Đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường gắn với phát triển du lịch sinh thái khu Ramsar Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An” được thực hiện với 2 mục tiêu: 1 Đánh giá t
Trang 1B Ộ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TR ẦN THỊ DIỆU MINH
Chuyên ngành : QU ẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Mã chuyên ngành: 60.85.01.01
LU ẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Lâm……… Người phản biện 1 : TS Lê Hoàng Anh Người phản biện 2 : PGS.TS Phạm Nguyễn Kim Tuyến
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày 03 tháng 08 năm 2019
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Lê Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng
2 TS Lê Hoàng Anh - Phản biện 1
3 PGS.TS Phạm Nguyễn Kim Tuyến - Phản biện 2
4 PGS.TS Đinh Đại Gái - Ủy viên
5 TS Trần Trí Dũng - Thư ký
CH Ủ TỊCH HỘI ĐỒNG VI ỆN TRƯỞNG VIỆN KHCN&QLMT
Trang 3NHI ỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Trần Thị Diệu Minh MSHV: 16007451
Ngày, tháng, năm sinh: 13/12/1992 Nơi sinh: Long An
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường Mã chuyên ngành: 60.85.01.01
I TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường gắn với phát
triển du lịch sinh thái khu Ramsar Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An
NHI ỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
1 Đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường và hoạt động du lịch sinh thái tại Khu Ramsar Láng Sen
2 Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Khu Ramsar Láng Sen
3 Đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường gắn với phát triển du lịch sinh thái tại Khu Ramsar Láng Sen
II NGÀY GIAO NHI ỆM VỤ: Theo Quyết định số 450/QĐ-ĐHCN về việc giao
đề tài cho học viên và cử người hướng dẫn luận văn Thạc sĩ của Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM ngày 22 tháng 01 năm 2018
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHI ỆM VỤ:
V NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Minh Lâm
Tp H ồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
NGƯỜI HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO
VIỆN TRƯỞNG
Trang 4iv
L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo này tôi đã nhận được nhiều sự trợ giúp từ quý thầy cô, bạn
bè, đồng nghiệp Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến với TS Nguyễn Minh Lâm đã cung cấp những kinh nghiệm, kiến thức quý báu cũng như những tài liệu chuyên môn và tận tình hướng dẫn, luôn động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy, cô - Viện Khoa học Công nghệ và Quản
lý Môi trường đã tận tình hỗ trợ tài liệu, đóng góp ý kiến cũng như động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn, đã truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình đào tạo cao học tại trường
Xin cảm ơn các cơ quan chuyên môn của huyện Tân Hưng, UBND xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, Vĩnh Châu A huyện Tân Hưng, đặc biệt là Ban quản lý Khu Ramsar Láng Sen và các cô, chú, bác sống tại địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được khảo sát, phỏng vấn, thu thập tài liệu trong thời gian thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã giúp
đỡ và động viên tinh thần cho tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Trang 5áp lực đối với môi trường tại Khu Ramsar Láng Sen
Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa có tính hấp dẫn cao, tạo sự thu hút của cộng đồng với thế giới tự nhiên Du lịch sinh thái còn là một mô hình phát triển bền vững theo phương thức khai thác nguồn tài nguyên có sẵn để phục vụ đời sống của người dân địa phương nhưng không làm tổn thương đến môi trường Đây là một lĩnh vực kinh doanh đầy tiềm năng trên cả góc
độ kinh tế và môi trường Tuy có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái nhưng hiện nay Khu Ramsar Láng Sen vẫn còn nhiều hạn chế trong việc khai thác các tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường
Đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường gắn với phát triển du lịch sinh thái khu Ramsar Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An” được thực hiện
với 2 mục tiêu: (1) Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường tại Khu Ramsar Láng Sen; (2) Xây dựng giải pháp phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường tại Khu Ramsar Láng Sen
Tác giả đã phỏng vấn 90 hộ dân thuộc cộng đồng dân cư Khu Ramsar Láng Sen,
100 khách tham quan và 60 cán bộ quản lý, chính quyền địa phương Qua kết quả điều tra khảo sát và phân tích tổng hợp tài liệu, đề tài đã đề xuất giải pháp phát triển
du lịch sinh thái kết hợp bảo vệ môi trường tại Khu Ramsar Láng Sen
T ừ khóa: Du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường, khu Ramsar Láng Sen
Trang 6vi
ABSTRACT
Lang Sen wetland conservation area is reconized as the seventh Ramssar in Viet Nam, as the two thousand two hundred twenty seventh Ramssar in the world by the International Ramsar Convention–UNESCO This is a biodiversity area with a lot of animals, plants, plentiful views In addition, the activities of the community also caused some pressure on the environment in the Lang Sen Ramsar Area
Ecotourism is a type of tourism based on nature and indigenous culture is highly attractive, creating the attraction of the community to the natural world Ecotourism
is also a sustainable development model that exploits the resources available to serve the lives of local people but does not harm the environment This is a potential business area, both economically and environmentally However there is a great potential for ecotourism development but Lang Sen Ramsar still has many limitations in exploiting the potential for ecotourism development and environmental protection
The thesis of “Research and propose solutions to protect environment and develop ecotourism of Lang Sen Ramsar in Tan Hung district, Long An province” is done with two aims: (1) Evaluating the potential of ecotourism development in combination with environmental protection in Lang Sen Ramsar; (3) Proposing solutions for ecotourism development in combination with environmental protection
in Lang Sen Ramsar
The author interviewed ninety households of the Lang Sen Ramsar area ‘s community, one hundred tourists and sixty managers of the Lang Sen Ramsar area and local goverment Based on the results of the survey, analysis and summarize of document, the thesis has proposed solutions to protect the environment and ecotourism development for the Lang Sen Ramsar area
Key words: Resource Management Model, Ramsar Lang Sen Zone
Trang 7vii
L ỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Trần Thị Diệu Minh, hiện đang công tác tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, là tác giả của luận văn “Nghiên cứu đề
xuất giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển du lịch sinh thái khu Ramsar Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An”, xin cam đoan như sau:
Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
của TS Nguyễn Minh Lâm, những kết quả và số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được các tác giả công bố trong bất kỳ công trình nào
Các trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của các tác giả khác; tài liệu tham
khảo trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và theo đúng quy định
Tôi xin cam đoan các nội dung ghi trên là đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung nghiên cứu và kết quả của luận văn
H ọc viên
Tr ần Thị Diệu Minh
Trang 8viii
MỤC LỤC
MỤC LỤC viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH xii
DANH MỤC BẢNG BIỂU xiii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xiv
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Cách tiếp cận 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số hiểu biết chung 4
1.1.1 Một số vấn đề liên quan về môi trường và BVMT 4
1.1.2 Du lịch sinh thái 5
1.1.2.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 5
1.1.2.2 Tài nguyên DLST 7
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường 8
1.1.3 Một số hiểu biết chung về Công ước Ramsar 9
1.1.3.1 Giới thiệu chung về Công ước Ramsar 9
1.1.3.2 Định nghĩa về đất ngập nước 11
1.2 DLST kết hợp với BVMT 12
Trang 9ix
1.2.1 DLST kết hợp với BVMT tại một số nước 12
1.2.2 DLST kết hợp BVMT tại Việt Nam 15
1.2.2.1 DLST tại Khu Ramsar Xuân Thủy 16
1.2.2.2 DLST tại Khu Ramsar Bàu Sấu – VQG Cát Tiên 17
1.2.2.3 Một số nghiên cứu khác về DLST 18
1.3 Giới thiệu về Khu Ramsar Láng Sen 20
1.3.1 Vị trí địa lý 20
1.3.2 Địa hình, địa mạo 21
1.3.3 Chế độ thủy văn 22
1.3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 23
1.3.4.1 Sự phân bố dân cư 23
1.3.4.2 Kinh tế-xã hội 24
1.3.5 Phân khu quản lý tài nguyên tại khu Ramsar Láng Sen 24
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Nội dung nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập, kế thừa tài liệu 26
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu và tổng hợp thông tin 28
2.2.3 Phương pháp phân tích thế mạnh điểm yếu (SWOT) 29
2.2.4 Phương pháp chuyên gia 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Thực trạng công tác BVMT và hoạt động DLST tại Khu Ramsar Láng Sen
31
3.1.1 Hiện trạng môi trường khu Ramsar Láng Sen 31
3.1.1.1 Tính chất đất 31
3.1.1.2 Chất lượng nước 31
3.1.2 Sức ép đối với môi trường 32
3.1.2.1 Sức ép từ cộng đồng cư dân khu vực vùng đệm 32
3.1.2.2 Các tác động do thay đổi khí hậu 37
3.1.3 Đánh giá thực trạng công tác BVMT tại Khu Ramsar Láng Sen 38
Trang 10x
3.1.3.1 Những thành tựu đạt được trong công tác BVMT tại Khu Ramsar Láng Sen
40
3.1.3.2 Một số tồn tại, hạn chế trong công tác BVMT tại Khu Ramsar Láng Sen 41
3.1.4 Tình hình phát triển hoạt động DLST của Khu Ramsar Láng Sen 41
3.2 Đánh giá tiềm năng DLST tại Khu Ramsar Láng Sen 43
3.2.1 Tài nguyên và đa dạng sinh học tại Khu Ramsar Láng Sen 43
3.2.1.1 Thực vật và lớp phủ thực vật 43
3.2.1.2 Hệ sinh thái 44
3.2.1.3 Động vật trên cạn 51
3.2.1.4 Nguồn thủy sản 55
3.2.2 Hạ tầng phục vụ du lịch 57
3.2.3 Sức hút khách du lịch của Khu Ramsar Láng Sen 58
3.3 Cơ chế, chính sách và những tồn tại trong công tác quản lý du lịch kết hợp BVMT tại Khu Ramsar Láng Sen 66
3.3.1 Các chính sách và cơ chế quản lý các KBT thiên nhiên ở Việt Nam 66
3.3.2 Đánh giá công tác quản lý du lịch kết hợp BVMT tại Khu Ramsar Láng Sen 69
3.3.2.1 Thành tựu đạt được 69
3.3.2.2 Những điểm còn hạn chế 70
3.4 Phân tích SWOT về khả năng hoạt động DLST và xây dựng mô hình DLST tại Khu Ramsar Láng Sen 71
3.4.1 Phân tích SWOT về khả năng hoạt động DLST tại Khu Ramsar Láng Sen 71 3.4.2 Xây dựng mô hình DLST tại Khu Ramsar Láng Sen 74
3.4.2.1 Mục tiêu xây dựng mô hình 74
3.4.2.2 Nguyên tắc xây dựng mô hình 74
3.4.2.3 Quan điểm xây dựng mô hình 75
3.4.2.4 Mô hình tổ chức phát triển DLST tại Khu Ramsar Láng Sen 76
3.4.2.5 Dự đoán các vấn đề nảy sinh khi triển khai thực hiện 79
3.4.2.6 Tổ chức hoạt động DLST 81
Trang 11xi
3.5 Đề xuất giải pháp phát triển DLST kết hợp BVMT tại Khu Ramsar Láng
Sen 85
3.5.1 Giải pháp về công tác tổ chức, quản lý 85
3.5.2 Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực 87
3.5.3 Giải pháp về xúc tiến quảng bá và xây dựng thương hiệu du lịch 88
3.5.4 Giải pháp kinh tế 89
3.5.5 Giải pháp công nghệ để bảo vệ tài nguyên và môi trường 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 118
Trang 12xii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc DLST [3] 6
Hình 1.2 Vị trí địa lý và địa giới hành chính khu Ramsar Láng Sen [14] 21
Hình 1.3 Bản đồ phân bố dân cư trong khu vực Láng Sen [14] 23
Hình 3.4 Xếp hạng kinh tế hộ gia đình cộng đồng khu Ramsar Láng Sen 33
Hình 3.5 Cò Ốc (Anastomus oscitans) [16] 53
Hình 3.6 Số lượng các loài chim từ năm 2013 – 2017 [16] 53
Hình 3.7 Số lượng chim nước theo 5 nhóm chính năm 2017 [16] 54
Hình 3.8 Sếu Đầu Đỏ (Grus antigone) [16] 55
Hình 3.9 Mô hình tổ chức phát triển DLST tại Khu Ramsar Láng Sen 76
Hình 3.10 Vị trí các điểm DLST trong Khu Ramsar Láng Sen [14] 81
Hình 3.11 Tuyến DLST kết hợp Khu Ramsar Láng Sen trong khu vực ĐTM 85
Trang 13xiii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Các hoạt động trong thực hiện nhiệm vụ của phòng chức năng 39
Bảng 3.2 Các hệ sinh thái trong Khu Ramsar Láng Sen [16] 44
Bảng 3.3 Những loài tìm thấy ở Láng Sen có trong Sách Đỏ Việt Nam [14] 52
Bảng 3.4 Tính hấp dẫn của tài nguyên DLST tại khu Ramsar Láng Sen 59
Bảng 3.5 Thời vụ du lịch của tài nguyên DLST tại Khu Ramsar Láng Sen [17] 61
Bảng 3.6 Sức chứa du khách của tài nguyên du lịch sinh thái tại Khu Ramsar Láng Sen [17] 62
Bảng 3.7 Tính bền vững của tài nguyên du lịch các cảnh quan sinh thái tại Khu Ramsar Láng Sen [17] 64
Bảng 3.8 Cảm nhận về tính an toàn của hoạt động du lịch tại các điểm thuộc Khu Ramsar [17] 65
Bảng 3.9 Khung phân tích SWOT về khả năng hoạt động DLST tại Khu Ramsar Láng Sen 71
Bảng 3.10 Mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động du lịch 75
Bảng 3.11 Các địa điểm du lịch có thể kết nối với Khu Ramsar Láng Sen 84
Trang 14xiv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BĐKH Biến đổi khí hậu
BVMT Bảo vệ môi trường
UBND Ủy ban nhân dân
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
Ramsar Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng
quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước
Trang 151
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Khu bảo tồn (KBT) đất ngập nước (ĐNN) Láng Sen được thành lập theo quyết định
số 199/QĐ-UB ngày 19/01/2004 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Long An vừa được tổ chức Công ước Ramsar ra quyết định công nhận là Khu Ramsar (vùng đất
ngập nước có tầm quan trọng quốc tế về đa dạng sinh học và bảo tồn) thứ 7 của Việt Nam và thứ 2.227 của thế giới vào ngày 22-5-2015 Sự kiện này được xem là một
dấu mốc quan trọng trong việc khẳng định giá trị của Khu Ramsar Láng Sen với
việc bảo tồn và phát triển du lịch
Hiện nay phần lớn các Khu Ramsar ở Việt Nam như Vườn quốc gia (VQG) Tràm Chim, vùng đất ngập nước Bàu Sấu thuộc VQG Cát Tiên, đã đầu tư khai thác tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái (DLST) Song song với kết quả về phát huy các lợi ích về kinh tế, văn hoá và xã hội thì áp lực đối với công tác bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trường (BVMT) cũng là vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết
Khu Ramsar Láng Sen được đánh giá là một khu có các hệ sinh thái (HST) tiêu biểu còn sót lại của vùng Đồng Tháp Mười (ĐTM) cần phải được thực hiện công tác bảo
tồn tài nguyên tự nhiên của khu vực này Khu Láng Sen là nơi sinh sống của sinh
vật với tính đa dạng như thuỷ vực nước chảy, đai rừng tự nhiên, đồng cỏ ngập nước theo mùa, lung, trấp, ruộng lúa, đê nhân tạo,… Môi trường khu Ramsar trong lành
với rừng tràm bạc ngàn, thảm thực vật phong phú, phong cảnh đẹp, gần gủi với thiên nhiên Các yếu tố này đều góp phần quan trọng trong việc thu hút khách tham quan du lịch và cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển DLST trong tương lai Tuy nhiên, Khu Ramsar Láng Sen cũng đang chịu những áp lực rất lớn từ cộng đồng sống ở vùng đệm cũng như các hoạt động phát triển trong khu vực, công tác BVMT còn nhiều tồn tại, hạn chế Vì vậy, chính quyền địa phương tỉnh Long An
rất quan tâm trong việc tìm ra các giải pháp hiệu quả để vừa phát triển DLST khu Ramsar Láng Sen vừa phát huy các thành quả bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, phát
Trang 162
triển cộng đồng, phát huy các lợi ích về BVMT để đảm bảo tính bền vững cho khu Ramsar Láng Sen Việc tiến hành nghiên cứu các giải pháp BVMT và phát triển DLST là hướng đi mới, là giải pháp nhằm mục tiêu giải quyết hài hòa các vần đề
cấp thiết đặt ra
Với những lý do trên, học viên lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp bảo
v ệ môi trường gắn với phát triển du lịch sinh thái khu Ramsar Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Nhằm hiểu rõ tiềm năng và thực trạng phát triển loại hình du lịch sinh thái, thực
trạng công tác BVMT ở Khu Ramsar Láng Sen, từ đó đề xuất các định hướng và
giải pháp để nâng cao khả năng hoạt động và góp phần bảo tồn tài nguyên môi trường du lịch, đồng thời đem lại lợi ích cho người dân địa phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là các giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển DLST khu Ramsar Láng Sen
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu chủ yếu ở khu Ramsar Láng Sen
với diện tích tự nhiên là 5030 ha thuộc các xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu A, Vĩnh Đại
Trang 173
+ Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu về tình hình hiện tại, các số liệu được sử dụng
chủ yếu được thống kê từ 2005 đến nay
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận
Mối quan hệ giữa hoạt động du lịch, con người và môi trường là “mối quan hệ động”, tương tác với nhau và phụ thuộc vào các thành phần: dân cư, du khách, khả năng đáp ứng của môi trường (đất, nước, không khí), chính sách quản lý của địa phương,… Giải quyết tốt mối quan hệ giữa các yếu tố trên là cơ sở khoa học cho
việc đánh giá tiềm năng, các yếu tố tác động và sự phát triển của du lịch Các giải pháp tổng hợp để BVMT trong phát triển du lịch bao gồm: Các giải pháp quản lý, các giải pháp kỹ thuật - công nghệ, các giải pháp giáo dục huấn luyện,… Tất cả các
giải pháp này được nghiên cứu tích hợp trong một chủ thể thống nhất là phát triển DLST và xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng cho Khu Ramsar Láng Sen
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này gồm:
- Phương pháp điều tra, thu thập, kế thừa tài liệu
- Phương pháp xử lý số liệu và tổng hợp thông tin
- Phương pháp phân tích thế mạnh điểm yếu (SWOT)
- Phương pháp chuyên gia
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đưa ra được giải pháp BVMT và phát triển DLST ở Láng Sen Có thể tham mưu lãnh đạo địa phương áp dụng trong việc quản lý và phát triển KBT
- Đánh giá tiềm năng DLST có thể đưa vào hoạt động chung trong hệ DLST khu
vực ĐTM và vùng ĐBSCL
- Nâng cao ý thức bảo vệ TNTN và môi trường ở địa phương
Trang 184
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số hiểu biết chung
1.1.1 Một số vấn đề liên quan về môi trường và BVMT
Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với
sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật Theo Lê Huy Bá (2006), môi trường gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo, lý học, hóa học, sinh học cùng
tồn tại trong một không gian bao quanh con người và yếu tố này có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên cá thể sinh vật hay con ngừời để cùng tồn
tại và phát triển
Môi trường có thể được phân loại như sau:
- Phân loại môi trường theo các tác nhân: bao gồm môi trường tự nhiên (Natural environment) là môi trường do thiên nhiên tạo ra: sông, biển, đất… và môi trường nhân tạo (Artifical environment) là môi trường chịu sự tác động của con người: môi trường đô thị, làng mạc, chợ búa, trường học…
- Phân loại môi trường theo sự sống: môi trường vật lý (Physical environment) là thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên, gồm có thạch quyển, thủy quyển và khí quyển Môi trường sinh học (Bio-environment hay Environmental biology) là thành
phần hữu sinh của môi trường, hay nói cách khác là môi trường mà ở đó có diễn ra
sự sống Môi trường sinh học bao gồm các hệ sinh thái, các quần thể thực vật, động
vật, vi sinh vật và cả con ngừời, tồn tại và phát triển trên cơ sở và đặc điểm của các thành phần môi trường vật lý [1]
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái,
cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
nhằm giữ môi trường trong lành [2]
Trang 195
Con người và môi trường có mối quan hệ hữu cơ vì vậy con người muốn bảo vệ an toàn cuộc sống của mình thì phải BVMT BVMT là bảo vệ chính cuộc sống của con người BVMT được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau: cấp độ cá nhân; cấp độ
cộng đồng; cấp độ địa phương, vùng; cấp độ quốc gia; cấp độ quốc tế
1.1.2 Du lịch sinh thái
1.1.2.1 Khái niệm về du lịch sinh thái
Theo hiệp hội du lịch thế giới “DLST là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” Còn ở Việt Nam DLST được định nghĩa là “loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ
lực bảo vệ và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Theo Lê Huy Bá (2006), “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng
là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu
về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững” [1]
Theo quy chế quản lý hoạt động du lịch sinh thái tại các Vườn Quốc gia, Khu bảo
tồn thiên nhiên ban hành kèm Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN, ngày 27/12/2007
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: “Du lịch sinh thái là hình
thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu
hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai”
Nhìn chung cách nhìn nhận về DLST hiện nay cũng khá đa dạng và có những khác
biệt nhất định, tuy nhiên những nội dung cơ bản mà DLST cần phải có mà đa số các chuyên gia và tổ chức quốc tế đều thống nhất, đó là:
Trang 206
- DLST là một loại hình phát triển du lịch bền vững, được quản lý bền vững
- Là loại hình dựa vào thiên nhiên là chính (đặc biệt là ở những khu vực còn hoang
sơ, được bảo tồn tương đối tốt)
- Có hỗ trợ bảo tồn (không làm thay đổi tính toàn vẹn của hệ sinh thái, nguồn thu được từ hoạt động DLST được đầu tư cho công tác bảo tồn, BVMT…);
- Có các hoạt động, hình thức giáo dục về môi trường và sinh thái
- Có sự tham gia chia sẻ lợi ích cộng đồng (khuyến khích sự tham gia cộng đồng trong các hoạt động và dịch vụ cho DLST như hướng dẫn viên địa phương, kinh doanh lưu trú, ăn uống, tạo các sản phẩm bổ trợ khác…)
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc DLST [3]
Theo Phạm Trung Lương (2002), hoạt động DLST cần tuân theo một số nguyên tắc:
- Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó
tạo ý thức tham gia vào các nổ lực bảo tồn
- BVMT và duy trì hệ sinh thái
Trang 217
- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
- Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương [3]
1.1.2.2 Tài nguyên DLST
Tài nguyên DLST là các yếu tố cơ bản để hình thành các điểm, các tuyến hoặc các khu DLST; bao gồm các cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, giá trị nhân văn, các công trình sáng tạo của nhân loại có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn cho nhu
cầu về DLST
Lấy thiên nhiên và văn hóa bản địa làm cơ sở để phát triển, tài nguyên DLST là một
bộ phận cấu thành trong tài nguyên du lịch, bao gồm các giá trị của tự nhiên thể
hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời khỏi hệ sinh thái tự nhiên đó Tuy vậy, không phải bất cứ mọi giá trị
tự nhiên và văn hóa bản địa đều được xem là tài nguyên DLST, mà chỉ có các thành
phần và các tổng thể tự nhiên, các giá trị văn hóa gắn với một hệ sinh thái cụ thể có
thể được khai thác, được sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, DLST nói riêng mới được xem là tài nguyên DLST
Nói chung, tài nguyên DLST rất đa dạng và phong phú Một số loại tài nguyên DLST chính thường được khai thác và phục vụ nhu cầu của khách DLST bao gồm:
- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các vườn quốc gia, các khu BTTN, các khu
dự trữ sinh quyển )
- Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, làng hoa )
- Các giá trị văn hóa bản địa có sự hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh
hoạt truyền thống dân tộc [1]
Trang 228
1.1.2.3 Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường
Mối quan hệ giữa DLST và bảo tồn tự nhiên là mối quan hệ qua lại thể hiện ở 3
dạng:
- Quan hệ cùng tồn tại: khi có rất ít mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và bảo tồn
tự nhiên hoặc cả hai tồn tại một cách độc lập
- Quan hệ cộng sinh: trong đó cả du lịch và bảo tồn tự nhiên đều nhận được những
lợi ích từ mối quan hệ này và có sự hỗ trợ lẫn nhau
- Quan hệ mâu thuẫn: khi sự hiện của du lịch, nhất là du lịch đại chúng làm tổn hại đến nổ lực bảo tồn tự nhiên
Mối quan hệ này ở dạng nào là tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó mức độ sử
dụng và quản lý tài nguyên là yếu tố quan trọng Điều này thường được thể hiện thông qua các giai đoạn phát triển du lịch
Ở giai đoạn đầu, khi hoạt động du lịch mới phát triển, mức độ sử dụng tài nguyên còn thấp, mối quan hệ thường thể hiện ở dạng quan hệ cùng tồn tại Lúc này hoạt động du lịch và bảo tồn tự nhiên ít có ảnh hưởng đến nhau và cùng song song tồn
tại Tuy nhiên dạng quan hệ này rất khó duy trì lâu dài, đặc biệt khi hoạt động du
lịch phát triển hơn với mức độ sử dụng tài nguyên cao hơn và những tác động đến môi trường cũng rõ rệt hơn
Giai đoạn tiếp theo, mối quan hệ có thể phát triển theo hướng tích cực nếu hoạt động du lịch được quản lý quy hoạch phù hợp với các quy luật tự nhiên, có lợi cho
bảo tồn và du lịch Mối quan hệ này được xem là quan hệ cộng sinh Trong đó
những giá trị của tự nhiên vẫn được bảo tồn, thậm chí ở điều kiện tốt hơn, trong khi
chất lượng sản phẩm du lịch được đảm bảo, lợi ích của ngành du lịch và khu vực được tăng cường
Trong trường hợp ngược lại, khi du lịch phát triển mà không quan tâm đến công tác
bảo tồn thì mối quan hệ sẽ trở thành mâu thuẫn Thậm chí, ngay cả khi mối quan hệ
Trang 239
này đang là cộng sinh, song nếu không được duy trì và phát triển tốt, sẽ dễ chuyển sang quan hệ mâu thuẫn Trong thực tế điều này thường xảy ra, đặc biệt trong trường hợp du lịch phát triển với mục đích đơn thuần vì lợi ích kinh tế
Vì vậy, việc nhận thức và đánh giá một cách đầy đủ những lợi ích lâu dài, nhiều mặt trong quy hoạch phát triển DLST là rất cần thiết DLST cần xem vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái là những ưu tiên hàng đầu, coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần tuân thủ, bởi vì :
- Việc BVMT và duy trì các HST chính là mục tiêu hoạt động của DLST
- Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự
đi xuống của hoại động DLST [3]
1.1.3 Một số hiểu biết chung về Công ước Ramsar
1.1.3.1 Giới thiệu chung về Công ước Ramsar
Tiêu đề chính thức của công ước là The Convention on Wetlands of International Importance, especially as Waterfowl Habitat (Công ước về các vùng đất ngập nước
có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước) Công ước về các vùng đất ngập nước là một hiệp ước liên chính phủ được thông qua ngày
02 tháng 02 năm 1971 tại thành phố Ramsar ở phía bờ nam biển Caspian của Iran
Do đó, mặc dù ngày nay thường được viết là “Công ước về các vùng Đất ngập nước (Ramsar, Iran, 1971)” nhưng Công ước này thường được biết đến dưới tên gọi
“Công ước Ramsar” Công ước Ramsar là hiệp ước đầu tiên trong số những Công ước liên chính phủ về bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Công ước Ramsar là một công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý
và thích đáng các vùng đất ngập nước, với mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấn ngày càng gia tăng vào các vùng đất ngập nước cũng như sự mất đi của chúng ở
thời điểm hiện nay cũng như trong tương lai, công nhận các chức năng sinh thái học
Trang 24Ramsar có tất cả 9 tiêu chí để công nhận, được chia thành hai nhóm tiêu chí chính bao gồm:
Nhóm A - sự độc đáo và hiếm có của vùng ĐNN:
- Tiêu chí 1: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu vùng đó bao
gồm các loài động, thực vật quý hiếm, đặc trưng và điển hình xét về đặc tính tự nhiên hoặc gần với tự nhiên của vùng ĐNN, mà được tìm thấy trong khu vực sinh địa lý thích hợp
Nhóm B - tầm quan trọng quốc tế về bảo tồn ĐDSH
- Tiêu chí 2: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó đóng vai trò
hỗ trợ cho các HST đang bị đe dọa hoặc các loài có nguy cơ bị nguy hiểm hoặc cực
kỳ nguy hiểm (Các tiêu chí dựa trên chủng loại và HST)
- Tiêu chí 3: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó đóng vai trò
hỗ trợ cho các loài động, thực vật có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì ĐDSH tại
một vùng sinh địa lý cụ thể
- Tiêu chí 4: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó đóng vai trò
hỗ trợ cho các loài động, thực vật đang trong giai đoạn quyết định trong vòng đời
hoặc cung cấp nơi trú ẩn cho các loài này khi chúng gặp những điều kiện nguy
hiểm
Trang 2511
- Tiêu chí 5: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó thường xuyên hỗ trợ từ 20.000 cá thể loài chim nước trở lên (Các tiêu chí dựa trên các loài chim nước)
- Tiêu chí 6: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó thường xuyên hỗ trợ 1% số lượng một loài hoặc phân loài chim nước
- Tiêu chí 7: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó hỗ trợ một tỷ
lệ đáng kể các loài, phân loài và các họ cá bản địa, các giai đoạn lịch sử trong vòng đời, sự tương tác giữa các loài hoặc số lượng mà có tính đại diện cho lợi ích của vùng ĐNN hoặc các giá trị và bằng cách ấy, đóng góp vào sự ĐDSH của toàn cầu
- Tiêu chí 8: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó cung cấp một nguồn thức ăn quan trọng cho các loài cá, là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và đường di
cư mà nhờ đó các loài cá có thể sinh sôi nảy nở tại vùng ĐNN hay ở nơi khác tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể
- Tiêu chí 9: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó thường xuyên hỗ trợ 1% số lượng một loài hoặc phân loài động vật, phi gia cầm sống phụ thuộc vào vùng ĐNN (Tiêu chí đặc biệt dựa vào taxon) [5]
1.1.3.2 Định nghĩa về đất ngập nước
Qua các nghiên cứu, các nhà khoa học về ĐNN đã xác định được những điểm chung của ĐNN thuộc các loại hình khác nhau, đó là chúng đều có nước nông hoặc đất bão hoà nước, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân huỷ chậm, và nuôi dưỡng
rất nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điều kiện bão hoà nước Tuỳ thuộc vào sự khác nhau về loại hình, phân bố cùng với những mục đích sử dụng khác nhau mà người ta định nghĩa về ĐNN rất khác nhau
Trên thế giới hiện đã có trên 50 định nghĩa về ĐNN (Mitsch and Gosselink, 1986 & 1993; Dugan, 1990) Nhiều tài liệu ở các nước như Canada, Hoa Kỳ và Úc (Zoltai, 1979), (33 CFR323.2 (c); 1984) (trong Hoàng Văn Thắng, 1995), Uỷ ban ĐNN của Liên Hiệp Quốc (UN Committee on Characterization of Wetlands, 1995) (trong Vũ
Trang 2612
Trung Tạng, 2004) v.v đã định nghĩa về đất ngập nước theo nhiều mức độ và mục đích khác nhau [4]
ĐNN được định nghĩa trong Điều 1.1 trong công ước Ramsar là: “Các vùng đầm
lầy, than bùn hoặc vùng nước tự nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm
thời, nước đứng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả vùng nước ven biển có độ sâu không quá 6 m khi thủy triều thấp đều là các vùng ĐNN”
Dù định nghĩa thế nào thì nước - chế độ thuỷ văn vẫn là yếu tố tự nhiên quyết định
và đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định, duy trì và quản lý các vùng ĐNN, đặc biệt là các vùng ĐNN nước ngọt nội địa
Đất ngập nước có vai trò quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng dân cư
Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các vùng cửa sông ven biển và xung quanh các thuỷ vực nước ngọt nội địa (Dugan, 1990) Đất ngập nước còn là nơi sinh
sống của một số lượng lớn các loài động vật và thực vật, trong đó có nhiều loài quí
hiếm
1.2 DLST kết hợp với BVMT
1.2.1 DLST kết hợp với BVMT tại một số nước
Ở các nước phát triển, DLST là hoạt động giải trí phổ biến mang tính nội địa được
tổ chức trong những nhóm nhỏ, đặc biệt là nhóm người quan sát động vật hoặc du khách đến vui chơi ở công viên DLST khởi đầu ở các nước đang phát triển vào
cuối những năm 60 thế kỷ XX Quần đảo Galapagos là nơi bắt đầu tổ chức DLST
và ở khu vực Đông Phi, mặc dù nhiều lĩnh vực của du lịch thám hiểm như săn bắn không đủ tiêu chuẩn là DLST Trong những năm 60 và 70 thế kỷ XX, DLST phân
bố hạn chế, chiếm tỷ lệ rất nhỏ của thị trường du lịch quốc tế
Năm 1993, Hiệp hội Du lịch sinh thái cho xuất bản cuốn sách “Du lịch sinh thái - Hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý” đã đẩy việc nghiên cứu về DLST lên một tầm cao mới Nhiều Chính phủ đã có phần quan tâm đặc biệt đến DLST
Trang 2713
Tuy nhiên, việc thống nhất về loại hình hoạt động và ngay cả việc định nghĩa thế nào là DLST vẫn còn đang được bàn cãi rất nhiều
Đến cuối những năm 80 thế kỷ XX, DLST còn là hiện tượng xa lạ, chỉ mới bắt đầu
xuất hiện là từ vựng phổ thông Từ sau năm 1990, trên thế giới loại hình DLST dần phát triển ở một số quốc gia như Australia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp,
Thụy Điển, Đan Mạch… Đến cuối những năm 90 thế kỷ XX, DLST phát triển
mạnh và nổi bật ở các khu vực châu Phi, châu Mỹ, Nam Mỹ, châu Mỹ La Tinh
Ở Costarica và Venezuela, một số chủ trang trại đã bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới bằng cách biến chúng thành những điểm DLST, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên, đồng thời tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương Còn ở Nam Phi, chính phủ nước này đã đưa DLST thành biện pháp hiệu quả để nâng cao
mức sống của người dân nông thôn Đây là một mô hình có hiệu quả nhưng thực tế
rất khó áp dụng tại Láng Sen vì sự khác nhau về các thể chế, chính sách của của mỗi
quốc gia Hơn nữa ở Việt Nam nói chung cũng như ở Láng Sen nói riêng, hình thức kinh tế chủ yếu là nông hộ, không có các trang trại lớn như ở Costarica và Venezuela [6]
Tại khu nghỉ dưỡng Gili Lankanfushi ở Maldives, nhà sinh học biển Vaidotas Kirsys đã khởi xướng dự án Coral Line vào tháng 3/2014 với mong muốn rằng mọi người đều có thể đóng góp công sức vào việc bảo vệ các rạn san hô biển Những du khách đăng ký tham gia dự án Coral Line không chỉ được lặn xuống biển thăm quan các rạn san hô, mà còn tham gia nghiên cứu và khảo sát tình hình thực tế Đồng
thời, hỗ trợ các dự án xã hội và môi trường và giúp tái tạo rạn san hô theo quy mô
nhỏ Dự án này đã khiến Gili Lankanfushi trở thành khu nghỉ dưỡng đầu tiên ở Maldives sử dụng hệ thống công nghệ mới nhằm giúp tái tạo và phát triển rạn san
hô Theo ý kiến của nhà sinh học biển Deborah Burn, điều quan trọng nhất là họ
muốn chia sẻ những kiến thức và cung cấp thông tin cho các khu nghỉ dưỡng khác,
để cùng bảo tồn và phát triển các rạn san hô biển [6]
Trang 2814
Vào năm 1975, José Koechlin von Stein đã mua mảnh đất ở Puerto Maldonado và xây dựng khách sạn Inkaterra thân thiện với môi trường lần đầu tiên của mình Ngay sau đó, mô hình về du lịch sinh thái “Reserva Amazónica Lodge” của ông đã bước đầu thành công, và được mở rộng ở nhiều nơi của Peru, bao gồm: rừng Amazon, rừng Machu Picchu, thung lũng Thiêng liêng Urubamba của người Inca và thành phố Cusco Ngày nay, Inkaterra là một tổ chức phi lợi nhuận (Inkaterra Asociaciosn), nhằm mục đích bảo tồn môi trường tự nhiên của Peru, cũng như các nguồn tài nguyên văn hóa và khảo cổ học Điều quan trọng nhất mà tổ chức này hướng đến đó là phát triển Peru như một điểm đến du lịch bền vững và bảo tồn vẻ đẹp tự nhiên của thiên nhiên Họ tin rằng ngành du lịch phải có trách nhiệm và có tác động tích cực đến môi trường, bởi đó là cách duy nhất để duy trì du lịch bền
vững ở Peru [6]
Kasbah du Toubkal là một khu du lịch nhỏ được mở từ năm 1995, nằm giữa cộng đồng Berber thuộc dãy núi Atlas, Ma-rốc Từ lúc mới hình thành, khu du lịch này
đã mang trên mình “nhiệm vụ” bảo vệ thung lũng Imlil của người Ma-rốc tránh
khỏi những ảnh hưởng tiêu cực trước sự phát triển của ngành du lịch Du khách đến
từ khắp nơi trên thế giới tới Kasbah du Toubkal nghỉ dưỡng, sẽ có cơ hội tìm hiểu thêm về văn hoá và lối sống của cộng đồng người Berber Bởi 95% nhân viên tại đây đến từ các ngôi làng trong khu vực và 80% đến từ vùng lân cận trong phạm vi bán kính 2 km Một quỹ tài trợ được hình thành ở đây dựa trên những nguồn phụ phí nhỏ mà khu nghỉ dưỡng đem lại, nhằm hỗ trợ các dự án xã hội trong cộng đồng địa phương, đặc biệt có rất nhiều du khách đã ủng hộ cho quỹ này [6]
Khi nghiên cứu về tác động và quản lý môi trường trong du lịch sinh thái ở Costa Rica tác giả Emily McKeone, B.A (2011) đã chỉ ra rằng DLST là một cách hiệu quả
để các nước phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường DLST là một là một lựa chọn thích hợp để thay thế cho các ngành công nghiệp ở các nước đang phát triển như khai thác gỗ, công nghiệp hóa,… Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ dựa trên tác động môi trường của DLST, do đó các câu hỏi và câu trả lời liên quan đến văn hóa và kinh tế đã bị bỏ qua [7] Trong khi để nghiên cứu đề xuất được các giải pháp BVMT
Trang 2915
gắn với DLST Khu Ramsar Láng Sen đòi hỏi phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương và cân đối về hiệu quả kinh tế Vì vậy, nghiên cứu tác động và quản lý môi trường trong DLST ở Costa Rica của tác giả Emily McKeone, B.A chưa thực sự thích hợp để áp dụng vào Khu Ramsar Láng Sen Tác giả định hướng sẽ nghiên cứu, đánh giá sâu hơn về phong tục, tạp quán, sinh kế, của cộng đồng dân cư thuộc Khu Ramsar Láng Sen để có thể áp dụng hiệu quả vào Láng Sen
Theo kết quả nghiên cứu của Nabin Baral (2013) khi đánh giá về khả năng phục hồi
của DLST trong khu bảo tồn Annapurna ở Nepal đã rút ra một bài học là xây dựng năng lực địa phương, tạo điều kiện tự tổ chức và đa dạng hóa sinh kế của cộng đồng xung quanh có thể có khả năng tăng cường khả năng phục hồi của DLST, duy trì sự
ổn định và giúp giải quyết các thay đổi đột ngột [8] Bên cạnh những thành quả đạt được, nghiên cứu vẫn chưa xác định được tính chịu đựng của DLST trước những rối
loạn, thay đổi không lường trước Đối với khu vực nhạy cảm như Khu Ramsar Láng Sen, tác giả định hướng sẽ đánh giá các tác động có thể xảy và biện pháp ứng phó
để giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực
1.2.2 DLST kết hợp BVMT tại Việt Nam
Về tổng quan, vấn đề phát triển DLST trên thế giới đã trải qua thời kỳ thai nghén và đang từng bước khẳng định lý do tồn tại Thời kỳ trưởng thành của DLST đang bắt đầu Còn ở Việt Nam, mặc dù DLST được xem là loại hình du lịch đặc thù, có tiềm năng và được ưu tiên phát triển trong chiến lược phát triển du lịch của quốc gia, song cho đến nay việc nghiên cứu và triển khai loại hình du lịch này còn đang rất
chậm chạp, chưa đúng bản chất và gặp rất nhiều hạn chế DLST còn đang là lĩnh
vực mới ở Việt Nam nên những hiểu biết về lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn
về nó còn rất hạn chế Đã có nhiều bài báo, nhiều báo cáo khoa học và nhiều hội
thảo bàn về DLST và các giải pháp để phát triển loại hình du lịch này nhưng nhìn chung đều mang tính chất cảm quan, thiếu đồng bộ
Loại hình DLST tại Việt Nam chưa phát huy được toàn bộ sức mạnh, sức hấp dẫn
của nó Đôi khi các hình thức hoạt động của loại hình DLST mới chỉ mang ý nghĩa
Trang 3016
tham quan, hưởng thụ môi trường để tái tạo sức khỏe… ít mang ý nghĩa nâng cao
nhận thức, giáo dục để du khách có trách nhiệm với bảo tồn thiên nhiên, các giá trị
của môi trường tự nhiên, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa Mặt khác,
do quy hoạch, xây dựng, phục vụ du lịch đôi khi chưa khai thác hết mức hấp dẫn do
đó không tạo được tâm lý mong muốn quay lại của du khách, họ cũng ít quảng bá hình ảnh của nơi vừa đi cho người khác
Việt Nam chúng ta có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, có sự đa dạng sinh học cao, có nhiều tài nguyên danh thắng đẹp mà đặc biệt là hệ thống các vườn quốc gia, các khu
bảo tồn rộng lớn với sự phong phú về số lượng các cá thể, quần thể, quần xã và hệ sinh thái Do đó, việc lựa chọn loại hình DLST để phát triển tại Việt Nam là hoàn toàn hợp lý Đây có thể được xem như là một động lực để thúc đẩy ngành du lịch
của chúng ta phát triển trong thế kỷ này
Ở Việt Nam có rất nhiều điểm đến DLST với các hoạt động đa dạng và phong phú Trong đó, các Khu Ramsar luôn có sức hút đặc biệt đối với du khách bởi những lợi
thế về ĐDSH và cảnh quan tự nhiên
1.2.2.1 DLST tại Khu Ramsar Xuân Thủy
VQG Xuân Thủy – Khu Ramsar thứ 50 của thế giới và là khu Ramsar đầu tiên của
Việt Nam và cũng là đầu tiên của Đông Nam Á Đặc điểm nổi bật của khu Ramsar Xuân Thủy là vùng cửa sông với hệ sinh thái bùn lầy và rừng ngập mặn ven biển còn sót lại; là vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển ở lưu vực vùng đồng bằng sông
Hồng, rất phong phú đa dạng về tài nguyên
Du khách đến Khu Ramsar Xuân Thủy sẽ được thưởng thức cảnh quan thiên nhiên sinh động, hấp dẫn, như: những đàn chim di trú về ngủ đêm tại rừng sú vẹt; tham gia các chuyến du thuyền đi dọc theo sông Vọp ra cửa Ba Lạt (cửa sông Hồng); được thăm ngọn hải đăng Tiền Hải, đài quan sát Cồn Ngạn và thăm Cồn Xanh - một đảo cát pha mới bồi; thăm các cánh rừng ngập mặn ở cửa sông; cùng người dân địa phương bắt tôm, cá, ngao ven bãi biển; thưởng thức những đặc sản ẩm thực tự tay
Trang 3117
thực hiện (nướng tôm, ngao ); thưởng thức và tham gia giao lưu văn nghệ do các
“nghệ sĩ hát chèo dân gian” biểu diễn vào buổi tối
Tuy nhiên việc sử dụng nguồn đầu tư cho bảo tồn, phát triển đạt hiệu quả thấp, các
hoạt động du lịch diễn ra tự phát làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, những
hoạt động chưa hợp lí vẫn là những rào cản với bảo tồn và tạo sản phẩm du lịch như:
- Chưa có được quy hoạch tổng thể và chiến lược phát triển hợp lí đảm bảo mối quan hệ bền vững giữa bảo tồn cảnh quan - đa dạng sinh học và phát triển kinh tế (trong đó có phát triển các sản phẩm du lịch);
- Đội ngũ quản lí còn thiếu kinh nghiệm và chuyên môn sâu, nên sử dụng nguồn đầu tư cho các hạng mục thiếu cân đối, gây thất thoát ngân sách, lãng phí sức lao động Đôi khi triển khai công việc chưa sát với thực tế và yêu cầu của Công ước Ramsar quốc tế
Khắc phục những nguy cơ tiềm ẩn để phát triển không gian DLST bền vững là mục tiêu chiến lược của các quốc gia và các tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế Vì vậy,
để đảm bảo cho khu Ramsar Xuân Thủy luôn là không gian du lịch bền vững thì cần
phải có những giải pháp hành động phù hợp hơn [9]
1.2.2.2 DLST tại Khu Ramsar Bàu Sấu – VQG Cát Tiên
Ngày 4/8/2005, Khu đất ngập nước Bàu Sấu thuộc VQG Cát Tiên được Ban thư ký công ước Ramsar - UNESCO công nhận đưa vào danh sách các vùng đất ngập nước
có tầm quan trọng quốc tế được bảo vệ nghiêm ngặt, là khu Ramsar thứ hai của Việt Nam và 1499 của thế giới
Các tuyến du lịch được thiết lập trong thời gian qua thường gắn với hoạt động du
lịch của VQG Cát tiên và vùng phụ cận Tại khu Ramsar Bàu Sấu mới chỉ tập trung vào khai thác một số tuyến chính, cho các đối tượng, chủ yếu là dành cho du khách
có kinh nghiệm đi rừng Đi theo các tuyến thuộc khu Ramsar Bàu Sấu, du khách sẽ
đi qua nhiều kiểu rừng như: rừng kín thường xanh, rừng kín thường xanh nửa rụng
Trang 3218
lá và rừng kín thường xanh rụng lá; có cơ hội thấy nhiều loài cây cổ thụ, các loài chim rừng qúy hiếm như hồng hoàng, đuôi cụt bụng vằn, gà tiền mặt đỏ, gà lôi hồng tía, được quan sát nhiều loài chim nước, chim rừng quý hiếm
Bên cạnh những kết quả đạt được thì DLST tại Khu Ramsar Bàu Sấu vẫn tồn tại
- Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật phục vụ cho các tuyến tham quan Bàu Sấu còn hạn
chế Các cơ sở lưu trú chưa đáp ứng nhu cầu
- Nhân lực cho hoạt động du lịch, nhất là đội ngũ nhân viên hướng dẫn rất hạn chế
về thông tin, kiến thức chuyên môn; Chưa nắm bắt được các tiêu chuẩn cơ bản về
việc bảo vệ nghiêm ngặt các khu ngập nước điển hình của thế giới theo công ước Ramsar ; chưa truyền tải đầy đủ thông tin đến du khách, làm giảm độ tin cây, sự hài lòng và sức cuốn hút với du khách
- Hoạt động của các dự án khai thác, xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ, nơi cư trú…
hầu như chưa có phương án hoàn chỉnh đánh giá tác động và xử lí môi trường làm ảnh hưởng không nhỏ đến độ an toàn trong bảo tồn và hoạt động du lịch
- Sự thống nhất và liên kết về trách nhiệm trong tổ chức quản lí của chính quyền và ngành của các địa phương có quyền lợi tại VQG và khu Ramsar chưa thực sự chặt
chẽ, nên khi triển khai các hoạt động khai thác bảo tồn thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp, làm giảm độ tin cậy của các nhà đầu tư [10]
1.2.2.3 Một số nghiên cứu khác về DLST
Theo kết quả nghiên cứu và phát triển DLST tại khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư tác giả Phan Thị Dang và cộng sự (2014) đã đưa ra một số giải pháp phát
Trang 3319
triển DLST tại khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư như quản lý theo quy hoạch,
quản lý có thu lệ phí; tổ chức đào tạo ngắn hạn cho đội ngũ cán bộ nhân viên rừng tràm; tăng cường giáo dục môi trường trong du lịch sinh thái, đẩy mạnh liên kết, thu hút đầu tư để phát triển DLST, [11]
Luận văn Thạc sỹ về nghiên cứu đề xuất các giải pháp BVMT theo định hướng phát triển bền vững du lịch tỉnh Bình Thuận của tác giả Hoàng Hồng Giang năm 2012 đã nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững, mối quan hệ giữa phát triển
và môi trường Từ đó phân tích về th ực trạng công tác BVMT và đề xuất một số
gi ải pháp BVMT theo định hướng phát triển bền vững du lịch tỉnh Bình Thuận [12] Tuy nhiên những giải pháp đề tài đưa ra chủ yếu là các giải pháp chung, chưa
tập trung vào loại hình du lịch cụ thể nên cũng còn nhiều điểm hạn chế, bất cập khó
áp dụng kết quả này vào công tác BVMT gắn với phát triển DLST đối với khu Ramsar Láng Sen, tỉnh Long An
Cũng nghiên cứu về DLST, tác giả Bùi Thị Minh Nguyệt (2012) khi nghiên cứu về Vườn Quốc Gia Ba Vì đã kết luận rằng để phát triển DLST đặc biệt là phát triển du
lịch bền vững thì Vườn Quốc Gia Ba Vì cần quan tâm đến 3 khía cạnh là bền vững
về kinh tế, bền vững về môi trường và bền vững về xã hội Các khía cạnh trên được
cụ thể hóa bằng một số giải pháp phát triển DLST bền vững như: quy hoạch, quản
lý và tổ chức quy hoạch; đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; tuyên truyền quảng bá
và thu hút đầu tư, chú trọng đào tạo phát triển nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản lý; các phương pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và bảo
vệ tài nguyên, [13]
Kết quả mà các nghiên cứu này mang lại có thể áp dụng một phần đối với Khu Ramsar Láng Sen Tuy nhiên do Rừng tràm Trà Sư, VQG Ba Vì và Láng Sen có nhiều điểm khác biệt: nguồn tài nguyên để taọ sản phẩm du lịch, văn hóa cộng đồng, cơ chế quản lý địa phương, nên không thể vận dụng triệt để vào Khu Ramsar Láng Sen mà phải có nghiên cứu sâu, cụ thể hơn cho Láng Sen Tác giả sẽ nghiên cứu theo hướng tận dụng các nguồn lực sẵn có trong khu vực để đề xuất giải
Trang 34Vị trí địa giới hành chính gần với ranh giới của tỉnh Đồng Tháp, nơi có một khu bảo
tồn thiên nhiên là Vườn Quốc (VQG) Gia Tràm Chim
Láng Sen nằm trong phạm vi có tọa độ địa lý:
- Từ 10045’ – 11050’ Vĩ độ Bắc
- Từ 105045’- 105050’ Kinh độ Đông
Trang 3521
Hình 1.2 Vị trí địa lý và địa giới hành chính khu Ramsar Láng Sen [14]
1.3.2 Địa hình, địa mạo
Do nằm trong khu vực vùng trũng của Đồng Tháp Mười nên khu vực Láng Sen được đánh giá chung là một vùng trũng thấp vì phần lớn khu vực này có độ cao dưới 1,0 m chiếm đến 4.723,49 ha (93,22% diện tích toàn khu vực) Trung bình địa hình dao động trong khoảng từ 0,7 – 1,0 m, chiếm diện tích 3.549,23 ha (74,33 %)
Những gò phù sa cổ với diện tích khá nhỏ có địa hình dao động từ 1,0 – 1,2 m, với
diện tích 323,30 ha (chiếm chỉ 6,78%) Với địa hình như thế, khu vực này được xem như một vùng đầm lầy ngập nước chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Cửu Long và chịu ngập lũ hàng năm
Về địa mạo, ngoại trừ những kênh rạch, có hai loại địa mạo là đồng bằng phẳng và đồng bằng thấp ngập nước theo mùa chiếm ưu thế trong khu vực Láng Sen với tổng
Trang 3622
diện tích lên đến 4.449,65 ha, chiếm 93,9 % tổng diện tích khu vực Từ hai loại địa
mạo chủ yếu của vùng đồng bằng, 5 đơn vị phụ của địa mạo đã được phân chia trong khu vực của Láng Sen gồm: gò phù sa cổ, trũng ngập nước ven sông, đồng
bằng thấp ngập nước, đồng bằng phẳng ngập nước, trũng nội địa [14]
1.3.3 Chế độ thủy văn
Chế độ thủy văn tại đây chịu ảnh hưởng trực tiếp của sông Cửu Long và thay đổi do ảnh hưởng biến đổi về dòng chảy trong toàn vùng Tân Hưng –Vĩnh Hưng Mạng lưới sông rạch tự nhiên trong khu vực Láng Sen và vùng lân cận khá dày, tuy nhiên lưu lượng lưu thông không lớn do lưu vực nhỏ
Láng Sen được tiếp nước chủ yếu do các kinh tạo nguồn lớn từ sông Cửu Long, như: kinh Hồng Ngự – Long An, kinh 79, kinh 28 và sông Lò Gạch Nguồn nước
trực tiếp tới khu vực Láng Sen đi qua 2 tuyến dẫn nước chính là kinh 79 và rạch Bông Súng Chất lượng nguồn nước thay đổi theo mùa và có sự khác biệt trong từng khu vực Mặc dù nằm trong nội địa nhưng Láng Sen chịu ảnh hưởng của thuỷ triều
biển Đông theo chế độ bán nhật triều, và lớn nhất vào mùa kiệt (mùa khô) Tuy nhiên biên độ dao động mực nước lớn nhất cũng trong khoảng < 0.5 m Biên độ này
giảm dần tới khi đỉnh lũ xuất hiện
Vùng ngập sâu trung bình ở vùng từ 2,5 -3,5m trong các năm lũ lớn (tương đương
lũ 1996, 2000), thời gian ngập từ 3 - 4 tháng Hiện nay, do mạng lưới kinh mương được phát triển và mở rộng nên thời gian ngập ngắn hơn 1 tháng so với trước đây Ngoài ra, lượng phù sa từ sông Mekong đưa về khu vực Láng Sen cũng nhiều hơn trước đây do lưu tốc dòng chảy tăng cao hơn do tác động từ các đê bao Vùng ngập sâu và lâu nhất vẫn là những nơi lung bàu trũng như Láng Sen, rạch Cái He, rạch Cái Nổ Thời gian bị ngập kéo dài đến 4 tháng (từ tháng 8 đến tháng 12)
Chất lượng nước trong toàn bộ khu vực KBTĐNN Láng Sen thay đổi theo mùa Trong mùa mưa, đồng thời với mùa nước lũ từ sông Mekong đổ về qua ngã kênh
Hồng Ngự và từ biên giới Campuchia đổi về qua ngọn sông Vàm Cỏ Tây phần lớn
Trang 3723
chất lượng nước khá tốt, nhất là khu vực Cái He và dọc theo kênh nội đồng và trục kênh 79 đi xuyên qua khu vực Láng Sen [14]
1.3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.3.4.1 Sự phân bố dân cư
Hình 1.3 Bản đồ phân bố dân cư trong khu vực Láng Sen [14]
Tân Hưng là một huyện thưa dân của tỉnh Long An Dân số toàn huyện năm 2015
chỉ khoảng 55.166 người, mật độ dân số 110 người/km2, chỉ gần bằng 1/3 mật độ dân số của tỉnh Long An (327 người/km2) Các xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, Vĩnh Châu
A cũng là những xã có dân cư thưa thớt nhất huyện
Phần lớn dân cư sống trong vùng Láng Sen tập trung chủ yếu ở những nơi thuận lợi giao thông, dịch vụ và dễ khai thác tài nguyên thiên nhiên như: dọc theo các sông
rạch tự nhiên, ngọn sông Vàm Cỏ Tây, rạch Cả Sách, Cả Rưng và kinh 2 Thước [14]
Trang 3824
1.3.4.2 Kinh tế-xã hội
Hình thức phát triển kinh tế chính của cộng đồng sống trong Khu Ramsar Láng Sen
chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, dịch vụ và làm thuê Trong đó nông nghiệp chiếm đại đa số với các mô hình sản xuất như: canh tác lúa, trồng tràm, chăn nuôi gia súc, phát triển thủy sản: nuôi cá Lóc Channa lucius, Channa micropeltes, Channa striata), nuôi Lươn (Monopterus albus), và nuôi Trăn Còn số hộ lao động làm dịch vụ, buôn bán nhỏ chiếm tỉ lệ rất ít do dân cư chủ yếu sống dọc theo các sông rạch
Đối với những hộ dân có điều kiện khó khăn về đất sản xuất, không có hoặc có rất ít đất sản xuất, thì công việc làm thuê (cắt lúa, xẻ gỗ,…) là nguồn thu nhập chính của
họ vào mùa khô; còn vào mùa lũ thì đánh bắt thủy sản tự nhiên và thu hoạch thực
vật bên trong KBTĐNN là công việc kiếm sống hằng ngày hay để giải quyết thời gian nhàn rỗi Đối với những hộ dân có đất sản xuất thì đã xây dựng và áp dụng mô hình sản xuất kết hợp: canh tác lúa, nuôi thủy sản và làm thuê
Cuộc sống của người dân ở đây gắn bó chặt chẽ với đất ngập nước, bởi lẽ cuộc sống hàng ngày của họ nhờ vào những sản phẩm từ đất ngập nước như lúa, cá, tôm và các sản phẩm khác của rừng Hơn nữa, trình độ học vấn thấp, cơ sở hạ tầng thấp kém, cộng đồng dân cư không tiếp cận được với điện và nước sạch, giao thông đi lại khó khăn… Đây chính là những nguyên nhân làm cho nền kinh tế ở đây nghèo nàn, không phát triển được Sức ép về dân số, về thu nhập và sự kém hiểu biết đã đặt Láng Sen vào một tình trạng bị tổn thương nặng Do đó sẽ tốn nhiều thời gian và kinh phí đầu tư ban đầu cho các dự án phát triển cộng đồng [14]
1.3.5 Phân khu quản lý tài nguyên tại khu Ramsar Láng Sen
Phạm vi quản lý tài nguyên môi trường của Khu Ramsar Láng Sen được quy định
tại điều 5 của Quyết định 4122/QĐ-UBND ngày 13/11/2017 của UBND tỉnh Long
An, cụ thể như sau:
- Phân khu bảo tồn các hệ sinh thái và đa dạng sinh học: với diện tích là 1.921 ha Đây là khu bảo vệ nghiêm ngặt thuộc vùng lõi Khu vực này này bao gồm các hệ
Trang 3925
sinh thái tự nhiên với sự hiện diện của nhiều loài động - thực vật tạo thành những sinh cảnh đặc trưng của vùng ĐTM Khu này bao gồm cả khu trú ngụ và sinh sản
của các loài chim nước cần phải bảo vệ
- Phân khu hệ thủy sản tự nhiên: Với diện tích khoảng 156 ha Đây là khu vực nằm trong khu vực ngã ba sông Vàm Cỏ Tây - rạch Cái He, nơi trú ngụ và sinh sản của nhiều loài thủy sản tự nhiên của vùng ĐTM Để bảo vệ khu chức năng này cần có
sự phối hợp với chính quyền địa phương và có sự tham gia của cộng đồng trong
việc khai thác và sử dụng bền vững TNTN
- Khu rừng tràm kinh tế: Với diện tích khoảng 982 ha Đây là khu rừng tràm thuộc
quản lý tạm thời của Lâm trường Vĩnh Lợi Do đặc thù còn chịu sự quản lý của đơn
vị khác và có hoạt động cho thuê đất trồng tràm, do đó tạm thời hoạt động dưới
- Vùng đệm (buffer zone): diện tích khoảng 1.400 ha Là khu vực đất thuộc sở hữu
sử dụng của cộng đồng dân cư Hiện trạng sử dụng đất chủ yếu canh tác lúa, trồng tràm và các cây thân gỗ khác, nuôi thủy sản
- Khu quản lý hành chính - nhà nghỉ: diện tích khoảng 15 ha Đây là khu dùng để xây dựng nhà làm việc của Khu bảo tồn, nhà nghỉ và khu cứu hộ động vật hoang dã [15]
Trang 4026
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng công tác BVMT và hoạt động DLST tại Khu Ramsar Láng Sen:
+ Hiện trạng môi trường (đất, nước, các hệ sinh thái, ); các sức ép lên công tác BVMT; đánh giá những giải pháp BVMT đang được áp dụng tại Khu Ramsar Láng Sen
+ Thực trạng hoạt động DLST tại Khu Ramsar Láng Sen
- Đánh giá tiềm năng phát triển DLST tại Khu Ramsar Láng Sen: tài nguyên sinh
vật, đa dạng sinh học, ; cơ sở hạ tầng của địa phương phục vụ phát triển du lịch, hạ
tầng kết nối với các điểm, tuyến đường và các vùng khác; thị trường du lịch, luồng khách du lịch, môi trường phục vụ phát triển du lịch; sức hút khách du lịch và các
yếu tố khác
- Cơ chế, chính sách và những tồn tại trong công tác quản lý du lịch kết hợp BVMT
- Đề xuất giải pháp phát triển DLST kết hợp BVMT tại Khu Ramsar Láng Sen
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập, kế thừa tài liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả đã tiến hành nhiều lần thực địa để điều tra, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu
Nội dung các đợt điều tra khảo sát xoay quanh những vấn đề như: tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Khu Ramsar Láng Sen; hiện trạng bảo vệ và phát triển du
lịch tại Khu Ramsar Láng Sen trong những năm qua…
Chuẩn bị 250 phiếu thông tin và tiến hành điều tra đối với 3 đối tượng: Cộng đồng dân cư Khu Ramsar Láng Sen; Chính quyền địa phương và cán bộ quản lý; Khách