ sở thoả mãn nhu cầu hay lợi ích nhất định” [2, 21] Tuy nhiên, do lợi ích nhu cầu con người bao giờ cũng hướng tới Chân – Thiện – Mỹ Vì thế, tiến thêm một bước hiểu về giá trị, nó cũng có thể được xem là “kết quả thẩm định dương tính” các đối tượng trên các thang độ cơ bản như; lợi – hại (giá trị sử dụng), tốt – xấu (giá trị đạo đức), đẹp – xấu (giá trị thẩm mỹ)… và như thế không chỉ các đồ vật, sách vở, tác phẩm nghệ thuật mới là giá trị, mà cả truyền thống, nếp sống, chuẩn mực, tư tưởng, thiết chế xã hội, biểu trưng, thông tin, thậm chí cả các hoạt động, công nghệ, quy trình, phương thức, quan hệ… đều
có thể xác định như các giá trị nếu nó đem lại sự thoả mãn nhu cầu hoàn thiện
Trang 23bản thân con người (“giá trị người” - Đỗ Huy) Đây là lí do vì sao giá trị được
xem như là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Nó góp phần
làm nên diện mạo vai trò là nền tảng, động lực của văn hoá đối với xã hội Cho nên, thường ở đâu các giá trị bị khủng hoảng ở đó xã hội thường thiếu sự ổn định, bền vững [80, 25]
Một sự vật, hiện tượng nào đó được thẩm định về mặt giá trị trước hết phải được đánh giá Giá trị có quan hệ với cách đánh giá “Chính trong việc đánh giá thể hiện quan hệ của chúng ta với việc các vật đã trở thành cái gì ở trong sự tồn tại của chúng ta Chúng ta không mô tả các thuộc tính của chúng, không kiểm tra lại các sự kiện mà chỉ phán xử về ý nghĩa của chúng trong thực tiễn của mình Chúng ta không gán cho chúng tư tưởng mà chỉ ấn định xem đối với chúng ta vật này hay sự kiện kia là cái gì hay có thể là cái gì” [38, 28] Đánh giá là cần thiết vì con người sống không phải chỉ để biết (nhận thức chân lý) mà biết để đánh giá, để lựa chọn, để hành động, để yêu quý, bảo vệ những sáng tạo, những giá trị của mình làm ra
Quan hệ đánh giá khác quan hệ nhận thức ở vai trò của chủ thể đối với
đối tượng được nắm bắt Với quan hệ nhận thức, để nhận thức được chân lý khách quan, chủ thể cần phải “khách quan”, không để cho cái tôi ảnh hưởng đến quá trình nhận thức Trong khi đánh giá, chủ thể không thể không xuất phát
từ cái tôi của mình, tức là từ nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng, lí tưởng của họ Tất nhiên, có nhận thức đúng, đủ thì mới đánh giá đúng sự vật, hiện tượng
Cũng cần phân biệt bản chất và hiện tượng của sự vật với giá trị của sự vật Cái trước tồn tại khách quan trong bản thân sự vật hiện tượng Còn giá trị chỉ có thể tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của con người Các giá trị do đánh giá mà có Nhưng đánh giá không tạo nên giá trị
Giá trị tồn tại khách quan Các vật, các sáng tạo mang giá trị, các bậc thang giá trị, kiểu giá trị không phụ thuộc vào cá nhân này hay cá nhân khác
Nó chỉ biểu hiện thông qua đánh giá và thể hiện tính có ích trong cải biến thực tiễn Nội dung khách quan của các giá trị do lao động kết tinh và đã được xã hội hoá quy định
Trang 24Giá trị cũng có tính lịch sử và tính tương đối vì nó phụ thuộc vào thực tiễn Thực tiễn không chỉ là tiêu chuẩn chân lí mà con là tiêu chuẩn của giá trị,
nó là kẻ xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa sự vật với những điều cần thiết đối với con người Không những thế, nó quyết định liệu đó là những giá trị lâu bền hay tức thời thông qua chính những đòi hỏi thoả mãn nhu cầu nào đó
mà con người xác định
Giá trị chia thành hai loại: giá trị vật chất (hữu hình) và giá trị tinh thần (vô hình) Tuy vậy, cách chia đó cũng chỉ có tính chất tương đối, vì trong các giá trị văn hoá vật chất luôn chứa đựng những yếu tố tinh thần (ví dụ, các hàm lượng tri thức, khoa học, công nghệ, kĩ thuật và các quan niệm vệ cái có ích, tiện, đẹp) Còn các giá trị tinh thần lại tiềm ẩn hoặc hiện ra trong các dạng cụ thể của văn hoá vật chất (ví dụ; sách vở, các đền, chùa, công trình kiến trúc thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan) Ngoài ra, tính phổ biến lớn nhất của giá trị đạt được khi các giá trị vươn tầm nhân loại Còn nếu khu biệt ở một phạm vi địa lí hay phạm vi của mỗi nhóm người, dân tộc, nó làm nên bản sắc riêng từng dân tộc Vì giá trị được xem như là kết quả được tích luỹ trong quá trình lịch sử
lâu dài, nên văn hoá cũng thường được hiểu như một hệ thống hữu cơ các giá
trị phản ánh toàn bộ đời sống xã hội Nó không phải là sự “gộp lại” đơn thuần các giá trị vì đời sống xã hội là hệ thống phức tạp, chằng chịt, liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau như một cơ thể sống có kết cấu phức tạp
Để thẩm định giá trị cần gắn sản phẩm với việc đánh giá Song, muốn đánh giá cần phải có những chuẩn mực Chuẩn mực chính là giá trị gốc của một
vật, một hiện tượng, một tư tưởng mang giá trị Chuẩn mực là các quy định
chung về các quan hệ đồng thuận của một nhóm người, một giai cấp hoặc của
một cộng đồng, dân tộc Chuẩn mực chỉ đạo và đề ra nguyên tắc có thể hay không thể chấp nhận của cộng đồng đó với các sự vật hiện tượng họ làm ra Nó
là cái được chọn làm căn cứ để đo lường, đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng Nó có thể hiểu như là những giá trị gốc, giá trị mang tính điển hình, kiểu mẫu, có khả năng đem lại lợi ích cho mọi người, có sức hút cộng đồng cùng hướng đến, nhất trí xác nhận một hiện tượng nào đó Do vậy, về thực chất
- thông qua chuẩn mực, giá trị là sự phản ánh các quan hệ cơ bản của con
Trang 25người, định hướng các thành viên trong xã hội xác định phương thức ứng xử, hành động nhằm vươn tới sự hoàn thiện
Các chuẩn mực phụ thuộc vào các yếu tố như; thế giới quan, trình độ dân trí, tôn giáo, hệ tư tưởng… Mỗi một cộng đồng thường có một thang giá trị, bảng giá trị ưu tiên của mình (do lịch sử quy định) và được hỗ trợ bởi những chuẩn mực cơ bản khác
Trong lịch sử phát triển của con người, sự phong phú của các dạng hoạt động thực tiễn đã tạo ra nhiều hệ, nhiều loại hình, nhiều cấp độ các chuẩn mực
Có hệ chuẩn mực cho các giá trị đạo đức, có hệ cho giá trị pháp luật, có hệ cho giá trị tôn giáo, có hệ giá trị cho thẩm mỹ, có hệ giá trị cho đời sống vật chất và
có hệ giá trị cho đời sống tinh thần…Thậm chí, đôi khi, có sự phân luồng và tồn tại của các hệ thống chuẩn mực đan xen nhau trong cùng một chế độ xã hội Việc không thống nhất trong các hệ chuẩn mực là do sự phản ánh các lợi ích khác nhau của con người trong xã hội Sự vận động của các khuynh hướng không thống nhất đó đến một giới hạn chín muồi sẽ làm xuất hiện các chuẩn mực mới và nền văn hoá có sự điều chỉnh lớn hay nhỏ, tuỳ mức độ va chạm giữa các chuẩn mực hoặc tính hợp lý hay không hơp lý của bản thân hệ thống chuẩn mực
Về cấp độ, trên cơ sở hệ thống giá trị, văn hoá tạo ra một loạt chuẩn mực định hướng cho tư tưởng, hành vi con người Các chuẩn mực tồn tại dưới nhiều hình thái: những cấm kị, phong tục, tập quán và cao nhất là luật pháp Trong xã hội hiện đại, cốt lõi của hệ thống chuẩn mực là luật pháp Chuẩn
mực có các tác dụng: kìm hãm, cho phép và định hướng hoạt động con người
Nó không những chi phối các hành vi bên ngoài, mà còn là tiêu chuẩn của các hoạt động tinh thần như xúc cảm, tư tưởng, ý thức về cái đúng - sai, phải - trái, làm - không nên làm… Chuẩn mực tự nó đã là mạng lưới liên kết, đan xen, chế ước hoặc khuyến khích các hoạt động của con người Chuẩn mực là
sự áp dụng cụ thể vào các giá trị – giá trị có tính khái quát hơn chuẩn mực Giá trị không quy định cụ thể cho tình huống cụ thể Các giá trị ảnh hưởng đến nội dung chuẩn mực Nếu các giá trị được cộng đồng ưu tiên thì hệ chuẩn của nó sẽ được cụ thể hoá Chuẩn mực và các giá trị là thành tố quan trọng để
Trang 26đo, kích thích, phát động và kiểm soát các nhịp đập của các nền văn hoá thông
qua việc kiểm soát, ràng buộc, định hướng, thúc đẩy đối với các hoạt động
của con người hướng tới Chân – Thiện – Mỹ nhằm hoàn thiện chính họ
Quan hệ giữa hoạt động, giá trị, chuẩn mực với việc hình thành cái gọi
là văn hoá thể hiện ở chỗ; Về lý thuyết, các hoạt động sáng tạo là thành tố quan
trọng và biểu hiện ra như là bản chất của văn hoá Tuy nhiên các hoạt động mang tính chất cá nhân không bao giờ trở thành văn hoá nếu nó không tham gia vào các định chuẩn và hệ thống giá trị xã hội Các chuẩn mực và hệ thống chuẩn mực cũng không lấy lao động cụ thể làm thước đo văn hoá Chỉ có lao động trừu tượng mới tạo nên bản chất của các chuẩn mực và các giá trị Các hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân phải được xã hội hoá, phải được đo bằng các quan hệ xã hội mới có ý nghĩa văn hoá thực sự Các sáng tạo có ý nghĩa văn hoá khi đáp ứng các lợi ích rộng hơn lao động cụ thể đã được đối tượng hoá
Các hoạt động sáng tạo không thể có giá trị nếu nó tự đo lấy nó
Như vậy, chọn giá trị (cùng với nó là các chuẩn mực) làm điểm tựa, cho phép ta phân biệt văn hoá với những hiện tượng phi văn hoá và phản văn hoá; vạch ra ranh giới của văn hoá; loại ra những cách hiểu quá rộng quy văn hoá về mọi hoạt động của con người Không những vậy, với tính tương đối, giá trị còn cho phép ta phân biệt đâu là giá trị vĩnh cửu, tức thời, giá trị lỗi thời, các giá trị hiện hành và đang hình thành Và quan trọng, là thấy được văn hoá như thực thể đang vận động không ngừng với các quy luật vốn có của nó Ngoài ra, với tính lịch sử của giá trị, nó còn giúp ta khắc phục được xu hướng cực đoan phủ nhận hoặc tán dương hết mực trong văn hoá Nó giúp ta có cái nhìn biện chứng
và khách quan về văn hoá
Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào ba điểm tựa trên mà không nhắc đến việc xem văn hoá phải gắn với yếu tố con người thì không thể nói cái gì đã trở thành văn hoá và là văn hoá Bởi lẽ, thiên nhiên không tạo ra văn hoá Không thể không tồn tại nền văn hoá nào nếu thiếu con người như một chủ thể sáng tạo, đồng thời là khách thể chịu sự tác động trở lại của văn hoá Song, có ý nghĩa ngự trị trên hết trong các quan hệ đó chính là việc gắn văn hoá với nội dung phục vụ
Trang 27con người Văn hoá chẳng qua là các giá trị vật chất và tinh thần do con người làm ra vì nhu cầu nào đó, nó phải quay lại phục vụ con người hiện thực
Như vậy, với các “điểm tựa”, đồng thời cũng là những yêu cầu vừa nêu, chúng ta hình dung; văn hoá là hệ thống hữu cơ những giá trị, chuẩn mực xã hội, phản ánh trình độ, năng lực, bản chất phát triển của các quan hệ Người thông qua các phương thức hoạt động sống và sáng tạo theo tiêu chí Chân – Thiện – Mỹ, phù hợp với điều kiện sống con người trong những điều kiện lịch
sử, không gian và thời gian xác định
Cách hiểu trên, đầu tiên cho ta thấy, văn hoá mang trong mình những
đặc trưng cơ bản như; tính giá trị, tính hệ thống, tính lịch sử và tính nhân sinh
sâu sắc, qua đó mà thực hiện được các chức năng đối với xã hội Cụ thể; nhờ
có tính hệ thống, văn hoá thực hiện chức năng tổ chức, làm tăng tính ổn định
xã hội, cung cấp cho xã hội những phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Tiếp đến, do được xây dựng trên cở sở
các chuẩn mực, các giá trị trên tiêu chí Chân – Thiện – Mỹ (tính giá trị), mà
văn hoá còn tham gia điều chỉnh, hướng các hoạt động, các quan hệ theo cách
mà cộng đồng đó mong muốn hoặc lựa chọn trong lịch sử Nhờ chức năng điều chỉnh mà văn hoá trở thành mục tiêu, động lực cho sự phát triển xã hội
Ngoài ra, vì ở văn hoá còn có tính nhân sinh, nhân văn nên nó cũng đã kịp trở
thành sợi dây nối liền con người với con người, thực hiện chức năng giao tiếp,
có tác dụng liên kết con người lại với nhau thành một cộng đồng chặt chẽ Chính văn hoá tạo ra những điều kiện, phương tiện (như ngôn ngữ, hệ thống
kí hiệu, biểu tượng…) cho sự giao tiếp ấy Và đến lượt mình, văn hoá cũng là
sản phẩm của giao tiếp Không dừng lại ở đó, giáo dục còn được coi là chức
năng thường xuyên, cơ bản của văn hoá Thực hiện được chức năng này là vì văn hoá có một năng lực thông tin hoàn hảo Khác với động vật, con người còn muốn được nhân cách hoá, phải tìm đến văn hoá Với tư cách là kho dự trữ tất cả các khả năng, trình độ, phương thức sống, các giá trị, chuẩn mực, kinh nghiệm, kĩ năng… được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, pháp luật, nghi lễ, phong tục, tập quán, dư luận…, đồng thời là “gien di truyền xã hội”, văn hoá đưa con người gia nhập vào cộng đồng, như một thực thể tộc loại, trở
Trang 28thành người đại diện cho cả nhân loại đã đang sống, trở thành Người với đúng nghĩa chân chính của từ này
Như vậy, đặc điểm cơ bản chứng tỏ sự hiện diện của văn hoá là ở chỗ,
nó hiện ra như là một yếu tố đã thoát khỏi cái tự nhiên, cái bản năng, trở thành cái thể hiện tính Người và tầm cỡ của họ qua hoạt động cải biến thế giới, cũng như chính mình Nó còn biểu hiện ra như một phương thức hoạt động sống của con người Nó bao chứa toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần của con người cũng như năng lực và trình độ phát triển của họ Nó vừa là tinh tuý sinh
ra từ hoạt động, đồng thời cũng là cơ sở làm nền tảng sinh hoạt, định hướng các hoạt động con người Không có hoạt động nào của con người mà không lần ra cái cốt cách văn hoá và không có văn hoá cũng chẳng thấy đâu bóng dáng hoạt động Người Văn hoá là một thực thể sống của con người, thế giới của văn hoá là thế giới của bản thân con người, do con người, vì con người
“Văn hoá là nhân hoá” hay văn hoá là tất cả những gì gắn liền với con người,
để rồi lại trở về với chính con người Nói như Clifford Greetz: “Có một sự thật: không có con người thì cũng chẳng có hình thái văn hoá nào cả Nhưng cũng có một sự thật khác là, không có hình thái văn hoá thì cũng chẳng có thứ được gọi là con người” [35, 23]
Nhìn chung, ở tầm vĩ mô, văn hoá như là những vấn đề biến đổi của bản thân con người với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con người Do xuất hiện từ lao động, nó hiện ra như một nhiệm vụ thực tiễn biến đổi các quan
hệ qua lại giữa con người với thế giới và giữa con người với nhau Không những thế, nó còn bộc lộ như một quá trình biến con người thành chủ thể của
sự vận động lịch sử và trở thành một cá nhân toàn vẹn Do đó, những gì do con
người sáng tạo ra, nếu có mang ý nghĩa văn hoá, thì điều đầu tiên chúng phải
có tính giá trị, tính nhân văn, đồng thời phải là cái gì đó đã được tích luỹ, kế thừa, và do đó mang tính lịch sử, xã hội Đây cũng là những đặc trưng cơ bản
của văn hoá
Vì là cái phản ánh “lực lượng bản chất người”, chỉ có ở người, nên ngoài việc có tính người, văn hoá còn mang tính xã hội Tuy nhiên, văn hoá và xã hội không phải đồng nhất Xã hội, trong cơ cấu của nó là một tập đoàn người, một
Trang 29bộ tộc, một dân tộc, một tầng lớp, một giai cấp có quan hệ với nhau về mặt sinh tồn và giao tiếp, có tác động qua lại giữa con người với nhau, con người với các công cụ lao động, với tự nhiên Trong các quan hệ xã hội ấy, quan hệ văn hoá lan toả vào tất cả các lĩnh vực: lao động, chính trị, xã hội,… nó tạo nên tập quán ứng xử, tín ngưỡng, cảm xúc, ảnh hưởng đến phản ứng của nhóm người này lên nhóm người khác Nói xã hội là nói đến mối liên hệ và quan hệ giữa các cá nhân và các nhóm với nhau, là sự thể hiện bản chất người Còn nói đến văn hoá là nói đến “những lực lượng bản chất” người bộc lộ trong mọi phương
diện của đời sống xã hội
Tuy các giá trị được đo bằng các thước đo xã hội, nhưng văn hoá chỉ thể
hiện như một khía cạnh nhất định của xã hội Nó không bao chiếm toàn bộ các hoạt động, các quan hệ xã hội, mà chỉ bao chiếm những phương thức hoạt
động Văn hoá không phải là cái ăn, mặc mà là cách ăn, mặc Không phải là
kinh tế mà là các cách thực hiện các hoạt động kinh tế Không phải là các quan
hệ xã hội mà là cơ sở kĩ thuật học của các hoạt động đó
Văn hoá có quan hệ với các hoạt động từ ý nghiã xã hội của nó Còn quan hệ của văn hoá và xã hội có nguồn gốc từ bản chất xã hội của con người Coi lao động là “giá trị mẹ” của cả văn hoá và xã hội, chủ nghĩa mác khẳng định: Bất kỳ một sự thể hiện bên ngoài nào của văn hoá đều là biểu
hiện của năng lực bản chất người, chính con người hình thành bản chất của
mình trong trong quá trình hoàn thiện các quan hệ xã hội như một sinh vật lịch sử văn hoá Văn hoá là thước đo tính nhân bản trong con người, đức tính phát triển con người như một sinh vật có tính xã hội Do đó, văn hoá hoá tồn tại trong sự tương tác qua lại không ngừng của sự thể hiện bên ngoài của nó
đã được xã hội hoá thông qua các hoạt động người Bằng văn hoá, con người
duy trì các quan hệ xã hội, ngược lại bằng các giá trị, chuẩn mực, con người điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa người này với người khác theo định hướng chung của yêu cầu hoàn thiện mình Con người nắm bắt được văn hoá
các thế hệ trước đó và duy trì sự phát triển các quan hệ xã hội tiếp theo Có những quan hệ văn hoá củng cố sự phát triển xã hội, có những quan hệ văn hoá phản lại sự phát triển xã hội
Trang 30Văn hoá là hình thái ý thức xã hội chịu sự quy định của tồn tại xã hội, sự phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử Nhưng đó không chỉ là sự tác động trực tiếp, đơn giản, mà nó còn là kết quả của sự tác động trải qua nhiều khâu trung gian, bởi nhiều phương tiện, phương diện, lĩnh vực, các quan hệ xã hội và ý thức hệ của nó… thậm chí là các thành tố trong nội tại của chính nền
văn hoá đó [40, 17]
Do chịu chi phối trên cơ sở nội tại của điều kiện kinh tế xã hội, hơn nữa lại phụ thuộc bởi nhiều phương tiện, phương diện, trong đó có các quan hệ xã hội và đặc biệt ý thức hệ và lợi ích mà văn hoá có tính giai cấp Nhưng mặt khác, vì gắn với những nhóm người, cộng đồng, dân tộc cụ thể nên văn hoá còn
có tính dân tộc Cả tính dân tộc và tính giai cấp của văn hoá đều có thể chứa đựng tính nhân loại phổ biến nếu những giá trị văn hoá do giai cấp đó tạo ra chứa nội dung tiến bộ, hợp thời đại
Tóm lại, chỉ có khảo sát sự phát triển của văn hoá từ dòng chảy lịch sử, chúng ta mới có thể hiểu được toàn diện ý nghĩa của nó Thực chất của văn hoá chính là một phạm trù lịch sử, nó thống nhất thực tiễn - hoạt động của con người với tự nhiên và xã hội, là phương thức tồn tại tích cực trong tiến trình phát triển của con người Đồng thời, là sự phát triển năng lực của bản thân con người trong môi trường tồn tại xã hội
Ý nghĩa lịch sử phổ biến của văn hoá tuỳ theo trình độ phát triển của con người mà nó được thể hiện Có thể nói, khái niệm văn hoá dù được phân tích dưới góc độ nào, bằng cách này, cách khác cũng đều nêu bật những đặc trưng mang tính loài của hoạt động Người được của con người thể hiện trong lịch sử
xã hội nhất định
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi có thể hiểu văn hoá như sau:
Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị do con người sáng tạo và tích lũy trên cơ sở thoả mãn nhu cầu tồn tại, phát triển và hoàn thiện của con người trong hoạt động thực tiễn, phản ánh năng lực, trình độ phát triển các lực lượng bản chất Người của mỗi cộng đồng ứng với điều kiện sống Đồng thời, trở thành cái định hình, định hướng đối với toàn bộ đời sống con người qua các giai đoạn lịch sử
Trang 31Quan điểm này phù hợp với quan điểm văn hoá của Unesco, tại hội nghị
thế giới Về chính sách văn hoá vì sự phát triển (1982), khi nói: “Ngày nay văn
hoá có thể được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ
và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các
hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” [35, 24]
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nhận xét: “Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong một quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sự sống dân tộc là văn hoá với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và
sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh các cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [24, 16]
Nhìn chung, văn hoá là cái thể hiện những năng lực bản chất người
“được đào luyện” trong quá trình hoạt động sáng tạo và được vật chất hoá trong các phương thức sống, nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại, phát triển của con người Và rồi, như một thuộc tính quan trọng bậc nhất, văn hoá thâm nhập, chi phối toàn bộ quá trình sống của con người thông qua chính những chức năng cơ bản của nó như; tổ chức, điều chỉnh xã hội, giúp con người giao tiếp và thông tin, cho đến việc giáo dục và đưa con người gia nhập vào cộng đồng xã hội Vì vậy, văn hoá được xem là nền tảng, là động lực, mục tiêu phát triển của xã hội
Do đó, xét đến cùng, “chỉ có thể nói tới văn hoá với nghĩa đích thực của nó ở
nơi nào và khi nào mà bản thân con người trong toàn bộ sự phong phú của các biểu hiện sống của mình, trở thành chủ thể, khách thể và sản phẩm của hoạt
động lao động” [117, 11]
1 1 2 Truyền thống trong văn hoá
Từ truyền thống (tiếng latin là traditio, “hành vi lưu truyền”) là từ động
từ tradere, nghĩa là “chuyển sang cho người khác, giao, trao lại” (theo Trần Văn Đoàn, nó có thêm nghĩa “phân phát”) Truyền thống hàm ẩn cả hai động
Trang 32từ: “trao” và “truyền” Động từ thứ nhất nói đến việc trao hay một vật được
giao theo quy ước hay khế ước giữa các bên Động từ thứ hai nói đến hành vi truyền cho nhau giữa các chủ thể, và chỉ định không những các nội dung mà
cả các quy trình
Thông thường, truyền thống được giải thích: “Đó là những yếu tố của di
tồn văn hoá, xã hội truyền từ đời này qua đời khác và được lưu giữ trong các xã
hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài Truyền thống được thể
hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong
tục tập quán và lối sống… Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội” [35, 25]
Dưới góc độ triết học, truyền thống là sự thể hiện nhất định những mối liên hệ giữa các giai đoạn nối tiếp nhau của một đối tượng, một lĩnh vực đang trong quá trình phát triển và có tính chất tương đối ổn định Nhận thức truyền thống chính là nhận thức một đối tượng nhưng lại đặt nó xuyên suốt trong các giai đoạn lịch sử không đứt đoạn với tất cả những mặt, thuộc tính của nó Truyền thống là “một kí ức lịch sử đầy năng lượng” phản ánh những giá trị cơ bản của văn hoá; biểu hiện như một di sản gìn giữ gương mặt của một dân tộc; như cái “xương sống” nâng đỡ cho nền văn hoá mỗi cộng đồng, dân tộc nhất định
Tuy là “các yếu tố di tồn của văn hoá” song truyền thống trong văn hoá
không thể hiểu là tất cả những gì đã diễn ra trong quá khứ, mà nó chỉ bao hàm
một số yếu tố trong quá khứ được xã hội chấp nhận, lưu giữ, trao, truyền, phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác Nó vừa hiện hữu vừa vô hình nhưng lại thâm nhập và tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Do vậy - về
thực chất, cũng có thể xem “truyền thống là một tập hợp những tư tưởng và
tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng người nhất định được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [35, 26]
Cơ sở để truyền thống tồn tại với tư cách là một yếu tố được lưu truyền,
dù là ở hình thức nào, nó cũng phải thể hiện như là kết quả của sự lựa chọn, cái
được lựa chọn giữa những cái có liên quan đến cuộc sống của con người Một
Trang 33lựa chọn cân nhắc theo nghĩa sự tính toán tới mục đích và phương tiện, “giữa được và mất” Sự lựa chọn đó “không mang sắc thái thị hiếu cá nhân” Nó khác
sự lựa chọn thực phẩm, trang phục, gia súc hay trò giải trí Lựa chọn truyền
thống là lựa chọn một lối sống, là lựa chọn sự hiện hữu của chính bản thân
“Một sự lựa chọn theo nguyên lý của lí trí […] cái gì mà chúng ta xem như là
một phần của cuộc sống” Nói cách khác, cái gì có thể gọi là truyền thống nhất
thiết nó phải được xem xét trên ba khía cạnh: (1) Khi nó trở thành cái thiết yếu của cuộc sống; (2) Khi nó như là một phương tiện để bảo tồn cuộc sống; (3) Nó như là sức mạnh định hướng phát triển cuộc sống và tiếp tục được lựa chọn trong các thế hệ kế tiếp
Truyền thống không thể được nhận thức nếu nó đứng ngoài văn cảnh của các giá trị, bởi lẽ sự hình thành của nó cũng tuân theo mô hình giống như quá trình hình thành giá trị Mặt khác, với tư cách là cái được lựa chọn, nó cũng phá vỡ những quan điểm trước kia coi truyền thống như là một cái gì đó “ràng buộc” và bắt con người phải “tuân thủ” một cách vô điều kiện, và do đó, cũng không phải là một pháo đài bất khả xâm phạm của mỗi nền văn hoá trước những biến động của cuộc sống, nhất là khi dưới lăng kính triết học văn hoá, văn hoá (cũng như truyền thống) được con người quan tâm đến nhiều hơn với tính cách là một thế giới của các giá trị
Nhìn chung, cái gì đó “trở thành một truyền thống không phải vì nó chỉ thuộc về quá khứ hay nó phản ánh tâm trạng của người dân mà thôi, cũng không phải vì nó có lợi ích cho một giai cấp, một xã hội, một cá nhân nhất định nào trong một giai đoạn mà thôi Nó trở thành truyền thống, chính là vì nó đã
và đang phát sinh ra những giá trị đa dạng trong việc gìn giữ thực trạng xã hội, đảm bảo sự ổn định, duy trì cuộc sống gia đình, đáp ứng được ý nghĩa cơ bản của con người về tình đoàn kết và tình thương yêu cũng như đảm bảo được tương lai cho chúng ta… Hơn thế nữa, chúng ta còn thấy tác động của nó trên phạm vi rất rộng, bao gồm các lĩnh vực tinh thần, tâm lý, giáo dục cũng như kinh tế (nữa)” [11, 36 - 37] Có lẽ vì điều này mà đôi khi theo cách nghĩ thông
thường, người ta hiểu truyền thống như là: sức mạnh của tập quán xã hội, được
Trang 34lưu truyền lại và tồn tại ở các lĩnh vực chế độ, tư tưởng, văn hoá, đạo đức; là
yếu tố “nội sinh” mạnh mẽ của mỗi một cộng đồng, cần và phải được lưu giữ
Tuy nhiên, vì được xem xét trên phương diện giá trị, gắn chặt với giá trị (hệ giá trị có tính lịch sử), đồng thời với tư cách là kết quả của sự lựa chọn, là cái có đảm bảo tiếp tục cho sự tồn tại, phát triển của con người qua các thế hệ hay không, nên ý nghĩa của truyền thống phụ thuộc rất nhiều vào thái độ, quan điểm, nhu cầu, thị hiếu… ứng với điều kiện môi trường sống của chủ thể xã hội khai thác nó trong các giai đoạn lịch sử cụ thể Truyền thống không có sự lựa chọn tự nó, nó phụ thuộc vào cái cách con người cần cái gì của quá khứ để xây
dựng hiện tại và cho tương lai của họ P Ănghen từng nhận định: “Truyền
thống là một lực lượng kìm hãm to lớn, nó là vis inertiae (sức ỳ) của lịch sử; nhưng nó chỉ thuần tuý có tính chất thụ động và vì vậy mà chắc chắn sẽ bị đánh tan” (nếu con người có nhận thức khoa học về nó) [35, 27]
Thực chất giá trị của truyền thống nằm ngay trong mối quan hệ về nhu cầu phát triển giữa quá khứ và hiện tại Thêm vào đó, vì giá trị của truyền thống thường không đơn cực, ngoài những giá trị cơ bản và chủ yếu, giá trị có ý nghĩa trực tiếp, nó còn có cả những giá trị gián tiếp và phái sinh… Cho nên, khi đi vào cuộc sống, nó thường là có giá trị không giống nhau, thậm chí mang tính hai mặt Nhìn chung, nó chỉ tiếp tục tồn tại khi nó còn phát huy tác dụng và có
ý nghĩa đối với đời sống trong một giai đoạn lịch sử hoặc đối với một lĩnh vực nhất định Một khi tính hữu ích, giá trị, thẩm quyền… bị suy giảm, bị mất đi hoặc khi nó được đem xem xét trong một lĩnh vực khác thì truyền thống dễ bị rơi vào lãng quên hoặc buộc phải tự biến đổi để tiếp tục tồn tại Do vậy, đứng trước vấn đề ứng xử với truyền thống, nếu yêu cầu phải phủ nhận hoàn toàn hoặc bảo tồn tất cả thì đó đều là những biểu hiện sai lầm, phiến diện trong nhận thức, cũng như trong hoạt động cải tạo hiện thực đối với nó
Truyền thống, ngoài việc mang tính lịch sử, tính ổn định, nó còn mang
tính cộng đồng, thể hiện ở chỗ; truyền thống được bắt nguồn từ những mối liên
hệ trong cuộc sống của con người, được cộng đồng thống nhất lựa chọn trên cơ
sở vì nhu cầu của cộng đồng đó trong mỗi thời kì nhất định Kể từ khi hình thành và được lựa chọn, nó trở thành những cái mang giá trị phổ quát, được nối
Trang 35truyền, rồi tồn tại tương đối ổn định qua các thế hệ Không những vậy, tính cộng đồng còn thể hiện ở chỗ; truyền thống in đậm dấu ấn của nó trong tư tưởng, tình cảm và tính cách của mỗi cá nhân trong mối liên hệ với cộng đồng
và dân tộc Hơn nữa, do được cộng đồng tiếp nhận như một tất yếu, truyền thống dần tách khỏi cội nguồn của nó và trở thành thiêng liêng đối với xã hội nói chung và mỗi con người nói riêng [35, 27]
Thông thường, mỗi nền văn hoá phải thích nghi với môi trường tự nhiên nhất định, theo một truyền thống riêng, hợp với các điều kiện sinh tồn của nền văn hoá ấy Nhưng truyền thống không tự giới hạn ở sự bảo tồn, cũng như những sở đắc trước đó Theo đà của lịch sử, truyền thống có thể tiếp tục tạo ra những giá trị mới hoặc tự “đổi chiều vectơ”, “chuyển hướng công năng” (Nguyễn Bỉnh Quân) hay tích hợp các hiện thể mới bằng cách thích nghi chúng với các hiện thể cũ bằng con đường hiện đại hoá Truyền thống không đơn nhất, cũng như lịch sử không phiến diện chỉ có một sắc thái nào
đó Nó không phải nhất thành bất biến, mà chỉ được nhận ra dần dần, và khi
nói trung thành với truyền thống thì cần hiểu là trung thành với tất cả những phương diện khác nhau của truyền thống để lấy đó làm cơ sở giải quyết các
vấn đề Như vậy, “trong quá trình phát triển, truyền thống không phải là mục
đích Nó chỉ là cơ sở để ta đi tới Và bởi truyền thống cũng có nhiều mặt nên
tiếp tục truyền thống đồng thời cũng có nghĩa là sự lựa chọn”, lựa chọn cái tốt, loại bỏ cái lỗi thời, bổ sung, sửa chữa những khiếm khuyết cho nó Ngược lại, bê nguyên xi truyền thống bằng mọi giá sẽ không làm đời sống tiến lên, có khi lại là hành động giật lùi sự phát triển [88, 54]
Chức năng của truyền thống là chuyển tải các chuẩn mực định hướng giá trị của hành vi và hoạt động nhằm bảo tồn “cốt cách”, “bản sắc” của một nền văn hoá và lối sống nhất định của một cộng đồng Truyền thống thường
được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hoá dưới dạng ngôn
ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận … Thông qua các lễ nghi, phong tục, tập quán… truyền thống dẫn dắt chủ thể vào môi trường văn hoá, định hướng hành vi, hoạt động của họ, rồi thông qua các hành vi, hoạt động ấy
Trang 36đến lượt mình, truyền thống lại được duy trì, bảo tồn, thậm chí cải biến, bổ sung thêm những giá trị mới
Truyền thống tồn tại nhờ giáo dục, mỗi một cộng đồng thường là được
nhận từ thế hệ trước đó, rồi tích luỹ và tái tạo lại nó trong không gian và thời gian xác định Đến lượt mình, họ lại truyền trao truyền cho đời sau những giá
trị được cho là cần thiết Phương thức tác động của truyền thống vừa mang tính
tự nhiên, vừa thông qua sự sàng lọc của chủ thể văn hoá, mặc dù cả hai cách
tác động ấy đều dựa trên uy tín của truyền thống - cái uy tín được chủ thể hoạt động thừa nhận thông qua sự suy ngẫm, tiếp cận giá trị, lựa chọn một cách có cân nhắc Nếu chủ thể văn hoá tiếp nhận truyền thống một cách vô thức hoặc
mù quáng, sẽ dẫn đến sự tác động của truyền thống đó đến các lĩnh vực của xã hội thường chỉ đạt được một ý nghĩa nhất định nào đó, chứ chưa phải là giá trị, thậm chí đôi khi lại phản giá trị
Trong lĩnh vực đời sống, truyền thống thường bị đồng nhất với thói quen,
tục lệ Nhưng dưới góc độ khoa học, truyền thống và thói quen, tục lệ là không
đồng nhất “Thói quen thường là những hành động được lặp đi lặp lại nhiều
lần, nhưng không có ý nghĩa xã hội phổ quát như truyền thống, còn tục lệ thường là do một thế lực của một cộng đồng đặt ra mang tính chất cưỡng chế, tuy không có giá trị về mặt pháp lý, nhưng đôi khi tục lệ còn mạnh hơn luật pháp Dù vậy, tục lệ cũng không trở thành truyền thống, ngay cả khi nó bị lợi dụng bởi một thế lực nhân danh “tập tục xã hội”” [35, 28]
Mặt khác, giữa văn hoá truyền thống và truyền thống văn hoá cũng có sự
khác biệt Văn hoá truyền thống, là toàn bộ hệ thống văn hoá bao gồm văn hoá
vật chất và văn hoá tinh thần của dân tộc tồn tại trong lịch sử Theo nghĩa hẹp,
nó là các loại hình nghệ thuật, mỹ thuật, các ngành nghề cổ truyền và cũng có thể là những hành vi, hoạt động lao động sống của dân tộc, có bề dày trong lịch
sử, đã được khẳng định và bảo tồn qua nhiều thế hệ Trong khi đó, truyền thống văn hoá lại là khái niệm mang tính định tính, bao gồm những giá trị văn hoá đã được khẳng định và tiếp thu trải qua nhiều giai đoạn lịch sử nối tiếp nhau Nó
có thể hiểu theo nghĩa rộng như là những giá trị mà con người đạt được trong toàn bộ hoạt động sản xuất và tinh thần của mình hoặc có thể được hiểu theo
Trang 37nghĩa hẹp như là những giá trị thể hiện từ trong các loại hình văn học, nghệ thuật cho đến những phong tục, tập quán, lối sống Truyền thống có nội dung tương đối ổn định không đứt đoạn trong mạch sống của lịch sử, nó chính là nhân tố tạo nên bản thể văn hoá với những sắc thái riêng, là tinh thần cơ bản của đời sống văn hoá
Ngoài ra, vì truyền thống văn hoá là một phạm trù dùng để chỉ những giá trị cốt lõi, thiết yếu, chủ yếu, cơ bản mang tính đặc thù riêng biệt của mỗi cộng đồng ứng với điều kiện sống của họ, được các thế hệ người trao, truyền trong
lịch sử Cho nên, đôi khi “truyền thống văn hoá” thường được gắn liện với
khái niệm “bản sắc văn hoá” dân tộc Truyền thống văn hoá cũng chính là
dòng tiếp nhận, lưu giữ và tái hiện những giá trị, là sự lựa chọn cách ứng xử và đồng cảm của con người trong một thời đại cụ thể theo bước đi của lịch sử
Tuy được hình thành qua hoạt động lịch sử của con người, song không
phải mọi thứ thuộc về lịch sử đều thuộc về truyền thống Chỉ có những cái được
sao chép, kế thừa mới gọi là truyền thống Truyền thống khác với lịch sử, nó
“không phải là một danh từ hoa mỹ diễn đạt sự áp đặt những mệnh lệnh của lịch sử, như quan niệm của một số người Trong thực tế, truyền thống là cơ sở,
là điều kiện tất yếu cho hoạt động sống của con người
Nói đến truyền thống là nói đến cái đã được định hình trong một không
gian, và được lưu giữ trong tâm thức con người qua thời gian”, nhưng độ dài
thời gian chưa hẳn đã nói lên được phẩm chất của truyền thống, mặc dù khi
nói đến truyền thống, người ta dễ liên tưởng đến những hiện tượng văn hoá –
xã hội đã từng tồn tại trong lịch sử xa xưa, những hiện tượng có độ dài lịch sử
lớn hơn độ dài thông thường của một đời người [10, 7]
Phẩm chất truyền thống chỉ phụ thuộc vào ý nghĩa của nó đối với xã hội
Có những hiện tượng chỉ cần gắn với đời sống trong một vài thập kỉ, không cần lặp đi lặp lại trong hàng ngàn năm, mới gọi là truyền thống Truyền thống gắn với lịch sử chỉ vì nó cần được thẩm định và vì bản thân truyền thống vẫn còn phát huy được tác dụng của nó đối với con người trong một khoảng thời gian dài Độ dài thời gian càng lâu càng phản ánh phẩm chất bền vững của truyền thống và như vậy nó chứng tỏ sự thông minh, sáng suốt đồng thời cũng là năng
Trang 38lực trong việc tạo dựng, tiếp đến là sử dụng và sau đó lưu giữ các giá trị đó qua quá trình sống của con người Hơn nữa, nhờ lịch sử kiểm chứng nó còn nói lên rằng độ tiệm cận của các giá trị đó đã đạt đến đâu hệ giá trị phổ quát Chân - Thiện - Mỹ Còn lịch sử chứa đựng truyền thống trong mình như là một minh chứng cho sức khai phá những năng lực bản chất người qua các giai đoạn của con người ở góc độ văn hoá
Truyền thống cũng không đồng nhất với giá trị truyền thống Nói đến
truyền thống là nói đến phức hợp những tư tưởng, tình cảm, những tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử,… của một cộng đồng người
đã hình thành trong lịch sử, trở nên ổn định và được lưu truyền qua các thế hệ Truyền thống không phải chỉ gồm những cái tốt, cái hay mà còn có cả những cái lỗi thời, không còn tác dụng, thậm chí có tính tiêu cực Còn nói đến giá trị truyền thống chính là nói đến các giá trị đã được thẩm định, bền vững được trao, truyền trong lịch sử Giá trị truyền thống thể hiện ra như là một mặt, một
thuộc tính của truyền thống, hàm nghĩa dương tính, thiên về các giá trị tốt đẹp,
phổ quát và có tác dụng tích cực đối với xã hội, thậm chí nó còn là những biểu tượng lí tưởng mà chủ thể văn hoá khao khát hướng tới Phân biệt giữa truyền thống và giá trị truyền thống là cần thiết, nó giúp ta tránh được thái độ “hữu khuynh”, cũng như “tả khuynh” khi xem cả hai, nghĩa là vừa tránh sự cố chấp, bảo thủ, thiếu phê phán những cái đã từng tồn tại và gây cản trở cho lịch sử Đồng thời, cũng tránh được thái độ thái quá, phủ định sách trơn mọi giá trị của mình Tuy nhiên, để đánh giá đúng vai trò của giá trị truyền thống nhất thiết
phải tuân thủ quan điểm phát triển Xét theo quan điểm này thì hệ thống các giá
trị truyền thống là một hệ thống mở, nghĩa là nó không ngừng được bổ sung và
nâng lên tầm cao mới phù hợp với thời kì lịch sử của nó với tất cả yêu cầu về thời đại, về nhu cầu, về trình độ phát triển của cộng đồng đó Có như vậy mới
bỏ qua được suy nghĩ về giá trị truyền thống như là cái bất biến Nói chung, dù
là truyền thống hay giá trị truyền thống chúng đều có điểm chung là những giá trị được lưu giữ qua lịch sử, có nội dung phong phú, đa dạng Song, nếu muốn tồn tại trước tiên chúng phải vận động theo những phát biến của xã hội
Trang 39Như vậy, từ truyền thống văn hoá, khuynh hướng chung của con người là
“chắt lọc”,“tinh luyện”,“đi tìm”,“hướng về” những giá trị tốt đẹp (trí tuệ và đạo
đức) và như vậy, mà sản sinh ra những giá trị truyền thống Khoảng cách từ
truyền thống đến giá trị truyền thống, chẳng qua đó là sự phán xét về ý nghĩa, giá trị thực tiễn của các di tồn văn hoá đó (tức truyền thống) bền vững đến mức nào qua những cuộc sát hạch nghiêm khắc của thực tiễn sống động của con người kinh qua lịch sử
Dù là cái chứa đựng cả những mặt tích cực lẫn tiêu cực, và đành rằng, người ta không chỉ thuần tuý lấy truyền thống cũng như lịch sử để phán xét những vấn đề đương đại Song trên thực tế, truyền thống luôn là “giá đỡ” quan trọng của sự vận động đời sống; là “lối thoát” cho những lo lắng của xã hội và đôi khi nó còn là “liều thuốc” cho những “cú sốc” của xã hội hiện đại Đây đó, người ta so sánh ưu dụng của truyền thống như “bàn tay nhung” làm xoa dịu những mâu thuẫn ngày càng nhiều và có xu hướng căng thẳng đang diễn ra trong xã hội hiện đại Không những thế, nó còn là cái có thể “gợi ý thông minh cho tương lai” của con người Cho nên, dù có “ác cảm” với quá khứ cũng không nên có thái độ thờ ơ, hằn học hoặc phỉ báng truyền thống Trong chiến
lược phát triển một quốc gia, người ta đã phải thừa nhận: Sẽ “không một nước
nào có thể phát triển tiến lên nếu như nó khinh miệt quá khứ của riêng nó, quá khứ quyết định quá trình và sự phát triển của nó” [35, 31] Dù muốn hay
không, truyền thống là cái đã khắc dấu ấn của tổ tiên trên mỗi bước đi của chúng ta Vấn đề là ở chỗ, phải làm sao để nhận thức được chân giá trị của truyền thống, tiếp đến là tìm kiếm phương thức lưu giữ, tái tạo, phát huy nó sao cho phù hợp với hiện tại của mình Đây cũng là điều kiện tiên quyết đối với sự thành bại của một quốc gia trong việc đề ra các giải pháp văn hoá mỗi thời kì Điều này càng có ý nghĩa quan trọng khi mà mạch nối của truyền thống đang
có những khuynh hướng mất dấu, đứt đoạn và trở nên nhạt nhoà đối với đời sống con người trong xã hội hiện đại Thực tế cho thấy, có nhiều truyền thống tốt đẹp đang trở nên quá mỏng manh trước nguy cơ bị tàn phá của cơ chế xã hội hiện đại Đến đây, có lẽ ngoài việc phải thận trọng và đánh giá đúng mực, cũng như tìm cách khắc chế, bổ sung những khiếm khuyết của truyền thống, thì cũng
Trang 40đã đến lúc phải khẩn trương bảo tồn, phục hồi những giá trị truyền thống tốt đẹp Nếu chậm trễ, nhiều truyền thống tốt đẹp sẽ chỉ còn trong hoài niệm Đúc kết bài học của thập kỉ quốc tế về phát triển văn hoá cho thấy rằng: “Khi tính nhân bản của truyền thống không bị lãng quên, khi truyền thống được chú trọng khai thác ở khía cạnh nhân văn của nó, thì truyền thống không mâu thuẫn với các giá trị hiện đại Trong trường hợp đó, nếu không ăn nhập hoặc không hoá thân vào các giá trị hiện đại thì chí ít, sự có mặt của truyền thống cũng là sự bổ sung, làm cho xã hội hiện đại trở nên đa sắc hơn, phong phú hơn”, dù có một thực tế hiển nhiên là: “Việc chú trọng khai thác khả năng tác động tích cực của truyền thống dù muốn hay không cũng không hề làm mất đi tính hai mặt hoặc những phản giá trị của nó” [10, 21]
Rõ ràng, truyền thống vẫn là một điểm tựa quan trọng cho sự phát triển của xã hội hiện đại Và thực tiễn, người ta đã quen với việc vận dụng những giá trị của truyền thống vào việc giải quyết các vấn đề về văn hoá Thậm chí, là cả trong kinh tế, chính trị và các lĩnh vực xã hội Không phải là không có lí khi các đại biểu như J.G.Hecder, M.Weber luôn mong muốn đi tìm truyền thống để làm cứu cánh cho những vấn đề hiện tại và tương lai Song, lại nói như C Mác:
“Người ta làm sống lại những người đã chết để ca ngợi những cuộc đấu tranh mới, chứ không phải để nhai lại những cuộc đấu tranh cũ, là để đề cao trong tưởng tượng một nhiệm vụ nhất định, chứ không phải là để trốn tránh việc giải quyết nhiệm vụ ấy trong thực tế, là để tìm lại cái tinh thần của cách mạng, chứ
không phải là để buộc cái bóng ma của nó phải lang thang một lần nữa” [35,
33] Đó là một lời cảnh báo, vì nếu không hiểu rõ mục đích và yêu cầu phát
triển của hiện tại thì việc khôi phục những giá trị của quá khứ sẽ không đem lại hiệu quả như mong muốn, vì những mặt tiêu cực của chúng sẽ có điều kiện phát triển Hiện tại sẽ mất đi sự tiếp dẫn nguồn lực phát triển của quá khứ, thế
ổn định bền vững của tương lai không được duy trì Bởi lẽ: “Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như một quả núi lên đầu óc những người đang sống Và ngay khi con người có vẻ như là đang ra sức tự cải tạo mình và cải tạo
sự vật, ra sức sáng tạo ra một cái gì đó chưa từng có, thì chính họ lại sợ sệt cầu viện đến những linh hồn của quá khứ” [35, 34]