Những năm gần đây, các ngành chức năng và ban quản lý Khu Ramsar Láng Sen đã triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn, phục hồi và phát triển tài nguyên đa dạng sinh đất ngập nước, với cá
Trang 1HUYỆN TÂN HƯNG, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Qu ản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã chuyên ngành: 60.85.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Lâm
Cán bộ phản biện 1 : TS Lê Hoàng Anh Cán bộ phản biện 2 : PGS.TS Đinh Đại Gái
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày… tháng … năm 2018
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Lê Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng
2 TS Lê Hoàng Anh - Phản biện 1
3 PGS.TS Đinh Đại Gái - Phản biện 2
4 PGS.TS Phạm Nguyễn Kim Tuyến - Ủy viên
5 TS Trần Trí Dũng - Thư ký
CH Ủ TỊCH HỘI ĐỒNG VI ỆN TRƯỞNG VIỆN KHCN&QLMT
Trang 3NHI ỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Phạm Thanh Hùng MSHV: 16007611
Ngày, tháng, năm sinh: 16/02/1977 Nơi sinh: Long An
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Mã số: 60850101
I TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý Tài nguyên Khu Ramsar
Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An
II NHI ỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: Thu thập các tài liệu tổng quan, điều tra, đánh
giá về hiện trạng đa dạng sinh học tại khu Ramsar Láng Sen của huyện Tân Hưng,
tỉnh Long An Xây dựng các mô hình để hỗ trợ công tác quản lý, nhằm sử dụng hiệu
quả tài nguyên từ khu Ramsar Láng Sen
III NGÀY GIAO NHI ỆM VỤ: Theo Quyết định số 450/QĐ-ĐHCN về việc giao
đề tài cho học viên và cử người hướng dẫn luận văn Thạc sĩ của Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM ngày 22 tháng 1 năm 2018
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHI ỆM VỤ:
V CÁN B Ộ HƯỚNG DẪN: TS Nguyễn Minh Lâm
Tp H ồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Trang 4i
L ỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học ngành quản lý tài nguyên và môi trường
Luận văn thạc sỹ khoa học ngành quản lý tài nguyên và môi trường với đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý Tài nguyên Khu Ramsar Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An” là do học viên cao học Phạm Thanh Hùng thực hiện và hoàn thành vào tháng 6 năm 2018, giáo viên hướng dẫn là TS Nguyễn Minh Lâm Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Minh Lâm Người đã giảng dạy các môn học chuyên ngành và là người trực tiếp tận tâm hướng dẫn tôi nghiên cứu
thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Công nghiệp Thành phố
Hồ Chí Minh Đặc biệt là các thầy cô Viện Khoa học Công nghệ & Quản lý Môi trường thuộc trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình
giảng dạy truyền đạt kiến thức để tôi hoàn thành khóa học và làm nền tảng cho tôi hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Tân Hưng và Ban quản lý khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được khảo sát, phỏng vấn, thu thập tài liệu trong thời gian thực hiện luận văn
Bên cạnh đó tôi cũng nhận được nguồn động viên to lớn của gia đình, bạn bè giúp tôi có điều kiện để hoàn thành luận văn
Trang 5ii
TÓM T ẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khu Ramsar Láng Sen (trước đây là khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen) với tổng
diện tích 5.030 ha trên địa phận của 3 xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, Vĩnh Châu A thuộc huyện Tân Hưng, tỉnh Long An Khu Ramsar Láng Sen được công nhận là Khu Ramsar thứ 2227 trên thế giới và là khu Ramsar thứ 7 của Việt Nam vào ngày 22/5/2015 Đây là một trong số ít các khu vực ngập nước tự nhiên còn lại của vùng đồng bằng sông Cửu Long Khu Ramsar Láng Sen với hệ sinh thái đất ngập nước
rất đa dạng và phong phú như đầm lầy, đồng cỏ ngập nước theo mùa, rừng tràm, đai
rừng ven sông là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật hoang dã trong đó có nhiều loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam
Những năm gần đây, các ngành chức năng và ban quản lý Khu Ramsar Láng Sen đã triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn, phục hồi và phát triển tài nguyên đa dạng sinh đất ngập nước, với các biện pháp bảo vệ như cấm săn bắt, chặt cây, phá rừng;
từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong vùng; theo dõi diễn
biến chất lượng môi trường… Tuy nhiên, thực tế cho thấy các hệ sinh thái và tính
đa dạng sinh học ở đây đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái, mà nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng nói trên là do công tác quản lý của Khu Ramsar và chính quyền địa phương còn nhiều hạn chế, bất cập, các hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư ở vùng đệm và cộng đồng dân cư bên ngoài vùng đệm tác động tiêu cực đến tài nguyên đất ngập nước nhưng chưa được kiểm soát và quản lý
Đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý tài nguyên Khu Ramsar Láng Sen,
huy ện Tân Hưng, tỉnh Long An” được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Tân
Hưng Học viên đã sử dụng phương pháp điều tra thu thập thông tin, tài liệu, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích SWOT và phương pháp chuyên gia Mục tiêu nghiên cứu là xây dựng được mô hình quản lý tài nguyên hiệu
quả tại khu Ramsar Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng sinh học tại khu Ramsar Láng Sen là nguồn tài nguyên có giá trị chính vì thế cần có biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý Học
Trang 7iv
ABSTRACT
Ramsar Lang Sen (formerly known as Lang Sen Wetland Reserve) has a total area
of 5,030 ha located in Vinh Loi, Vinh Dai and Vinh Chau A communes of Tan Hung District, Long An Province Ramsar Lang Sen was recognized as Ramsar Zone 2227 in the world and the seventh Ramsar area of Vietnam on 22/5/2015 It is one of the few remaining natural wetlands in the Mekong Delta Ramsar Lang Sen ecosystem is diverse and abundant such as wetlands, seasonal inundated grasslands, cajuput forest, riverside forest belt are the habitat of many wildlife species in it There are many species listed in the Red Book of Vietnam
In recent years, the functional sectors and management of the Lang Sen Ramsar site has implemented a number of activities aimed at preserving, restoring and developing the wetland biodiversity resources Hunting, cutting trees, destroying forests; To step by step improve the quality of life for people in the region; Monitoring the evolution of environmental quality However, the reality is that the ecosystem and biodiversity here are facing the risk of degradation, the main cause leading to the situation is due to the management Ramsar area and local authorities have many limitations and inadequacies; livelihood activities of communities in the buffer zone and communities outside the buffer zone negatively impact the wetland resources but have not been inspected control and management
The topic of "Research on the model of resource management in Ramsar Lang Sen zone, Tan Hung district, Long An province" was conducted in Tan Hung district Participants used the survey methodology to collect information, documents, sociological survey methods, SWOT analysis methods and expert methods The objective of the study was to develop an effective resource management model at Ramsar Lang Sen, Tan Hung District, Long An Province
The results show that the biodiversity at Ramsar Lang Sen site is a valuable resource, and conservation measures need to be taken Trainees have proposed
Trang 9vi
L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý Tài
nguyên Khu Ramsar Láng Sen, huy ện Tân Hưng, tỉnh Long An” là do chính học
viên thu thập tài liệu, số liệu, khảo sát thực tế để viết Không sao chép các báo cáo
hoặc luận văn của người khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
H ọc viên
Ph ạm Thanh Hùng
Trang 10vii
MỤC LỤC
MỤC LỤC vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH x
DANH MỤC BẢNG BIỂU xii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xiv
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiển của đề tài 2
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1Một số hiểu biết chung về khu Ramsar 3
1.1.1Giới thiệu chung về Công ước Ramsar 3
1.1.2 Định nghĩa về đất ngập nước 5
1.1.3 Chức năng của đất ngập nước 6
1.2 Kinh nghiệm quản lý tài nguyên ở các khu Ramsar 7
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý tài nguyên ở các khu Ramsar ở ngoài nước 7
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý tài nguyên ở các khu Ramsar ở trong nước 9
1.3 Giới thiệu về khu Ramsar Láng Sen 12
1.3.1 Vị trí địa lý 12
1.3.2 Lịch sử hình thành 14
1.3.3 Điều kiện tự nhiên 15
1.3.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 17
1.3.5 Hiện trạng sử dụng đất khu Ramsar Láng Sen 18
1.3.6 Phân khu quản lý tài nguyên tại khu Ramsar Láng Sen 18
Trang 11viii
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Nội dung nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Phương pháp luận 20
2.2.2 Kế thừa các tư liệu và phân tích các tài liệu thứ cấp 21
2.2.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường 21
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 23
2.2.5 Phương pháp chuyên gia 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Kết quả đánh giá về hiện trạng tài nguyên và đa dạng sinh học của khu Ramsar Láng Sen 26
3.1.1 Hệ thực vật 26
3.1.2 Hệ động vật 27
3.1.3 Hệ sinh thái và sinh cảnh 39
3.2 Ảnh hưởng của cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh đến công tác quản lý tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu Ramsar Láng Sen 45
3.2.1 Hiện trạng phát triển nông nghiệp 47
3.2.2 Hiện trạng phát triển nuôi trồng thủy sản 49
3.2.3 Hiện trạng khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên 50
3.2.4 Các ngành nghề khác 51
3.2.5 Đánh giá chung 52
3.3 Khai thác du lịch sinh thái 53
3.3.1 Tiềm năng du lịch sinh thái ở khu Ramsar Láng Sen 53
3.3.2 Hiện trạng khai thác du lịch tại khu Ramsar Láng Sen 56
3.3.3 Đánh giá ảnh hưởng của du lịch sinh thái đến khu Ramsar Láng Sen 58
3.4 Đánh giá về công tác quản lý tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu Ramsar Láng Sen 63
3.4.1 Hiện trạng quản lý khu Ramsar Láng Sen 63
3.4.2 Đánh giá công tác quản lý 66
3.4.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại khu Ramsar Láng Sen 67
Trang 12ix
3.5 Xây dựng mô hình quản lý tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu
Ramsar Láng Sen 69
3.5.1 Mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu 69
3.5.2 Mô hình quản lý tích hợp có sự tham gia của cộng đồng 84
3.5.3 Mô hình áp dụng truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về đất ngập nước và biến đổi khí hậu 94
3.5.4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác du lịch 100
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 108
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 117
Trang 13x
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Vị trí địa lý và địa giới hành chính của Khu Ramsar Láng Sen 13
Hình 3.1 Cây gáo (Nauclea orientalis) [16] 27
Hình 3.2 Cá Tra Dầu (Pangasianodon gigas) [16] 28
Hình 3.3 Cá Trèn Bầu (Ompok bimaculatus) [16] 29
Hình 3.4 Cá Sặc Bướm (Trichopodus trichopterus) [16] 30
Hình 3.5 Số lượng quan trắc cá năm 2017 [16] 31
Hình 3.6 Số lượng loài cá quan trắc được từ 7 khu hệ vào năm 2016 [16] 32
Hình 3.7 Mẫu cá Lươn (Chaudhuria caudate) [2] 33
Hình 3.8 Biểu đồ phân bố trữ lượng năm 2016 [16] 34
Hình 3.9 Số lượng các loài chim từ năm 2013 – 2017 [2] 35
Hình 3.10 Cò Ốc (Anastomus oscitans) [16] 36
Hình 3.11 Còng Cọc (Phalacrocorax carbo) [16] 36
Hình 3.12 Số lượng 5 nhóm chim chính của Láng Sen giai đoạn 2014 - 2016 [2] 37
Hình 3.13 Số lượng chim nước theo 5 nhóm chính năm 2017 [2] 38
Hình 3.14 Sếu Đầu Đỏ (Grus antigone) [2] 39
Hình 3.15 Rừng Tràm (Melaleuca leucadendra) 41
Hình 3.16 Đồng cỏ ngập nước theo mùa [17] 42
Hình 3.17 Kênh nhân tạo tại khu Ramsar Láng Sen [17] 43
Hình 3.18 Sen hồng (Nelumbo nucifera) [17] 44
Hình 3.19 Lúa ma (Oryza rufipogon) [17] 45
Hình 3.20 Ao nuôi cá của người dân [18] 50
Hình 3.21 Sơ đồ tổ chức ban quản lý tại khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen 63
Hình 3.22 Kiểm tra máy bơm phòng cháy chữa cháy [22] 65
Hình 3.23 Nạn buôn bán trái phép các loài chim nước [23] 67
Hình 3.24 Chiều cao lúa huyết rồng thử nghiệm, 2015 [2] 74
Hình 3.25 Lúa huyết rồng trổ bông, 2015 [2] 74
Hình 3.26 Thu hoạch nấm rơm trong nhà, 2015 [2] 77
Trang 14xi
Hình 3.27 Thu hoạch nấm Linh chi, 2016 [2] 80
Hình 3.28 Phơi nấm Linh chi sau thu hoạch [2] 80
Hình 3.29 Vèo nuôi của ông Sáu Thức - Cả Nổ [2] 81
Hình 3.30 Ao nuôi của ông Lẻ - Cả Sách [2] 82
Hình 3.31 Thu giống sen ở Tiểu khu 12 [2] 87
Hình 3.32 Thực tập chữa cháy rừng ở khu bảo tồn cho nhóm cộng đồng [2] 89
Hình 3.33 Chuẩn bị mùa nuôi cá vùng lũ với chuyên gia thủy sản ở nhóm Rọc Năng [2] 97
Hình 3.34 Thảo luận trồng lúa giảm phát thải ở nhóm Cả Sách [2] 97
Trang 15xii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp thành phần loài cá tại các khu hệ vào năm 2016 [16] 32
Bảng 3.2 Tổng hợp trữ lượng thủy sản của khu Ramsar Láng Sen [16] 33
Bảng 3.3 Sinh khối cá trong mùa khô tại KBT Láng Sen [16] 34
Bảng 3.4 Tổng hợp các loại hình sinh kế của người dân sinh sống ở vùng đệm 46
Bảng 3.5 Hiện trạng sử dụng đất trên ba xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại và Vĩnh Châu A [2] 47
Bảng 3.6 Hiện trạng đất trồng lúa vùng đệm [2] 48
Bảng 3.10 Phân tích SWOT ảnh hưởng của du lịch sinh thái đến KBT Láng Sen 58
Bảng 3.11 Đánh giá SWOT đối với công tác quản lý tại khu Ramsar Láng Sen 66
Bảng 3.12 Sơ đồ bố trí ruộng mô hình thử nghiệm lúa tại Vĩnh Lợi, DX15-16 [2] 71 Bảng 3.13 Thông số đầu vào sản xuất [2] 72
Bảng 3.14 Kết quả sản xuất [2] 72
Bảng 3.15 So sánh năng suất mô hình và đối chứng [2] 73
Bảng 3.16 So sánh hiệu quả kinh tế giữa các nghiệm thức mô hình và đối chứng [2] 73
Bảng 3.17 Ước lượng CO2 trên diện tích trồng lúa của vùng đệm (2 vụ/năm) [2] 74
Bảng 3.18 Thông số đầu vào sản xuất [2] 74
Bảng 3.19 Chi phí các mô hình lúa thử nghiệm tại KBT Láng Sem vụ DX15-16 [2] 75
Bảng 3.20 Chỉ tiêu nông học trong mô hình trồng nấm rơm [2] 77
Bảng 3.21 Tổng hợp tính toán mô hình nấm rơm [2] 78
Bảng 3.22 Tổng chi phí mô hình nấm linh chi ở Khu bảo tồn [2] 79
Bảng 3.23 Mô hình nuôi cá lóc - cá trê vàng ở khu bảo tồn [2] 80
Trang 16xiii
Bảng 3.24 Mô hình nuôi cá sặc - cá tai tượng ở khu bảo tồn [2] 81
Bảng 3.25 Đánh giá SWOT mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu 82
Bảng 3.26 Đánh giá SWOT mô hình quản lý tích hợp có sự tham gia của cộng đồng 90
Bảng 3.27 Đánh giá SWOT mô hình áp dụng truyền thông nâng cao nhận thức về đất ngập nước và biến đổi khí hậu 98
Trang 17FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (Food and
Agriculture Organization of the United Nations)
HST Hệ sinh thái
KBT Khu bảo tồn
UBND Ủy ban nhân dân
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
Ramsar Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc
biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước
VQG Vườn quốc gia
Trang 18thế giới và là khu Ramsar thứ 7 của Việt Nam vào ngày 22-5-2015 Khu Ramsar Láng Sen chịu trách nhiệm quản lý 5.030 ha trên địa phận của 3 xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, Vĩnh Châu A - huyện Tân Hưng, là một phần của vùng ĐNN Đồng Tháp Mười (ĐTM) thuộc tỉnh Long An [1] Đây là một trong số ít các khu vực ngập nước nội địa tự nhiên còn lại ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, với hệ sinh thái (HST) ĐNN
rất đa dạng, phong phú: đầm lầy, đồng cỏ ngập theo mùa, rừng tràm, đai rừng ven sông, là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật hoang dã, tài nguyên khu Ramsar Láng Sen rất đa dạng và phong phú, có khoảng 156 loài thực vật thuộc 60 họ; 164 loài động vật có xương sống thuộc 46 bộ, trong đó có 14 loài nằm trong Sách Đỏ
Việt Nam [2]
Trong thời gian qua, các ngành chức năng và ban quản lý Khu Ramsar Láng Sen đã triển khai nhiều hoạt động nhằm bảo tồn, phục hồi và phát triển tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) ĐNN, với các biện pháp bảo vệ như cấm săn bắt, chặt cây, phá
rừng; từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong vùng; theo dõi
diễn biến chất lượng môi trường… Tuy nhiên, thực tế cho thấy các HST và tính ĐDSH ở đây đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái, mà nguyên nhân chính dẫn đến
thực trạng nói trên được khái quát thành các nhóm chính như: công tác quản lý của Khu Ramsar và chính quyền địa phương còn nhiều hạn chế, bất cập; các hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư vùng đệm và cộng đồng dân cư bên ngoài vùng đệm tác động tiêu cực đến tài nguyên ĐNN nhưng chưa được kiểm soát và quản lý [2]
Để giải quyết vấn đề nói trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình
quản lý tài nguyên khu Ramsar Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An” là rất
cần thiết
Trang 192
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được mô hình quản lý tài nguyên hiệu quả tại khu Ramsar Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Sinh kế của cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh khu Ramsar Láng Sen thuộc 3
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiển của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Các luận cứ trong đề tài có thể áp dụng cho các nghiên cứu và giảng dạy cho sinh viên, học viên cao học ngành quản lý tài nguyên môi trường
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề xuất được mô hình quản lý hiệu quả để phát huy vai trò, quyền lợi, trách nhiệm
của các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng dân cư địa phương trong công tác bảo
vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên ĐNN, đồng thời góp phần cải thiện sinh kế theo hướng sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên thiên nhiên (TNTN)
Trang 203
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Một số hiểu biết chung về khu Ramsar
1.1.1 Giới thiệu chung về Công ước Ramsar
Công ước Ramsar là một công ước quốc tế về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý, thích đáng các vùng ĐNN, với mục đích ngăn chặn quá trình xâm lấn ngày càng gia tăng vào các vùng ĐNN cũng như sự mất đi của chúng ở thời điểm hiện nay và trong tương lai, công nhận các chức năng sinh thái học nền tảng của các vùng ĐNN
và các giá trị sinh thái, khoa học, kinh tế, văn hóa và giải trí
Tiêu đề chính thức của công ước là The Convention on Wetlands of International Importance, especially as Waterfowl Habitat (Công ước về các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước) Công ước này được tạo ra và phê chuẩn bởi các quốc gia tham gia tại cuộc họp tại thành phố Ramsar, Iran vào ngày 2 tháng 2 năm 1971 và có hiệu lực ngày 21 tháng 12 năm
1975
Tính đến tháng 10 năm 2010, 160 quốc gia đã tham gia Công ước với tư cách là các bên ký kết và hơn 1900 vùng ĐNN trên khắp thế giới, bao phủ hơn 186 triệu ha đã được chỉ định để đưa vào danh sách các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế [3]
Việt Nam chính thức tham gia Công ước Ramsar vào tháng 9 năm 1989, là thành viên thứ 50, đồng thời là quốc gia đầu tiên của Đông Nam Á tham gia Công ước này và lấy vùng ngập nước Xuân Thủy ở cửa sông Hồng làm khu Ramsar đầu tiên
của Việt Nam
Ramsar có tất cả 9 tiêu chí để công nhận, được chia thành hai nhóm tiêu chí chính bao gồm (a) sự độc đáo và hiếm có của vùng ĐNN (b) tầm quan trọng quốc tế về
bảo tồn ĐDSH, nhấn mạnh đến cá và chim nước
- Tiêu chí 1: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu vùng đó bao
gồm các loài động, thực vật quý hiếm, đặc trưng và điển hình xét về đặc tính tự
Trang 214
nhiên hoặc gần với tự nhiên của vùng ĐNN, mà được tìm thấy trong khu vực sinh địa lý thích hợp
- Tiêu chí 2: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó đóng vai trò
hỗ trợ cho các HST đang bị đe dọa hoặc các loài có nguy cơ bị nguy hiểm hoặc cực
kỳ nguy hiểm (Các tiêu chí dựa trên chủng loại và HST)
- Tiêu chí 3: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó đóng vai trò
hỗ trợ cho các loài động, thực vật có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì ĐDSH tại
một vùng sinh địa lý cụ thể
- Tiêu chí 4: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó đóng vai trò
hỗ trợ cho các loài động, thực vật đang trong giai đoạn quyết định trong vòng đời
hoặc cung cấp nơi trú ẩn cho các loài này khi chúng gặp những điều kiện nguy
hiểm
- Tiêu chí 5: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó thường xuyên hỗ trợ từ 20.000 cá thể loài chim nước trở lên (Các tiêu chí dựa trên các loài chim nước)
- Tiêu chí 6: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó thường xuyên hỗ trợ 1% số lượng một loài hoặc phân loài chim nước
- Tiêu chí 7: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó hỗ trợ một tỷ
lệ đáng kể các loài, phân loài và các họ cá bản địa, các giai đoạn lịch sử trong vòng đời, sự tương tác giữa các loài hoặc số lượng mà có tính đại diện cho lợi ích của vùng ĐNN hoặc các giá trị và bằng cách ấy, đóng góp vào sự ĐDSH của toàn cầu
- Tiêu chí 8: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó cung cấp một nguồn thức ăn quan trọng cho các loài cá, là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và đường di
cư mà nhờ đó các loài cá có thể sinh sôi nảy nở tại vùng ĐNN hay ở nơi khác tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể
Trang 225
- Tiêu chí 9: Vùng ĐNN được coi là có tầm quan trọng quốc tế nếu nó thường xuyên hỗ trợ 1% số lượng một loài hoặc phân loài động vật, phi gia cầm sống phụ thuộc vào vùng ĐNN [4]
1.1.2 Định nghĩa về đất ngập nước
ĐNN rất đa dạng, có mặt nhiều nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan
của thế giới Các nhà khoa học về ĐNN đã xác định được những điểm chung của ĐNN thuộc các loại hình khác nhau, chúng đều có nước nông hoặc đất bão hòa nước, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân hủy chậm và nuôi dưỡng rất nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điều kiện bão hòa nước
Tùy thuộc vào loại hình, phân bố và mục đích sử dụng mà người ta định nghĩa về ĐNN khác nhau Cho đến nay có trên 50 định nghĩa về ĐNN Tuy vậy, các định nghĩa có thể chia thành hai nhóm là nhóm theo định nghĩa rộng và nhóm theo định nghĩa hẹp
ĐNN được định nghĩa trong điều 1.1 trong công ước RAMSAR năm 1971 – Công ước về các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của các loài chim nước là: “ Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự nhiên hay nhân tạo,
có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả vùng nước ven biển có độ sâu không quá 6m khi thủy triều
thấp đều là các vùng ĐNN”
Theo các nhà khoa học Australia: “ĐNN là những vùng đầm lầy, bãi lầy, bãi than bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên, theo mùa hoặc theo chu kì, nước tĩnh
hoặc nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm cả những bãi lầy và
những khu rừng ngập măn lộ ra khi thủy triều thấp” [5]
Trang 236
1.1.3 Chức năng của đất ngập nước
Chức năng sinh thái
Cung cấp nguồn nước ngầm, hạn chế ảnh hưởng của lũ lụt, ổn định vi khí hậu,
chống bão, ổn định bờ biển, chống xói mòn, xử lý nước, giữ lại chất cặn, chất độc,
sản xuất sinh khối, giao thông đường thủy
Đặc biệt ĐNN còn có chức năng về phát triển du lịch sinh thái (DLST): Nhiều vùng ĐNN có có giá trị ĐDSH cao đã được quy hoạch thành các khu dự trữ sinh quyển, vườn quốc gia (VQG) , KBT thiên nhên,…
Chức năng kinh tế
Tài nguyên rừng: ĐNN cung cấp nhiều sản phẩm quan trọng như gỗ, than củi và nhiều sản phẩm khác như tanin, dược liệu và là nơi sinh sinh sống của nhiều loài động vật hoang dã
Tài nguyên thủy sản: ĐNN là nơi sống và cung cấp thức ăn cho các loài thủy sản có giá trị kinh tế như cá, tôm, cua…
Sản phẩm nông nghiệp: Các ruộng lúa nước chuyên canh hoặc xen canh đã tạo nên nguồn lương thực quan trong của vùng ĐNN
Tiềm năng năng lượng: than bùn là nguồn nguyên liệu quan trọng có ở vùng ĐNN
Chức năng giá trị sinh học
Với các điều kiện tự nhiên vốn có, HST ĐNN là một HST có tính ĐDSH cao Đây
là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật có ý nghĩa thực tiễn và quan hệ chặt
chẽ với đời sống con người Nhiều vùng ĐNN là nơi di cư của nhiều loài động vật hoang dã, đặc biệt là loài chim nước
Giá trị ĐDSH của ĐNN bao gồm cả giá trị văn hóa Giá trị đó thể hiện qua đời sống tâm linh, các lễ hội truyền thống… Nơi nào có giá trị ĐDSH cao nơi đó tập trung nhiều dân cư bản địa, chính vì thế bảo vệ giá trị ĐDSH cũng chính là bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống [5]
Trang 247
1.2 Kinh nghiệm quản lý tài nguyên ở các khu Ramsar
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý tài nguyên ở các khu Ramsar ở ngoài nước
Các tổ chức quốc tế đang nỗ lực làm việc và kêu gọi chính phủ các quốc gia trên toàn thế giới, gia tăng vai trò tham gia của cộng đồng để bảo vệ và quản lý cũng như cải thiện tài nguyên, môi trường, góp phần giảm đói nghèo cho gần một tỷ người trên thế giới
Tại Thái Lan, một mô hình quản lý tài nguyên gọi là mô hình đồng quản lý (ĐQL) tài nguyên môi trường dựa vào cộng đồng đã được Viện Nghiên cứu Nguồn lợi ven
bờ (CORIN) thuộc trường Đại học Songkla (PSU) áp dụng vào vịnh Pak Phanang, nơi mà thiên tai và hoạt động của con người đã tác động mạnh đến môi trường
Cộng đồng địa phương thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, lũ lụt, ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt; vào mùa khô nhiều vùng đất trở nên khô kiệt, sông ngòi, kênh mương bị xâm nhập mặn CORIN áp dụng cách nâng cao nhận thức năng lực cho
cộng đồng và chính quyền địa phương biết cách chuyển những vấn đề tồn tại thành các cơ hội sinh kế như: sản xuất phân bón hữu cơ từ cây bèo lục bình; mở rộng kênh mương hoặc từ thông tin của các nhóm cộng đồng, phối kết hợp với các bên liên quan ngăn chặn được việc phá rừng cọ Sago Nhờ đó, chính quyền đã nhìn thấy được nguồn lợi kinh tế cho người dân từ thân cây Sago
Tại Bangladesh, Trung tâm Dhaka - Nghề cá thế giới và các đối tác của địa phương
đã thành lập KBT cá theo mô hình ĐQL dựa vào cộng đồng Theo mô hình này, nhóm ngư dân nghèo, những người có sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên, môi trường
đã được giao trách nhiệm tham gia quản lý, bảo vệ để khai thác bền vững nguồn lợi
thủy sản nội địa Và cũng trên cơ sở này, KBT đã kiểm soát việc sử dụng các ngành nghề khai thác hủy diệt và cấm đánh bắt cá vào mùa sinh sản trong vùng Mô hình ĐQL đã góp phần tăng sản lượng cá hằng năm
Phillipine, Indonesia… cũng là những quốc gia sớm mạnh dạn triển khai áp dụng
mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và đã đạt được những thành công nhất định
Cộng đồng địa phương ven biển được trao quyền cụ thể, tham gia kiểm soát trong
Trang 258
việc quản lý các nguồn lợi ven biển Điều này đã tăng cường sự chủ động, thúc đẩy
sự tham gia tích cực hơn của cộng đồng trong việc cùng chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước để quản lý và bảo tồn hiệu quả các nguồn lợi biển
Theo kết quả nghiên cứu của Nick Salafsky (2000) về kết nối sinh kế và bảo tồn đã
chỉ ra rằng những cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu về lợi ích kinh tế và bảo
tồn dựa vào việc thực hiện các hoạt động sinh kế độc lập có mối liên hệ trực tiếp với
bảo tồn để các chủ thể địa phương có cơ hội huởng lợi ích trực tiếp từ ĐDSH và như vậy sẽ có thể hạn chế được các tác nhân gây hại từ bên ngoài đối với ĐDSH Sinh kế được đảm bảo là mối quan hệ cộng sinh giúp bảo tồn ĐDSH chứ không
phải cạnh tranh với nhau Hơn nữa chiến lược này công nhận vai trò của người dân địa phương trong bảo tồn ĐDSH Cũng trong chiến lược này, các nhà bảo tồn có thể giúp cho người dân địa phương khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ hoặc phát triển DLST [6]
Poffenberger và McGean, B (1993), trong báo cáo “Liên minh cộng đồng: ĐQL
rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại VQG Dong Yai nằm ở đông bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phía bắc Thái lan Tại Dong Yai người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối
hợp với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái, đồng thời phục vụ lợi ích của người dân trong khu
vực Tại Nam Sa cộng đồng người dân cũng rất thành công trong công tác quản lý
rừng phòng hộ Họ khẳng định nếu chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực cho họ thì chắc chắn họ sẽ thành công trong việc kiểm soát khai thác tài nguyên [7]
Dự án “Rio Grande de Buba region” của tổ chức IUCN (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) tại một số nước Tây Phi năm 1991
đã nghiên cứu về nghề đánh cá thủ công, phát triển bền vững và ĐQL với đã thành công trong việc xác định và thiết lập các cơ chế cho phép sử dụng nguồn lợi thủy
sản hiện có càng lâu càng tốt của người dân địa phương Đồng thời kết hợp hài hoà
Trang 269
cả tính bền vững về kinh tế và sinh học [8] Tuy nhiên, dự án chưa mang tính khả thi đối với những vùng rộng lớn hơn và đa dạng về ngành nghề hơn Vì đối tượng ban đầu của dự án là nghề cá thủ công (chỉ khoảng 150 ngư dân) trong một môi trường xã hội đồng nhất và thậm chí cả dân tộc nên dễ dàng nhận được sự đồng thuận từ người dân đối với các đề xuất của dự án Vì thế, để áp dụng có hiệu quả thành quả nghiên cứu này cho khu Ramsar Láng Sen tác giả định hướng cần phải xét đến yếu tố đa ngành nghề của cộng đồng dân cư khu vực và đưa ra mô hình
quản lý phù hợp
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý tài nguyên ở các khu Ramsar ở trong nước
Tuy không có nhiều nghiên cứu với quy mô lớn và tính chất đa dạng so với bên ngoài nước nhưng trong nước cũng có một số nghiên cứu nổi bật
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh kế của người dân địa phương và hoạt động
bảo tồn ở KBT Thiên nhiên ĐNN Vân Long, tỉnh Ninh Bình tác giả Quyền Thị
Quỳnh Anh (2012) đã chỉ ra rằng khi người dân nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn thì chính người dân sẽ chủ động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhau về bảo tồn, góp phần làm giảm các tác động khai thác của con người lên KBT Bên cạnh đó, để đảm bảo nguồn thu nhập được ổn định cho gia đình các hộ
đã có sự thay đổi trong xu hướng ngành nghề: chuyển từ các hoạt động khai thác tài nguyên sang các ngành nghề lao động phổ thông như trồng trọt, chăn nuôi, làm
ruộng, Đồng thời qua đó đã có sự phát triển kinh tế phù hợp, giảm áp lực từ cộng đồng lên bảo tồn [9] Tuy nhiên, mô hình này vẫn chưa có giải pháp phù hợp để giải quyết ảnh hưởng từ hoạt động bảo tồn lên sinh kế của người dân địa phương Vì
vậy, trong luận văn này tác giả định hướng nghiên cứu đưa ra được lợi ích từ việc
bảo tồn mang lại cho sinh kế người dân đồng thời đề xuất mô hình kết hợp hài hoà
giữa bảo tồn và ổn định sinh kế cho người dân
Khi nghiên cứu xây dựng vùng đệm Kỳ Thượng ở KBT thiên nhiên Kẻ Gỗ, Võ Quý
và Đồng Nguyên Thuỵ (1995) đã chỉ ra rằng để có thể bảo vệ được rừng thì điều
cần thiết phải cộng tác với nhân dân địa phương, động viên họ bảo vệ rừng và nâng
Trang 2710
cao chất lượng cuộc sống của họ bằng cách giúp họ nâng cao năng suất lúa với
giống mới phù hợp với địa phương, thực hiện nông lâm kết hợp, tổ chức trồng cây
ăn quả, nuôi ong, xây dựng thuỷ điện nhỏ cho gia đình… Huấn luyện nhân dân cách xây dựng và quản lý vùng đệm, sử dụng bền vững tài nguyên rừng, giảm bớt sức ép lên rừng [10]
Tác giả Phan Khánh Linh (2008) nghiên cứu về mô hình quản lý tài nguyên môi trường dựa vào cộng đồng tại thôn Xuân Tự, Vạn Hưng, Vạn Ninh, Khánh Hòa Cơ
chế hoạt động của mô hình là ĐQL, bằng việc phân tích, đánh giá một số khía cạnh
về kinh tế, môi trường và xã hội, tác giả đã cho ta thấy các mặt mạnh, yếu của mô hình áp dụng như: người dân địa phương đã tham gia trực tiếp vào quá trình xây
dựng, quản lý và bảo vệ KBT; thu hút được nhiều người tham gia bảo vệ; nhận thức
của người dân về vấn đề môi trường được nâng cao; các nguồn tài nguyên được
phục hồi; sinh kế người dân được quan tâm hơn Tuy nhiên mô hình áp dụng vẫn còn một số thiếu sót cần có giải pháp khắc phục như: mở rộng phạm vi tuyên truyền đối với ngư dân vùng lân cận, mở rộng vai trò của phụ nữ trong việc quản lý KBT [11]
Khi nghiên cứu phát triển sinh kế bền vững cho người dân để bảo tồn ĐDSH ở KBT thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa của tác giả Hà Quý Quỳnh và Vũ Thị Ngọc (2005) đã đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương Đây là cách tiếp cận đảm bảo cân bằng giữa phát triển và bảo tồn, phù hợp
với từng cộng đồng dân cư và điều kiện tự nhiên của từng vùng Theo đó, kết quả đánh giá chỉ ra các nguồn vốn sinh kế của cộng đồng dân cư ở KBT thiên nhiên Xuân Liên ở mức trung bình thấp Giải pháp sinh kế bền vững ở Xuân Liên bao
gồm: Giải pháp về nguồn vốn sinh kế và giải pháp kỹ thuật Vốn sinh kế gồm: (a)
Vốn con người: (1) Tăng cường năng lực người dân, (2) Giải quyết lao động dư
thừa; (b) Vốn tài chính: Đa dạng hóa các hoạt động sinh kế để nâng cao thu nhập; (c) Vốn xã hội gồm: (1) Nâng cao năng lực cán bộ các tổ chức, (2) Nâng cao năng
lực tiếp cận thị trường cho hộ gia đình, (3) Tăng cường công tác khuyến nông; (d)
Vốn tự nhiên gồm: Đào tạo, tập huấn canh tác nông nghiệp bền vững cho HGĐ; (e)
Trang 2811
Vốn vật chất: Cải thiện nguồn vốn con người và nguồn vốn tài chính Giải pháp kỹ thuật gồm phát triển trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất lâm nghiệp và sản xuất phi nông nghiệp [12]
Ở nước ta, hai lĩnh vực sớm triển khai cơ chế ĐQL là quản lý tài nguyên thủy hải
sản và quản lý tài nguyên rừng
Mô hình tại VQG Tràm Chim thực hiện từ năm 2009 trong đó VQG phối hợp cùng chính quyền địa phương thành lập các Tổ sử dụng tài nguyên, đối tượng tham gia là
một số hộ dân thuộc diện gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn
có nhu cầu sử dụng tài nguyên thuộc địa bàn 5 xã và thị trấn Tràm Chim do chính quyền địa phương tổ chức bình xét Loại tài nguyên cho phép sử dụng là thủy sản,
cỏ, sen, súng, rau (rau muống, rau trai ), củi tràm (cây chết và đỗ ngã) và các loài sinh vật ngoại lai (mai dương, ốc bưu vàng, rong, bèo ) Khu vực sử dụng, thời gian, chủng loại ngư cụ, công cụ: theo quy định của VQG Tràm Chim [13]
Tại các khu Ramsar hiện đều có Ban quản lý trực tiếp quản lý, kiểm soát các hoạt động tác động đến các hệ sinh thái và cuộc sống của các loài sinh vật bản địa hay di trú theo mùa vụ Chính phủ Việt Nam cũng ban hành nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển sinh kế mới, sinh kế thay thế cho người dân địa phương, di dân, xóa đói nghèo…nhằm giảm áp lực và lựa chọn các phương pháp khai thác, sử
dụng khôn khéo các vùng đất ngập nước
Theo đó, Việt Nam đã hình thành một số mô hình bảo tồn và quản lý đất ngập nước
dựa vào cộng đồng Tiêu biểu như mô hình quản lý rừng ngập mặn ở xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên (Quảng Ninh); bảo vệ rừng dừa nước tại Cẩm Thanh (Quảng Nam); đồng quản lý và chia sẻ nguồn gen ở các Vườn quốc gia và Khu Ramsar Xuân Thủy (Nam Định); Tràm Chim (Đồng Tháp) Nhất là đồng quản lý Vườn
quốc gia U Minh Hạ thông qua việc cho phép cộng đồng vào trồng cây ăn quả xung quanh Vườn quốc gia, đồng thời có trách nhiệm bảo vệ các hệ sinh thái trong Vườn, góp phần giữ gìn các giá trị đa dạng sinh học tại đây
Trang 2912
Bên cạnh những thành công đáng kể thì ĐQL vẫn còn một số mặt hạn chế khi chủ trương ĐQL trong lĩnh vực lâm nghiệp hầu như chưa được các tỉnh cụ thể hóa thành chính sách của tỉnh để triển khai các quy định của Trung ương Nhiều tỉnh có rừng
vẫn duy trì các phương thức quản lý gắn với cộng đồng đã thực hiện nhiều năm qua như giao đất trồng rừng, khoán rừng để quản lý bảo vệ, xây dựng rừng cộng đồng vì
có một số điểm tương đồng với khái niệm ĐQL rừng
Các mô hình trên là giải pháp quản lý tài nguyên có hiệu quả, tuy nhiên để có thể áp
dụng vào khu Ramsar Láng Sen đạt hiệu quả tốt nhất, việc nghiên cứu áp dụng mô hình ĐQL tài nguyên cần phải phù hợp với thực tế hiện trạng tài nguyên và công tác
quản lý tài nguyên, văn hóa cộng đồng của khu Ramsar Láng Sen
1.3 Giới thiệu về khu Ramsar Láng Sen
Láng Sen là khu Ramsar thứ 7 được công nhận trong hệ thống 8 khu Ramsar hiện nay của Việt Nam Điểm nổi bật của khu Ramsar Láng Sen so với các khu Ramsar khác là HST rừng tràm và đồng cỏ ngập nước theo mùa trên đất phèn, hệ động thực
vật phong phú đặc biệt là các loài chim nước và sinh cảnh đa dạng
Một số chỉ số lợi thế so sánh với các khu Ramsar trên thế giới cho thấy: nét hoang
sơ của khu Ramsar Láng Sen còn được lưu giữ qua các kiểu HST đặc trưng như:
rừng tràm tập trung, rừng tràm ven sông và đồng cỏ ngập nước theo mùa Trong đó
một số sinh cảnh đặc trưng chỉ Láng Sen còn lưu giữ được như: sinh cảnh lúa trời, sinh cảnh đồng cỏ năng và sen, súng Cùng với VQG Tràm Chim, khu Ramsar Láng Sen là một trong hai khu vực tại Việt Nam hiện nay còn bảo vệ được sinh cảnh lúa
trời Các đồng cỏ tại khu Ramsar Láng Sen là nơi phát triển duy nhất còn lại của
một số quần thể thực vật điển hình thuộc đồng bằng lau sậy tại khu vực hạ lưu sông
Mê – kông [2]
1.3.1 Vị trí địa lý
Khu Ramsar Láng Sen nằm trong phạm vi có tọa độ địa lý:
- Từ 10o45’ - 11o50’ Vĩ độ Bắc
Trang 3013
- Từ 105o45’- 105o50’ Kinh độ Đông
Khu Ramsar Láng Sen nằm trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long – khu vực nổi
tiếng với các cánh đồng bãi sậy Khu vực này trước đây chiếm ưu thế bởi các trảng
cỏ ngập theo mùa nhưng hiện nay hầu như đã chuyển thành đất nông nghiệp
Khu Ramsar Láng Sen là một trong hai khu vực bán tự nhiên lớn còn sót lại trong HST ĐNN có các cánh đồng sậy, khu vực còn lại là VQG Tràm Chim Khu Ramsar Láng Sen với tổng diện tích tự nhiên là 5.030 ha, chiếm 1,12% diện tích tự nhiên
của tỉnh Long An Phần lớn diện tích thuộc xã Vĩnh Lợi, phần còn lại thuộc 2 xã Vĩnh Đại và Vĩnh Châu A, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An, tiếp giáp với VQG Tràm Chim, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp [2]
Hình 1.1 Vị trí địa lý và địa giới hành chính của Khu Ramsar Láng Sen
Trang 3114
1.3.2 Lịch sử hình thành
Tính phong phú của các loài động thực vật và ĐDSH trong vùng Láng Sen được ghi
nhận từ năm 1984 – 1985 thông qua chương trình điều tra cơ bản vùng Đồng bằng sông Cửu Long Một số nhà khoa học đã gợi ý chọn Láng Sen để thành lập KBT thiên nhiên đặc trưng của vùng ĐTM
Nhận thức được vấn đề này vào năm 1994, UBND Tỉnh Long An đã quyết định thành lập KBT thiên nhiên Láng Sen nhưng mang tên “KBT di tích lịch sử Láng Sen” Với nhiều ý kiến đề xuất từ các nhà khoa học và cơ quan quản lý, UBND
Tỉnh Long An đã quyết định đổi tên là “KBT thiên nhiên rừng ĐTM Láng Sen”, nhưng sau đó đổi tên là “KBT di tích lịch sử cách mạng Láng Sen” và trình Bộ Lâm nghiệp Việt Nam phê chuẩn dự án và được Bộ Lâm Nghiệp đổi tên thành: “Rừng phòng hộ biên giới Việt Nam – Campuchia và bảo tồn di tích lịch sử Láng Sen” với
diện tích 2.847 ha, lấy điểm trung tâm của vùng lỏi tại rạch Cái He [2] Điểm đáng chú ý là trong khu vực vành đai tự nhiên của Láng Sen có sự hiện diện của lâm trường Tân Hưng và đã được UBND tỉnh Long An quyết định thành khu sinh thái
rừng tràm ĐTM, vào năm 2000 với diện tích 2.245 ha, khu vực này chưa phải là vùng lõi của Láng Sen
Trong quá trình này, mặc dù khu ĐNN Láng Sen vẫn chưa được thành lập như một KBT thiên nhiên nhưng đã nhiều nhà khoa học đã đến nghiên cứu và công bố kết
quả sơ bộ về tính ĐDSH ĐNN của vùng Láng Sen
Nhận thấy việc bảo vệ tài nguyên tự nhiên, ĐDSH vùng ĐNN vùng ĐTM là việc
cần thiết, vào đầu tháng 1 năm 2004, UBND tỉnh Long An đã ra quyết định số: 199/QĐ - UB ngày 19/1/2004 thành lập “KBT ĐNN Láng Sen”, với diện tích là 5.030 ha Trong đó, bao gồm cả diện tích của KBT sinh thái rừng tràm ĐTM, lâm trường Vĩnh Lợi và một phần diện tích của xã Vĩnh Lợi và Vĩnh Đại Lấy địa điểm Cái He làm trung tâm của vùng lõi Khu Ramsar Láng Sen được công nhận là khu Ramsar thứ 7 của Việt Nam và thứ 2227 của thế giới [2]
Trang 32 Đất đai – thổ nhưỡng:
Độ axit của đất tại khu Ramsar Láng Sen rất cao Độ pH đo được ở các kênh rạch chính dưới 3,5 Địa chất khu vực phần lớn thuộc trầm tích Hologen và những gò Pleistocen (hoặc Pleistocen muộn) nổi lên tại một số nơi trong vùng Ngoài ra các
vạt trũng thấp là lòng sông cổ với lớp đất mặt tích tụ nhiều chất hữu cơ
Các nhóm đất hiện diện trong vùng là kết quả từ những tiến trình và yếu tố hình thành đất trong đó tính đa dạng của vật liệu trầm tích đóng vai trò quan trọng Các nhóm đất chính: Đất xám (Aeric Paleaquults, Aquic Arenic Paleustults, Typic Plinthaquults), đất phèn hoạt động (Typic Sulfaquepts, Umbric Sulfaquepts, Hydraquentic Sulfaquepts), đất phù sa có tầng sinh phèn trung bình (Aquic sulfic Tropaquepts), đất phù sa có tầng phèn trung bình (Sulfic Tropaquepts), đất phù sa phát triển (Typic Tropaquepts)
Khí hậu – thời tiết
Khu Ramsar Láng Sen thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm mang đặc trưng
của vùng đồng bằng sông Cửu Long, với hai mùa rõ rệt trong năm: mùa mưa và mùa khô Lượng mưa trung bình hằng năm <2000 mm Trong đó 90% tập trung vào mùa mưa
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mưa nhiều nhất vào tháng 8 Mùa khô
bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa không đáng kể Mưa lũ gây
cản trở quá trình sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Trang 3316
Khí hậu huyện Tân Hưng mang tính chất nhiệt đới gió mùa với nền nhiệt cao đều quanh năm, ánh sáng dồi dào, lượng mưa khá lớn và phân bố theo mùa Nhiệt độ bình quân năm vào khoảng 27,2°C Biên độ nhiệt trong năm dao động vào khoảng 4,5°C và biên độ nhiệt ngày dao động từ 8°C đến 10°C Độ ẩm trung bình hằng năm
là 80 - 82°C, thời gian chiếu sáng bình quân ngày từ 6,8 – 7,5 giờ/ngày và bình quân năm là 2500 – 2800 giờ
chủ yếu do các kinh tạo nguồn lớn từ sông Cửu Long, như: kinh Hồng Ngự – Long
An, kinh 79, kinh 28 và sông Lò Gạch Nguồn nước trực tiếp tới khu vực Láng Sen
đi qua 2 tuyến dẫn nước chính là kinh 79 và rạch Bông Súng Mặc dù nằm trong nội địa, nhưng ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều và lớn
nhất vào mùa kiệt Tuy nhiên biên độ dao động mực nước lớn nhất cũng trong khoảng < 0,5 m Biên độ này giảm dần tới khi đỉnh lũ xuất hiện
Ngập lũ: vùng ngập sâu trung bình ở vùng từ 2,5 - 3,5 m trong các năm lũ lớn Thời gian ngập từ 3 đến 4 tháng Do mạng lưới kinh mương được phát triển và mở rộng nên thời gian ngập hiện nay là ngắn hơn khoảng 1 tháng so với trước đây Vùng
ngập sâu và lâu nhất vẫn là những nơi lung bàu trũng như Láng Sen, rạch Cá He,
rạch Cả Nổ [2]
Chất lượng nguồn nước thay đổi theo mùa và có sự khác biệt trong từng khu vực Tuyến kinh 79 đi qua vùng đất phèn nặng nên nước bị chua phèn và độ đục thấp, độ
pH thường thấp dưới 4,5 Chất lượng nước chỉ được cải thiện vào mùa mùa lũ, đồng
thời độ đục cũng tăng lên ít nhiều Tuyến sông Bông Súng có chất lượng nước tốt hơn, lượng phù sa tương đối ổn định và cao hơn
Trang 3417
1.3.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Dân cư
Dân số trung bình năm 2015 của huyện Tân Hưng là 55.166 người, mật độ dân số
110 người/km2, chỉ bằng 33.6% mật độ dân số của tỉnh Long An (327 người/km2) nên Tân Hưng được xem là “vùng đất rộng người thưa” Đơn vị hành chính gồm có
1 thị trấn và 11 xã
Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của 3 xã (2016) vào khoảng 1,4 %/năm Trình độ học
vấn: Chỉ có 5% hộ nghèo mù chữ, trình độ văn hóa bình quân khoảng hết cấp 1, tỷ
lệ biết đọc biết viết ở nhóm trung bình [14]
Trong khu Ramsar Láng Sen dân cư thưa thớt, đa phần sinh sống dọc theo tỉnh lộ 79
để tiện cho việc đi lại Trong KBT ĐNN Láng Sen chỉ có dân tộc Kinh, tuy nhiên
những năm gần đây do sự tăng dân số tự nhiên kết hợp với gia tăng dân số cơ học từ nơi khác đến định cư quanh KBT như từ tỉnh Đồng Tháp, An Giang… đã gây nên
áp lực cho việc quản lý, bảo vệ tài nguyên quanh KBT
Là một trong những vùng thưa dân của Tân Hưng, hoạt động kinh tế chủ yếu của người dân khu Ramsar Láng Sen là trồng trọt và chăn nuôi Trồng lúa 2 vụ/năm là thu nhập chính của người dân trong vùng Ngoài thu nhập từ cây lúa thì hầu như không còn thu nhập nào khác từ trồng trọt Cần nói rõ rằng, đây là những hộ dân
nằm trong vùng đệm, còn đối với toàn bộ các hộ dân trong 3 xã thì người dân vẫn
trồng một số loại cây màu như dưa hấu (xã Vĩnh Lợi), dưa leo, bầu bí (xã Vĩnh Đại), sen (Vĩnh Châu A) Nhìn chung, với sản xuất lúa, thu nhập của các hộ dân
hiện tại tương đối đủ sống Nguồn sinh kế sau trồng lúa có thể kể đến là nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, nuôi vịt lấy trứng,… là những nghề phổ biến ở khu Ramsar Láng Sen
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Tân Hưng là một huyện thuộc vùng sâu vùng xa của tỉnh Long An nên gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp - tiểu thủ công
Trang 35% diện tích đất tự nhiên của huyện)
Theo kết quả điều tra ngành nghề nông thôn trên địa bàn nông thôn của huyện Tân Hưng có 129 hộ tham gia sản xuất 7 loại ngành nghề nông thôn, thu hút 201 lao động Trong đó nhiều nhất là ngành dệt may công nghiệp 57 hộ, tiếp đến là nghề
nấu rượu 51 hộ, nghề cơ khí và sửa chữa xe máy 11 hộ, nghề mộc gia dụng 6 hộ nghề xay xát 3 hộ
1.3.5 Hiện trạng sử dụng đất khu Ramsar Láng Sen
- 700 ha đất sản xuất nông nghiệp của các hộ dân sinh sống xung quanh khu vực
- 200 ha ĐNN quanh năm là khu vực thí điểm về các loại hình bảo tồn ĐDSH ĐNN
với nhiều loài động thực vật cũng như loài thủy cầm tự nhiên của vùng ĐTM
- 1000 ha rừng tràm với độ tuổi vào khoảng 9 – 10 tuổi, mật độ tương đối dày
- 800 ha là đồng cỏ hiện tại khu vực này là bãi ăn của Sếu Đầu Đỏ
- 187 ha là diện tích các kênh và đê bao
- Khu trồng rừng kinh tế 1205 ha [2] Hiện nay đất này giao khoáng cho các hộ dân
trồng tràm, với mục đích bảo tồn và phát huy lợi ích kinh tế rừng trồng
1.3.6 Phân khu quản lý tài nguyên tại khu Ramsar Láng Sen
Phân khu bảo tồn các hệ sinh thái và đa dạng sinh học
Diện tích 1.971 ha Đây là khu bảo vệ nghiêm ngặt thuộc vùng lõi của KBT ĐNN Láng Sen Khu vực này bao gồm các HST tự nhiên: các loại động – thực vật và là nơi trú ngụ, sinh sản của nhiều loài chim nước cần được bảo vệ
Trang 3619
Phân khu hệ thủy sản tự nhiên
Với diện tích khoảng 156 ha Đây là khu vực nằm trong khu vực ngã ba sông Vàm
Cỏ Tây - rạch Cái He, nơi trú ngụ và sinh sản của nhiều loài thủy sản tự nhiên của vùng ĐTM Để bảo vệ khu chức năng này cần có sự phối hợp với chính quyền địa phương và có sự tham gia của cộng đồng trong việc khai thác và sử dụng bền vững TNTN
Khu rừng tràm kinh tế
Với diện tích khoảng 982 ha Đây là khu rừng tràm thuộc quản lý tạm thời của lâm trường Vĩnh Lợi Do đặc thù còn chịu sự quản lý của đơn vị khác và có hoạt động cho thuê đất trồng tràm, do đó tạm thời hoạt động dưới dạng rừng tràm kinh tế
Khu du lịch sinh thái – phục hồi cảnh quan Đồng Tháp Mười
Với diện tích khoảng 106 ha Đây là khu đầu tư phục vụ DLST và phục hồi lại các
cảnh quan, thực vật bản địa và hoạt động canh tác ĐNN theo kiểu xưa kia của vùng ĐTM Khu chức năng này bao gồm cả những công trình nghỉ dưỡng cho khách có nhu cầu
Vùng đệm
Với diện tích khoảng 1.400 ha Là khu vực đất thuộc sở hữu sử dụng của cộng đồng dân cư Hiện trạng sử dụng đất chủ yếu canh tác lúa, trồng tràm và các cây thân gỗ khác, nuôi thủy sản
Khu quản lý hành chính – nhà nghỉ
Diện tích 15 ha, đây là khu dùng để xây dựng nhà làm việc của KBT, nhà nghỉ, khu
cứu hộ động vật hoang dã [15]
Trang 3720
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng tài nguyên và ĐDSH của khu Ramsar Láng Sen: địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, tài nguyên sinh học,
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý tài nguyên tại khu Ramsar Láng Sen: tổ chức
quản lý, tình hình thực hiện công tác quản lý tài nguyên
- Nghiên cứu, đánh giá các tác động liên quan đến tài nguyên và quản lý tài nguyên:
hoạt động sinh kế của cộng đồng dân cư vùng lõi và vùng đệm KBT đối với việc
quản lý, bảo tồn tài nguyên ĐDSH ĐNN; chính sách về quản lý tài nguyên và vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý bảo vệ ĐDSH ĐNN khu Ramsar Láng Sen; khai thác DLST tại khu Ramsar Láng Sen
- Nghiên cứu, đánh giá mô hình quản lý tài nguyên tại Khu Ramsar Láng Sen: Mô hình nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH); Mô hình
quản lý tích hợp có sự tham gia của cộng đồng; Mô hình áp dụng truyền thông
hệ thống, từ những cái nhìn tổng quan này, những vấn đề của một sự việc sẽ được
Trang 3821
nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan Những mối quan hệ giữa các sự vật
hiện tượng sẽ được bộc lộ một cách rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát huy thế mạnh và khắc phục các điểm hạn chế của chúng ta trong quá trình phát triển
2.2.2 Kế thừa các tư liệu và phân tích các tài liệu thứ cấp
- Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trong lĩnh vực quản lý bảo tồn TNTN dựa vào cộng đồng ở Việt Nam và trên thế giới
- Những tài liệu đã có về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của 3 xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, Vĩnh Châu A
- Những tài liệu nghiên cứu về đa dạng sinh học của Khu Ramsar Láng Sen
- Hệ thống luật, chính sách và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết về ĐDSH
2.2.3 Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường
2.2.3.1 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
Chuẩn bị 200 phiếu điều tra đối với người dân sống trong vùng lõi và vùng đệm KBT, cán bộ quản lý KBT, cơ quan quản lý nhà nước để thu thập thông tin có liên quan tới sinh kế và hoạt động bảo tồn để khảo sát Để người được khảo sát điền thông tin vào bảng khảo sát và cho biết ý kiến hoặc kiến nghị (nếu có) sau đó tổng
hợp lại kết quả
Số lượng phiếu điều tra được lựa chọn theo kiểu mẫu không lặp lại theo công thức sau:
2 2 2
2 2 .
S t Nd
S t N n
+
=
Trong đó:
- n: số hộ cần điều tra
Trang 3922
- N: tổng thể
- t: hệ số tin cậy của kết quả (t = 1,96)
- d: sai số mẫu (5%)
- S2: phương sai mẫu (0,25)
2.2.3.2 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham dự (PRA)
Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng, trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu
Theo phương pháp này đề tài đã thực hiện những cuộc trao đổi, thảo luận với các nhóm người đại diện cho cộng đồng với các chủ đề có liên quan đến quản lý KBT Trong quá trình trao đổi, thảo luận, những người thực hiện đề tài giữ vai trò là người thúc đẩy và định hướng cuộc trao đổi mà không đưa ra những ý kiến mang tính quyết định và không áp đặt tư tưởng của mình cho những thành viên tham gia
thảo luận
Lựa chọn đối tượng: Nhóm đối tượng chọn phỏng vấn, thảo luận thu thập thông tin
dựa vào: mức sống khác nhau, địa bàn cư trú khác nhau, địa vị xã hội khác nhau, lĩnh vực quản lý khác nhau nhưng đều có sự hiểu biết về các vấn đề có liên quan đến quản lý tài nguyên
Công cụ được lựa chọn trong phương pháp PRA là:
- Phỏng vấn cán bộ Khu Ramsar Láng Sen, hạt kiểm lâm liên huyện Vĩnh Hưng – Tân Hưng, cán bộ của xã nghiên cứu điểm để nắm bắt những thông tin chung nhất
của khu vực như: tình hình đất đai, tài nguyên ĐNN, công tác quản lý bản vệ, cây
trồng, vật nuôi, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương…
Trang 4023
- Phỏng vấn các ấp trưởng của các cộng đồng nghiên cứu: công cụ này được thực
hiện đầu tiên khi tới ấp, nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế - xã hội của ấp như: dân số, mức sống, dân trí, các loại đất đai, các hỗ trợ từ bên ngoài, các hình
thức sử dụng tài nguyên
- Thông qua các cuộc họp dân, tác giả đã áp dụng một số công cụ PRA như: lịch sử thôn ấp và diễn biến tài nguyên địa phương, Cây vấn đề và phân hạng vấn đề/nguyên nhân để tìm hiểu nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về các vấn đề môi trường, tài nguyên ở khu Ramsar Láng Sen, hậu quả và nguyên nhân gốc rễ; xác định các hành vi chủ chốt có ảnh hưởng đến tài nguyên tại địa phương và đề xuất các giải pháp truyền thông/giáo dục/nâng cao nhận thức để giải quyết các vấn đề theo phương pháp tiếp cận thay đổi hành vi cộng đồng Ngoài ra, các thảo luận từ các cuộc họp ấp cũng bổ sung, minh họa cho các kết quả định lượng từ hoạt động
phỏng vấn bằng bảng hỏi Sự bổ sung này đã hỗ trợ cho việc diễn giải thấu đáo hơn
về mối quan hệ qua lại giữa nhận thức, hiểu biết môi trường của cộng đồng địa phương và hành vi thực tế của họ
- Bảng câu hỏi phỏng vấn: Các câu hỏi phỏng vấn là những câu hỏi bán định hướng
và được sắp xếp theo từng chủ đề phỏng vấn
- Sử dụng phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) để đánh giá tình hình quản lý bảo vệ tài nguyên tại khu Ramsar Láng Sen
- Phân loại kinh tế hộ gia đình đầu tư sản xuất, chi phí, thu nhập…
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin
Trong quá trình xử lý tài liệu, đề tài đã tiến hành thống kê, tổng hợp các thông tin
đã thu thập được trong thời gian ngoại nghiệp, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, thứ tự quan trọng của từng vấn đề, từng ý kiến và theo từng quan điểm Đồng thời thực
hiện những phân tích định lượng đối với một số thông tin, vấn đề có thể thực hiện được, đối chiếu liên hệ nó với các vấn đề phát hiện bằng điều tra nhanh