LÊ THỊ THANH HƯƠNG NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HOA SEN Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH Mã chuyên ngành: 60340102 LUẬN VĂN T
Trang 1LÊ THỊ THANH HƯƠNG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN TẬP ĐOÀN HOA SEN
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã chuyên ngành: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS TS Phạm Xuân Giang - Chủ tịch Hội đồng
2 TS Phan Quốc Tấn - Phản biện 1
3 TS Bảo Trung - Phản biện 2
4 TS Đoàn Ngọc Duy Linh - Ủy viên
5 TS Lê Thị Kim Hoa - Thư ký
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Lê Thị Thanh Hương MSHV:16000511
Ngày, tháng, năm sinh: 10/02/1984 Nơi sinh: TP Hà Nội
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Mã chuyên ngành: 60340102
I TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen từ đó đưa ra các hàm ý
quản trị
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 29/08/2018
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 11/03/2019
IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Quang Vinh
Tp Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 03 năm 2019
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
(Họ tên và chữ ký)
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO
(Họ tên và chữ ký)
TS Nguyễn Quang Vinh
TRƯỞNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô trường Đại học Công Nghiệp TP HCM đã trang bị cho tôi kiến thức và truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm quý báu làm nền tảng cho việc thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ts Nguyễn Quang Vinh đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo
để tôi có thể hoàn thành luận văn cao học này
Cuối cùng Tôi gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân đã luôn tin tưởng, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập
Học Viên
Lê Thị Thanh Hương
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Với đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty
Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen” nhằm giải quyết ba mục tiêu chính sau:
(i) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen (ii) Đo lường mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen (iii) Dựa vào kết quả nghiên cứu,
đề xuất những hàm ý quản trị giúp đẩy mạnh năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
Với phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định tính thực hiện thông qua việc tổng hợp lý thuyết liên quan, phỏng vấn sâu chuyên gia nhằm xây dựng mô hình nghiên cứu, xây dựng thang đo và thiết kế bảng hỏi Sau khi phát ra 220 phiếu khảo sát, tác giả thu về 200 phiếu hợp lệ đạt tỷ lệ 90,9% Số liệu thu thập được tác giả sử dụng kỹ thuật xử lý và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0, tiến hành kiểm định thông qua các bước: Đánh giá độ tin cậy các thang đo bằng kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA bằng kiểm định KMO, phân tích hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu với kiểm định F và Sig, thực hiện kiểm định T-Test và ANOVA
Kết quả nghiên cứu sau cùng xác định chỉ có 6 yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen với mức độ tác động từ mạnh đến yếu như sau: 1) Yếu tố Năng lực tài chính; 2) Yếu tố Năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp; 3) Yếu tố Năng lực tổ chức dịch vụ; 4) Yếu tố Năng lực tiếp cận và đổi mới công nghệ; 5) Yếu tố Năng lực tạo lập các mối quan hệ; 6) Yếu tố Năng lực Marketing
Trang 6About reseach methochology, qualitative research is done through the synthesis of related theories, in-depth interviews with experts to build research models, build scales and create questionnaire After issuing 220 survey forms, the author collected
200 valid forms reaching 90.1% Collected data is processed and analyzed with SPSS software 20.0, through testing steps: Evaluation of the reliability with Cronbach's Alpha scales, analysis of EFA discovery factor with KMO test, regression analysis and verification of research hypotheses with F and Sig tests, implementation of T-Test and ANOVA tests
Six factors were determined to have affect on the competitiveness of Hoa Sen Group Joint Stock Company That are aranked from the strogert to the weakest as following: 1) Financial capacity; 2) The capacity of business management; 3) Service capacity; 4) Capacity of accessing innovate technologies; 5) Capacity of creating relationships; 6) Marketing capacity
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen” là công trình nghiên cứu do chính tôi
thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ts Nguyễn Quang Vinh
Các số liệu trong đề tài này được thu thập và sử dụng một cách hoàn toàn trung thực Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào khác trước đây
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về pháp lý trong quá trình nghiên cứu khoa học của luận văn này
Học viên
Lê Thị Thanh Hương
Trang 8MỤC LỤC
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANMỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 4
1.5 Phạm vi nghiên cứu 4
1.6 Phương pháp nghiên cứu 4
1.7 Ý nghĩa thực tiễn 5
1.8 Bố cục luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 6
2.1.1 Khái niệm cạnh tranh 6
2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 7
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về năng lực cạnh tranh 12
2.2.1 Một số nghiên cứu quốc tế 13
2.2.2 Một số nghiên cứu trong nước 14
2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 17
2.3.1 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp 17
2.3.2 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 29
2.4 Mô hình nghiên cứu lý thuyết đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Tập đoàn Hoa Sen 32
2.4.1 Cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu 33
2.4.1.1 Mô hình Kim cương 33
2.4.1.2 Tam giác năng lực cạnh tranh 34
2.4.1.3 Một số mô hình nghiên cứu khác 35
2.5 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 36
Trang 92.5.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 36
2.5.2 Giả thuyết nghiên cứu 38
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Quy trình nghiên cứu 40
3.2 Nghiên cứu định tính 41
3.3 Mã hoá thang đo và xây dựng bảng hỏi 49
3.3.1 Mã hoá thang đo 49
3.3.2 Xây dựng bảng hỏi 50
3.4 Nghiên cứu định lượng 51
3.4.1 Cỡ mẫu 51
3.4.2 Thống kê mô tả mẫu 52
3.4.3 Đánh giá thang đo 52
3.4.4 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 54
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57
4.1 Khái quát về ngành thép Việt Nam và sản phẩm tôn thép của Công ty Cổ Phần Tập Đoàn Hoa Sen 57
4.1.1 Đôi nét về thị trường thép Thế giới và Việt Nam 57
4.1.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Hoa Sen 58
4.2 Kết quả nghiên cứu 62
4.2.1 Thông kê tần số 62
4.2.2 Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha 62
4.2.3 Phân tích nhân tố EFA 65
4.2.3.1 Phân tích EFA các biến độc lập 65
4.2.3.2 Phân tích EFA biến phụ thuộc 69
4.2.4 Kiểm định hệ số tương quan 71
4.2.5 Kiểm định hồi quy 72
4.2.6 Dò tìm sự vi phạm các giả định trong mô hình 74
4.2.7 Thảo luận kết quả phân tích hồi quy 76
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN CÙNG VỚI CÁC HÀM Ý QUẢN TRỊ 80
5.1 Kết luận 80
5.2 Hàm ý quản trị 83
5.2.1 Hàm ý quản trị về năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp 83
5.2.2 Hàm ý quản trị về năng lực Marketing 85
Trang 105.2.3 Hàm ý quản trị về năng lực tài chính 91
5.2.4 Hàm ý quản trị về năng lực tiếp cận và đổi mới công nghệ 92
5.2.5 Hàm ý quản trị về năng lực tổ chức dịch vụ 94
5.2.6 Hàm ý quản trị về năng lực tạo lập các mối quan hệ 96
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 141
Trang 11DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (1990) 9
Hình 2.2 Mô hình Kim Cương 11
Hình 2.3 Mô hình Kim cương của M Porter 34
Hình 2.4 Tam giác năng lực cạnh tranh 35
Hình 2.5 Năng lực cạnh tranh của các cửa hàng tại Đài Loan 36
Hình 2.6 Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của Công ty Cổ Phần Tập đoàn Hoa Sen 38
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 41
Hình 4.1 Thị phần tôn và ống thép của Việt Nam năm 2016 - 2017 62
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh 30
Bảng 3.1 Thang đo gốc 43
Bảng 3.2 Thang đo gốc và ý kiến thảo luận nhóm 47
Bảng 3.3 Mã hoá thang đo 50
Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu kinh doanh của Tập đoàn Hoa Sen giai đoạn 2016 – 2017 60
Bảng 4.2 Đặc điểm mẫu khảo sát 63
Bảng 4.3 Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 64
Bảng 4.4 Phân tích nhân tố với các biến độc lập lần 1 67
Bảng 4.5 Phân tích nhân tố với các biến độc lập lần 2 68
Bảng 4.6 Kết quả phân tích nhân tố EFA biến phụ thuộc 70
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định Pearson’s 72
Bảng 4.8 Hệ số xác định R2 hiệu chỉnh 73
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định ANOVA 74
Bảng 4.10 Kết quả phân tích hồi quy đa biến 74
Bảng 4.11 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 75
Bảng 4.12 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 77
Bảng 5.1 Yếu tố tổ chức quản lý 84
Bảng 5.2 Yếu tố marketing 86
Bảng 5.3 Yếu tố tài chính 92
Bảng 5.4 Yếu tố tiếp cận đổi mới công nghệ 93
Bảng 5.5 Yếu tố tổ chức dịch vụ 95
Bảng 5.6 Yếu tố tạo lập mối quan hệ 97
Trang 14CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
1.1 Lý do chọn đề tài
Tính đến cuối năm 2016 Việt Nam đã ký kết, thực hiện và đang tiến hành đàm phán tổng cộng 16 Hiệp định Thương mại Tự do (FTAs), trong đó Việt Nam đã ký kết và thực hiện 10 FTA, đã kết thúc đàm phán một FTA và đang đàm phán 5 FTA khác
Và mới đây nhất chính là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Đây chính là bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến quan trọng của đất nước ta trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hoá Việt Nam sẽ phải mở cửa cho hàng hóa, dịch vụ của các nước đối tác tại thị trường trong nước, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt hơn trên sân nhà Việt Nam có trình độ phát triển được xem là thấp nhất trong các thành viên CPTPP, khả năng thích nghi của doanh nghiệp Việt Nam với kinh tế thị trường còn kém nên nguy cơ thất bại của các doanh nghiệp trên chính thị trường nội địa có thể sẽ gia tăng, nhất là ở một số lĩnh vực như nông nghiệp - chăn nuôi công nghệ cao v.v…Do vậy nếu mỗi doanh nghiệp trong nước không tự nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thì trong trận chiến vốn không cân sức với đối thủ nước ngoài sẽ rất dễ bị loại khỏi cuộc đua Mặt khác nâng cao năng lực cạnh tranh cũng chính là nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế Sở dĩ như vậy là vì:
- Do yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ không chỉ về mặt chất lượng, giá cả, kiểu cách thiết kế, tính mỹ thuật sản phẩm, các dịch vụ sau bán mà sự ưa chuộng của khách hàng còn được thể hiện qua uy tín, kinh nghiệm, thương hiệu của chính doanh nghiệp Vì thế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có những cải tiến đổi mới nhất định để nâng cao năng lực của mình mới có khả năng đáp ứng những yêu cầu này của khách hàng
- Do cuộc bùng nổ cách mạng công nghiệp 4.0, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, điện tử, Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), điện toán đám mây, phân tích dữ liệu lớn (SMA), cơ khí chế tạo, tự
Trang 15động hóa, công nghệ sinh học Trong cuộc chạy đua này nếu doanh nghiệp nào tận dụng được sức mạnh kỹ thuật thì chắc chắn sẽ về đích nhanh hơn Mà để tiếp cận đươc với những công nghệ cao này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự tích luỹ, nâng cao năng lực của mình Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, phạm vi, tính chất cạnh tranh của từng doanh nghiệp sẽ mở rộng và khốc liệt hơn Tuy nhiên, gần đây, khi Hòa Phát lấn sân sang lĩnh vực tôn mạ màu, 2 ông lớn ngành thép mới thực sự đối chọi nhau Nhưng trước khi Hòa Phát trở thành “mối đe dọa”, Hoa Sen đã tự mình suy yếu Đây là điều bất ngờ vì cách đây hơn 1 năm, Hoa Sen “phô trương thanh thế” với với siêu dự án tỷ đô Hoa Sen Cà Ná Cổ đông Hoa Sen đã chứng kiến các chỉ tiêu kinh doanh của tập đoàn suy yếu trong nhiều quý Năm 2017, lợi nhuận sau thuế tập đoàn giảm 172 tỷ đồng, tương đương 11,4% so với năm 2016 Lợi nhuận giảm sâu bất chấp doanh thu tăng mạnh từ 18.006 tỷ đồng lên 26.337 tỷ đồng Nguyên nhân là do giá vốn hàng bán và chi phí tài chính tăng quá mạnh Sang năm 2018, tình hình không những không được cải thiện mà còn lao dốc hơn Lợi nhuận sau thuế quý
1 năm 2018 của Hoa Sen chỉ đạt 333 tỷ đồng, giảm 107 tỷ đồng, tương ứng 24,3% so với quý 1/2017 Giá vốn hàng bán và chi phí tài chính tăng cao tiếp tục là “tội đồ” của Hoa Sen Với cổ đông thông thường, đây là thông tin bất ngờ nhưng với những
ai am hiểu ngành thép, dấu hiệu bết bát của Hoa Sen đã xuất hiện từ lâu Thị phần của Hoa Sen ở phân khúc tôn mạ đã giảm từ mức 40,9% năm 2012 xuống chỉ còn 33,1% năm 2016 Để cải thiện thị phần, Hoa Sen mở rộng quy mô với mục đích giảm giá thành sản phẩm Nhờ vậy, thị phần năm 2017 của tập đoàn tăng nhẹ lên 34,3% Thế nhưng, “tác dụng phụ” của chiến lược này chính là để mở rộng quy mô, Hoa Sen phải gia tăng nợ vay, từ đó khiến chi phi tài chính tăng vọt, gây áp lực lên lợi nhuận
Tại thời điểm cuối quý 1/2018, tổng nợ phải trả tại tập đoàn đạt 18.608 tỷ đồng, tăng 2.239 tỷ đồng so với cuối năm 2017 và cao gấp 3,4 lần vốn chủ sở hữu Trong đó, tổng nợ vay đạt 17.054 tỷ đồng, chiếm 91,6% tổng nợ phải trả và cao gấp 3,1 lần vốn góp chủ sở hữu Bảo Linh (2017) Nên để đứng vững được trong cơ chế thị trường,
mở rộng thị phần, phát triển thương hiệu không có con đường nào khác là nâng cao
Trang 16cạnh tranh gay gắt bởi các đối thủ cạnh tranh trong ngành với những đối thủ mạnh về vốn, nguồn nhân lực, quy trình công nghệ v.v, điều này làm cho doanh thu và lợi nhuận của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen bị ảnh hưởng không nhỏ Vì vậy làm thế nào để có thể giữ vững được vị thế cạnh tranh, hoàn thành được mục tiêu đề ra là vấn đề cấp thiết nhất mà công ty phải giải quyết Đây cũng chính là lý do nghiên cứu,
học viên chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen” làm đề tài luận văn
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đã trình bày, đề tài cần phải trả lời những câu hỏi sau:
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen?
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến năng lực cạnh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen?
Trang 17Hàm ý quản trị nào giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty
Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
Năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen là đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát các thành viên ban Điều hành (các Phó tổng Giám đốc), Ban Kiểm soát, các trưởng phòng ban nghiệp vụ Hội sở, Các Giám đốc/ Phó Giám đốc Chi nhánh, Phòng giao dịch.v.v…
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính: Nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen và hiệu chỉnh các thang đo của các yếu tố trong mô hình nghiên cứu đã đề xuất Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua hai giai đoạn Giai đoạn một tác giả nghiên cứu tổng quan cơ sở lý thuyết để đưa ra các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu Sau đó, tác giả tiến hành phỏng vấn 10 chuyên gia đang làm việc tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và hiệu chỉnh các thang đo của các yếu tố
Trang 18trong mô hình nghiên cứu đã đề xuất Kết quả nghiên cứu định tính làm cơ sở xây dựng bảng câu hỏi thu thập thông tin để thực hiện nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu định lượng được sử dụng để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen Sau khi hoàn thành việc khảo sát các chuyên gia, lãnh đạo của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen Tác giả sử dụng kỹ thuật xử lý và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 20.0, tiến hành kiểm định thông qua các bước: Đánh giá độ tin cậy các thang đo bằngkiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA bằng kiểm định KMO, phân tích hồi quy và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu với kiểm định F và Sig Tiếp theo, thực hiện kiểm định T-Test và nhằm tìm ra sự khác biệt có ý nghĩa về năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
1.7 Ý nghĩa thực tiễn
Sau khi tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen, kết quả của bài nghiên cứu này là tài liệu tham khảo cho công ty khi đưa ra các chiến lược phát triển kinh doanh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
1.8 Bố cục luận văn
Luận văn được trình bày gồm 5 chương
Chương 1: Giới thiệu tổng quan
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết Quả Nghiên cứu
Chương 5: Kết luận cùng với các hàm ý quản trị
Tóm tắt chương 1 : Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu của đề tài nghiên cứu, sơ lược về phương pháp nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Trang 19CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một phạm trù kinh tế Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, thương mại v.v Thuật ngữ này còn được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, ngành hay quốc gia v.v…Như vậy cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều
cách quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau:
Tiếp cận ở góc độ đơn giản thì cạnh tranh là hành động ganh đua đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, các phần thưởng hay những thứ khác Theo K.Marx (1997): Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu
ngạch Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua
giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nhà kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất,
tiêu thụ thị trường có lợi nhất
Theo Michael Porter (1990): Cạnh tranh là đấu tranh giành lấy thị phần, khách hàng hay nguồn lực của các doanh nghiệp Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh không phải tiêu diệt đối thủ mà là tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh Theo hai nhà kinh tế học P.Samuelson và W.D.Nordhaus (1998) định nghĩa: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường
Cạnh tranh là quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, nó tồn tại hai mặt của một vấn đề: mặt tiêu cực và mặt tích cực Ở khía cạnh tích cực cạnh tranh làm thúc đẩy quá trình phát triển của các hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa, dịch vụ Tạo
Trang 20phần thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ dẫn đến gia tăng sản xuất trong xã hội Bên cạnh mặt tiêu cực thì cạnh tranh chỉ nhằm mục đích chạy theo lợi nhuận mà bất chấp tất cả, có thể xảy ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội như môi trưởng sinh thái bị hủy hoại, nhân cách con người bị tha hóa Mặc dù có thể dẫn ra nhiều cách diển đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể rút ra những điểm chung về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các
cá nhân, các nhóm, nhằm giành phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự để đạt được mục đích cuối cùng Nguyễn Văn Sinh (2014)
2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh sản phẩm và dịch
vụ Luận văn này chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
Theo Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế Theo quan điểm của Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương thì: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước
Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về năng lực kinh tế Tổ chức UNCTAD thuộc Liên hiệp quốc cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc hay năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp và rẻ của doanh nghiệp
Trang 21Ngoài ra còn có nhiều học thuyết đã xây dựng để phân tích về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp như học thuyết của Michael Porter (1990) Theo ông: Để có thể cạnh tranh thành công phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để được mức giá cao hơn trung bình Để duy trì lợi thế cạnh tranh của mình các doanh nghiệp ngày càng cần đạt được lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn
Hình 2.1 Năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter (1990)
Nguồn: Michael Porter (1990)
Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Porter (1990) được thể hiện như sau:
(1) Sự cạnh tranh giữa các công ty buộc họ phải lao vào cuộc chiến tranh về giá cả, chi phí quảng cáo, khuyến mãi
CÁC ĐỐI THỦ TIỀM NĂNG
CÁC DỐI THỦ CẠNH TRANH TRONG
KHÁCH HÀNG
NHÀ
CUNG
ỨNG
SẢN PHẨM THAY THẾ
Nguy cơ của người mới nhập cuộc Quyền thương lượng
của nhà cung ứng
Nguy cơ của sản phẩm và dịch vụ thay thế
Quyền thương lượng của người mua
Trang 22(2) Do sự đe dọa về việc xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mới buộc công ty phải liên tục đầu tư vào việc tạo ra các rào cản thị trường thật cao nhằm ngăn chặn các công ty mới này nhập ngành
(3) Các sản phẩm thay thế cũng là một áp lực cạnh tranh không nhỏ Nhiều ngành nghề đã từng bị biến mất khi xuất hiện sản phẩm thay thế
(4) Hệ thống phân phối và bán lẻ hùng mạnh sẽ có tác động rất lớn đến việc ấn định giá cả sản phẩm, những nhà sản xuất không thể tùy tiện tăng giá
(5) Những nhà cung cấp nguyên vật liệu cũng có quyền lực tương tự
Trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (1990), Michael Porter đã đề xuất mô hình kim cương, theo mô hình này tác giả đã đưa ra cách phân tích để hiểu bản chất
và đo lường NLCT của doanh nghiệp Mô hình được diễn tả bằng khối tứ diện, 4 đỉnh là: doanh nghiệp (với đặc trưng chiến lược, cơ cấu, cạnh tranh); các yếu tố cung; các yếu tố cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan Khối tứ diện chịu tác động của hai yếu tố “bên ngoài” là cơ hội và Chính phủ Hình tứ diện cho thấy tiềm năng lợi nhuận của một ngành
Mô hình kim cương đưa ra khuôn khổ phân tích để hiểu bản chất và đo lường NLCT của doanh nghiệp
Trang 23Hình 2.2 Mô hình Kim Cương
Nguồn: Michael Porter (1990)
CHIẾN LƯỢC
CƠ CẤU VÀ
SỰ CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CÁC NGÀNH HỖ TRỢ VÀ CÓ LIÊN QUAN
CÁC ĐIỀU KIỆN NHU CẦU
CÁC ĐIỀU KIỆN NHÂN
TỐ SẢN XUẤT
Vị thế quốc gia ( các yêu tố cho sản xuất như lao động, cơ sở
hạ tầng )
Đặc tính quản lý kinh
tế xã hội của quốc gia mà công ty đó được sinh ra
Bản chất của nhu cầu thị trường nội địa ( chất lượng, giá cả, nhu cầu của khách hàng
Trang 24Bốn nhóm yếu tố trong mô hình kim cương của Michael Porter phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tác động đến việc hình thành NLCT quốc tế của các doanh nghiệp - Chiến lược, cơ cấu, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp: Đây là điều kiện ảnh hưởng đến việc thành lập các công ty, đến tổ chức và quản lý doanh nghiệp
Ở đây các lĩnh vực văn hoá đóng một vai trò quan trọng Ở các quốc gia khác nhau, các yếu tố như cơ cấu quản lý, đạo đức kinh doanh, các tác động qua lại giữa các công ty được hình thành khác biệt nhau Điều này sẽ cung cấp những lợi thế và bất lợi cho những ngành công nghiệp riêng Việc tìm kiếm lợi thế cạnh tranh trong một quốc gia có thể tạo cơ sở để được lợi thế cạnh tranh trên quy mô toàn cầu
- Các yếu tố cung: Hiện trạng của một quốc gia liên quan đến các yếu tố sản xuất như lao động kỹ năng, kết cấu hạ tầng, chúng có liên quan đến cạnh tranh cho những ngành riêng
- Các yếu tố cầu: Các điều kiện của cầu tác động đến không gian, xu hướng cải tiến
và phát triển sản phẩm Các nhu cầu được thể hiện bởi ba đặc tính: nhu cầu và sở thích người tiêu dùng; phạm vi, tốc độ phát triển và các cơ chế mà nó truyền những
sở thích từ thị trường trong nước sang thị trường nước ngoài
- Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Một ngành công nghiệp thành công có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh cho các ngành hỗ trợ hoặc có liên quan Những ngành công nghiệp cung cấp có tính cạnh tranh sẽ tăng cường sức mạnh cho việc đổi mới
và quốc tế hoá các ngành ở những giai đoạn sau chuỗi hệ thống giá trị Bên cạnh những nhà cung cấp, những ngành công nghiệp hỗ trợ rất quan trọng Đây là những ngành công nghiệp có thể phối hợp các hoạt động trong chuỗi giá trị hoặc chúng có liên quan đến những sản phẩm bổ sung (ví dụ như phần cứng, phần mềm v.v, )
Mô hình này đã lý giải những lực lượng thúc đẩy sự đổi mới của các doanh nghiệp
và qua đó, nâng cao NLCT của doanh nghiệp Bốn nhóm yếu tố trong mô hình kim cương phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tạo nên NLCT quốc tế của các doanh nghiệp Sự sẵn có các nguồn lực cần thiết cho việc phát triển một ngành; thông tin thông suốt về những cơ hội kinh doanh là cần thiết cho các doanh nghiệp
Trang 25để có thể tiếp cận; chiến lược của các doanh nghiệp là cơ sở khai thác và sử dụng hiệu quả các yếu tố nguồn lực; các quan điểm, triết lý kinh doanh của chủ sở hữu, quản trị viên, các nhân viên trong doanh nghiệp, “cộng hưởng” thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới sản phẩm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Vai trò của nhà nước là thông qua các chính sách vĩ mô tác động vào cả bốn “mặt” của “viên kim cương” sao cho chúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước nâng cao NLCT trên thương trường quốc tế Michael Porter cho rằng, một tổ chức có thể dựa trên quan điểm tựa quốc gia để hình thành nên lợi thế cạnh tranh toàn cầu Điểm tựa này cung cấp các yếu tố cơ bản về hạ tầng, thương hiệu v.v, hỗ trợ các tổ chức trong việc xây dựng lợi thế cạnh tranh toàn cầu
Lý thuyết của Michael Porter đã được vận dụng trong đánh giá xếp hạng NLCT cấp tỉnh ở Việt Nam Trong hội thảo “Cạnh tranh toàn cầu và lợi thế Việt Nam” (tháng 12/2008), Michael Porter đã chỉ ra rằng, rất nhiều ngành hàng của Việt Nam đã có
vị trí cao trên thế giới như gạo, điều, cà phê, tiêu, thuỷ sản Nhiều ngành hàng khác của Việt Nam cũng đang vươn lên để chiếm lĩnh vị trí tốt trên thị trường thế giới, đặc biệt là ngành may mặc, giày da, đồ gỗ Trong khi đó, không ít ngành lại đứng trước cuộc cạnh tranh khốc liệt của các hãng nước ngoài
Cho đến hiện nay trên thế giới cũng như trong nước, quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn chưa được hiểu thống nhất Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa cần quan tâm đến một số vấn
đề như về điều kiện và trình độ phát triển trong từng thời kỳ, khả năng sử dụng các yếu tố sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm sáng tạo, sự uy tín doanh nghiệp trong việc thu hút khách hàng, hay tạo nên lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh Từ những yếu
tố trên tác giả đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, nhằm thoã mãn các yêu cầu của khách hàng
để thu lợi nhuận cao và đảm bảo sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp
Trang 262.2.1 Một số nghiên cứu quốc tế
Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, lý thuyết, khung phân tích và mô hình của tác giả Ambastha và Momaya (2004) đã đưa ra lý thuyết về năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các yếu tố: (1) Nguồn lực (nguồn nhân lực, cấu trúc, văn hóa, trình độ công nghệ, tài sản của doanh nghiệp); (2) Quy trình (chiến lược, quy trình quản lý, quy trình công nghệ, quy trình tiếp thị); (3) Hiệu suất (chi phí, giá cả, thị phần, phát triển sản phẩm mới) Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung mà chưa phân biệt về qui mô, địa
lý, lĩnh vực hoạt động Vì thế, nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế nếu vận dụng nghiên cứu cho doanh nghiệp ở những qui mô và lĩnh vực khác nhau
Ho (2005) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị trong doanh nghiệp
và năng lực cạnh tranh Tác giả đưa ra mô hình đo lường các hoạt động quản trị trong doanh nghiệp thông qua năm khía cạnh, (1) Cơ cấu hội đồng quản trị; (2) Cương vị quản lý; (3) Chiến lược lãnh đạo; (4) Sở hữu tập trung và các mối quan hệ vốn - thị trường; (5) Trách nhiệm xã hội có mối quan hệ với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, có sự ảnh hưởng của hoạt động quản trị trong doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh, số điểm hoạt động quản trị trong doanh nghiệp càng cao thì đánh giá năng lực cạnh tranh sẽ càng cao Kết quả cũng chỉ ra rằng, mối quan hệ giữa hoạt động quản trị trong doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh
sẽ cao hơn khi quản trị được đánh giá trên cơ sở toàn diện (tất cả năm thông số đặt cùng nhau) thay vì đánh giá riêng lẻ Tuy nhiên, Ho (2005) chỉ tập trung vào các công
ty kinh doanh hàng đầu bao gồm trong danh sách 500 công ty Fortune và danh sách 1.000 công ty Business Week Nghiên cứu chỉ tập trung làm rõ mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và năng lực quản trị trong doanh nghiệp mà không xét đến những khía cạnh khác Do đó, vẫn còn tồn tại một khoảng trống nghiên cứu rõ ràng trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa quản trị của các doanh nghiệp ở các nước phát triển
và khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường quốc tế
Trang 27nguồn nhân lực, tình Thompson, Strickland và Gamble (2007) đã đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh tổng thể của một doanh nghiệp dựa trên 10 yếu
tố (Hình ảnh/uy tín, công nghệ, mạng lưới phân phối, khả năng phát hình tài chính và trình độ quảng cáo, khả năng quản lý thay đổi) Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ xác định các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp và đánh giá nó dựa trên phương pháp cho điểm nhằm so sánh năng lực giữa các doanh nghiệp mà chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố này đến NLCT và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Nghiên cứu của Onar và Polat (2010) Nghiên cứu này đã phân tích các nhân tố tác động đến NLCT của doanh nghiệp bao gồm (1) khả năng quản trị, (2) khả năng sản xuất, (3) khả năng bán hàng-marketing, (4) khả năng dịch vụ hậu cần logistics, (5) công nghệ thông tin, (6) tài chính - kế toán, (7) nguồn nhân lực, (8) dịch vụ chăm sóc khách hàng, (9) cung ứng, (10) nghiên cứu và phát triển, (11) quản trị công nghệ, (12) đổi mới và (13) quan hệ khách hàng Nghiên cứu này đã khẳng định quyết định chiến lược càng đúng đắn thì càng tạo ra khả năng cạnh tranh cao
- Nghiên cứu của tác giả Sauka (2014) nghiên cứu đã xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến NLCT cấp công ty, bao gồm: (1) Năng lực tiếp cận các nguồn lực; (2) Năng lực làm việc của nhân viên; (3) Nguồn lực tài chính; (4) Chiến lược kinh doanh; (5) Tác động của môi trường; (6) Năng lực kinh doanh so với đối thủ; (7) Sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc Nhược điểm chủ yếu của nghiên cứu này là chỉ sử dụng phương pháp thống kê và đưa ra nhận xét dựa trên giá trị trung bình Nghiên cứu chỉ xác định những yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp và đo lường mức độ của chúng thông qua khảo sát nhưng không đề cập đến mối quan hệ với NLCT của doanh nghiệp Kết quả của nghiên cứu được đánh giá trong bối cảnh tại Latvian bởi các công ty nói chung, mà không phân biệt lĩnh vực hoạt động nên kết quả sẽ hạn chế khi áp dụng vào các nước có nền kinh tế phát triển cũng như những công ty có ngành nghề khác
2.2.2 Một số nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu tại Việt Nam về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong những
Trang 28năm gần đây cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu và các các học giả quan tâm Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai hướng chính: (1) nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong một ngành; (2) nghiên cứu về các yếu tố nội tại tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trần Quốc Hiếu (2012) Nghiên cứu đề xuất mô hình gồm 6 nhân tố nhân tố bên trong là: Năng lực tài chính của doanh nghiệp; Nguồn nguyên liệu; Trình độ thiết bị công nghệ; Năng lực marketing; Hoạtđộng chất lượng; Thương hiệu công ty; và 2 nhân tố bên ngoài là: Yếu tố thuộc môi trường kinh tế vi mô; Yếu tố thuộc môi trường kinh
tế vĩ mô Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng là lập ma trận đánh giá các yếu tố bên trong và bên ngoài, phương pháp lập ma trận hình ảnh cạnh tranh
Nguyễn Văn Sinh (2014) nghiên cứu đã nêu rõ lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
có vai trò quan trọng trong việc nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, vì vậy việc nghiên cứu và tìm ra các nhân tố nâng cao lợi thế cạnh tranh bền vững có ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt lý thuyết Sử dụng lý thuyết các nguồn lực và mô hình VRIN, tác giả đã xây dựng mô hình thể hiện mối quan hệ giữa các nguồn lực hữu hình và vô hình tác động tới lợi thế cạnh tranh và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Qua số liệu khảo sát thông qua điều tra 43 doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, tác giả đã kiểm định được vai trò của hai nguồn lực vô hình là Định hướng học hỏi và Định hướng thị trường đối với việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất và mối quan hệ cùng chiều giữa Lợi thế cạnh tranh và Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các nguồn lực vô hình này đáp ứng các điều kiện của mô hình VRIN: có giá trị, hiếm, khó bắt chiếc, không thay thế được cho nên những sẽ giúp doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh bền vững và qua đó nâng cao
Phan Quốc Anh (2016) đã đưa ra quan điểm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng kiểm soát các điều kiện kinh doanh thuận lợi của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong một môi trường
Trang 29nhất định nhằm thu được lợi nhuận tối đa; đã xây dựng các chỉ tiêuđánh giá năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Xi măng Công Thanh cụ thể như: Năng lực tài chính, năng lực về sản phẩm dịch vụ,trình độ công nghệ sản xuất, nguồn nhân lực và năng lực quản trị điều hành, thị phần và tốc độ tăng trưởng thị phần của Tập đoàn Xi măng Công Thanh Luận án cũng tập trung làm rõ các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Xi măng Công Thanh bao gồm: Chất lượng dịch vụ; Nỗ lực xúc tiến bán hàng; Công nghệ; Giá bán
Nguyễn Thị Mai Trang (2016) đã vận dụng mô hình đánh giá các yếu tố nội bộ của Thompson và Strickland(2001) để xác định hệ thống 07 yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranhcủa các công ty sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam, bao gồm yếu tố về tiềm lực tài chính; vốn trí tuệ; chất lượng sản phẩm; trình độ công nghệ; chất lượng dịch vụ; thương hiệu; uy tín; hoạt động xúc tiến và mạng lưới hoạt động Luận án đã lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố bên trong tới năng lực cạnh tranh của các công ty sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam Từ đó tác giả đưa ra giải pháp tương ứng liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh cho các công ty sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh tự do hoá thị trường kinh doanh như hiện nay
Trần Anh Tuấn (2013) đã làm rõ quan niệm về ngành sắt thép, từ đó cụ thể hóa nội dung về năng lực cạnh tranh của ngành sắt thép - một ngành có tính đặc thù so với các ngành sản xuất khác Đã xác định được các tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh phù hợp cho sắt thép bao gồm: Công nghệ, trình độ quản lý, nguồn vốn, nguồn nhân lực v.v….Tác giả đã vậndụng mô hình Kim cương của M.E Porter trong việc xác định các nhân tố ảnhhưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành sắt thép gồm: Cấu trúc và cạnh tranhtrong ngành sắt thép (Số lượng các doanh nghiệp trong ngành, tốc độ tăng trưởng doanh thu các doanh nghiệp sắt thép, biện pháp và phương thức cạnh tranh, giá sản phẩm) Cầu thị trường sắt thép (GDP, mức sống dân cư, chi tiêu cho xây dựng nhà cửa) Đầu tư trực tiếp nước ngoài,điều kiện yếu tố sản xuất (Nhân lực, vốn đầu
tư, công nghệ sản xuất, cơ sở hạ tầng) Các ngành có liên quan và công nghiệp hỗ trợ (Cung cấp nguyên vật liệu), Chính phủ (Cơ chế và chính sách)
Trang 30Nguyễn Trung Kiên (2014) đã ra các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh như: Năng lực tài chính, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng nguồn lực, năng lực quản lý, cải cách thương hiệu
2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.3.1 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
Nghiên cứu về lý thuyết năng lực cho thấy có 7 nhóm nhân tố chính tác động đến NLCT của một doanh nghiệp nói chung và Công ty Cổ Phần Tập đoàn Hoa Sen nói riêng, các nhân tố này bao gồm: (1) Năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp; (2) Năng lực Marketing; (3) Năng lực tài chính; (4) Năng lực tiếp cận và đổi mới công nghệ; (5) Năng lực tổ chức dịch vụ;(6) Năng lực tạo lập các mối quan hệ và (7) Năng lực cạnh tranh thương hiệu vào nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của Công ty Cổ Phần Tập đoàn Hoa Sen Như vậy có 7 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của Công
ty Cổ Phần Tập đoàn Hoa Sen được nghiên cứu trong luận văn, bao gồm:(1) Năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp;(2) Năng lực Marketing;(3) Năng lực tài chính;(4) Năng lực tiếp cận và đổi mới công nghệ;(5) Năng lực tổ chức dịch vụ; (6) Năng lực tạo lập các mối quan hệ và (7) Năng lực cạnh tranh thương hiệu
- Năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp: được coi là nhân tố có tính quyết định
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như NLCT của doanh nghiệp
nói riêng Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện trên các mặt:
+ Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: được thể hiện bằng những kiến thức cần thiết
để quản lí và điều hành, thực hiện các công việc đối nội và đối ngoại của doanh nghiệp Trình độ của đội ngũ này không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rông lởn và phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng,v.v đến kiến thức về xã hội, nhân văn Sự tăng trưởng vững chắc của một doanh nghiệp phụ thuộc vào kiến thức quản lý (Macpherson và Holt, 2007 và Barratt-Pugh, 2005) Năng lực quản lý của doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lực của ban lãnh đạo của doanh nghiệp Ban lãnh đạo có vai trò nắm bắt toàn bộ nguồn lực
Trang 31của tổ chức, vạch ra các kế hoạch, chiến lược hoạt động từng thời kỳ Nếu một doanh nghiệp có mô hình quản lý tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm quyền hạn rõ ràng thì mọi hoạt động sẽ diễn ra trôi chảy (Ambastha &Momaya 2004)
Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen nhận rõ vai trò tổ chức và quản lý doanh nghiệp
luôn chú trọng đào tạo và phát triển như “Khóa đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho Kiểm
soát nội bộ Chi nhánh niên độ 2016 – 2017”.được xác định bởi năng lực hoạch định,
tổ chức thực hiện; khả năng bố trí lao động, đào tạo dài hạn; năng lực phân tích và dự báo môi trường kinh doanh; năng lực phân tích đối thủ cạnh tranh; chính sách đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực, chính sách đầu tư
Ngược lại một cơ cấu chồng chéo thì hiệu quả hoạt động sẽ kém Trên cơ sở đó giả thuyết thứ nhất H1 được đề xuất như sau: H1, trình độ tổ chức, quản lý ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
- Năng lực Marketing: Marketing là chức năng làm thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, Kotler và cộng sự (2006) Vì vậy, năng lực marketing của doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc liên tục theo dõi và đáp ứng được với những thay đổi của khách hàng cùng với đối thủ cạnh tranh (Kotler và
cộng sự, 2006; Homburg và cộng sự, 2007)
Theo Gronroos C (1994), ngành marketing chuyển hướng từ mô hình hỗn hợp 4P (Product-Price-Place-Promotion) sang mô hình marketing mối quan hệ (relationship marketing) thì marketing là quá trình thiết lập, duy trì và củng cố các mối quan hệ với khách hàng và các đối tác có liên quan để thỏa mãn mục tiêu của các thành viên trong mối quan hệ này Do vậy chất lượng mối quan hệ giữa các thành viên trong quá trình kinh doanh như doanh nghiệp và nhà cung cấp, doanh nghiệp và kênh phân phối, doanh nghiệp và khách hàng, doanh nghiệp và chính quyền có liên quan, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá năng lực marketing của doanh nghiệp Năng lực marketing có ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệpđược nghiên cứu bởi các tác giả Berkenveld và cộng sự (2005); Kotler và cộng sự (2006); Chang và cộng sự (2007); Homburg và cộng sự (2007); Lee và King (2009);
Trang 32Việc đánh giá năng lực marketing của doanh nghiệp được thực hiện thông qua bốn thành phần cơ bản sau (Thọ & Trang, 2009) (i)Đáp ứng khách hàng thể hiện sự đáp ứng của doanh nghiệp theo sự thay đổi về nhu cầu và ước muốn của khách hàng (ii) Phản ứng với đối thủ cạnh tranh, gọi tắt là phản ứng cạnh tranh, thể hiện sự theo dõi của doanh nghiệp đối với các hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh Chẳng hạn như các chiến lược Marketing mà doanh nghiệp thực hiện để đáp trả với đối thủ cạnh tranh (iii) Thích ứng với môi trường vĩ mô, gọi tắt là thích ứng môi trường, thể hiện việc doanh nghiệp theo dõi sự thay đổi của môi trường vĩ mô để nắm bắt các cơ hội và rào cản kinh doanh từ đó có các chính sách kinh doanh phù hợp (iv) Chất lượng mối quan hệ với đối tác, gọi tắt là chất lượng quan hệ, thể hiện mức độ doanh nghiệp đạt được chất lượng mối quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp, nhà phân phối và các cấp chính quyền có liên quan Đó là việc doanh nghiệp thực hiện những cam kết đã đề ra với khách hàng hay là các thành viên tham gia thỏa mãn với mối quan hệ đã thiết lập
Như vậy, năng lực Marketing thể hiện thông qua khả năng theo dõi và đáp ứng với những thay đổi của thị trường, bao gồm khách hàng, đối thủ cạnh tranh, hoạt động phối hợp giữa các phòng ban chức năng (Kohli & Jaworski, 1990; Narver & Slater, 1990), thích ứng với môi trường kinh doanh và chất lượng mối quan hệ (Vorhies
&Harker, 2000; Hou, 2008)
Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen với sứ mệnh Cung cấp những sản phẩm và dịch
vụ gắn liền với thương hiệu Hoa Sen, đảm bảo chất lượng quốc tế, giá cả hợp lý, mẫu
mã đa dạng, thân thiện môi trường, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, góp phần thay đổi diện mạo kiến trúc đất nước và phát triển cộng đồng Không ngừng đổi mới và phát triển để khẳng định tầm vóc và sứ mệnh của một doanh nghiệp Việt Nam năng động, sáng tạo, tiên phong trong cả lĩnh vực kinh doanh và các hoạt động cộng đồng, vươn cao vị thế trên thị trường quốc tế Trong thời kỳ bùng nổ về công nghệ số, nhiều doanh nghiệp đã ứng dụng các hình thức bán hàng trực tuyến nhằm mang lại những tiện ích tốt nhất đến cho khách hàng Tuy nhiên, đối với ngành vật liệu xây dựng ở Việt Nam, cách thức mua hàng truyền thống vẫn còn rất phổ biến, khách hàng phải
Trang 33đến trực tiếp các đại lý, cửa hang v.v,… để tìm hiểu và mua sản phẩm Nhằm mang lại những tiện ích tối ưu cho khách hàng, Tập đoàn Hoa Sen là doanh nghiệp tiên phong trong ngành vật liệu xây dựng tại Việt Nam triển khai hình thức bán hàng trực tuyến trên website www.hoasengroup.vn Trên cơ sở đó giả thuyết H2 được đề xuất như sau: H2, hoạt động Marketing ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
- Năng lực tài chính: Năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng đảm bảo
nguồn lực tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục đích mà doanh nghiệp đã đề ra Như vậy năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở khả năng đảm bảo nguồn vốn mà doanh nghiệp có khả năng huy động đáp ứng nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp; được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính v.v, trong doanh nghiệp Thompson, (2007) Sauka (2014) nghiên cứu đã xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cấp công ty, bao gồm: (1) Năng lực tiếp cận các nguồn lực; (2) Năng lực làm việc của nhân viên; (3) Nguồn lực tài chính; (4) Chiến lược kinh doanh; (5) Tác động của môi trường; (6) Năng lực kinh doanh so với đối thủ; (7) Sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn - là một yếu tố sản xuất cơ bản và là một đầu vào của doanh nghiệp Do đó, việc sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh,v.v có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản phẩm Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu
tố sản xuất khác Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê công nhân, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ v.v
Như vậy, năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.Sự suy giảm thị phần của Tập đoàn Hoa Sen trong giai đoạn này có nguyên nhân quan trọng đến từ sự gia tăng đầu tư chiếm lĩnh thị phần mạnh mẽ của các đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là sự gia tăng đầu tư từ đối thủ mạnh thứ hai trong ngành CTCP Thép Nam Kim và sự gia nhập ngành tôn mạ của một công
ty có tiềm lực tài chính rất mạnh là Tập đoàn Hòa Phát Trong giai đoạn 2016 – 2017,
Trang 34Nam Kim đã liên tục tăng vốn chủ sở hữu thông qua phát hành cổ phiếu với tổng giá trị phát hành 1.234 tỷ đồng và qua đó thực hiện việc đầu tư mạnh mẽ vào nhà máy mới và vốn lưu động, gia tăng chiếm lĩnh thị trường Với Tập đoàn Hòa Phát, năm
2016, tập đoàn này bắt đầu tham gia vào thị trường tôn mạ với tổng mức đầu tư là 4.000 tỷ đồng xây dựng nhà máy tại Hưng Yên, bắt đầu cho sản phẩm ra thị trường
từ năm 2018 Sự tấn công từ các đối thủ cạnh tranh là rất mạnh mẽ và quyết liệt đã khiến thị phần của Hoa Sen co lại rất mạnh trong giai đoạn 2012 – 2016, đe dọa vị thế số 1 ngành tôn mạ của Hoa Sen Đứng trước sự tấn công mạnh mẽ của đối thủ, Tập đoàn Hoa Sen sẽ làm gì trong bối cảnh này? Hoa Sen đứng trước hai lựa chọn chiến lược rất khó khăn:Lựa chọn (1): Để duy trì các chỉ tiêu tài chính tốt, hệ số nợ vừa phải, tỷ suất lợi nhuận tốt và mức giá cổ phiếu tốt trong ngắn hạn và khiến nhiều
cổ đông hài lòng, Hoa Sen phải kiểm soát nhịp độ vừa phải trong việc gia tăng nợ vay
và tài sản cũng từ đó làm cho tốc độ tăng doanh thu chậm, tuy nhiên, nhược điểm của lựa chọn này đó là, vì các đối thủ đầu tư rất mạnh mẽ do đó, thị phần của Hoa Sen sẽ tiếp tục giảm Lựa chọn (2): Thực hiện một chương trình đáp trả mạnh mẽ, bao phủ thị phần quyết liệt, ngăn cản và đẩy lùi các đối thủ, duy trì vững chắc vị thế số 1 trên thị trường tôn thép thông qua việc gia tăng nợ vay đột biến để đầu tư mạnh mẽ cho các nhà máy mới và vốn lưu động, hạ giá bán sản phẩm, mở rộng nhanh chóng các chi nhánh bán hàng, tăng chi cho kênh phân phối để mở rộng khách hàng và thị phần Tuy nhiên, điểm hạn chế của lựa chọn này là các tỷ số tài chính như hệ số nợ, dòng tiền, lợi nhuận sẽ xấu đi trong ngắn hạn và khiến giá cổ phiếu giảm trong ngắn hạn, điều có thể khiến nhiều cổ đông không hài lòng Kết quả là Hoa Sen đã lựa chọn chiến lược 2 và đây là một sự đánh đổi giữa thiệt hại trong ngắn hạn để đổi lấy vị thế cạnh tranh mạnh mẽ trong dài hạn Theo quan điểm của tôi, đây là một lựa chọn chiến lược mạo hiểm nhưng đúng đắn và rất khôn ngoan Với việc vay nợ đột biến trong năm
2017 và năm 2018 để đầu tư vào vốn lưu động và tài sản cố định, mở rộng thị trường, thị phần của Tập đoàn trong ngành tôn mạ Việt Nam đã phục hồi từ mức 33,1% năm
2016 lên mức 34,3% năm 2017 với doanh thu năm 2017 tăng trưởng 46% so với
2016 Tuy nhiên, mặt trái của chiến lược giành thị phần này là lợi nhuận năm 2017
đã giảm 11,5%, cùng với mức hệ số nợ rất cao đã ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Tăng
Trang 35nợ vay gắn liền với đánh đổi giữa thiệt hại trong ngắn hạn với lợi thế chiến lược trong dài hạn Để giải bài toán duy trì và gia tăng vị thế trong ngành, Hoa Sen đã sử dụng
hai vũ khí quan trọng cho việc gia tăng lợi thế cạnh tranh: Thứ nhất, gia tăng sử dụng
nợ vay để cải thiện vị thế cạnh tranh Sự gia tăng sử dụng nợ vay mạnh mẽ qua đó, đầu tư mạnh vào các nhà máy mới và vốn lưu động phục vụ cho chiến lược giành lại
thị phần, duy trì vững chắc vị thế số 1 trong ngành tôn mạ Thứ hai, với biên lợi
nhuận khá cao, Hoa Sen đã sử dụng chính sách hạ giá bán và tăng chi cho kênh phân phối, chấp nhận giảm lợi nhuận trong ngắn hạn để giữ khách hàng và mở rộng cơ sở khách hàng Năm 2017, doanh thu thuần của Hoa Sen tăng mạnh tới 46% nhưng lợi nhuận sau thuế lại giảm 11,5% so với năm 2016 Sự giảm xuống của biên lợi nhuận giúp cho Hoa Sen mở rộng cơ sở khách hàng và gia tăng tỷ lệ thị phần trong ngành Nhiều người nhận định tình hình gia tăng nợ và giảm lợi nhuận, dòng tiền thâm hụt
là dấu hiệu cho thấy Hoa Sen gặp khó khăn, tuy nhiên, nhận định ngược lại mới đúng Chính Tập đoàn Hoa Sen đã chủ động tăng nợ nợ vay để đầu tư mở rộng mạnh mẽ, chủ động giảm tỷ suất lợi nhuận để chiếm lĩnh thị phần và tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ trước các đối thủ Trong trường hợp này, tăng mức độ nợ vay được sử dụng như là một vũ khí tạo lập lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ trước các đối thủ Bài học trong
sử dụng nợ vay tạo lập lợi thế cạnh tranh Trường hợp vay nợ tăng đột biến của Tập đoàn Hoa Sen giúp chúng ta khái quát một bài học rất hay về việc sử dụng nợ vay để tạo lập lợi thế cạnh tranh Bài học rút ra ở đây là gì? với các công ty đầu ngành, khi gặp phải đối thủ cạnh tranh mạnh có động thái thâm nhập ngành hoặc mở rộng thị trường thì công ty đầu ngành phải dũng cảm và mạo hiểm, sẵn sàng hi sinh lợi ích ngắn hạn và sự mất lòng cổ đông thông qua việc tăng cường sử dụng nợ vay mạnh
mẽ để thực hiện một chương trình phản công quyết liệt chiếm lĩnh thị trường và qua
đó, tạo lập lợi thế và vị thế cạnh tranh bền vững Sử dụng nợ vay là con dao hai lưỡi
và mạo hiểm, tuy nhiên, nếu khéo léo sử dụng đúng bối cảnh phù hợp, nó sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Trên cơ sở đó giả thuyết H3 được đề xuất như sau: H3, năng lực tái chính ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Công
ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
Trang 36- Năng lực tiếp cận và đổi mới công nghệ: Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố
rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế quan trọng đối với sản phẩm của doanh nghiệp Công nghệ còn tác động tới tổ chức sản xuất của doanh nghiệp, nâng cao trình độ cơ khí hoá, tự động hoá của doanh nghiệp Để có công nghệ phù hợp, doanh nghiệp cần có thông tin về công nghệ, chuyển giao công nghệ, tăng cường nghiên cứu cải tiến công nghệ, hợp lí hoá sản xuất, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đầu tư đổi mới công nghệ Đồng thời, doanh nghiệp cần đào tạo nâng cao trình độ tay nghề để sử dụng có hiệu quả
công nghệ hiện đại(Trần Anh Tuấn, 2013)
Các nghiên cứu của Hudson (2001); Quian, Li (2003); Chowdhury, Islam Alam (2013); cho thấy các đặc điểm sau về công nghệ tác động đến NLCT của doanh nghiệp, đó là: Chậm đổi mới công nghệ; Công nghệ phù hợp; Khả năng ứng dụng và tiếp cận công nghệ mới; Trình độ nhân lực của bộ phận nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới trong doanh nghiệp
Nhà Máy Tôn Hoa Sen - Phú Mỹ trực thuộc Tập đoàn Hoa Sen được thành lập vào ngày 19/7/2010 với hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất, hệ thống xử lý nước thải và tái sinh nước, hệ thống sản xuất tôn khép kín, ứng dụng công nghệ hiện đại nhất trong ngành tại Việt Nam, được đầu tư với chi phí thấp nhất và thi công trong thời gian nhanh nhất nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng công trình Nhà máy Tôn Hoa Sen Phú Mỹ là Nhà máy có quy mô sản xuất tôn lớn nhất Đông Nam Á tính đến thời điểm hiện tại với tổng công suất thiết kế 1.200.000 tấn/năm Nhằm nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường nội địa cũng như quốc tế, Tập đoàn Hoa Sen đã triển khai dự án Nhà máy Ống thép mạ kẽm nhúng nóng Hoa Sen Phú Mỹ với tổng công suất thiết kế 120.000 tấn/năm Dự án dự kiến được xây dựng với những dây chuyền sản xuất tiên tiến và công nghệ hiện đại, bao gồm: 02 dây chuyền mà kẽm nhúng nóng ống thép với tổng công suất gần 120.000 tấn/năm; 06 dây chuyền cán ống thép đen; 01 dây chuyền xẻ băng thép cán nóng/cán
Trang 37nguội; 01 dây chuyền thử kín ống bằng áp lực nước; 01 dây chuyền tẩy rỉ thép cuộn cán nóng, công suất 90m/phút; 01 dây chuyền tái sinh acid HCL Bằng những nỗ lực không ngừng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, chỉ trong vài năm trở lại đây, Tập đoàn Hoa Sen đã vươn cao
vị thế, trở thành một trong những doanh nghiệp dẫn đầu thị trường tôn thép tại Việt Nam Bên cạnh việc giữ vững vị thế trên thị trường nội địa, Tập đoàn Hoa Sen không ngừng đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, nâng cao danh tiếng của Tập đoàn tại các thị trường truyền thống và đặc biệt mở rộng thị phần sang các thị trường tiềm năng ở Trung Đông, Nam Á, Châu Phi, Châu Úc, Châu Âu và Châu Mỹ Hiện tại, sản phẩm của Tập đoàn Hoa Sen có mặt tại hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trên
cơ sở đó giả thuyết H4 được đề xuất như sau: H4, công nghệ ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
- Năng lực tổ chức dịch vụ: Theo Parasuraman, Zeithaml, Berry (1985), một trong
các yếu tố mà doanh nghiệp tạo được chổ đứng trên thị trường đó là: khả năng đáp ứng, năng lực phục vụ với khách hàng và tạo sự tín nhiệm nơi khách hàng Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học như Parasuraman, Zeithaml, Berry (1985) cho thấy doanh nghiệp có khả năng tổ chức dịch vụ tốt sẽ tạo lợi thế cạnh tranh để đưa sản phẩm kinh doanh đến với khách hàng nhanh và hiệu quả hơn (giá trị và hiếm) Từng thành viên được trang bị về kiến thức của sản phẩm sẽ có khả năng thỏa mãn những mong đợi của khách hàng trong mỗi giao dịch và qua đó hình thành văn hóa của doanh nghiệp trong ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động (không thể bắt chước
được và không thể thay thế)
Theo Tahir & Bakar (2007) thì năng lực phục vụ thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng nhằm đem lại sự hài lòng cho khách hàng Nó thể hiện qua thái độ, kỹ năng của nhân viên trong quá trình phục vụ Nếu nhân viên có thái độ tích cực và kỹ năng chuyên nghiệp sẽ phụ vụ khách hàng được chuyên nghiệp hơn và đem lại cho khách hàng sự hài lòng, từ đó tạo ra lòng trung thành của khách hàng Công ty Cổ phần tập đoàn Hoa Sen là doanh nghiệp
chiếm thị phần lớn nhất trong ngành với khoảng 40% thị phần tôn Là nhà sản xuất
Trang 38tôn thép hàng đầu Đông Nam Á, Hoa Sen luôn tiên phong đầu tư hệ thống dây chuyền thiết bị hiện đại, tiên tiến và ứng dụng công nghệ mới, đồng thời luôn tập trung phát huy những lợi thế cạnh tranh cốt lõi, mang đến người tiêu dùng những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, giá cả hợp lý, thời gian giao hàng nhanh và dịch vụ hậu mãi tốt Chính những ưu điểm nổi bật đó đã giúp Tôn Hoa Sen trở thành thương hiệu uy tín
và là sự lựa chọn tối ưu đối với người tiêu dùng Dịch vụ hậu mãi tốt - Thời gian bảo
hành từ 10 – 20 năm Với mục tiêu không ngừng vươn cao vị thế, Tôn Hoa Sen luôn
cam kết phương châm “bán đúng giá, đúng tiêu chuẩn, đúng chất lượng và được bảo hành” Tôn Hoa Sen được bảo hành từ 10 đến 20 năm cho các dòng sản phẩm: Tôn kẽm màu, tôn lạnh, tôn lạnh màu theo các điều kiện bảo hành do Tập đoàn Hoa Sen ban hành Cả ba dòng sản phẩm đều được sản xuất trên dây chuyền hiện đại, đáp ứng các tiêu chuẩn của các thị trường khó tính như: Nhật Bản, Úc, Maylaysia, Châu Âu v.v… Bên cạnh đó, chính sách chăm sóc khách hàng tốt cũng là một lý do khiến người tiêu dùng lựa chọn Tôn Hoa Sen cũng như bất kỳ sản phẩm nào của Tập đoàn Hoa Sen Trên cơ sở đó giả thuyết H5 được đề xuất như sau: H5, Năng lực tổ chức dịch vụ ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
- Năng lực tạo lập các mối quan hệ: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài
việc tận dụng tốt các yếu tố nguồn lực để nâng cao NLCT, doanh nghiệp còn phải tạo lập các mối quan hệ với các đối tượng khác nhau Các mối quan hệ này bao gồm: mối quan hệ với khách hàng, mối quan hệ với nhà cung cấp, mối quan hệ với các tổ chức tín dụng, mối quan hệ với các doanh nghiệp cùng ngành và mối quan hệ với chính quyền Ho (2005) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị trong doanh nghiệp và NLCT Đưa ra mô hình đo lường các hoạt động quản trị trong doanh nghiệp thông qua năm khía cạnh, (1) Cơ cấu hội đồng quản trị; (2) Cương vị quản lý; (3) Chiến lược lãnh đạo; (4) Sở hữu tập trung và các mối quan hệ vốn - thị trường; (5) Trách nhiệm xã hội có mối quan hệ với NLCT của doanh nghiệp Onar và Polat (2010) đã phân tích các nhân tố tác động đến NLCT của doanh nghiệp bao gồm (1) khả năng quản trị, (2) khả năng sản xuất, (3) khả năng bán hàng-marketing, (4) khả
Trang 39năng dịch vụ hậu cần logistics, (5) công nghệ thông tin, (6) tài chính - kế toán, (7) nguồn nhân lực, (8) dịch vụ chăm sóc khách hàng, (9) cung ứng, (10) nghiên cứu và phát triển, (11) quản trị công nghệ, (12) đổi mới và (13) quan hệ khách hàng
Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập sâu rộng như hiện nay, với những đặc điểm của doanh nghiệp Việt Nam thì các mối quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, nó giúp cho các doanh nghiệp tận dụng tối đa các nguồn lực để có thể cạnh tranh một cách ngang bằng không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn với các doanh nghiệp nước ngoài đang ngày càng có xu hướng chiếm lĩnh thị trường trong nước Bên cạnh đó trong điều kiện môi trường kinh doanh của Việt Nam hiện nay, mối quan
hệ giữa doanh nghiệp với chính quyền cũng là một nhân tố "vô hình" tác động đến NLCT của doanh nghiệp Doanh nghiệp càng lớn, mối quan hệ với chính quyền càng rộng Doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề thì càng có mối quan hệ phức tạp với nhiều ngành, nhiều cấp Nhận thức mối quan hệ với cộng đồng công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen đã tổ chức các hoạt động như Ngày 15/02/2018 vừa qua, tại Câu lạc bộ văn hóa - thể dục thể thao Nguyễn Du (116 Nguyễn Du, Bến Thành, Quận 1, TP.Hồ Chí Minh), Tập đoàn Hoa Sen đã phối hợp cùng Báo Công an TP Hồ Chí Minh và Trung tâm truyền hình Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh (VTV9) tổ chức chương trình Mái ấm gia đình Việt – Tết Mậu Tuất 2018 Trên cơ sở đó giả thuyết
H6 được đề xuất như sau: H6, Năng lực tạo lập các mối quan hệ ảnh hưởng cùng chiều
đến năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
- Năng lực cạnh tranh thương hiệu: Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu
dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm Thương hiệu thường gắn với quyền sở hữu của nhà sản xuất Trong nền kinh tế thị trường thương hiệu còn cho ta biết vị trí của doanh nghiệp, của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất trên thị trường Thương hiệu, nhãn
hiệu được coi là sức mạnh vô hình của doanh nghiệp
Theo Kotler (1994)v, thương hiệu là một cái tên, một thuật ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một thiết kế v.v, hoặc là sự kết hợp của tất cả các yếu tố trên để phân
Trang 40biệt hàng hóa, dịch vụ của một người bán với hàng hóa, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh Còn Knapp (2000) cho rằng, thương hiệu là tổng hợp tất cả những ấn tượng nhận được từ khách hàng và người tiêu dùng bởi vị trí được phân biệt rõ trong tâm trí của họ dựa trên những lợi ích chức năng và cảm xúc cảm nhận được Như vậy, thương hiệu không chỉ là một từ ngữ mà nó còn là sự đam mê, sự cam kết và một lời hứa cần được thực hiện mỗi ngày Clifton và Simons (2003) cũng khẳng định, thương hiệu là một tập hợp những thuộc tính hữu hình và vô hình, được biểu tượng hóa bằng tên thương mại mà nếu như nó được quản lý đúng hướng nó sẽ tạo ra sức ảnh hưởng và giá trị
Theo Keller (1993), giá trị thương hiệu hay kiến thức thương hiệu bao gồm hai khía cạnh như nhận biết thương hiệu và hình ảnh thương hiệu Nhận biết thương hiệu có liên quan đến sức mạnh của thương hiệu trong trí nhớ, nó được phản ánh bởi khả năng xác định thương hiệu của khách hàng trong điều kiện khác nhau (Rossiter và Percy, 1987) Nó phản ánh sự hiện diện của một thương hiệu trong tâm trí của khách hàng (Konecnik, 2006) Nhận biết thương hiệu bao gồm hồi tưởng (gợi nhớ) thương hiệu và nhận diện thương hiệu (Keller, 1993) Hình ảnh thương hiệu được xác định bởi Keller (1993) như nhận biết về thương hiệu thể hiện qua sự kết hợp thương hiệu trong bộ nhớ của người tiêu dùng
Nguyen và Nguyen (2003) cho rằng, thương hiệu không chỉ là cái tên, một biểu trưng được sử dụng để khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ với những sản phẩm, dịch vụ cạnh tranh khác mà là một tập hợp những sự liên tưởng dùng để thỏa mãn những nhu cầu
về tình cảm và chức năng khách hàng mục tiêu
Tóm lại, một doanh nghiệp có thương hiệu càng nổi tiếng thì càng tạo cho sản phẩm của mình lợi thế trong cạnh tranh Bởi người tiêu dùng thường chỉ tin cậy vào những sản phẩm mang thương hiệu nổi tiếng, những sản phẩm đã có mặt trên thị trường lâu năm nên những sản phẩm mới dù có chất lượng tốt so với các sản phẩm cùng loại đã
có mặt trên thị trường vẫn phải mất rất nhiều công sức và thời gian để kiến tạo thị phần và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của mình Do đó, cùng với quá trình