1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi xã hội kinh tế văn hóa người nùng ở đồng nai (nghiên cứu trường hợp người nùng ở huyện thống nhất tỉnh đồng nai)

243 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 28,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên mọi lĩnh vực xã hội – kinh tế – văn hóa của tộc người Nùng khi đến vùng đất Đồng Nai sinh sống đã có ít nhiều biến đổi do quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với người Việt, người

Trang 1

Tp Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2010

Trang 2

MÃ SỐ: 60.22.70

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS PHAN THỊ YẾN TUYÊT

Tp Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2010

Trang 3

Số trang

DẪN LUẬN 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Cơ sở lý luận và giả thuyết nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Bố cục của đề tài 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI 15

1 Cơ sở lý luận 15

2 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 21

3 Người Nùng ở huyện Thống Nhất 27

Tiểu kết 40

CHƯƠNG 2: BIẾN ĐỔI XÃ HỘI CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI 41

1.Quan hệ xã hội 41

2.Dòng họ 47

3.Gia đình 50

Tiểu kết 71

CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI KINH TẾ CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI 73

1 Săn bắt và hái lượm 73

2 Trồng trọt 74

3 Chăn nuôi 78

Trang 4

Tiểu kết 86

CHƯƠNG 4: BIẾN ĐỔI VĂN HÓA CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI 88

1.Văn hóa vật chất 88

1.1.Ẩm thực 88

1.2.Trang phục 93

1.3.Nhà ở 98

1.4.Phương tiện đi lại và vận chuyển 103

2.Văn hóa tinh thần 104

2.1.Ngôn ngữ 104

2.2.Tín ngưỡng, tôn giáo 107

2.3.Văn học – nghệ thuật dân gian 121

Tiểu kết 125

KẾT LUẬN 127

TÀI LIỆU THAM KHẢO 131

PHỤ LỤC 135

Phụ lục 1: Hình ảnh 135

Phụ lục 2: Danh mục các thành phần dân tộc Đồng Nai 168

Phụ lục 3: Nhật ký điền dã 169

Phụ lục 4: Biên bản phỏng vấn 177

Trang 5

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tộc người cùng sinh sống với nhau, trong đó có những dân tộc có nguồn gốc bản địa nhưng cũng có những dân tộc từ quốc gia khác di cư đến Địa bàn cư trú của các dân tộc phân bố từ Bắc tới Nam, từ miền núi cao đến đồng bằng, trung du, miền biển …Các cộng đồng dân tộc này cư trú đan xen với nhau trên cùng một vùng, lãnh thổ

Người Nùng có dân số đông thứ 7 ở Việt Nam, gồm 856.4121 người và riêng tại tỉnh Đồng Nai dân số của của họ đứng thứ 3, gồm 18.3862 người xếp sau người Việt và người Hoa Người Nùng có lịch sử di dân vào miền Nam từ năm 1954 Trên mọi lĩnh vực xã hội – kinh tế – văn hóa của tộc người Nùng khi đến vùng đất Đồng Nai sinh sống đã có ít nhiều biến đổi do quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với người Việt, người Hoa, người Tày và các tộc người khác ở Đồng Nai

Chọn đề tài: “Biến đổi xã hội - kinh tế – văn hóa người Nùng ở Đồng

Nai” qua nghiên cứu trường hợp về người Nùng ở huyện Thống Nhất, tỉnh

Đồng Nai làm luận văn cao học Chúng tôi muốn bước đầu tìm hiểu về tộc danh, về thành phần tộc người của người Nùng vì người ta vẫn còn sử dụng tộc danh Tàu Nùng hay Hoa Nùng Tìm hiểu những biến đổi xã hội – kinh tế – văn hóa để thấy được sự tác động của môi trường sinh thái tự nhiên và quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa tác động đến cuộc sống của tộc người Nùng khi họ di cư từ miền Bắc vào miền Nam sinh sống từ năm 1954 và những thời điểm khác cho đến nay

1 Tổng điều tra dân số năm 1999

2 Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, số liệu điền dã 09/2007

Trang 6

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 Ý nghĩa khoa học

Ý nghĩa khoa học của luận văn nhằm góp phần cung cấp thông tin, bổ sung nguồn tư liệu cho nghiên cứu về tộc người Nùng Ngoài ra, còn đóng góp cho việc nghiên cứu dân tộc, văn hoá, tôn giáo tín ngưỡng và các lý thuyết về quá trình tộc người Nùng, vùng văn hoá, giao lưu tiếp biến giữa các cộng đồng tộc người

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những thông tin có được của đề tài có thể góp phần tham vấn cho các

cơ quan chức năng của tỉnh Đồng Nai trong việc hoạch định những chính sách, quản lý … cho phù hợp với tình hình của cộng đồng người Nùng tại địa phương

Nguồn tư liệu của đề tài có thể sử dụng trong công tác nghiên cứu khoa học, học tập và giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng và đặc biệt là những nơi có cộng đồng người Nùng sinh sống như Đồng Nai, Đăk Lăk, thành phố Hồ Chí Minh …

Người Nùng đã được đề cập đến từ xa xưa trong các thư tịch cổ Trung Quốc và các bộ sử của Việt Nam (khoảng thế kỷ XVIII) Trong các thư tịch

cổ của Trung Quốc, phần nghiên cứu và ghi chép về người Nùng ở nông thôn thông qua việc khảo sát các nhóm người Nùng ở các địa phương khác nhau tại

Trang 7

Trung Quốc như Quảng Nam, Khai Hóa, Quảng Tây….Điều này cho thấy rằng trước khi di cư vào Việt Nam, người Nùng đã sống thành từng nhóm ở các địa phương khác nhau và mang những nét đặc trưng của mỗi địa phương

ấy

Tư liệu Hán văn Việt Nam ghi chép về tộc người Nùng sớm nhất là

“Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn (nhà bác học Việt Nam ở thế kỷ XVIII),

ông đã ghi nhận sự có mặt của người Nùng ở Tuyên Quang Kế đến trong

cuốn “Đại Nam Nhất Thống Chí” (Quốc sử quán triều Nguyễn năm 1882)

cũng có đề cập về người Nùng (trong phần tỉnh Cao Bằng)

Tài liệu tìm hiểu về người Nùng trước 30/04/1975 chưa có công trình chuyên khảo mà chỉ giới thiệu khái quát về người Nùng trong các công trình nghiên cứu chung về các nhóm Tày – Nùng, Tày – Nùng – Thái, hoặc các dân tộc miền núi phía Bắc Các thông tin này là nguồn tư liệu cho luận văn để tìm hiểu về người Nùng đương thời

Những nhà nghiên cứu người Pháp đầu thế kỷ XIX đã có các ghi chép về tộc người Nùng trong một số báo cáo nghiên cứu chung các tộc người ở vùng núi phía Bắc Việt Nam Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu người Pháp trong giai đoạn này phần lớn là khảo sát để phục vụ cho các mục đích quân sự hoặc chính trị, vì vậy họ chưa khai thác sâu vào tất cả những lĩnh vực của đời sống các tộc người, nhất là đời sống văn hóa tinh thần của các tộc người ở phía Bắc trong đó có người Nùng Vào giai đoạn này, tác giả Việt Nam – Bùi Đình căn

cứ vào kết quả điều tra của người Pháp, đã cho ra mắt công trình “Tìm hiểu

đồng bào miền núi Việt Nam” vào năm 1950, trong đó có đề cập đến người

Nùng sinh sống ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta

Từ sau năm 1954, việc tìm hiểu về người Nùng được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm trước Các hội nghị bàn về việc xác định thành phần dân

Trang 8

tộc ở miền Bắc được tổ chức quy mô, có sự tham gia của các nhà dân tộc học của nước ta, đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu về các dân tộc Việt Nam, trong đó có dân tộc Nùng Đó là công trình nghiên cứu của những nhà dân tộc học hay nhà những nhà hoạt động chính trị như: Đặng Nghiêm Vạn, Lục Văn Pảo, Lã Văn Lô, Bùi Tịnh, Nông Trung, Nông Quốc Chấn…

Năm 1966 có công trình tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số của các giảng viên Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và các nhà nghiên cứu như: Bùi Khánh Thế, Đinh Văn Đức, Đinh Lê Thư, Hà Lê Du, Nguyễn Văn Dựng…

Đó là công trình điều tra cơ bản xác định tiếng nói chuẩn của ngôn ngữ Tày – Nùng ở 6 tỉnh Việt Bắc: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang Kết quả nghiên cứu của công trình này là sự ra đời của hơn

30 bản đồ về diện mạo ngôn ngữ Tày – Nùng ở Việt Bắc

Năm 1968, cuốn sách “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng,

Thái” của hai tác giả Đặng Nghiêm Vạn và Lã Văn Lô đã giới thiệu được

những nét tổng quát người Nùng ở Việt Nam Mối quan hệ giao lưu giữa các tộc người Tày, Nùng, Thái trên cùng khu vực cư trú là các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

Trong báo cáo dân tộc học được đăng trên tạp chí Dân tộc học số 3/1973,

một số nhà nghiên cứu đã đề cập đến người Nùng trong các bài viết như: “Về

tiêu chí xác minh thành phần dân tộc, về tên gọi và về vấn đề hòa hợp dân tộc” của Bùi Tịnh và Cầm Trọng; “Xác định thành phần dân tộc ở miền Bắc nước ta” của Lâm Xuân Đình, Lục Văn Pảo và Nông Trung; “Dùng ba tiêu chuẩn chính để xác định một dân tộc ở nước ta” của Tô Ngọc Thanh, nêu lên

những kiến nghị nên hợp nhất các nhóm địa phương của tộc người Nùng thành một tộc người Tộc danh Nùng là tên chung, kèm theo sau là tên các nhóm địa phương như Nùng An, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Inh…

Trang 9

Bên cạnh đó, kiến nghị cho rằng các nhóm địa phương Nùng có trình độ kinh

tế, xã hội, văn hóa chênh lệch nhau nên cần có các biện pháp phù hợp

Năm 1974, có cuốn “Từ điển Tày – Nùng - Việt” của các tác giả Hoàng

Chí, Hoàng Văn Ma và Lục Văn Pảo với số lượng từ ngữ là 9.000 từ, trong đó

có nhiều phương ngữ Từ điển bao gồm những từ cơ bản thông dụng trong đời sống dân tộc Nùng và đây cũng là dạng từ điển đối chiếu, lấy tiếng Tày – Nùng làm cơ sở, rồi dịch ra tiếng Việt bằng những cụm từ tương đồng Cuốn

từ điển là một trong những công cụ hỗ trợ đối với các nhà dân tộc học cho việc tìm hiểu về dân tộc Nùng

Sau khi đất nước Việt Nam hoàn toàn giải phóng (30/04/1975), Đảng và Nhà nước đã tạo những điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu các dân tộc, trong đó có người Nùng Vào giai đoạn này, có một số bài viết tìm hiểu

về người Nùng của các tác giả như: Nguyễn Văn Huy, La Công Ý, Nguyễn Văn Dự, Đỗ Thúy Bình…được đăng rải rác trên Tạp chí Dân tộc học

Trong thập niên 90 của thế kỷ XX, một số bài viết về người Nùng đã được phổ biến trên các tạp Dân tộc học, Ngôn ngữ và đời sống, Văn hóa nghệ

thuật Năm 1992, cuốn “Dân tộc Nùng ở Việt Nam” của tác giả Hoàng Nam,

là một công trình chuyên khảo về người Nùng Cuốn sách này đã được dịch

sang tiếng Anh vào năm 2008 với tựa đề “The Nung Ethnic Group of Việt

Nam” Đây là một công trình tìm hiểu về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống của

tộc người Nùng, cung cấp cho người đọc cái nhìn khái quát về tộc người Nùng ở Việt Nam

Vào năm 1993 cuốn “Quan hệ giữa các tộc người trong một Quốc gia

Dân tộc” của Đặng Nghiêm Vạn đã khảo sát chuyên sâu về lịch sử tộc người

Nùng khi họ di cư vào Việt Nam theo Nùng Chí Cao (thế kỷ XI) và di cư nhiều nhất là vào thời Thái Bình Thiên Quốc (cách đây 300 – 400 năm) Kế

Trang 10

đến là những bài nghiên cứu về người Nùng chuyên sâu về từng lĩnh vực trong đời sống như ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán… Nổi bật là tác giả Phạm Ngọc Thưởng có một số bài viết về ngôn ngữ của Người Nùng như:

“Xưng hô giữa vợ – chồng trong gia đình người Tày - Nùng”, “Đại từ nhân xưng Khỏi (tôi) trong tiếng Tày Nùng”, “Những kiêng kỵ trong xưng hô của người Nùng”, “Đặc điểm cách xưng hô trong tiếng Nùng” Cũng trong năm

này có khóa luận tốt nghiệp đại học của Hoàng Văn Tâm ngành Lịch sử,

Trường đại học KHXH & NV thành phố Hồ Chí Minh với đề tài: “Những

biến đổi xã hội người Nùng ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai từ năm 1954 đến nay” Tác giả đã tìm hiểu về những biến đổi xã hội của người Nùng tại

huyện Thống Nhất từ khi di cư từ miền Bắc vào miền Nam từ năm 1954 Sự biến đổi về xã hội làm tác động đến sự biến đổi về kinh tế, văn hóa của người Nùng tại địa phương

Năm 1999, có cuốn “Các dân tộc Tày, Nùng với tiến bộ kỹ thuật trong

nông nghiệp” của Trần Văn Hà Đây là công trình nghiên cứu để làm rõ

những nét đặc trưng về tính đa dạng trong cơ cấu kinh tế và những kinh nghiệm sản xuất của người Nùng chinh phục vùng đất thung lũng tại vùng

Việt Bắc nước ta Cũng trong năm này, cuốn “Phong tục tập quán các dân

tộc Việt Nam” tập hợp nhiều tác giả, trong đó giới thiệu phong tục tập quán

của người Nùng trong hôn nhân (tr 412 – 416), tang ma (tr 642 – 644), thờ cúng trong gia đình (tr.756 – 758)

Năm 2001 tác giả La Công Ý với cuốn “Bức tranh văn hóa các dân tộc

Việt Nam” đã tổng hợp các nét đặc trưng của văn hóa các dân tộc sinh sống

tại Việt Nam trong đó có dân tộc Nùng Công trình này thể hiện sự phong phú

và đa dạng của văn hóa các dân tộc ở Việt Nam, trong đó có văn hóa của người Nùng với những nét đặc trưng của mình Cũng trong năm này, cuốn

Trang 11

“Địa chí Đồng Nai” trong phần Văn hóa – Xã hội (tập 5) đã tổng hợp khái

quát về tình hình chung của người Nùng tại Đồng Nai

Vào năm 2002 cuốn “Văn hóa và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn

ngữ Thái ở Việt Nam” là công trình tập hợp những bài viết của một số tác giả

đã có những công trình nghiên cứu cũng như các tư liệu quan trọng về người Nùng Đây là tài liệu nghiên cứu về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Thái – Kađai tại Việt Nam và trong công trình này có nhiều bài viết về cộng đồng người Nùng tại Việt Nam được tập trung chính tại các địa phương trong vùng

văn hoá Việt Bắc ở nước ta Các tác giả gồm : Mông Ký Slay với bài “Tày

Nùng, Tày – Nùng Hay…”; Vương Toàn với bài “Nùng hay Nồng”; Vương

Hùng với bài “Thái – Thổ – Tày – Nùng”; Chu Xuân Giao với bài “Từ trường

hợp bản Phia chang (Hoà An, Cao Bằng) suy nghĩ về lịch sử tộc người Nùng

An ở Đông Bắc Việt Nam”; Bế Thanh Tuyền với bài “Về thăm thân nhân trong dịp tết Nguyên đán của người Tày, người Nùng là một mỹ tục”… Qua

những bài này giúp người đọc hiểu thêm về các khía cạnh khác nhau trong đời sống hàng ngày của tộc người Nùng ở miền Bắc nước ta

Năm 2003, có khóa luận tốt nghiệp đại học của Nguyễn Thị Tuyết Hương khoa Đông Phương học, Trường ĐH KHXH & NV thành phố Hồ Chí

Minh với đề tài:“Tìm hiểu cộng đồng người Nùng ở Tân Bình” Tác giả đã có

những nghiên cứu khái quát về cộng đồng người Nùng ở Việt Nam nói chung

và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, nêu lên những biến đổi của người Nùng trong quá trình di cư từ miền Bắc vào miền Nam và đến địa bàn quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh

Năm 2004, công trình “Tộc người và văn hóa tộc người” của Ngô Văn

Lệ bao hàm những kiến thức chuyên ngành Dân tộc học – Nhân học về tộc

Trang 12

người, văn hóa tộc người Đó là cơ sở lý luận cho quá trình tiếp cận thực tế nghiên cứu người Nùng của chúng tôi

Năm 2005 trong cuốn “Việt Nam văn hóa và du lịch”, Trần Mạnh

Thường đã có cái nhìn về văn hóa của người Nùng qua khía cạnh phát triển

du lịch Cũng trong năm này, luận văn cao học của Nguyễn Thị Nguyệt ngành Văn hóa học, Trường ĐH KHXH &NV thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên

cứu đề tài: “Lễ hội cầu an, cầu siêu của người Hoa tại Đồng Nai” Nội dung

bao gồm các khảo sát về tộc người Hoa tại Đồng Nai và cũng có đề cập đến mối quan hệ gần gũi giữa người Nùng với người Hoa tại Đồng Nai Đó là việc người Hoa và người Nùng khi sinh sống gần nhau có thể sử dụng chung ngôn ngữ, các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo …

Vào năm 2006, Ngô Đức Thịnh trong cuốn “Văn hóa, văn hóa tộc người

và văn hóa Việt Nam” trong đó có hai bài viết: “Tổng quan về tộc người Tày, Nùng” và “Mấy ghi chép về ngôi nhà cổ truyền của người Nùng Phản Xiềng”

tác giả đã có những khái quát chung về tộc người Nùng và mối quan hệ hữu

cơ giữa người Tày và Nùng Đặc biệt trong năm 2006, cuốn “Người Nùng”

của Hoàng Hoa Toàn là một công trình nghiên cứu chuyên về người Nùng tại Việt Nam Những nét đặc trưng cơ bản về kinh tế, xã hội, văn hóa của người Nùng được tác giả đề cập cụ thể Nội dung cuốn sách này chủ yếu nghiên cứu

về người Nùng đang sinh sống tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam Cũng trong năm này có niên luận của Ngô Thanh Lâm, sinh viên khoa Nhân học, Trường

ĐH KHXH & NV thành phố Hồ Chí Minh với đề tài: “Tìm hiểu hoạt động

kinh tế nông nghiệp và văn hóa của cộng đồng người Hoa tại xã Sông Xoài, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hiện nay” Công trình có nhiều

thông tin tìm hiểu liên quan đến nhóm người Nùng khi di cư từ miền Bắc vào

từ năm 1954

Trang 13

Năm 2008 trong đề tài: “Các nhóm cộng đồng người Hoa ở tỉnh Đồng

Nai – Việt Nam” của tác giả Trần Hồng Liên (Viện nghiên cứu Phát triển bền

vững vùng Nam bộ) đã đề cập đến nhóm người Hoa Hải Ninh tại Đồng Nai Tác giả cho rằng về nhóm người Hoa này thường được biết đến với tên gọi là Hoa Nùng hay Tàu Nùng Qua việc làm rõ về nhóm người Hoa này có thể thấy được qua trình biến đổi xã hội – kinh tế – văn hóa người Nùng khi vào miền Nam sinh sống, đây cũng là vấn đề mà đề tài chúng tôi quan tâm tìm hiểu

Năm 2009 trong khóa luận tốt nghiệp đại học của Hồ Ngọc Trí, sinh viên khoa Nhân học, Trường ĐH KHXH & NV thành phố Hồ Chí Minh với đề tài:

“Người Hoa tại xã Hòa Hiệp, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” đã

có tìm hiểu về nhóm người Nùng di cư từ miền Bắc vào miền Nam từ năm

1954

Tìm hiểu về người Nùng qua lịch sử nghiên cứu vấn đề như trên cho thấy rằng cộng đồng cư dân này rất được giới học thuật quan tâm Người Nùng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, như là một dân tộc thống nhất với các nhóm địa phương hoặc khảo sát riêng từng nhóm địa phương để thấy được những điểm khác biệt giữa các nhóm và từ đó tạo nên những nét đặc trưng độc đáo trong đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa của họ

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về người Nùng ở Việt Nam gần như chỉ tập trung vào địa bàn miền núi ở phía Bắc Việt Nam, còn ít công trình của các nhà khoa học đề cập đến những nhóm người Nùng di cư đến các tỉnh phía Nam Việt Nam từ năm 1954 Đây là những nhóm địa phương mà đời sống đã có ít nhiều thay đổi khi giao lưu và tiếp xúc với các cộng đồng dân tộc cùng cộng cư Người Nùng sống ở miền Nam chắc chắn sẽ có những biến

Trang 14

đổi trong các lĩnh vực xã hội - kinh tế - văn hóa để phù hợp với hoàn cảnh và môi trường tại các tỉnh miền Nam

Qua thực tế khảo sát tìm hiểu về người Nùng tại địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai chúng tôi gặp nhiều khó khăn do có ít tài liệu nghiên cứu

về người Nùng ở miền Nam Do vậy khi thực hiện luận văn cao học chúng tôi chủ yếu dựa vào nguồn tài liệu điền dã do chúng tôi thu thập được trong thời gian khảo sát tại địa phương

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cộng đồng người Nùng hiện đang sinh sống trên địa phận huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Những vấn đề chúng tôi tập trung tìm hiểu là quá trình tộc người, sự biến đổi xã hội - kinh

tế – văn hóa, sự giao lưu tiếp biến văn hoá của cộng đồng người Nùng tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

Người Nùng sinh sống tại huyện Thống Nhất xét trên hộ khẩu có nhiều nguồn gốc tộc người khác nhau như gốc người Hoa, gốc người Tày, gốc người Sán Dìu Trong quá trình khảo sát, tìm hiểu người Nùng tại huyện Thống Nhất, chúng tôi dựa vào các văn bản quản lý nhân hộ khẩu của chính quyền địa phương và sự tự nhận về thành phần dân tộc của người dân để xác định xác định thành phần dân tộc của đối tượng nghiên cứu

Việc nghiên cứu theo hướng này nhằm trả lời những câu hỏi chúng tôi đặt ra trong phần câu hỏi giả thuyết của chúng tôi

4.2 Phạm vi nghiên cứu về không gian

Chúng tôi chọn không gian khảo sát cho đề tài là hai xã Bàu Hàm II (ấp Ngô Quyền, ấp Nguyễn Thái Học), xã Lộ 25 (ấp 3 và 4) thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, vì đây là những nơi có cộng đồng người Nùng cư trú

Trang 15

đông, lâu đời từ năm 1954 Bên cạnh đó, không gian này còn thể hiện những yếu tố của sự giao lưu và tiếp biến văn hóa của người Nùng với các tộc người cùng cư trú

Ngoài hai xã điểm để tập trung khảo sát về người Nùng, chúng tôi còn đến tìm hiểu thêm tại các xã Sông Thao và Bàu Hàm thuộc huyện Trảng Bom

để có cái nhìn tổng quát về người Nùng đang sinh sống tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Mối quan hệ tộc người Nùng tại huyện Thống Nhất không bị hạn chế về không gian hành chính của địa phương

4.3 Phạm vi nghiên cứu về thời gian

Đề tài tìm hiểu về cuộc sống cộng đồng người Nùng ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai từ năm 1954 đến nay, vì năm 1954 là thời gian người Nùng bắt đầu di cư vào miền Nam sinh sống

Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng tìm hiểu quãng thời gian khi cộng đồng người Nùng còn sinh sống tại vùng văn hóa Việt Bắc nước ta

5 Cơ sở lý luận và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận và các lý thuyết tiếp cận

Chúng tôi vận dụng các khái niệm làm cơ sở lý luận cho hướng tiếp cận

tìm hiểu của đề tài như: khái niệm tộc người và văn hóa tộc người, Tộc danh

người Nùng, không gian văn hóa tộc người vùng văn hóa, biến đổi/thay đổi xã hội, sự chấp nhận xã hội Các lý thuyết về: vùng văn hóa, giao lưu tiếp biến văn hóa, văn hóa sinh thái – tộc người, đặc thù luận lịch sử

Những khái niệm, lý thuyết này chúng tôi sẽ nêu cụ thể ở CHƯƠNG 1

của luận văn

Trang 16

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Cộng đồng người Nùng được xếp vào nhóm ngôn ngữ Tày – Thái

nhưng có những nơi người ta gọi họ gán với tộc người Tày thành Tày – Nùng hoặc xét về nguồn gốc với tên gọi là Tàu Nùng hay Hoa Nùng, vậy thì họ là

ai? Và nên gọi tộc danh của họ như thế nào cho đúng? Trong quá trình khảo sát tìm hiểu về người Nùng tại huyện Thống Nhất, chúng tôi được biết có tồn tại danh xưng Hoa Nùng hay Tàu Nùng qua quá trình lịch sử phát triển của người Nùng nơi đây

Quá trình cố kết tộc người của cộng đồng người Nùng khi di dân từ miền Bắc đến miền Nam diễn ra như thế nào? Khi người Nùng đến sinh sống tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai họ đã tái tạo và thích nghi với không gian văn hoá của mình như thế nào? Quá trình tái tạo và thích nghi này có điều gì mới thông qua quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá với các dân tộc cùng cư trú trên địa bàn không? Và điều kiện về tự nhiên, môi trường sinh thái ở Đồng Nai có tác động gì đến sự biến đổi kinh tế, xã hội, văn hoá của cộng đồng người Nùng ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai?

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện làm luận văn, chúng tôi thực hiện điền dã Dân tộc học – Nhân học, trong khi đi điền dã chúng tôi tiến hành các phương pháp như: phương pháp quan sát tham dự, phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn hồi cố…

- Phương pháp quan sát tham dự là phương pháp đặc trưng, chuyên biệt

và tất yếu của ngành Dân tộc học Trong phương pháp này, người nghiên cứu phải tham gia trực tiếp vào đời sống của cộng đồng người mà mình nghiên cứu Chúng tôi đã quan sát, tham dự một số nghi lễ tín ngưỡng của người Nùng tại huyện Thống Nhất như: cúng tổ tiên, cúng then mừng thọ, cúng then giải hạn, cúng đám ma… và các hoạt động sinh hoạt kinh tế, xã

Trang 17

hội của người Nùng Trên cơ sở những ghi chép về các hoạt động này, chúng tôi đã tổng hợp thành nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp tiếp cận các đối tượng nghiên cứu để hỏi và nghe họ trả lời về vấn đề nhà nghiên cứu quan tâm Trong phương pháp này, người nghiên cứu hỏi khá kỷ về những vấn đề khác nhau, có khi phải hỏi nhiều lần, vào những nơi hoặc thời điểm khác nhau, điều mà phỏng vấn định lượng qua bảng hỏi không giải quyết hết được Các đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu tại địa bàn hai xã Bàu Hàm II và Lộ 25 bao gồm 20 người là: 01 thầy cúng, 02

bà then, 01 phó chủ tịch xã, 01 cán bộ tôn giáo – dân tộc xã, 02 trưởng ấp

và các người dân làm những nghề nghiệp khác nhau trong cộng đồng Nùng tại địa phương

- Phương pháp phỏng vấn hồi cố (oral history) là phương pháp phỏng vấn lịch sử theo lời kể Trong phương pháp này, sẽ nghiên cứu từ lời kể (narrative researes) nó thể hiện những trải nghiệm, bộc lộ trong những cảm nhận mà cá nhân từng sống qua và họ kể lại Chúng tôi áp dụng phương pháp này để phỏng vấn các cộng tác viên (CTV), vì muốn biết cuộc sống

đã qua của họ (hoặc cuộc sống mà thế hệ cha ông của họ) lúc còn ở Việt Bắc, Bình Thuận … những nơi trước họ đến sinh sống tại huyện Thống Nhất

Bên cạnh các phương phương pháp đặc thù của ngành Dân tộc học – Nhân học, chúng tôi có sử dụng các phương pháp của những ngành học khác như: Sử học, Bảo tàng học, …

- Phương pháp Lịch sử: Trong luận văn này chúng tôi vận dụng phương pháp tìm hiểu người Nùng dưới góc độ lịch đại (thời gian) và đồng đại (không gian) qua các tài liệu thư tịch và đặc biệt là tài liệu sử học có đề cập đến người Nùng

Trang 18

- Phương pháp so sánh đối chiếu: Do người Nùng cư trú ở cả hai miền Bắc và Nam của đất nước Việt Nam, nên chúng tôi vận dụng phương pháp này để tìm hiểu sự biến đổi cũng như sự đa dạng về mặt văn hóa của các nhóm trong cộng đồng người Nùng

- Phương pháp Bảo tàng: Trong quá trình nghiên cứu luận văn này, chúng tôi được dịp kết hợp làm việc với Đoàn sưu tầm hiện vật về dân tộc Nùng do Bảo tàng tỉnh Đồng Nai tiến hành tại địa phương Tiếp xúc với các hiện vật trong đời sống của người Nùng còn lưu giữ lại từ khi họ di cư vào miền Nam từ năm 1954 đến nay Đây là điều kiện để chúng tôi hiểu thêm về đời sống xã hội – kinh tế - văn hóa của người Nùng trước đây khi còn ở miền Bắc

7 Bố cục của đề tài

Chúng tôi chia bố cục đề tài theo kết cấu của nội dung – gồm 4 chương: chương 1 là những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về tình hình địa bàn cư trú của người Nùng ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai; từ chương 2 đến chương 4 là lần lượt khảo sát các biến đổi về xã hội, kinh tế, văn hóa của nhóm người Nùng ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tình hình cụ thể về các chương của luận văn như sau:

- Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI

- Chương 2: BIẾN ĐỔI XÃ HỘI CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN THỐNG

Trang 19

 Tộc người và văn hóa tộc người

- Tộc người là khái niệm thuộc ngành Dân tộc học (Ethnology) cũng như Nhân học (Anthropology), là đối tượng nghiên cứu của Dân tộc học, Nhân học

Nhà nghiên cứu Iu.V.Bromlei định nghĩa tộc người như sau:

“Tộc người được hiểu là một tập đoàn người ổn định có mối liên hệ chung về địa bàn cư trú, ngôn ngữ, kinh tế và đặc điểm sinh hoạt văn hóa Mỗi tộc người đều có nguồn gốc ý thức về tộc người của minh” 3

Định nghĩa này ảnh hưởng sâu sắc đến trường phái nghiên cứu Dân tộc học của Liên Xô và Việt Nam4

- Văn hóa tộc người: “Văn hóa tộc người được hiểu là bao gồm tổng

thể các yếu tố về văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, giúp cho việc phân biệt tộc người này với tộc người khác Chính văn hóa tộc người là nền tảng nẩy sinh và phát triển ý thức tộc người” 5

Về sự khác nhau giữa văn hóa tộc người và văn hóa của tộc người, văn

hóa của tộc người là “Tổng thể những thành tựu văn hóa thuộc về một tộc

người cụ thể nào đó Tổng thể những thành tố văn hóa do tộc người cụ thể

3

Ngô Văn Lệ (2004), Tộc Người và Văn Hóa Tộc Người, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, trang 21

4

Ngô Văn Lệ (2004), Tlđd, trang 23

5 Ngô Văn Lệ (2004), Tlđd, trang 318

Trang 20

sáng tạo hay tiếp thu, vay mượn của các tộc người khác trong quá trình lịch sử” 6

Việc làm rõ các khái niệm này để chúng tôi dựa vào đó để tìm hiểu về người Nùng và văn hóa của họ

 Không gian văn hóa tộc người

Không gian văn hóa tộc người “Chính là không gian sinh tồn của tộc

người đó, nó gắn với vùng lãnh thổ mà cộng đồng dân cư của tộc người đó sinh sống Trong xã hội nguyên thủy hay một số trường hợp xã hội hiện nay, lãnh thổ tộc người vẫn còn tồn tại, thì chính lãnh thổ tộc người là không gian văn hóa của tộc người đó

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển xã hội và sự di chuyển dân cư thì phần lớn các trường hợp lãnh thổ tộc người bị phá vỡ, tạo nên tình trạng cư trú xen cài giữa các tộc người trên cùng một lãnh thổ, do vậy, không gian văn hóa tộc người không còn nguyên vẹn, tạo nên tình trạng đan xen Đó cũng chính là một trong những xung lực tạo nên sự tiếp biến, hỗn dung văn hóa, một hiện tượng phổ biến trong bức tranh chung văn hóa nhân loại hiện nay”7

Chúng tôi tìm hiểu khái niệm này để nghiên cứu khi người Nùng bắt đầu di cư từ Trung Quốc sang nước ta, sau đó họ sống tương đối tập trung ở vùng Việt Bắc Trong quá trinh di dân về phía Nam của Việt Nam, không gian văn hóa tộc người Nùng đã thay đổi và họ sống xen kẽ với các tộc người khác nên không gian văn hóa đó sẽ có sự thích nghi Luận văn của chúng tôi tập trung tìm hiểu về không gian văn hóa của tộc người Nùng tại địa bàn huyện Thống Nhất là vì vậy

6

Ngô Văn Lệ (2004), Tlđd, trang 318

7 Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ, trang 6

Trang 21

 Tộc danh người Nùng

Có rất nhiều ý kiến giải thích về tộc danh này, theo Ngô Đức Thịnh:

“Tộc danh Nùng có thể có nguồn gốc từ dòng họ Nùng, một dòng họ có thế lực ở vùng Tả Giang và Hữu Giang tỉnh Quảng Tây thời nhà Đường” 8

Các nhà nghiên cứu thuộc Viện Dân tộc học cho rằng: “Nùng (Nồng)

vốn là tên gọi của một dòng họ trong 4 dòng họ lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc và trở thành tên gọi của dân tộc vào khoảng thế kỷ XV Tên gọi dòng họ Nùng (Nồng) cũng đã có ở Việt Nam từ lâu đời” 9

Hai tác giả Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn trong công trình “Sơ lược

giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” cũng khẳng định về

tộc danh Nùng: “Tộc danh Nùng chắc chắn là bắt nguồn từ tên dòng họ Nùng,

một trong 4 dòng họ đông có thế lực lớn là Nùng, Hoàng, Chu, Vy, đã thống trị vùng Tả, Hữu giang tỉnh Quảng Tây gọi là Tây nguyên Man dưới đời Đường” 10 Bên cạnh đó, họ còn cho rằng: “Tộc danh Nùng bắt nguồn từ dòng

họ Nùng đã có lúc phổ biến rộng rãi ở miền Tây Nam Trung Quốc đi đôi với

sự bành trướng thế lực của dòng họ Nùng khoảng thế kỷ X, XI”11

Các nhóm người Nùng cũng được phân biệt dựa trên hai nguyên tắc: tên gọi tộc danh gắn với quê hương sinh sống của họ (Nùng An, Nùng Inh, Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo…) , tên gọi tộc danh gắn với đặc trưng về trang phục của họ (Nùng Hu Lài, Nùng Khen Lài, Nùng Slủ Tử…)

“Như vậy, quan điểm giải thích về nguồn gốc tộc danh Nùng gắn liền

với quá trình lịch sử của tộc người này, tức là thuần túy về lãnh thổ tộc người

từ thế kỷ XI, trở về trước khi mà biên giới Việt Trung chưa phân định thật rạch ròi Đến thế kỷ XVII, XIX khi mà sự phân chia ranh giới quốc gia đã trở

Trang 22

nên rõ ràng hơn thì tộc danh các nhóm Nùng lại được giải thích gắn liền với các địa danh trước khi cộng đồng này có mặt tại Việt Nam”12

Biến đổi/thay đổi xã hội (Social Change)

Thay đổi xã hội dùng để “Chỉ những trạng thái vận động khác nhau:

tiến bộ hoặc thoái bộ, tiến bộ hoặc cách mạng, bộ phận hoặc toàn bộ… Những thay đổi xã hội thường gắn với điều kiện khách quan của tồn tại xã hội

và những chủ quan của ý thức xã hội hoặc với sự kết hợp của hai điều kiện

đó Những thay đổi xã hội thường diễn ra khi những trật tự xã hội cũ tỏ ra lỗi thời và trong lòng xã hội xuất hiện những nhân tố mới đến một mức độ nào

đó Thay đổi xã hội có thể diễn ra từ từ hoặc nhảy vọt, có hay không có bạo lực Thuật ngữ này cũng áp dụng cho những thay đổi văn hóa do hai nguyên nhân chính: tiếp xúc văn hóa (thích nghi văn hóa) và phát minh Thay đổi xã hội với các phát minh thường diễn ra theo những chu kỳ lớn (đồ đá mới, phục hưng, cách mạng công nghiệp …) Trong các xã hội công nghiệp, thay đổi xã hội gần như diễn ra liên tục và những thay đổi kỹ thuật thường dẫn tới những thay đổi văn hóa phi vật thể”13

Chúng tôi muốn tìm hiểu những thay đổi về đời sống xã hội của người Nùng khi di cư từ miền Bắc vào miền Nam từ năm 1954 và những thời điểm khác nhau sau đó đã làm tác động đến đời sống kinh tế - văn hóa của người Nùng

 Sự chấp nhận xã hội (Social Acceptance)

Chấp nhận xã hội “Đây là một quá trình thay đổi xã hội, trong đó có

việc học hỏi cách tân, chấp nhận cách tân như là giá trị và sửa đổi kiến thức văn hóa của một người để tiếp cận cách tân đó”14

12

Trần Văn Hà (1999), Các dân tộc Tày, Nùng với tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp, Nxb KHXH, tr 36

13

Nguyễn Khắc Viện (1994), Từ điển Xã hội học, Nxb Thế giới, trang 25

14 James Spradley & W Mc Curdy (2000), Comfotimily and Conflict, Reading in cultural anthropology,

Allyn and Bacon (Ngô Phương Lan dịch)

Trang 23

Qua luận văn của mình, chúng tôi muốn tìm hiểu sự thay đổi về môi trường sống của người Nùng do di cư từ miền Bắc vào miền Nam Họ chấp nhập sự thay đổi của xã hội và tự học hỏi, cách tân và thích nghi như thế nào

để phù hợp với những thay đổi của môi trường sống mới

1.2.Các lý thuyết tiếp cận

 Lý thuyết về vùng văn hoá:

“Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn

cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó đã từ lâu có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoặc văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác” 15

Dựa trên lý thuyết này chúng tôi so sánh sự khác biệt về văn hóa vùng của vùng văn hóa Việt Bắc nơi có cộng đồng người Nùng gốc sinh sống với tiểu vùng văn hóa Đông Nam Bộ nơi có cộng đồng người Nùng di cư vào sinh sống từ năm 1954 đến nay

 Lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa

“Giao lưu và tiếp biến văn hóa (acculturation) là quá trình các cộng

đồng tộc người “gặp nhau”, tiếp xúc với nhau trên cơ sở đó “tiếp nhận” những giá trị văn hóa là động lực làm cho nhiều yếu tố văn hóa truyền thống luôn được điều chỉnh và biến đổi cho phù hợp

Đó là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa

15 Ngô Đức Thịnh (2004), Tlđd, trang 64

Trang 24

của một hoặc cả hai nhóm Giao lưu tiếp biến văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng”16

Mỗi tộc người đều có những nét văn hóa riêng biệt của mình, từ điều kiện như di cư, giao tiếp, trao đổi, sinh sống gần nhau… Các tộc người sẽ có quá trình trao đổi, học hỏi văn hóa lẫn nhau để tiếp thu, trao đổi những sắc thái văn hóa của nhau Quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá đã tạo nên những khác biệt cho các cộng đồng tộc người tại các vùng văn hóa Người Nùng khi đến sinh sống tại vùng đất Đông Nam bộ mà cụ thể là huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai từ năm 1954 đến nay Khoảng thời gian hơn 55 năm sinh sống gần với các tộc người Việt, Hoa, Tày, Sán Dìu… tại vùng đất Đồng Nai đã ít nhiều tạo nên sự giao lưu văn hóa của người Nùng

 Lý thuyết về văn hóa sinh thái – tộc người:

Văn hóa sinh thái là các dạng thức văn hóa hình thành và phát triển tương ứng với những môi trường sinh thái nhất định như sinh thái biển đảo, sinh thái đồng bằng châu thổ, sinh thái thung lũng, sinh thái cao nguyên… Ở nước ta có rất nhiều loại hình sinh thái tương ứng với vùng cư trú của các tộc người Những tộc người sinh sống lâu đời tại một môi trường sinh thái nhất định sẽ hình thành một dạng thức văn hóa gọi là văn hóa sinh thái – tộc người

Văn hóa sinh thái – tộc người theo Ngô Đức Thịnh: “Sinh sống lâu đời trong

một môi trường sinh thái quen thuộc nên mỗi tộc người đã hình thành những kiểu thích ứng với môi trường nhất định, tạo nên những truyền thống sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa riêng” 17

Người Nùng khi sinh sống tại vùng văn hóa Việt Bắc là địa bàn cư trú tương ứng với sinh thái núi rừng, thung lũng Văn hóa sinh thái – tộc người

Trang 25

Nùng mang tính chất của văn hóa vùng rừng núi, thung lũng gắn liền với canh tác nông nghiệp nương rẫy và trồng lúa nước

Trong Quá trình di dân từ vùng văn hóa Việt Bắc đến vùng văn hóa Nam Bộ, cụ thể là ở tiểu vùng văn hóa Đông Nam Bộ, người Nùng cư trú ở địa hình đồi núi thấp và những bình nguyên bằng phẳng…

Sự thay đổi về môi trường sinh thái làm tác động đến đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa của tộc người Nùng Người Nùng phải thay đổi những phong tục tập quán vốn có để dần thích nghi với môi trường sinh thái mới

 Lý thuyết về đặc thù luận lịch sử (historical particularision):

Theo F Boas và A Kroeber:“Văn hóa của mỗi dân tộc được hình

thành trong quá trình lịch sử, nó gắn liền với môi trường xã hội nhất định và trong điều kiện địa lý cụ thể”18

Người Nùng di dân từ vùng Việt Bắc đến tiểu vùng Đông Nam bộ trong quãng thời gian từ năm 1954 đến nay, họ đã có những biến đổi về văn hóa do thay đổi về môi trường xã hội và điều kiện địa lý

Trên đây là một số khái niệm khoa học và lý thuyết mà chúng tôi vận dụng trong nội dung luận văn này

2 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Tỉnh Đồng Nai nằm ở cực Bắc miền Đông Nam Bộ, phía Đông giáp

tỉnh Bình Thuận, Đông Bắc giáp Lâm Đồng, Tây Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp tỉnh Bình Dương và phía Tây Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Vị trí tỉnh Đồng Nai quan trọng vì là cửa ngõ phía Đông của Thành phố

Hồ Chí Minh – một trung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam, là điểm nối giữa Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộ vùng Đông Nam Bộ bởi các

18 Nguyễn Văn Tiệp (2009), Chương 1, Giáo trình Nhân học đại cương, Khoa Nhân học, Trường ĐH

KHXH & NV TP HCM

Trang 26

tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, quốc lộ 51 và tuyến đường sắt Thống Nhất Tỉnh Đồng Nai là một vùng trung du, nằm ở độ cao khoảng 100m so với mực nước biển

Khí hậu Đồng Nai mang tính chất gió mùa cận xích đạo, vì vậy có thể xem đây là một lợi thế quan trọng trong phát triển trồng trọt theo hướng thâm canh, tăng vụ Mặt khác, điều kiện khí hậu cũng tạo nhiều thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế khác như giao thông, du lịch, thủy sản,…

Lượng mưa ở Đồng Nai lớn nhất vùng Đông Nam Bộ Nhìn chung khí hậu Đồng Nai ít có những hiện tượng thời tiết xấu và cơ bản là điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp

Đồng Nai có nhiều loại đất có chất lượng tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cao su,

cà phê, hoặc các loại cây ăn quả… Nhiều vùng đất có kết cấu chặt, bền vững, thuận lợi để bố trí cho các công trình xây dựng công nghiệp

Hiện nay Đồng Nai có 11 đơn vị hành chính gồm: thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và các huyện Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Trảng Bom (tách ra từ huyện Thống Nhất), Xuân Lộc, Cẩm Mỹ (tách ra

từ huyện Xuân Lộc), Long Thành và Nhơn Trạch

“Năm 2007, Đồng Nai có 433 359 hộ với 2.358.232 người trong đó có 1.204.634 nữ, 1.602.407 nam Với lượng dân số này thì dân số Đồng Nai chiếm 16,6% dân số của vùng Đông Nam Bộ và 2,6% dân số cả nước

Đồng Nai là địa bàn cư trú của trên 30 dân tộc, trong đó người Kinh (chiếm trên 92% dân số) kế đến người Hoa (chiếm 4,7%) và các dân tộc khác

như Nùng, Stiêng, Chơ-ro, Khơ-me, Chăm, Mạ, Ê-đê, Tày, Thái,…”19 Đặc điểm chung của đồng bào các dân tộc ít người là sống rải rác ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng giáp ranh giữa các địa phương tỉnh Hiện nay, các nền văn

19

Báo cáo của Cục Thống Kê tỉnh Đồng Nai năm 2007, tư liệu điền dã tháng 9/ 2007

Trang 27

hóa của các dân tộc ít người này đang có nguy cơ mất dần các giá trị văn hóa truyền thống

Huyện Thống Nhất là huyện có vị trí nằm giữa tỉnh Đồng Nai Từ

thành phố Hồ Chí Minh dọc theo xa lộ Hà Nội (tuyến đường từ thành phố Hồ Chí Minh – Phan Thiết) đến huyện Thống Nhất khoảng 60 km

Bản đồ hành chính huyện Thống Nhất – tỉnh Đồng Nai

(Nguồn http://dongnai.org/ )

“Huyện Thống Nhất là huyện bán trung du của tỉnh Đồng Nai, cách

thành phố Biên Hòa 22 km về phía Đông, phía Bắc giáp huyện Định Quán, phía đông giáp huyện Long Khánh, phía Tây Bắc giáp thị xã Vĩnh An (huyện

Vĩnh Cửu), Tây Nam giáp huyện Trảng Bom” 20

Đây là một vùng đất trù phú màu mỡ, khí hậu, thiên nhiên tương đối

ôn hòa Địa hình chủ yếu của huyện là đồi thấp theo kiểu lượn sóng có độ cao nâng dần theo hướng Tây Nam, Đông Bắc

20 Phòng Thống Kê huyện Thống Nhất , tư liệu điền dã vào tháng 9/ 2007

Trang 28

Huyện có hai loại đất chính: loại thứ nhất là đất đỏ bazan hình thành do dung nham của các núi lửa hoạt động cách đây hàng ngàn năm để lại (như núi

Võ Dõng); loại thứ hai là nhóm đất phát triển trên phù sa cổ hình thành do bồi

tụ của các sông Đồng Nai, Rạch Dong, Sông Buông Các loại đất này thích hợp với việc trồng các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, tiêu, điều…

và các loại cây ăn quả như sầu riêng, chôm chôm, mít, xoài…

“Từ năm 2003 đến nay, theo Quyết định số 97/CP vào ngày 21/08/2003 của Thủ tướng chính phủ Huyện Thống Nhất được chia thành 10 đơn vị hành chính: Xuân Thiện, Xuân Thạnh, Bàu Hàm II, Gia Tân I, Gia Tân

II, Gia Tân III, Gia Kiệm, Quang Trung, Lộ 25 và Hưng Lộc Dân số toàn huyện có 27.189 hộ với 150.758 khẩu (người) Trong đó có 136.043 tín đồ tôn giáo, chiếm 90,23% dân số toàn huyện Trong đó người theo Công giáo 80,05%; Phật giáo 17,79%; còn lại 2,16% là tín đồ của các tôn giáo khác như Cao Đài, Tin Lành, Islam…”21

21 Phòng Thống kê huyện Thống Nhất, tư liệu điền dã 09/2007

Trang 29

* Khu vực tiến hành khảo sát về người Nùng (2 xã Bàu Hàm II và Lộ 25)

Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai

(Nguồn http://www.vietecon.org/sedec/solieu/bando/m-dongnai.htm )

Trang 30

Thế mạnh của huyện Thống Nhất là cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày như đậu nành, bắp, cà phê, tiêu, thuốc lá, điều, chuối … Những ngành nghề thủ công nghiệp như đan lát, mây tre, đồ gỗ, vật liệu xây dựng, chế biến thực phẩm cũng phát triển

Thống Nhất là huyện trẻ so với các huyện, thành phố trong tỉnh Đồng Nai Lịch sử chính thức thành lập huyện mang tên Thống Nhất là vào tháng 10/1973, theo thời gian địa giới hành chính của huyện có nhiều thay đổi Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, địa bàn huyện thuộc hai huyện Vĩnh Cửu và huyện Xuân Lộc trong kháng chiến chống Mỹ, chính quyền Sài Gòn lập thành 3 Quận Đức Tu, Kiệm Tân, Xuân Lộc Hiện nay, huyện Thống Nhất được tách thành 2 huyện là Trảng Bom và Thống Nhất từ năm 2003

Về thành phần tộc người, ngoài người Châu ro, Stiêng là các tộc người bản địa thì tại huyện Thống Nhất còn có người Việt, người Hoa, người Nùng Người Nùng di cư đến đây vào những thời điểm khác nhau Vào đầu thế kỷ

XX, người Pháp bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa, họ thành lập công ty lâm nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp (tại Đồng Nai hiện nay) Công ty này đã tiến hành tuyển mộ thêm công nhân từ miền Bắc, miền Trung vào để trồng và khai thác cây cao su, khai thác rừng …

Việc di dân đến Thống Nhất lập nghiệp đã làm cho cư dân nơi đây ngày càng đông đúc dần lên, xóm làng ngày càng mở rộng

“Từ sau hiệp định Geneve vào năm 1954, hơn 150.000 đồng bào miền Bắc, đa số là dân theo đạo Thiên Chúa được chính quyền Sài Gòn đưa vào định cư theo trục lộ số 1 và số 20 Từ những trại định cư ban đầu, xóm làng bắt đầu được mọc lên, dân cư đông đúc, trù phú dần lên Đến năm 1972, hàng ngàn đồng bào từ miền Trung, miền Bắc di cư vào khu vực Trảng Bom, Hố Nai, Gia Kiệm…Họ thành lập các làng Quảng Biên, Quảng Đà, điều này

Trang 31

càng làm tăng thêm dân số của huyện Thống Nhất tăng theo cơ học từ sau năm 1954 gồm cả 3 miền: Trung, Nam, Bắc Thành phần dân tộc cũng thêm mới, cùng với tộc người Châu ro, Stiêng bản địa thì nay có thêm người Việt, Hoa, Nùng, Tày, Sán Dìu…”22

Khi người Pháp đến vùng đất này khai thác thuộc địa và tiến hành mộ phu thì làng xóm mới được hình thành Từ sau năm 1954 thì dân số huyện Thống Nhất tăng nhanh theo cơ học do chính sách di dân từ miền Bắc vào miền Nam của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ Người Nùng cũng bắt đầu di dân vào miền Nam sinh sống từ thời điểm này

Môi trường sinh thái của vùng đất huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai đã tác động đến sinh hoạt trong cuộc sống thường ngày của cộng đồng cư dân di

cư từ miền Bắc vào từ năm 1954, trong đó có người Nùng Trước sự thay đổi

về môi trường sống mới, người Nùng cũng phải dần thay đổi đời sống xã hội – kinh tế - văn hóa của mình để phù hợp

Sự biến đổi của người Nùng đã gặp ít nhiều thuận lợi và khó khăn Thuận lợi vì có nhiều đất đai để khai hoang, canh tác, nguồn đất đỏ bazan thích hợp cho việc trồng trọt, khi hậu ít biến động,… Bên cạnh đó môi trường mới cũng gây khó khăn đến việc thay đổi tập quán canh tác sản xuất, việc lựa chọn cây trồng để phù hợp,…

3 Người Nùng ở huyện Thống Nhất

Việt Nam là một quốc gia có nhiều tộc người cùng sinh sống, trong đó

có những dân tộc có nguồn gốc bản địa nhưng cũng có những dân tộc có nguồn gốc từ quốc gia khác di cư đến Các cộng đồng dân tộc cư trú đan xen trên cùng một vùng, lãnh thổ Chính điều này tạo nên quá trình giao lưu tiếp

22 Huyện ủy Trảng Bom và Thống Nhất (2003), Lịch sử Đảng bộ huyện Thống Nhất, trang 17

Trang 32

biến văn hóa, kinh tế, xã hội và sự biến đổi trong đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng dân tộc

Trong 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc Nùng đứng thứ 7 gồm 856.412 người về dân số (theo thống kê tổng điều tra dân số năm 1999) Văn hoá cộng đồng người Nùng là một phần cấu thành nên nền văn hoá Việt Nam phong phú và đa dạng Từ lâu, không ít nhà khoa học Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu về tộc người Nùng nhưng chủ yếu chỉ tập trung nghiên cứu ở vùng văn hoá Việt Bắc Việt Nam, nơi có người Nùng cư trú lâu đời từ khi họ di cư từ tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc sang Việt Nam

Người Nùng là một dân tộc ít người, phân bố chủ yếu ở vùng Việt Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh Tư liệu cho rằng các nhóm Nùng cùng với các nhóm Tày, Thái nằm trong khối Bách Việt Vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, xưa kia ở lưu vực sông Cầu và sông Hồng: nước Âu Lạc (với vị thủ lĩnh là An Dương Vương - Thục Phán) đã ra đời, trong đó người Nùng – Can là một thành phần

“Các nhà nghiên cứu người Pháp thuộc ER 300 của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) đã coi Choang Nam là người Nùng Choang Bắc mới là Choang, trong khi đó coi Nùng ở Việt Nam là Nùng” 23

Người Nùng di cư nhiều vào Việt Nam trong những thế kỷ gần đây

“Những gia phả sách cúng, sách hát mà người Nùng còn giữ lại được cho

thấy rõ người Nùng hiện cư trú trên lãnh thổ Việt Nam khoảng 10 - 12 đời người tức là vào khoảng 250 đến 300 năm nay” 24 Một trong những bằng

23 Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam – Viện Dân Tộc Học (1992), Các Dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam, Biên

soạn và xuất bản dưới sự tài trợ của Toyota Foundation – Tokyo – Japan, trang 49

24 Hoàng Văn Tâm (1993), Những biến đổi xã hội người Nùng ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai từ năm

1954 đến nay, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Lịch sử - Trường ĐH KHXH & NV TP HCM, trang 6

Trang 33

chứng cụ thể cho thấy rõ người Nùng đến Việt Nam chưa lâu lắm do những đặc điểm phân bố cư trú của họ

“Giống người Nùng đều là người 12 thổ châu ở Tiểu Trấn Yên, Quy

Thuận, Long Châu, Điền Châu, Phủ Châu, Thái Bình, Lôi Tử Thành và Hường Vũ thuộc Trung Quốc, làm nghề cày cấy, trồng trọt cùng chịu thuế khóa lao dịch, mặc áo vằn vải xanh, cắt tóc, trắng răng, có người trú ngụ đã vài ba đời, đổi theo tập tục người Nam, quan bản thổ thường cấp cho họ một

số ruộng làm khẩu phần, bắt họ chịu binh suất Các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên đều có giống người này”25

Đại bộ phận người Nùng ở nước ta là những người di cư sang từ tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc Người Nùng di cư theo từng nhóm một để vào Việt Nam sinh sống Nguyên nhân của những cuộc di dân đó chủ yếu là do bị áp bức bóc lột nặng nề của chính quyền phong kiến ở Trung Quốc, nhất là bị đàn

áp, tàn sát đẫm máu sau những cuộc khởi nghĩa không thành công của những nhóm người Nùng Bên cạnh đó, nạn cướp bóc cùng với việc thiếu ruộng đất canh tác cũng thúc đẩy họ đi tìm nơi sinh sống mới

Tại miền Bắc Việt Nam “Trong thời kỳ chế độ phong kiến, thực dân và

đế quốc, các nhóm người Nùng đã diễn ra quá trình phân ly, tính cố kết tộc người hết sức chậm chạp Sự tồn tại các nhóm địa phương của người Nùng ở các tỉnh miền Bắc với những tên gọi khác nhau, những sự khác biệt trong ngôn ngữ, trong văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần đã nói lên điều

đó Các nhóm địa phương đều tự nhận mình là người Nùng nhưng giữa nhóm này và nhóm khác không hiểu nhau Chẳng hạn người Nùng Phàn Slình,

25 Lê Qúy Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, Nxb Văn hóa thông tin, trang 14

Trang 34

Nùng An, Nùng Lòi không thể trao đổi với nhau bằng tiếng nói riêng của mỗi nhóm”26.

Sự khác biệt trong ngôn ngữ riêng của họ có khi là từ vựng, nhưng chủ yếu là ngữ âm Trong khi đó tiếng nói của một số nhóm địa phương người Nùng lại giống tiếng Tày Giữa người Tày và người Nùng có thể trao đổi với nhau bằng tiếng nói riêng của mình mà vẫn hiểu nhau

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước Việt Nam ngày nay “Các nhóm

người Nùng có xu hướng cố kết với tốc độ ngày càng tăng, tên gọi các nhóm địa phương Nùng đang từ từ mất đi chỉ còn lại tộc danh Nùng, đồng thời xu hướng cố kết thêm với các tộc người khác sống gần gũi với người Nùng trở nên gắn bó”27 Ví dụ: người Nùng có các quan hệ ngày càng bền chặt với người Tày, người Hoa

Người Nùng ở miền Bắc có rất nhiều nhóm địa phương mà người ta có

thể phân biệt qua trang phục hoặc gốc gác của họ như: “Nùng Khèn Lài (ống

tay áo ráp vải khác màu), Nùng Hu Lài (đội khăn màu chàm có nhiều chấm trắng), Nùng Slử Tỉn (mặc áo ngắn ngang mông), Nùng An (Quê Châu An Kiết), Nùng Inh (quê Châu Long Anh), Nùng Oi (Quê Châu Hạ Lôi), Nùng Cháo (Quê Long Châu), Nùng Phàn Slình (Quê Châu Vạn Thành)…”28

Năm 1954, thành phần dân cư Nùng di cư vào miền Nam cũng khá phức tạp, họ có nguồn gốc cư trú ở các tỉnh miền Bắc như: Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Tuyên, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Bắc, Quảng Ninh Họ di cư vào Nam chủ yếu vì các lý do chính là: do tác động của chiến tranh, chính trị

Hoàng Văn Tâm, Tlđd, trang 7

28 Hoàng Hoa Toàn, Tlđd, trang 12

Trang 35

Người Nùng di cư vào huyện Thống Nhất chủ yếu có nguồn gốc là các nhóm Nùng ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam di cư từ Trung Quốc cách đây hơn

300 năm thời kỳ Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc, thành phần những nhóm này phức tạp và đa dạng Hiện nay tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tộc danh Nùng được gọi chung từ các nhóm Nùng khác nhau Tuy nhiên vẫn còn nhiều trường hợp họ tự nhận lẫn lộn giữa tộc danh Nùng, Tày, Hoa, Sán Dìu trong các cuộc điều tra dân số

Theo Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, dân số của người Nùng vào năm

2007 là 18.368 người Còn số liệu thống kê mới từ cuộc điều tra tháng 04/2009 vừa qua tuy chưa chính thức công bố nhưng nếu vẫn tương tự số lượng người như trên có thể xem người Nùng là một cộng đồng người có dân

số đông sau người Việt và Hoa tại điạ bàn tỉnh Đồng Nai

Người Nùng tới đất Đồng Nai cư trú sớm nhất là từ sau Hiệp định Geneve năm 1954, trong đó một bộ phận là lính sư đoàn 5 do tướng người Nùng là Voòng A Sáng chỉ huy Những người Nùng di dân thuộc nhiều nhóm địa phương khác nhau Lúc đầu khi mới vào miền Nam sinh sống, Sư đoàn 5 đóng quân tại Sông Mao – Sông Lũy (thuộc tỉnh Bình Thuận ngày nay), khoảng năm 1955 thì bộ phận dân tộc này mới di chuyển đến tỉnh Đồng Nai

Ở vùng đất mới, do hoàn cảnh sống mới mẻ người Nùng không còn phân biệt các nhóm địa phương rõ rệt như ở miền Bắc, mà giữa họ đã dần dần diễn ra quá trình cố kết tộc người với nhau

Tại Đồng Nai, người Nùng sinh sống tại các huyện: Thống Nhất, Trảng Bom, Xuân Lộc, Định Quán và một số ít tại phường Tân Phong, thành phố Biên Hoà Trong thành phố và các huyện trên thì người Nùng tập trung sống

Trang 36

nhiều ở địa bàn huyện Thống Nhất mà cụ thể ở hai xã Bàu Hàm II và Lộ 25

với 2.098 khẩu/416 hộ 29

Người Nùng di dân vào miền Nam sinh sống, giai đoạn năm 1954 cùng với những người Việt theo Công giáo Họ cộng cư với nhau tại những nơi được chỉ định của chính quyền Sài Gòn Quá trình di dân vào một vùng đất mới lạ đối với họ là một trong những yếu tố tác động đến quá trình biến đổi

xã hội - kinh tế – văn hóa của tộc người Nùng

Bộ phận người Nùng di dân đến huyện Thống Nhất ngay từ những năm

1954 – 1955 chủ yếu cư trú khá tập trung tại ấp Ngô Quyền và ấp Nguyễn Thái Học, xã Bàu Hàm II, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai (lúc đó ấp Ngô Quyền và ấp Nguyễn Thái học, thuộc xã Dầu Giây, quận Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh)

CTV - Ờ thì vào năm 1954 gia đình chúng tôi đến miền Nam đầu tiên là tại Sông Mao – Thuận Hải (thuộc tỉnh Bình Thuận bây giờ), sau đó chúng tôi chuyển tiếp đến sinh sống tại ấp Nguyễn Thái Học, xã Bàu Hàm II, huyện Thống Nhất này từ năm 1957

PV - Tại sao ông lại chọn huyện Thống Nhất này làm nơi lập nghiệp của mình? CTV - À, lúc đó ở chỗ này có tuyển công nhân cao su nên tôi đến đây làm việc thôi

(Trích biên bản PV 2)

Năm 1976, theo chính sách di dân đi kinh tế mới của Nhà nước ta, một

số ít bộ phận người Nùng từ các nơi khác trong tỉnh Đồng Nai đến khu vực xã

Lộ 25 hiện nay khai hoang lập nghiệp Lúc đó vùng đất này còn hoang sơ, nhiều rừng rậm Những hộ người Nùng cùng với người Tày, người Việt cùng khai phá đất đai để canh tác nông nghiệp tại nơi này

29 Khảo sát năm 2008: người Nùng ở xã Bàu Hàm II là 1.164 khẩu/244 hộ; xã Lộ 25 là 934 khẩu/172 hộ

Trang 37

PV - Ông đến địa bàn xã Lộ 25, huyện Thống Nhất này sinh sống từ năm nào ạ? CTV - Tôi đến đây theo diện đi kinh tế mới của Nhà nước đến đây lập nghiệp từ năm 1976 Lúc đó chỗ này toàn là rừng rậm không à, chỉ có mấy ngôi nhà sống với nhau thôi

(Trích biên bản PV 1)

Như vậy, quá trình di dân của người Nùng có thể phân làm các mốc thời gian đó là giai đoạn sau hiệp định Geneve năm 1954, giai đoạn năm 1975 thống nhất đất nước và giai đoạn sau chiến tranh biên giới Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1979

Nguyên nhân chung tác động lớn đến các cuộc di dân này là do tình hình chính trị của đất nước tác động và do điều kiện phát triển kinh tế tại vùng đất mới thu hút người Nùng tại miền Bắc tìm đến

Nguyên nhân chính khiến cho người Nùng di cư đến huyện Thống Nhất quãng thời gian từ năm 1983 đến nay là do nơi này có điều kiện phát triểnkinh

tế Những người Nùng đến xã Lộ 25, huyện Thống Nhất vào thời điểm này chủ yếu quê quán ở Bắc Kạn và Lạng Sơn, thu nhập của họ dựa vào nông nghiệp

PV - Dạ, ông có biết quê gốc của những người Nùng sinh sống tại xã Lộ 25 này là khu vực nào ở miền Bắc ạ?

CTV - Người dân tộc Nùng sinh sống tại xã Lộ 25 này phần lớn là quê ở Bắc Kạn, Lạng Sơn vào đây Những người vào đây sớm nhất là từ năm 1976, sau đó thì có một đợt di cư nhiều là từ năm 1983 đến năm 1985 do lúc đó ngoài Bắc làm ăn khó khăn quá mà

PV - Dạ, ông có số liệu về người dân tộc Nùng hiện cư trú tại địa bàn xã Lộ 25 hiện nay không ạ?

CTV - Có chứ, để tôi coi lại sổ hồ sơ đã Xã lộ 25 có 161 hộ người Nùng trong đó

824 người, gồm 415 nữ và 409 nam, số người từ 15 tuổi trở lên là 612 người Số hộ

Trang 38

Nùng này sống tập trung tại các ấp : 3, 4 và 1, nhiều nhất là tổ 13 thuộc ấp 3

(Trích biên bản PV số 1)

Qua quá trình khảo sát thực tế người Nùng tại địa bàn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, chúng tôi thử giả định phân nhóm người Nùng theo nguồn gốc tộc người mà họ tự nhận trong quá trình nghiên cứu điền dã của chúng tôi Thực tế, có một số người Nùng chúng tôi phải căn cứ theo văn bản quản lý nhân hộ khẩu của chính quyền địa phương là người Nùng những khi hỏi trực tiếp thì họ không nhận mình là người Nùng

Theo lời kể của ông Voong Thềnh Phí (hội trưởng người Nùng, người đại diện tổ chức lễ Cầu an, Cầu siêu tại Am Thủ miếu, ấp Nguyễn Thái Học,

xã Bàu Hàm II, huyện Thống Nhất) thì những người Nùng di dân năm 1954 đến được chính quyền Sài Gòn lúc đó cấp gạo, hỗ trợ làm nhà, cung cấp các dụng cụ sản xuất Chính những đãi ngộ này đã làm ảnh hưởng đến việc kê khai thành phần dân tộc đối với người dân sinh sống trên địa bàn huyện Thống Nhất vào năm 1954 Không ít người Hoa, Sán Dìu, Tày có ngôn ngữ, văn hóa có nhiều nét tương đồng với người Nùng đã tự khai vào hộ tịch mình cũng là người Nùng để có chút quyền lợi vật chất trước mắt

Qua quá trình khảo sát tại địa phương bước đầu chúng tôi tạm phân biệt người Nùng có những nhóm địa phương như sau:

+ Nhóm người Nùng từ miền Bắc di cư vào miền Nam

Nhóm người Nùng bắt đầu di cư từ năm 1954 chủ yếu là lính Sư đoàn 5 của tướng Voong A Sáng, hoặc là thân nhân của lính Sư đoàn 5, hay họ còn là những người cùng làng rủ nhau di dân vào miền Nam lúc này

Sau năm 1975, vùng đất Đồng Nai với những điều kiện về môi trường sinh thái thuận lợi càng thu hút số lượng lớn người Nùng từ các tỉnh miền Bắc

di cư và đặc biệt là quãng thời gian từ năm 1979 – 1983 người ta đi vào Nam

Trang 39

do để tránh tình hình chiến sự và lý do chính trị từ cuộc chiến tranh do Trung Quốc gây hấn ở biên giới phía Bắc

Những người Nùng này khi vào Nam họ không phân biệt mình thuộc nhóm Nùng nào cả mà chỉ có một tên tộc danh Nùng thôi Khi hỏi kỹ họ về nhóm nào thì họ chỉ cho biết mình là người Nùng thuộc một trong các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh Khi di cư vào miền Nam, người Nùng không có sự phân biệt giữa các nhóm địa phương như: Nùng An, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình… như khi còn sinh sống ở miền Bắc

+ Nhóm người Nùng gốc Hoa

Đây là nhóm người Nùng hiện sinh sống tại hai xã Bàu Hàm II và xã

Lộ 25, họ có gốc là người Hoa Những người Nùng gốc người Hoa này là những người Hoa Quảng Đông, họ cũng di dân và cùng sống tại huyện Thống Nhất cùng thời điểm với người Nùng tại miền Bắc di cư vào miền Nam lập nghiệp từ năm 1954 Nhóm người này do chịu ảnh hưởng của chính sách sắc tộc Nùng của chính quyền Sài Gòn nên họ khai tên tộc người của mình cũng

là Nùng trong hộ tịch quản lý của Nhà nước lúc đó

Những người Nùng này cũng chính là nhóm được gọi tên Tàu Nùng hay Hoa Nùng Do người Nùng bị Hoa hóa nên nền văn hóa của người Hoa

với người Nùng rất gần với nhau, họ hiểu ngôn ngữ của nhau và sống rất hòa hợp

Trong nghiên cứu của Trần Hồng Liên về “Các nhóm cộng đồng người

Hoa ở tỉnh Đồng Nai – Việt Nam” đã chia nhóm người Hoa tại Đồng Nai như

sau: “Nếu chia theo nhóm địa phương, ở Đồng Nai hiện có 6 nhóm: nhóm

Hoa Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, Hẹ và nhóm có gôc từ đảo Hải Nình (thuộc tỉnh Quảng Ninh bây giờ) thường bị gán cho tên gọi là Hoa Nùng…Nhóm người Nùng gốc Hoa này vào thời Pháp thuộc sinh sống tại đảo Hải Ninh là khu vực tự trị người Nùng do chính quyền Pháp lập nên

Trang 40

Đây cũng là một trong những nguyên nhân hình thành nên tộc danh Hoa Nùng hay Tàu Nùng ở Việt Nam”30

Tuy nhiên, cách lý giải này có nhiều điểm khác với kết quả chúng tôi thu thập được qua quá trình tìm hiểu về người Nùng tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

PV - Xin ông cho biết hiện nay trong cộng đồng có tên Hoa Nùng, không biết ý nghĩa như thế nào?

CTV - Theo tôi được biết thì từ Hoa Nùng có từ trước giải phóng, còn hiện nay thì không dùng nữa, chính sách dân tộc của nhà nước thì Hoa là Hoa, mà Nùng là Nùng Nhưng Hoa Nùng hiểu là Hoa cộng Nùng, vì trước giải phóng một số hộ người Hoa sinh sống cùng người Nùng, để thuận lợi họ khai vào hộ tịch mình là người Nùng luôn, còn về cụ thể vì sao thì tôi không rõ lắm

PV - Vậy hiện nay, ông có nghe thấy người khác dùng từ Hoa Nùng để gọi những người dân tộc Nùng tại địa phương không?

CTV - Vẫn có một số người gọi vậy, vì hiện nay những người Nùng và Hoa sinh sống tại địa phương có dùng chung một số cơ sở sinh hoạt tôn giáo như vào ngày

31 /10 này tại ấp Nguyễn Thái Học người Nùng, Hoa, Tày, Sán Dìu … cùng tổ chức

lễ Thượng cây Niêu chuẩn bị cho lễ Tả Tài Phán vào ngày 1/1/2010 sắp tới

(Trích biên bản PV số 9)

Tên gọi Hoa Nùng hay Tàu Nùng vẫn còn nghe thấy hiện nay khi gọi tên một bộ phận người Nùng tại huyện Thống Nhất Thông thường thì cách gọi tên này là từ những người Việt cư trú tại địa phương gọi như thế về người Nùng Nếu chỉ quan sát hình ảnh bên ngoài và ngôn ngữ thì thật khó để người Việt có thể phân biệt đâu là người Nùng, đâu là người Hoa

30

www.hids.hochiminhcity.gov.vn/Hoithao/VNHOC/TB6/lien.pdf, trang 4

Ngày đăng: 27/05/2021, 23:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thiết (1999), 54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác
Tác giả: Bùi Thiết
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
2. Bùi Tịnh, Cầm Trọng (1973), “Về tiêu chuẩn xác minh thành phần dân tộc, tên gọi và vấn đề hoà hợp dân tộc”, Tạp chí Dân Tộc Học, số 3, trang 116 – 118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiêu chuẩn xác minh thành phần dân tộc, tên gọi và vấn đề hoà hợp dân tộc”, "Tạp chí Dân Tộc Học
Tác giả: Bùi Tịnh, Cầm Trọng
Năm: 1973
4. Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam (1979), Tạp chí Dân Tộc Học, số 1, trang 58 – 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Dân Tộc Học
Tác giả: Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam
Năm: 1979
5. Đại Học Quốc Gia Hà Nội – Trung Tâm Nghiên Cứu Việt Nam Và Giao Lưu Văn Hoá – Chương Trình Thái Học Vệt Nam (2002), Văn Hoá Và Lịch Sử Các Dân Tộc Trong Nhóm Ngôn Ngữ Thái Ở Việt Nam, Nxb Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Hoá Và Lịch Sử Các Dân Tộc Trong Nhóm Ngôn Ngữ Thái Ở Việt Nam
Tác giả: Đại Học Quốc Gia Hà Nội – Trung Tâm Nghiên Cứu Việt Nam Và Giao Lưu Văn Hoá – Chương Trình Thái Học Vệt Nam
Nhà XB: Nxb Văn Hoá Thông Tin
Năm: 2002
6. Đặng Thanh Phương (1979), “Một vài cứ liệu về trạng thái song ngữ Tày, Nùng – Việt ở tỉnh Cao Lạng”, Tạp chí Dân Tộc Học, số 3, trang 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài cứ liệu về trạng thái song ngữ Tày, Nùng – Việt ở tỉnh Cao Lạng”, "Tạp chí Dân Tộc Học
Tác giả: Đặng Thanh Phương
Năm: 1979
7. Đặng Nghiêm Vạn (2001), Dân tộc Văn hoá Tôn giáo, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Văn hoá Tôn giáo
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 2001
8. Đặng Nghiêm Vạn (1993), Quan hệ giữa các Tộc người trong một Quốc Gia Dân tộc, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa các Tộc người trong một Quốc Gia Dân tộc
Tác giả: Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Nxb Chính Trị Quốc Gia
Năm: 1993
9. Địa chí Đồng Nai (2001), Văn Hoá – Xã Hội, Tập 5, UBND tỉnh Đồng Nai, Nxb Tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Hoá – Xã Hội
Tác giả: Địa chí Đồng Nai
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Nai
Năm: 2001
10. Lã Văn Lô – Hà Văn Thư (1984), Văn hóa Tày Nùng, Nxb VH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Tày Nùng
Tác giả: Lã Văn Lô – Hà Văn Thư
Nhà XB: Nxb VH Hà Nội
Năm: 1984
11. Lã Văn Lô – Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu các nhóm Dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, Nxb Khoa Học Xã Hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược giới thiệu các nhóm Dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam
Tác giả: Lã Văn Lô – Đặng Nghiêm Vạn
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội Hà Nội
Năm: 1968
12. Lâm Xuân Đình, Lục Văn Pảo, Nông Trung (1973), “Xác định thành phần dân tộc ở miền Bắc nước ta”, Tạp chí Dân Tộc Học, số 3, trang 120 – 125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định thành phần dân tộc ở miền Bắc nước ta”, "Tạp chí Dân Tộc Học
Tác giả: Lâm Xuân Đình, Lục Văn Pảo, Nông Trung
Năm: 1973
13. Lê Thông (2006), Địa Lý Các Tỉnh Và Thành Phố Việt Nam, Tập 5, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa Lý Các Tỉnh Và Thành Phố Việt Nam
Tác giả: Lê Thông
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2006
14. Lê Qúy Đôn (2007), Kiến văn tiểu lục, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến văn tiểu lục
Tác giả: Lê Qúy Đôn
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2007
15. Hoàng Minh Lợi (1992), “Một số phong tục tập quán liên quan đến nhà cửa của người Tày – Nùng”, Tạp chí Dân Tộc Học, số 3, trang 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phong tục tập quán liên quan đến nhà cửa của người Tày – Nùng”, "Tạp chí Dân Tộc Học
Tác giả: Hoàng Minh Lợi
Năm: 1992
16. Hoàng Nam (2008), The Nung Ethnic Group of Việt Nam, Nxn Thế giới Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Nung Ethnic Group of Việt Nam
Tác giả: Hoàng Nam
Năm: 2008
17. Hoàng Văn Tâm (1993), Những biến đổi xã hội người Nùng ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai từ năm 1954 đến nay, Khóa luận tốt nghiệp Đại học - Khoa Lịch sử - Trường ĐH KHXH & NV TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi xã hội người Nùng ở huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai từ năm 1954 đến nay
Tác giả: Hoàng Văn Tâm
Năm: 1993
18. Hoàng Hoa Toàn (2006), Người Nùng, Bộ sách Việt Nam – Các Dân Tộc Anh Em, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Nùng
Tác giả: Hoàng Hoa Toàn
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
19. Hoàng Hoa Toàn, Đàm Thị Uyên (1998), “Nguồn gốc lịch sử các tộc người Tày – Nùng ở Việt Nam”, Tạp chí Dân Tộc Học, số 2, trang 29 – 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc lịch sử các tộc người Tày – Nùng ở Việt Nam”, "Tạp chí Dân Tộc Học
Tác giả: Hoàng Hoa Toàn, Đàm Thị Uyên
Năm: 1998
20. H. Russel Bernarl (2007), Các phương pháp nghiên cứu trong Nhân học – Tiếp cận Định Tính và Định Lượng, Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu trong Nhân học – Tiếp cận Định Tính và Định Lượng
Tác giả: H. Russel Bernarl
Nhà XB: Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh
Năm: 2007
21. Jean Pierre Olivier De Sardan (2008), Nhân học Phát triển – Lý thuyết, Phương pháp và Kỹ thuật nghiên cứu điền dã, Nxb KHXH Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học Phát triển – Lý thuyết, Phương pháp và Kỹ thuật nghiên cứu điền dã
Tác giả: Jean Pierre Olivier De Sardan
Nhà XB: Nxb KHXH Hà Nội
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w