1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xác định mức độ dễ bị tổn thương do lũ lớn đến kinh tế xã hội tỉnh an giang và đề xuất các biện pháp quản lý thiên tai lũ lụt

103 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 3,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGÔ THỊ PHƯƠNG ANH NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỚN ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT C

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGÔ THỊ PHƯƠNG ANH

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỚN ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THIÊN TAI LŨ LỤT

Chuyên ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Mã chuyên ngành: 60.850101

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019

Trang 2

BỘ CÔNG THƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGÔ THỊ PHƯƠNG ANH

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO LŨ LỚN ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH AN GIANG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN

Chuyên ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Mã chuyên ngành: 60.850101

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019

Trang 3

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Đại Gái

Người phản biện 1: Người phản biện 2: Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày tháng năm

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

Trang 4

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Ngô Thị Phương Anh MSHV: 15001611

Ngày, tháng, năm sinh: 12/01/1990 Nơi sinh: Bình Thuận

Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Mã chuyên ngành: 60.850101

I TÊN ĐỀ TÀI:

Nghiên cứu xác định mức độ tổn thương do lũ lớn tới Kinh tế - Xã hội tỉnh An Giang

và đề xuất giải pháp quản lý thiên tai lũ lụt

NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

1 Đánh giá tình hình lũ lụt và điều kiện tự nhiên, KT-XH tỉnh An Giang

2 Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt cho tỉnh An Giang

3 Áp dụng bộ tiêu chí tính toán chỉ số mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt cho TP Châu Đốc, tỉnh An Giang

4 Đánh giá các thách thức và định hướng các giải pháp quản lý thiên tai lũ lụt cho

TP Châu Đốc, tỉnh An Giang

II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định Số 1064/QĐ-ĐHCN ngày

08/05/2018 của Hiệu trưởng Trường Đại học Công Nghiệp TP HCM

III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 22/03/2019

IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đinh Đại Gái

Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 20 …

NGƯỜI HƯỚNG DẪN

PGS.TS Đinh Đại Gái

CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO

VIỆN TRƯỞNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của Quý Thầy cô, các cán bộ chuyên môn cùng nhiều người thân và bạn bè

Trước hết tôi xin chân thành cám ơn:

PGS.TS Đinh Đại Gái là người Thầy hướng dẫn trực tiếp của tôi Với những ý kiến đóng góp tích cực cùng với những kinh nghiệm quý báu, những phương pháp luận khoa học cụ thể đã giúp tôi định hướng đề tài ngay từ đầu và thực hiện hoàn chỉnh luận văn

Quý Thầy cô đang công tác tại Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý Môi trường, Trường Đại học Công nghiệp TPHCM Chính nhờ sự tận tâm của họ trong trong công tác giảng dạy đã giúp tôi tích lũy được rất nhiều kiến thức chuyên môn hữu ích, là cơ

sở trong quá trình thực hiện luận văn

Đề tài cấp Bộ Tài nguyên và Môi trường “Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá rủi ro lũ lụt vùng đồng bằng sông Cửu Long - Áp dụng thí điểm cho tỉnh An Giang” mã số TNMT.2016.05.15 Thông qua việc tham gia đề tài này, Học viên đã thu thập được các phương pháp luận và số liệu phục vụ thực hiện các nội dung của

đề tài Luận văn Thạc sĩ

Tiếp đến là lời cám ơn của tôi dành cho những người cán bộ đang công tác tại Chi cục thống kê Tỉnh An Giang, Sở TNMT Tỉnh An Giang, Phòng Thống kê thành phố Châu Đốc và UBND các xã/phường trên địa bàn thành phố Họ đã giúp tôi thu thập

số liệu làm cơ sở tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ lụt cho thành phố Châu Đốc Sau cùng tôi xin cám ơn sự quan tâm, động viên, giúp đỡ về mặt tinh thần của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Trang 6

bị tổn thương cho 7 xã/phường thuộc TP Châu Đốc, tỉnh An Giang Kết quả cho thấy, trong cả 3 kịch bản lũ thì mức độ tổn thương của cả TP Châu Đốc chỉ ở mức Trung bình, chỉ số FVI dao động từ 0,301 đến 0,331 với trận lũ lớn, từ 0,322 đến 0,351 trong trận lũ Trung bình và từ 0,336 đến 0,371 trong trận lũ lớn (3) Trên cơ sở phân tích sâu giá trị các biến trong bộ tiêu đã được tính toán, một số giải pháp mang tính định hướng nhằm giảm thiểu những tổn thương do lũ gây ra đã được đề xuất Ngoài những biện pháp giảm diện ngập lụt thì cần có những biện pháp làm giảm tính nhạy với lũ của các đối tượng trên lưu vực, cũng như làm tăng khả năng chống chịu với lũ của cộng đồng

Keywords: Mức độ dễ bị tổn thương, Châu Đốc An Giang, FVI

Trang 7

ABSTRACT

On the basis of inheriting the set of criteria for assessing the vulnerability that have been studied at home and abroad, the dissertation builds its own set of criteria, suitable to the flood characteristics in the Mekong Delta region as well as the characteristics of Natural and socio-economic conditions of An Giang province The set of criteria used to test the extent of vulnerability to flooding (according to 3 flood scenarios: big flood, medium flood and small flood) in Chau Doc City, An Giang province Since then, the thesis proposes solutions to improve and improve capacity

in disaster management and prevention for the city The main results of the thesis are summarized as follows: (1) Develop an appropriate set of criteria to calculate vulnerability index - FVI for An Giang province includes 42 parameters of 8 indicators of 3 criteria - Develop a process of calculating FVI index and decentralization of vulnerability levels according to 5 levels: Very large; Great; Relatively; Medium; Small (2) Applying the calculation of vulnerability test for 7 communes / wards of Chau Doc City, An Giang province The results show that, in all 3 flood scenarios, the level of vulnerability of all Chau Doc City is only average, the FVI index ranges from 0.301 to 0.331 with a large flood, from 0.322 to 0.351 in the average flood and from 0.336 to 0.371 in the big flood (3) On the basis of in-depth analysis of the values of the variables in the calculated pepper set, some oriental solutions to mitigate flood-induced injuries have been proposed In addition to measures to reduce flooding, measures need to be taken to reduce the susceptibility

to flood in the basin, as well as to increase the resilience of the community

Keywords: Vulnerability level, Chau Đoc An Giang, FVI

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Học viên

Ngô Thị Phương Anh

Trang 9

MỤC LỤC

MỤC LỤC v

DANH MỤC HÌNH ẢNH viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 7

1.1 Khái niệm lũ lụt và phân cấp lũ 7

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ trên thế giới 8 1.2.1 Tính dễ bị tổn thương do lũ lụt 8

1.2.2 Tính toán mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt 10

1.2.2.1 Quan điểm tiếp cận 11

1.2.2.2 Các mô hình áp dụng 13

1.3 Tổng quan nghiên cứu trong nước 17

1.4 Tổng quan vùng nghiên cứu 20

1.4.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên của TP Châu Đốc 20

1.4.1.1 Vị trí địa lý 20

1.4.1.2 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng[30] 21

1.4.1.3 Đặc điểm khí hậu 23

1.4.1.4 Đặc điểm thuỷ văn 25

1.4.2 Hiện trạng phát triển Kinh tế - Xã hội [31, 32] 26

1.4.2.1 Dân cư và lao động 26

Trang 10

1.4.2.2 Phát triển kinh tế 26

1.4.2.3 Giáo dục, y tế, văn hoá 28

1.4.3 Tình hình lũ lụt 29

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Khung tiến trình thực hiện đề tài 32

2.2 Phương pháp tính toán chỉ số WSI 33

2.2.1 Thiết lập bộ tiêu chí tính toán chỉ số FVI cho tỉnh An Giang 33

2.2.1.1 Bộ tiêu chí tham chiếu 33

2.1.2.2 Nguyên tắc sàng lọc và thiết lập bộ tiêu chí 36

2.2.2 Thu thập và tính toán số liệu đầu vào (số liệu thô) cho các biến số 37

2.2.2.1 Phương pháp tính toán số liệu đầu vào cho các biến thuộc thành phần Hiểm họa lũ lụt (H) 37

2.2.2.2 Phương pháp tính toán số liệu đầu vào cho các biến thuộc thành phần Độ phơi nhiễm (E) 38

2.2.2.3 Phương pháp thu thập và biên tập số liệu đầu vào cho các biến thuộc thành phần Tính chống chịu (C) 39

2.2.3 Tính toán chỉ số FVI 42

2.3 Xây dựng bản đồ đánh giá mức độ dễ bị tổn thương 47

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49

3.1 Kết quả thiết lập bộ tiêu chí đánh giá mức độ dễ bị tổn thương cho tỉnh An Giang 49

3.1.1 Tiêu chí Hiểm họa lũ lụt (H) 49

3.1.2 Tiêu chí Độ phơi nhiễm (E) 49

3.1.3 Tiêu chí Tính chống chịu (C) 50

3.2 Kết quả tính toán chỉ số FVI cho TP Châu Đốc, tỉnh An Giang 52

3.2.1 Kết quả tính toán cho tiêu chí Hiểm họa lũ lụt (H) 52

3.2.1.1 Xác định trận lũ điển hình để mô phỏng 52

3.2.1.2 Kết quả mô phỏng lũ và chuẩn hóa số liệu 54

Trang 11

3.2.1.3 Kết quả tính toán tiêu chí Hiểm họa lũ lụt (H) 55

3.2.2 Kết quả tính trị số của tiêu chí Độ phơi nhiễm (E) 56

3.2.2.1 Thu thập và tính toán số liệu đầu vào cho các biến 56

3.2.2.2 Kết quả tính toán trị số tiêu chí Độ phơi nhiễm (E) 57

3.2.3 Kết quả tính toán trị số cho tiêu chí Tính chống chịu (C) 59

3.2.3.1 Biên tập dữ liệu các biến 59

3.2.3.2 Chuẩn hóa số liệu 61

3.2.3.3 Tính trọng số 61

3.2.3.4 Tính toán trị số tiêu chí Tính chống chịu (C) 67

3.2.4 Kết quả tính chỉ số FVI 69

3.2.4.1 Trọng số cho các tiêu chí 69

3.2.4.2 Kết quả tính chỉ số FVI 69

3.3 Đánh giá mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt 70

3.3.1 Phân cấp mức độ dễ bị tổn thương 70

3.3.2 Đánh giá mức độ dễ bị tổn thương 71

3.4 Đề xuất các giải giảm thiểu mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt cho TP Châu Đốc, tỉnh An Giang 77

3.4.1 Đề xuất, định hướng các giải pháp nhằm làm giảm độ phơi nhiễm 77

3.4.2 Đề xuất, định hướng các giải pháp nhằm làm giảm tính nhạy với lũ của các đối tượng trên lưu vực 78

3.4.3 Đề xuất, định hướng giải pháp nhằm làm tăng khả năng chống chịu lũ 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Kiến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 87

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 88

Trang 12

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Hệ thống và tiểu hệ thống tài nguyên nước trong các mối tương tác 11

Hình 1.2 Mối liên hệ giữa các thành phần và tiểu hệ thống 12

Hình 1.3 Cấu trúc các bước tính chỉ số rủi ro theo Feteke[15] 14

Hình 2.1 Khung tiến trình thực hiện đề tài 32

Hình 2.2 Quy trình thực hiện đánh giá mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt 33

Hình 2.3 Sơ đồ khối tiếp cận bài toán ngập lụt bằng mô hình toán 38

Hình 2.4 Bộ tiêu chí tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ lụt 42

Hình 3.1 Bản đồ hành chính thành phố Châu Đốc 22

Hình 3.2 Bản đồ phân cấp mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt của TP Châu Đốc 71

Trang 13

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Ví dụ so sánh tính nhạy với tổn thương xã hội của các tham số với 4 tiêu

chí 14

Bảng 2.1 Bộ tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt ở các lưu vực sông miền Trung Việt Nam 34

Bảng 2.2 Bảng xếp hạng các mức độ so sánh giữa các phần tử 44

Bảng 2.3 Ví dụ minh họa ma trận tính trọng số cho 5 biến thuộc 1 chỉ thị 44

Bảng 2.4 Bảng chỉ số ngẫu nhiên 46

Bảng 2.5 Bảng phân cấp mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt 48

Bảng 3.1 Các chỉ thị/biến thuộc tiêu chí Hiểm họa lũ lụt tỉnh An Giang 49

Bảng 3.2 Bảng nội dung bộ chỉ số độ phơi nhiễm (E) tỉnh An Giang 50

Bảng 3.3 Các biến/chỉ thị tính chống chịu với lũ lụt tỉnh An Giang 51

Bảng 3.4 Mực nước (Hmax) và lưu lượng đỉnh lũ (Qmax) tại Tân Châu, Châu Đốc 53

Bảng 3.5 Giá trị biến Độ sâu ngập theo kết quả mô phỏng 3 các kịch bản lũ 54

Bảng 3.6 Kết quả chuẩn hóa biến Độ sâu ngập 54

Bảng 3.7 Ma trận quan hệ giữa các biến thuộc tiêu chí hiểm họa lũ lụt 55

Bảng 3.8 Trọng số của các thành phần thuộc tiêu chí hiểm họa lũ 55

Bảng 3.9 Giá trị của tiêu chí Hiểm họa lũ lụt theo các kịch bản lũ 56

Bảng 3.10 Kết quả số liệu đầu vào cho các biến thuộc tiêu chí Độ phơi nhiễm 57

Bảng 3.11 Kết quả chuẩn hóa số liệu cho các biến thuộc tiêu chí Độ phơi nhiễm 57

Bảng 3.12 Ma trận quan hệ giữa các biến thuộc tiêu chí Độ phơi nhiễm 58

Bảng 3.13 Trọng số của các thành phần thuộc tiêu chí Độ phơi nhiễm 58

Bảng 3.14 Giá trị của tiêu chí Độ phơi nhiễm cho từng xã/phường 59

Bảng 3.15 Nguồn thu thập số liệu đầu vào cho các biến thuộc tiêu chí 60

Bảng 3.16 Minh họa chuẩn hóa dữ liệu nhóm tính nhạy xã hội 61

Bảng 3.17 Ma trận quan hệ giữa các biến Tính nhạy xã hội 62

Bảng 3.18 Trọng số của các biến thuộc thành phần tính nhạy xã hội 62

Bảng 3.19 Ma trận quan hệ giữa các biến Tính nhạy môi trường 63

Trang 14

Bảng 3.20 Trọng số của các biến thuộc thành phần tính nhạy môi trường 63

Bảng 3.21 Ma trận quan hệ giữa các biến Khả năng đối phó 64

Bảng 3 22 Trọng số của các biến thuộc thành phần Khả năng đối phó 64

Bảng 3.23 Ma trận quan hệ giữa các biến Khả năng phòng ngừa lũ lụt 65

Bảng 3 24 Trọng số của các biến thuộc thành phần khả năng phòng ngừa lũ lụt 65

Bảng 3 25 Ma trận quan hệ giữa các biến Lợi ích lũ 66

Bảng 3 26 Trọng số của các biến thuộc thành phần Lợi ích do lũ mang lại 66

Bảng 3.27 Ma trận quan hệ giữa các chỉ thị thuộc tiêu chí Tính chống chịu 67

Bảng 3 28 Trọng số của các thành phần thuộc tiêu chí Dễ bị tổn thương 67

Bảng 3.29 Minh họa kết quả tính trị số các nhóm biến theo kịch bản lũ lớn 68

Bảng 3.30 Minh họa kết quả tính trị số tiêu chí (C) theo kịch bản lũ lớn 68

Bảng 3.31 Ma trận quan hệ giữa các chỉ thị thuộc tiêu chí Tính chống chịu 69

Bảng 3 32 Trọng số của các thành phần thuộc tiêu chí Tính chống chịu 69

Bảng 3.33 Kết quả tính chỉ số FVI cho TP Châu Đốc theo kịch bản lũ lớn 70

Bảng 3.34 Kết quả phân cấp mức độ dễ bị tổn thương dõ lũ lụt cho TP Châu Đốc 70 Bảng 3.35 Bộ chỉ số và mức độ tổn thương lũ lụt TP Châu Đốc trường hợp lũ LỚN 72

Bảng 3.36 Bộ chỉ số và mức độ tổn thương lũ lụt Thánh phố Châu Đốc trường hợp lũ TRUNG BÌNH 73

Bảng 3 37 Bộ chỉ số và mức độ tổn thương do lũ lụt Thánh phố Châu Đốc trường hợp lũ NHỎ 75

Bảng 3.38 Các giải pháp nhằm làm giảm tính nhạy với lũ 78

Bảng 3.39 Các giải pháp nhằm làm tăng khả năng chống chịu với lũ của cộng đồng 81

Trang 15

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADRC Trung tâm giảm nhẹ thiên tai Châu Á

AHP Tiến trình phân tích cấp bậc

BVMT Bảo vệ môi trường

CN-TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

GIS Hệ thống thông tin địa lý

SAW Phương pháp Cộng có trọng số đơn giản

TNMT Tài nguyên môi trường

FVI Chỉ số dễ bị tổn thương do lũ lụt

UNESCO - IHE Viện Giáo dục chuyên ngành Thủy lực - Môi trường

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Từ xưa, lũ lụt là một trong những hiện tượng thiên tai xuất hiện và gây tác động lớn đối với đời sống nhân loại, đặc biệt trong những thập kỷ gần đây thì lũ lụt càng ngày càng khốc liệt và khó lường hơn Lũ lớn là mức nước và tốc độ dòng chảy trên sông, suối vượt quá mức bình thường, xảy ra khi nước lũ dâng cao tràn qua sông, suối, hồ,

đập và đê vào các vùng trũng, làm ngập nhà cửa, cây cối, đồng ruộng Những số liệu

thống kê cho thấy số lượng người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt tăng dần từ 147 triệu người/năm (1981-1990) đến 211 triệu người/năm (1991-2000)[1] Các quốc gia phải hứng chịu sự khốc liệt của lũ lụt phải kể đến: Trung Quốc (2007), Thái Lan (2011), Nhật Bản (2011), Ấn Độ (2012), Myanma (2012); ở Châu Âu: các nước Trung và Đông Âu (2006 và 2013), Pháp, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ (2007); ở Châu Mỹ: Guatemala (2005), Hoa Kỳ (2009); ở Châu Phi: Angola (2010), Nigieria (2010)[2] Như vậy, có thể thấy lũ lụt mang tính chất toàn cầu và diễn biến ngày càng phức tạp và gây thiệt hại nặng nề Về quy mô, nó không dữ dội như sóng thần hay bão nhưng tính ảnh hưởng của nó có tính chất kéo dài và để lại nhiều tác hại nghiêm trọng Vì vậy, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu ở nhiều hướng, nhiều khía cạnh khác nhau đối với lũ lụt nhằm đề xuất các biện pháp hạn chế hậu quả do lũ lụt gây ra

Ở Việt Nam, từ ngàn xưa người dân đã phải đối mặt với lũ lụt và tai biến này diễn ra rộng khắp trên cả nước, trong đó, lũ lụt xuất hiện với tần suất lớn nhất, vẫn là khu vực miền Trung - nơi sông ngòi có độ dốc lớn, sự tập trung nước cao, thời gian lũ lên rất nhanh do thời gian chảy truyền ngắn cộng với việc điều hành không hợp lý các hồ thủy lợi, thủy điện nên hiện tượng lũ chồng lũ (cả tự nhiên lẫn nhân tạo) khá phổ biến

và gây không ít khó khăn cho công tác quản lý phòng chống lũ lụt

Tình hình lũ lụt và thiệt hại trên một số lưu vực sông miền Trung như: lưu vực sông Lam (tổng thiệt hại do bão lũ trong 21 năm 1990 đến 2010 khoảng hơn 3300 tỷ đồng),

Vu Gia - Thu Bồn (từ năm 1997 đến năm 2009 thiên tai trên lưu vực sông Vu Gia -

Trang 17

Thu Bồn đã làm 765 người chết, 63 người mất tích và 2403 người bị thương, tổng giá trị thiệt hại về tài sản hơn 18000 tỷ đồng), Vệ - Trà Khúc (từ năm 1996 – 2010 thiên tai gây ra 601 người người chết, mất tích; 1017 người bị thương; nhà sập đổ cuốn trôi

là 8501 nhà Tổng giá trị thiệt hại về kinh tế khoảng 7545 tỷ đồng)[3];

Trận lũ năm 2011 vùng ĐBSCL có khoảng 27.000 ha lúa, hoa màu bị thiệt hại, trong

đó 10.000 ha mất trắng Diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả cũng bị ngập gần 12.000 ha, trong đó hơn 1.000 ha mất hết Các bờ bao, đê các cấp bị tàn phá nặng, hơn 55.000 m tỉnh lộ, quốc lộ bị thiệt hại, 60.000 căn nhà bị sập đỗ, lũ cuốn trôi, tốc mái Ước tính tổng thiệt hại gần 1.000 tỷ đồng Trong đó tỉnh An Giang có hơn 2.000 hộ dân đang có nguy cơ thiếu đói cần được hỗ trợ lương thực Riêng tỉnh Đồng Tháp thiệt hại 760 tỷ đồng, trong đó 2.000 ha lúa, 938 ha hoa màu, hơn 1.000 ha vườn cây

ăn trái, 500 ha ao đầm nuôi thủy sản bị thiệt hại[3] Không chỉ riêng các tỉnh đầu nguồn, các tỉnh lân cận như Long An, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Kiên Giang… cũng chịu ảnh hưởng lũ và triều cường Những minh chứng trên cho thấy rằng tai biến lũ lụt ngày càng diễn ra hết sức phức tạp và có xu thế ngày càng gia tăng cả về

số lượng cũng như mức độ khốc liệt

Trong thời gian gần đây đã có sự phát triển quan trọng đó là chuyển mục tiêu quản lý thiên tai sang quản lý rủi ro lũ, trong đó rủi ro lũ là những thiệt hại do lũ lụt gây ra với một tần suất nhất định trong một khoảng thời gian xác định Vì thế, việc đánh giá những thiệt hại, tổn thương lũ cần được nghiên cứu một cách cẩn trọng trong quản lý rủi ro lũ

Ở Việt Nam, vấn đề xác định mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt đang được nghiên cứu, triển khai và áp dụng khi đánh giá các thiệt hại do lũ lụt trên các lưu vực sông Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long chịu ảnh hưởng lớn từ lũ trên sông Mê Kong hàng năm nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Trước bối cảnh nêu trên,

Học viên lựa chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu xác định mức độ dễ bị tổn thương

do lũ lớn đến kinh tế - xã hội tỉnh An Giang và đề xuất các biện pháp quản lý thiên tai lũ lụt” nhằm thiết lập một bộ tiêu chí (Tiêu chí/Chỉ thị/Biến) tính toán chỉ số dễ bị

Trang 18

tổn thương do lũ lụt (FVI) phù hợp với đặc điểm lũ và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh An Giang dựa trên các bộ công cụ đã được nghiên cứu trong nước và quốc tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

• Mục tiêu tổng quát:

Đánh giá mức độ dễ bị tổn thương của kinh tế-xã hội thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang khi có lũ lớn

• Mục tiêu cụ thể:

1 Đánh giá tình hình lũ lụt và điều kiện tự nhiên, KT-XH tỉnh An Giang

2 Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt cho tỉnh An Giang

3 Áp dụng bộ tiêu chí tính toán chỉ số mức độ rủi ro lũ lụt cho TP Châu Đốc, tỉnh An Giang

4 Đánh giá các thách thức và định hướng các giải pháp quản lý thiên tai lũ lụt cho

TP Châu Đốc, tỉnh An Giang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Bộ tiêu chí tính toán chỉ số dễ bị tổn thương – FVI, bao gồm: Tiêu chí; Chỉ thị; và Biến

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu thiết lập bộ tiêu chí đánh giá mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt là địa bàn tỉnh An Giang Phạm vi áp dụng bộ tiêu chí để tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ (FVI) là địa bàn TP Châu Đốc, tỉnh An Giang

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

• Cách tiếp cận:

Cách tiếp cận tích hợp: Thiên tai tác động lên tất cả các lĩnh vực của xã hội, lên tất cả các ngành từ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, tài nguyên đất, nước, Lũ lụt ảnh hưởng đến tất cả mọi người, tác động lên tất cả các vùng miền, từ vùng ven biển,

Trang 19

đồng bằng ở hạ du đến các vùng thượng nguồn của một lưu vực sông Để đánh giá được mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt, đề tài sẽ xem xét, đánh giá tích hợp nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số FVI bao gồm các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên Vai trò của các yếu tố thành phần cấu thành này được thể hiện thông qua bộ tiêu chí xây dựng

Cách tiếp cận tham gia cộng đồng: Để xác định các thông số, các số liệu thống kê sẽ được sử dụng Ở đây, tham vấn cộng đồng, chuyên gia, các nhà quản lý ở địa phương được thực hiện nhằm có được những nguồn dữ liệu đảm bảo độ tin cậy và tính chính xác cao nhất

Tiếp cận kế thừa: Các công trình nghiên cứu (hiện đã và đang thực hiện ở nhiều ngành, viện nghiên cứu, cơ quan, công ty, cá nhân ở Trung ương và địa phương) đối với các lĩnh vực có liên quan bao gồm phương pháp luận, phương pháp tính toán, công nghệ, nguồn số liệu và kết quả là kho tư liệu tham khảo đồ sộ, hữu ích cho đề tài

Cách tiếp cận đánh giá theo không gian (space-based approach): cách tiếp cận đánh giá mức độ dễ bị tổn thương cho từng ngành kinh tế có thể được sử dụng Hơn nữa ở đây đề tài sử dụng hướng tiếp cận đánh giá mức độ dễ bị tổn thương của các giá trị kinh tế xã hội cho một đơn vị không gian do lũ lụt có khả năng gây ra

• Phương pháp nghiên cứu:

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này bao gồm:

- Phương pháp kề thừa: Qua việc phân tích, tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ

các công trình trong nước và Quốc tế, các đề tài nghiên cứu của các Bộ, ngành, địa phương và các luận văn, luận án sẽ được tham vấn trong lựa chọn các thông số, chỉ thị của bộ tiêu chí Luận văn cũng sẽ kế thừa một phần kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh giá rủi ro lũ lụt vùng đồng bằng

sông Cửu Long - Áp dụng thí điểm cho tỉnh An Giang” (2016-2018) do TS Cấn Thu

Văn làm chủ nhiệm đề tài và học viên tham gia hỗ trợ thực hiện

Trang 20

- Phương pháp thu thập, thống kê và xử lý số liệu: Nguồn dữ liệu đầu vào cho việc

tính toán chỉ số dễ bị tổn thương do lũ (FVI) của TP Châu Đốc được thu thập chủ yếu

+ Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê, xử lý và chuẩn hóa số liệu

- Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu phỏng vấn và bảng hỏi: Phương pháp điều tra xã hội học dựa vào các thông tin nhận được từ phiếu điều tra theo những tiêu chí mà người nghiên cứu cần thu thập Thông tin có thể được thu thập bằng cách điều tra trực tiếp hoặc là câu hỏi ghi trên phiếu, hoặc là ghi âm, ghi hình dưới hình thức phỏng vấn trên thực địa, Kết quả điều tra xã hội học được sử dụng trực tiếp để đánh giá các thiệt hại do tai biến gây nên cả trong và sau sự kiện, hay nói cách khác là đánh giá tính dễ bị tổn thương Trong nghiên cứu này sẽ sử dụng 3 biểu mẫu phiếu điều tra (Mẫu phiếu được đính kèm trong Phụ lục 1) với số lượng như sau:

+ Đối với người dân: 20 phiếu/xã, phường; mỗi phiếu 45 chỉ tiêu;

+ Đối với cán bộ cấp xã: 01 phiếu/xã, phường; mỗi phiếu 15 chỉ tiêu;

+ Đối với cán bộ quản lý cấp thành phố 1 phiếu, 15 chỉ tiêu

- Phương pháp chuyên gia: Việc xác định bộ chỉ số dễ bị tổn thương do lũ lụt có thể dùng số liệu thống kê Để loại bỏ hoặc rút gọn bộ chỉ số, cũng như xác định trọng

số để tính toán, phương pháp tham vấn chuyên gia cũng được sử dụng hoặc bằng

phiếu lấy ý kiến Kết quả của đề tài sẽ được sự góp ý của cộng đồng địa phương

- Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý (GIS): Việc ứng dụng các phần mềm bản đồ cùng các phép phân tích không gian trong môi trường GIS và thể hiện trên các bản đồ kết quả rất hữu ích cho mục đích nghiên cứu ứng phó biến đổi khí

Trang 21

hậu (BĐKH) ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Để phân tích định lượng và xác định

sự biến đổi không gian của các yếu tố địa lý phục vụ cho nội dung nghiên cứu cũng như xây dựng các bản đồ tổng hợp và chuyên đề đã sử dụng các phần mềm GIS và phần mềm thành lập, biên tập bản đồ chuyên dụng MapInfo

- Phương pháp tỉnh chỉ số: Đây là phương pháp trọng tâm của nghiên cứu được sử

dụng nhằm tính toán điểm số của các chỉ thị, chỉ số thành phần và chỉ số FVI tổng hợp Phương pháp này dựa trên lý thuyết giá trị đa thuộc tính (Multiple Attribute Value Theory (MAVT)) Phương pháp này sử dụng hàm cộng tuyến tính để tính giá trị của mỗi phương án dưới dạng công thức (0-1) như sau[4]:

Trong đó: vij là giá trị của phương án được đánh giá aj bởi tiêu chí thứ i và wi là trọng

số của tiêu chí thứ i

- Phương pháp tiến trình phân tích cấp bậc AHP (Analytic Hierarchy Process):

AHP là một tiến trình ra quyết định đa tiêu chí, dùng trong xây dựng trọng số và đánh giá ưu tiên để chọn lựa phương án dựa trên đa tiêu chí Phương pháp này tạo ra ma

trận các tỷ số so sánh, trên cơ sở đó, tính toán các trọng số

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Hàng năm, cả nước nói chung và ĐBSCL nói riêng luôn phải hứng chịu những ảnh hưởng to lớn do thiên tai, lũ lụt gây ra Đã có nhiều biện pháp công trình, phi công trình được áp dụng để phòng chống và giảm thiểu tác hại và đã cho thấy được hiệu quả Tuy nhiên kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần giúp cho các nhà khoa học, các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể hơn về lũ lụt và những tổn thương mà nó có thể gây

ra cho toàn hệ thống, từ đó có những chính sách, kế hoạch phù hợp và hiệu quả nhất trong công tác phòng chống thiên tai, đặc biệt là lũ lớn

(0-1)

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm lũ lụt và phân cấp lũ

Khái niệm lũ: Thuật ngữ chỉ hiện tượng nước trên sông, suối dâng cao hơn so với

mức trung bình trong một khoảng thời gian nhất định và sau đó giảm dần được gọi chung là lũ, lụt Có nhiều căn cứ để phân loại lũ, phổ biến có thể kể đến như:

✓ Căn cứ vào thời gian xuất hiện của lũ, người ta có thể phân loại các loại lũ như sau:

- Lũ tiểu mãn: Xảy ra vào khoảng tiết tiểu mãn hàng năm (từ tháng 4 đến tháng 6), chủ yếu là do mưa rào gây ra Lũ tiểu mãn thường không lớn nh­ưng là nguồn cung cấp nước rất quan trọng cho sản xuất nông nghiệp trong mùa khô Tuy nhiên, khi có lũ tiểu mãn lớn, cũng gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp

- Lũ sớm: Xuất hiện sớm so với lũ chính vụ Nếu xảy ra lũ sớm mà lũ lại lớn thì cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sản xuất

- Lũ chính vụ: Xuất hiện vào thời kỳ chính của mùa lũ

- Mùa lũ chính của riêng khu vực Nam Trung Bộ kéo dài từ đầu tháng 9 đến hết tháng 12 dương lịch

- Lũ muộn: Là lũ xảy ra vào cuối mùa lũ Nếu xảy ra lũ muộn mà lũ lớn thì cũng gây ra ngập lụt nghiêm trọng cho các vùng trũng thấp

✓ Phân loại lũ theo cấp độ mực nước đỉnh lũ: Căn cứ vào mực nước trung bình đỉnh

lũ nhiều năm, người ta có thể phân loại các loại lũ như sau:

- Lũ nhỏ: Là lũ có đỉnh lũ thấp hơn mức lũ trung bình nhiều năm

- Lũ vừa: Là lũ có đỉnh lũ đạt mức lũ trung bình nhiều năm

- Lũ lớn: Là lũ có đỉnh lũ cao hơn mức lũ trung bình nhiều năm

- Lũ đặc biệt lớn: Là lũ có đỉnh lũ cao hiếm thấy trong lịch sử

- Lũ lịch sử: Là trận lũ có đỉnh lũ cao nhất trong thời kỳ quan trắc hoặc điều tra được

Trang 23

✓ Phân cấp lũ theo mức độ nguy hiểm đối với dân sinh, kinh tế: Đối với các nhà

quản lý về lũ lụt và thường được phát tin trên các phương tiện thông tin đại chúng thì người ta thường áp dụng cách phân cấp lũ theo mức độ nguy hiểm đối với nền

dân sinh và kinh tế Mức độ nguy hiểm của lũ tăng dần như sau:

- Mức lũ báo động I: Có khả năng gây tác hại đến các khu vực sản xuất nông nghiệp

ở vùng trũng, thấp

- Mức lũ báo động II: Gây tác hại lớn đến các khu vực sản xuất nông nghiệp ở vùng trũng, thấp Có khả năng gây nguy hiểm tính mạng đến một số dân cư sinh sống ở các vùng trũng thấp

- Mức lũ báo động III: Gây ngập lụt nghiêm trọng đến các khu vực ở hạ lưu sông Nhiều công trình xây dựng, các công trình về giao thông, thủy lợi bị tàn phá nặng

nề Rất nguy hiểm đến tính mạng và nhân dân ở các khu vực trũng, thấp, các khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng lũ, lụt

1.2 Tổng quan các nghiên cứu về đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ trên thế giới

1.2.1 Tính dễ bị tổn thương do lũ lụt

Lũ lụt và di chứng mà nó mang lại cho một khu vực, cộng đồng dân cư là rất lớn Đã

có nhiều nhóm giải pháp đề xuất phát triển gắn liền với với mục tiêu cải thiện quá trình hỗ trợ ra quyết định phòng chống lũ lụt cho thấy những tín hiệu tích cực Ngoài các tổn thất trực tiếp về người và của, những hậu quả mà lũ lụt để lại còn tác động lên đời sống kinh tế xã hội tồn tại ở dạng vô hình như bệnh tật phát sinh sau lũ, sức

dề kháng của cộng đồng v.v… mà các biểu bảng thống kê hoặc thậm chí các con số ước tính tổn hại qua giá trị tiền tệ vẫn không phản ánh hết được Vì thế các nghiên cứu gần đây đưa ra khái niệm tính dễ bị tổn thương và chỉ số tổn thương do lũ, và được sử dụng để có thể đánh giá mức độ tổn thương một cách tổng quát hơn

Khái niệm tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi theo hướng phát triển theo thời gian, thông qua việc xem xét, phân tích các thành phần tham gia để đánh giá tính dễ

bị tổn thương Năm 1980, Ramade [5] cho rằng tính dễ bị tổn thương bao gồm cả con người và kinh tế - xã hội, liên quan đến khuynh hướng hàng hóa, kết cấu hạ tầng, các

Trang 24

hoạt động bị thiệt hại và sức đề kháng của cộng đồng Năm 1993, Watts và Bohle [5]

đã xem xét đến bối cảnh xã hội và khả năng chống chịu của cộng đồng, bao gồm khả năng phục hồi và tính nhạy của xã hội đối với các mối nguy hiểm Sau đó Downing [5] đã xét đến thành phần tự nhiên và cho rằng tính dễ bị tổn thương bao gồm sự phơi nhiễm, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại tai biến Từ đó, cho thấy các thành phần được xem xét để đánh giá tính dễ bị tổn thương ngày càng nhiều

và đa dạng hơn, thể hiện một quá trình nhận thức toàn diện hơn về tính chất xã hội, tham gia vào quy luật tự nhiên của hệ thống

Khái niệm tính dễ bị tổn thương đã được phát triển trong gần 2 thập kỷ gần đây [6]

và phương pháp tính toán nó ngày càng được hoàn thiện, theo hướng xem xét các yếu

tố từ đơn lẻ đến tổng hợp, từ chung chung đến cụ thể, từ đơn giản đến phức tạp Phát triển theo quan điểm của IPCC về tổn thương biến đổi khí hậu, định nghĩa về tính dễ

bị tổn thương do lũ lụt được phát biểu là: “Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể chống chịu với các tác động tiêu cực của

lũ lụt, được xác định thông qua các tiêu chí nguy cơ, độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả

năng chống chịu” [7, 8]

Xác định được tính dễ bị tổn thương có thể giúp chúng ta hiểu được cách tốt nhất để giảm thiểu tác hại mà một tai biến lũ lụt có thể gây ra Mục tiêu chính để đánh giá tính dễ bị tổn thương là giúp cho người ra quyết định hoặc các tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm thích ứng với các tác động của tai biến lũ lụt Sự cần thiết phải phân tích tính dễ bị tổn thương được ghi nhận trong các tài liệu nghiên cứu khoa học và các khái niệm bao gồm các tổn thương: vật lý (tự nhiên), xã hội và kinh tế [6]

Sự gia tăng của dân số thế giới làm cho mức độ dễ bị tổn thương tăng lên trước các tai biến thiên nhiên Trong những năm gần đây ảnh hưởng của lũ lụt ngày càng khốc liệt do số lượng người tiếp xúc ngày càng tăng Mục tiêu của việc nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương để xác định chính xác các hành động để giảm thiểu mức độ tổn thương trước những tác hại có thể xảy ra Chỉ số dễ bị tổn thương lũ lụt là một công cụ hữu ích giúp cho việc ban hành chính sách và ra quyết định dễ dàng, chính

Trang 25

xác và hiệu quả hơn Xác định được các khu vực dễ bị tổn thương có thể hướng dẫn quá trình ra quyết định tiến tới một quy trình tốt hơn trong quản lý và quy hoạch phòng chống lũ lụt

Chỉ số dễ bị tổn thương lũ lụt (FVI) được xác định theo tính dễ bị tổn thương của UNESCO IHE “là mức độ thiệt hại có thể xác định được trong điều kiện tiếp xúc (độ phơi nhiễm), tính nhạy và khả năng chống chịu nhất định”.[6]

1.2.2 Tính toán mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt

Tùy theo các quan điểm khác nhau trên đây, các nhà nghiên cứu đã có các cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương khác nhau, tuy nhiên phần lớn ban đầu đã tập trung vào đánh giá các tác nhân vật lý và các tác động của nó mà ít xem xét đến trạng thái của hệ thống xã hội Thêm vào đó các nghiên cứu dựa vào cộng đồng (community-based) đã không được chú trọng và các sản phẩm của mô hình khí hậu toàn cầu và các kịch bản là quá thiếu các thông tin chi tiết phục vụ quy hoạch có hiệu quả và các biện pháp thích ứng ở quy mô địa phương (Brooks N, 2003)[9]

Mặt khác, các phương pháp đánh giá dễ bị tổn thương thường có thể được chia thành hai hướng: Hướng thứ nhất (modelling-based) sử dụng các biện pháp kỹ thuật để mô hình hóa định lượng các yếu tố tác động đến tính dễ bị tổn thương trong đó chủ yếu tập trung đến mô hình hóa các quá trình lũ nhằm xác định quy mô vật lý như độ sâu ngập lũ, thời gian ngập lụt, vận tốc đỉnh lũ (Villagra’n de Leo’n JC, 2006; Shantosh Karki, 2011)[10] nhưng chưa có các công trình mô hình hóa liên kết các quy mô vật

lý nói trên với các yếu tố kinh tế xã hội; Hướng thứ hai (index-based) sử dụng các điều tra về kinh tế và xã hội để xây dựng bộ chỉ số, sau đó đánh giá tính dễ bị tổn thương dựa trên bộ chỉ số đã thu được (Cutter, 1996; Nakamura và nnk, 2001)[11,12] Theo hướng này, các nghiên cứu dựa vào các trọng số định tính của các yếu tố cơ bản, như vậy sẽ nảy sinh các hạn chế do sự không nhất quán trong việc đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố này

Trang 26

1.2.2.1 Quan điểm tiếp cận

Các phương pháp tiếp cận hệ thống nhằm xác định sự tương tác giữa các nhân tố hoặc các thành phần khác nhau bên trong một khu vực được xác định nào đó Nó được coi

là cách tiếp cận mang tính toàn diện, giản hóa sự hiểu biết các quá trình phức tạp Cơ

sở việc tiếp cận này là sự hiểu biết các quá trình bên trong và chuyển đổi tất cả từ đầu vào thành đầu ra

Van Beek (2005) [13] xác định ba hệ thống con phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống tài nguyên nước (Hình 2.1) minh họa tương tác giữa chúng, bao gồm:

- Các tiểu hệ thống sông tự nhiên (NRS) trong đó quá trình vật lý, hóa học, sinh học diễn ra;

- Các tiểu hệ thống kinh tế-xã hội (SES) bao gồm các hoạt động của con người của

xã hội liên quan đến việc sử dụng các hệ thống sông tự nhiên

- Các hệ thống phụ về hành chính và thể chế (AIS) về chính sách, pháp luật… nơi thực hiện các quyết định

Hình 1.1 Hệ thống và tiểu hệ thống tài nguyên nước trong các mối tương tác

Lũ lụt có thể được coi như một sự gián đoạn trong một hoạt động bình thường của hệ thống tài nguyên nước Có ba hệ thống chính bị ảnh hưởng bởi lũ lụt, trong một ranh giới tỷ lệ nhất định: Hệ thống lưu vực sông, các tiểu lưu vực và hệ thống đô thị

Trang 27

Hình 1.2 Mối liên hệ giữa các thành phần và tiểu hệ thống

Lũ lụt gây hại cho 4 thành phần của hệ thống tài nguyên nước, mỗi thành phần trong

số này phụ thuộc vào một trong những hệ thống con ở trên (NRS, SES hoặc AIS) và những mối liên hệ của chúng có khả năng gây thiệt hại trong thời gian ngắn hoặc dài Các thành phần có thể được xác định bằng các chỉ số khác nhau để nắm được mức độ

dễ bị tổn thương của một hệ thống trước tai biến lũ lụt Các thành phần này là: xã hội,

kinh tế, môi trường và vật lý

Thực tế để đánh giá tính dễ bị tổn thương do thiên tai như lũ lụt: Mức độ mà một hệ thống nhạy cảm với lũ lụt là do tiếp xúc (phơi nhiễm), một nhiễu loạn, kết hợp với khả năng của nó (có hoặc không) để đối phó, phục hồi hoặc thích ứng Theo cách tiếp cận trên, mức độ dễ bị tổn thương bởi lũ lụt được xác định theo 3 tiêu chí chính: độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu – phục hồi

• Độ phơi nhiễm:

Độ phơi nhiễm có thể được hiểu như là các giá trị có mặt tại địa điểm nơi mà lũ lụt

có thể xảy ra Những giá trị này có thể là hàng hóa, cơ sở hạ tầng, di sản văn hóa, các lĩnh vực nông nghiệp và đặc biệt là người dân Các chỉ số tiêu chí này có thể được chia thành 2 loại là (1) bề mặt tiếp xúc của các thành phần rủi ro khác nhau; (2) đặc

Trang 28

trưng chi tiết của yếu tố nguy cơ lũ lụt (Nguy cơ lũ lụt được hiểu như là mối đe dọa trực tiếp, bao hàm tính chất, mức độ của lũ lụt: độ sâu ngập lụt, thời gian ngập lụt và vận tốc dòng chảy lũ)

Độ phơi nhiễm được định nghĩa là khuynh hướng của một hệ thống bị phá vỡ bởi tai biến lũ lụt do vị trí của nó trong cùng một khu vực bị ảnh hưởng

• Tính nhạy:

Tính nhạy cảm liên quan đến đặc trưng của hệ thống, bao gồm bối cảnh xã hội của hình thiệt hại lũ lụt Đặc biệt là nâng cao nhận thức và sự chuẩn bị của người dân bị ảnh hưởng liên quan đến các rủi ro mà họ sống với (trước khi lũ lụt), các tổ chức có liên quan đến việc giảm thiểu và giảm những tác động của các mối nguy hiểm và sự tồn tại của các biện pháp có thể, như các tuyến đường sơ tán được sử dụng trong các trận lũ

Tính nhạy được định nghĩa là các yếu tố tiếp xúc trong hệ thống, nó ảnh hưởng đến khả năng thiệt hại tại thời điểm xảy ra tai biến lũ lụt

• Khả năng chống chịu-phục hồi

Đối phó với nguy cơ thiệt hại của lũ lụt có thể được xem xét ở một khu vực đã xảy ra

lũ lụt từ các đặc trưng chính là kinh nghiệm đối phó của người dân trong và sau lũ

Ở đây khả năng chống chịu – phục hồi được định nghĩa là khả năng của hệ thống có thể chống chịu được sự lo lắng, lũ lụt, duy trì vai trò quan trọng trong các thành phần

xã hội, kinh tế, môi trường và vật lý của hệ thống Hay là phản ứng của lưu vực trước tai biến lũ lụt nhằm hạn chế tính dễ bị tổn thương do lũ

1.2.2.2 Các mô hình áp dụng

• Theo mô hình BBC:

Theo Tính toán chỉ số dễ bị tổn thương theo mô hình BBC (Birkman, Bogardi và Cardona) [14] mà tính dễ bị tổn thương được liên kết với 3 thành phần là tính bền vững của xã hội, kinh tế và môi trường Trong nghiên cứu này, thành phần "dễ bị tổn

Trang 29

thương xã hội" sẽ được đánh giá bằng cách kết hợp chỉ số nhạy cảm xã hội, bao gồm cả năng lực để làm giảm tính nhạy cảm này, với các thông tin tiếp xúc Các chỉ số dễ

bị tổn thương xã hội chính gồm độ tuổi, giới tính, trình độ, nguồn thu nhập, các biến phụ là y tế, đô thị - nông thôn, nhà cửa, tiềm năng của vùng Các biến này được đánh giá theo 4 tiêu chí người có sức khỏe yếu dẫn đến tử vong, người phụ thuộc hoàn toàn vào y tế, trình độ của con người và nguồn lực tài chính của con người, ví dụ như trong Bảng 1.1 Các bước thiết lập và tính toán chỉ số tổn thương được thể hiện trong hình 1.3

Bảng 1.1 Ví dụ so sánh tính nhạy với tổn thương xã hội của các tham số với 4 tiêu

chí Chỉ tiêu

Tham số

Sức khỏe yếu dẫn đến tử vong

Phụ thuộc vào y tế Kiến thức

Tiềm lực kinh tế

Tính nhạy cao Tính nhạy cao Tính nhạy

thấp Tính nhạy cao

Hình 1.3 Cấu trúc các bước tính chỉ số rủi ro theo Feteke[15]

Trang 30

• Phương pháp điểm z:

Theo nghiên cứu của David M Simpson and Matin Katirai (2006) [16] Cũng giống như nhiều phương pháp khác thì nghiên cứu của Feteke sau khi đã thu thập số liệu thô với các đơn vị khác nhau đã tiến hành chuẩn hóa số liệu để các giá trị nằm trong khoảng từ không đến một Nghiên cứu này chuẩn hóa bằng phương pháp “điểm – z” Đây được coi là cách tiếp cận thận trọng với giá trị nhận được là 0 tới 1 vì không xác định được các giá trị cực đoan như trong “điểm – z” đã tìm ra

Để xây dựng chỉ số dễ bị tổn thương sử dụng số liệu thống kê G cho giá trị cao hay thấp và so sánh với các giá trị trong khu vực nghiên cứu Điểm - Z được đưa ra như một biện pháp tham khảo về mức độ có ý nghĩa (trung bình của số không và độ lệch tiêu chuẩn của 1) Cao hơn (hoặc thấp hơn) số điểm Z, mạnh hơn cường độ của nhóm Một điểm số-Z gần bằng không cho thấy không có phân nhóm rõ ràng trong khu vực nghiên cứu Z số điểm tích cực cho thấy nhóm các giá trị cao Điểm Z tiêu cực cho thấy nhóm các giá trị thấp

Ở đây: xi và xj là giá trị phân bố của đặc trưng i và j;

wij là trọng số quan hệ giữa i và j

Giá trị z được tính toán theo công thức:

Trang 31

Với:

• Phương pháp chỉ số tổng hợp:

Theo nghiên cứu của Subhankar Karmakar, Slobodan P Simonovic, Angela Peck, Jordan Black (2010) [17] Phần lớn cách tiếp cận xác định rủi ro lũ lụt là coi rủi ro như sản phẩm của hiểm họa như khía cạnh vật lý và thống kê những trận lũ thực tế (như tần suất lũ, thời gian, quy mô và độ sâu ngập lụt…) hay tính dễ bị tổn thương, độ phơi nhiễm của người và tài sản trước lũ hay độ nhạy cảm của các thành phần có nguy cơ thiệt hại khi có lũ lụt Ở đây rủi ro lũ được xác định là hàm số của hiểm họa, tính dễ bị tổn thương và độ phơi nhiễm (giá trị thiệt hại)

Rủi ro lũ = (p e ) x (V) x (E)

Ở đây coi hiểm họa là tần suất xuất hiện lũ (pe); tính dễ bị tổn thương do lũ được xác định là đo đạc của 1 vùng hoặc tính nhạy của dân cư trước thiệt hại lũ; độ phơi nhiễm của sử dụng đất (Eland) và khả năng thấm của đất (Esoil) có ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của lũ lụt Khi độ phơi nhiễm của sử dụng đất và khả năng thấm của đất khi có lũ lụt được xem xét sẽ cho thấy ảnh hưởng như thế nào của yếu tố sử dụng đất và độ thấm của đất Trong nghiên cứu này, tất cả các thông tin đã đề cập ở trên

ba thành phần của rủi ro lũ lụt được trình bày và xử lý hiệu quả bằng việc sử dụng công nghệ GIS

Theo nghiên cứu của Wu và cộng sự (2002) [18]; Phương pháp tính: Các chỉ số được

chuẩn hóa cho giá trị từ 0 đến 1 Sau khi tính được các chỉ số dễ bị tổn thương thành phần (4 thành phần) sẽ tính giá trị dễ bị tổn thương tổng hợp là bình quân của 4 thành phần này:

Trang 32

1.3 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Hiểm họa do thiên tai cả về người và của diễn ra thường xuyên và rộng khắp cả nước

do Việt Nam là một trong những nước có vị trí địa lý dễ bị “tổn thương” Hơn thế nữa trong điều kiện trái đất nóng lên, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, các hoạt động khai thác công trình chưa khoa học của chúng ta thì những tác động xấu của thiên tai đối với kinh tế - xã hội là ngày càng nghiêm trọng Trong những tác hại của hiểm họa đó thì lũ lụt là nhân tố tác động mạnh mẽ nhất và gây ra những thiệt hại to lớn nhất Theo báo cáo Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu 2011 do tổ chức Germanwatch công

bố thì Việt Nam là nước đứng thứ năm chịu ảnh hưởng lớn nhất của các biến cố cực trị liên quan đến khí hậu trong hai thập kỷ trở lại đây Trung bình hàng năm (1990 đến 2009) thiên tai cướp đi mạng sống của 457 người, thiệt hại ước tính trên 1,8 tỷ USD

Về đánh giá tổn thương, theo xu hướng của thế giới, từ đầu những năm 2000 ở Việt Nam cũng đã có những nhà nghiên cứu, ứng dụng các lý thuyết và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với các ngành khoa học khác nhau Mai Trọng Nhuận

và cộng sự (2002, 2005)[19,20] đã nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương về môi trường, vùng ven biển Việt Nam, đới duyên hải Nam Trung Bộ, đới ven biển Phan Thiết - Hồ Tràm, tài nguyên địa chất tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Cũng theo hướng nghiên cứu này, Thái Thành Lượm và nnk (2008)[21] đã đánh giá mức độ tổn thương hệ thống tự nhiên kinh tế - xã hội vùng biển Hà Tiên - vịnh Cây Dương (Kiên Giang) Nguyễn Kim Lợi (2012)[22] đã nghiên cứu Đánh giá tính dễ bị tổn thương do trượt

lở đất ở Việt Nam Các tác giả đã sử dụng phương pháp, quy trình và tiêu chí tổn

Trang 33

thương xã hội của Cutter, tổn thương địa chất của NOAA, tổn thương môi trường của SOPAC, tổn thương đới ven bờ của Sở Địa chất Hoa Kỳ Mức độ tổn thương được đánh giá theo các tham số: Hiểm họa, Diện lộ và khả năng chịu đựng của hệ thống

mà chưa đánh giá khả năng tự phục hồi cũng như mới chỉ đánh giá tính dễ tổn thương

tự nhiên – xã hội mà chưa xét đến khía cạnh kinh tế

Theo nghiên cứu của Nguyễn Mai Đăng (2010) [23], tính dễ bị tổn thương là một trong hai yếu tố xác định mức độ rủi ro lũ lụt Khái niệm rủi ro lũ tổng hợp dựa vào việc đánh giá các tham số hiểm họa cũng như phân tích nhân tổ tổn thương có thể là yếu tố thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp, hữu hình hoặc vô hình ảnh hưởng tới đời sống của người dân trong đó có cả khía cạnh môi trường Hai thành phần chính của tính toán rủi ro tổng hợp lũ là: hiểm họa lũ và tổn thương, ở đây được xem xét độc lập trước khi kết hợp thành chỉ số rủi ro lũ tổng hợp Nghiên cứu sử dụng công thức:

Rủi ro lũ = Hiểm họa lũ x Dễ bị tổn thương lũ

Trong đó thành phần hiểm họa lũ sử dụng các chỉ số là độ sâu ngập, thời gian ngập

và vận tốc đỉnh lũ Thành phần Dễ bị tổn thương là các tiểu thành phần về tổn thương kinh tế, xã hội và môi trường

Các giá trị thu thập, xử lý và tính toán ban đầu được phân cấp mức độ tác động, ví dụ như chỉ số độ sâu ngập được chia thành 5 cấp là < 0,5m; 0,5 - 1,2m; 1,2 - 2,0m; 2,0 - 3,0m và > 3,0m Sau đó sử dụng thuật toán AHP kết hợp với ý kiến chuyên gia để xác định trọng số cho các mức này và tính giá trị của chỉ số độ sâu ngập lụt Sau khi tính được giá trị các chỉ số và tiểu thành phần sẽ tiến hành chuẩn hóa và phân hạng mức độ rủi ro lũ ứng với 5 cấp là không rủi ro (= 0), rủi ro thấp (0 - 0,1), rủi ro vừa phải (0,1 - 0,3), rủi ro cao (0,3 - 0,6) và rủi ro rất cao (> 0,6)

Công thức tính toán cụ thể chỉ số rủi ro lũ lụt:

FRI = FHI*w FHI x FVI*w FVI

FHI = H*w H + V*w V + T*w T

Trang 34

FVI = EcVI*w Ec + SoVI*w So + EnVI*w En

Trong đó: Ec (nhà, công trình công cộng, cơ sở hạ tầng, đất nông nghiệp)

So (dân số, nhận thức, giá trị tinh thần, thu nhập)

En (ô nhiễm, xói lở, không gian mở)

Võ Hồng Tú và nnk (2012)[24] đã đánh giá tổn thương sinh kế nông hộ bị ảnh hưởng

lũ tại tỉnh An Giang và các giải pháp ứng phó, sử dụng bộ công cụ PRA với tiếp cận bằng các tham số: Hiểm họa (lũ lụt), Diện lộ (con người, tài chính, vật thể, xã hội và

tự nhiên) và khả năng chống chịu (các biện pháp ứng phó với lũ) và kết quả cho thấy được vốn sinh kế của người dân là dễ bị tổn thương cao hay thấp khi có lũ Nghiên cứu có xét yếu tố kinh tế nhưng chỉ là yếu tố ở trạng thái “tĩnh” mà chưa xét hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa phương và các tham số vật lý khác

Tác giả Nguyễn Thanh Sơn, Cấn Thu Văn (2012, 2014, 2015) đã xây dựng hoàn thiện bộ chỉ số tính toán mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt trên các lưu vực sông khu vực miền Trung [5,25,26,27] Trong các nghiên cứu này, mức độ dễ bị tổn thương do lũ lụt được đánh giá theo 3 tiêu chí chính: độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu – phục hồi theo công thức sau:

Tính dễ bị tổn thương = Nguy cơ lũ + Độ phơi nhiễm – Khả năng chống chịu

V j = H j *w H + E j *w E - A j *w A

trong đó: V j – chỉ số dễ bị tổn thương lũ lụt nút j; H j : giá trị tiêu chí nguy cơ lũ lụt;

E j ; giá trị tiêu chí Độ phơi nhiễm; A j : giá trị tiêu chí khả năng chống chịu

Bộ tiêu chí được tác giả xây dựng chung cho các lưu vực sông tại miền Trung gồm

45 biến thuộc 11 thành phần trong 3 tiêu chí đã được lựa chọn tham gia tính toán xây dựng chỉ số dễ bị tổn thương Tùy thuộc vào tính chất, đặc trưng mỗi lưu vực nghiên cứu và mục đích nghiên cứu mà lựa chọn, thay đổi hay bổ sung các tiêu chí cho phù hợp và đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra Ở mỗi lưu vực cụ thể, tùy thuộc đặc trưng

xã hội mà lựa chọn sử dụng biến này hay biến khác Việc nghiên cứu và hiểu rõ đặc trưng tự nhiên cũng như kinh tế-xã hội, môi trường của mỗi khu vực sẽ giúp cho việc

Trang 35

lựa chọn các biến chính xác hơn, tinh giản hơn và đánh giá tính dễ bị tổn thương tập trung hơn, từ đó hỗ trợ việc ra quyết định trong quản lý và quy hoạch phòng chống

lũ lụt hiệu quả hơn

Theo giá trị chỉ số dễ bị tổn thương lũ lụt tính toán được, mức độ dễ bị tổn thương do

lũ lụt theo nghiên cứu này được phân thành 5 cấp ứng với tần suất xuất hiện mỗi cấp 20% dựa vào phân bố xác suất Beta: (1) Tổn thương không đáng kể (<0,2); (2) Tổn thương trung bình (0,2-0,4); (3) Tổn thương tương đối (0,4-0,6); (4) Tổn thương lớn (0,6-0,8); (5) Tổn thương rất lớn (>0,8)

Tóm lại, hiện nay các nhà khoa học đang quan tâm nghiên cứu các phương pháp mang tính tổng thể tác động của lũ lụt đến các thành phần kinh tế-xã hội nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của nó Trên cơ sở đó có cái nhìn rộng và sâu hơn để phục vụ tốt hơn công tác phòng chống lũ lụt cũng như giảm thiểu tác hại do lũ lụt gây ra

Vùng ĐBSCL là khu vực thường xuyên phải đối mặt với lũ lụt, là vùng chịu tác động rất lớn do dòng chảy lũ Tuy vậy chưa có nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương

do lũ lớn ở bất kỳ địa phương nào Trong phạm vi nghiên cứu này sẽ hướng đến tính toán, đánh giá mức độ dễ bị tổn thương của các yếu tố, thành phần xã hội do lũ lớn gây ra ở tỉnh An Giang sẽ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.4 Tổng quan vùng nghiên cứu

1.4.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên của TP Châu Đốc

1.4.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Châu Đốc là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang, có khoảng 14km đường biên giới giáp ranh với Vương quốc Campuchia, nằm về phía Tây - Bắc và cách thành phố Long Xuyên khoảng 45km Địa giới hành chính được xác định như sau:

- Phía Tây - Bắc giáp với Vương quốc Campuchia

- Phía Đông và Đông - Bắc giáp huyện An Phú và Phú Tân

- Phía Nam và Đông - Nam giáp huyện Châu Phú

Trang 36

- Phía Tây - Nam giáp huyện Tịnh Biên

Diện tích tự nhiên của toàn thành phố 10.523,11ha (số liệu kiểm kê năm 2015) chiếm 2,98% diện tích của tỉnh Dân số 114.282 người, mật độ dân số trung bình đạt 1.159 người/km2 (ước tính năm 2015)[29] Thành phố Châu Đốc có tổng cộng 7 đơn vị hành chính, gồm 5 phường và 2 xã Cụ thể gồm: phường Núi Sam, phường Vĩnh Mỹ, phường Châu Phú A, phường Châu Phú B, phường Vĩnh Ngươn và 2 xã là xã Vĩnh

Tế và Vĩnh Châu

Thành phố nằm bên bờ sông Hậu và sông Châu Đốc và nằm giữa 3 cửa khẩu kinh tế lớn của tỉnh: cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên - huyện Tịnh Biên, cửa khẩu quốc tế Khánh Bình - huyện An Phú và cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương - TP Tân Châu Đồng thời bên cạnh đó, TP còn có vị thế rất quan trọng do nằm trên trục hành lang kinh tế quốc

tế, quốc gia: cách thành phố Hồ Chí Minh 235 km, cách thủ đô PhnômPênh (vương quốc Campuchia) 155 km và cách thành phố Cần Thơ 105 km (theo trục Quốc lộ 91),

là cực tăng trưởng quan trọng không những của tỉnh An Giang mà còn là cực tăng trưởng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung

1.4.1.2 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng[30]

• Địa hình:

Thành phố Châu Đốc thuộc địa hình bán sơn địa (vừa có núi vừa có đồng bằng) Địa hình của toàn thành phố có cao độ thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, cao độ trung bình dao động trong khoảng 0,9 - 1,3m (khu vực đồng bằng) Nơi có địa hình thấp nhất tập trung chủ yếu thuộc địa bàn xã Vĩnh Tế, có nơi cao độ rất thấp khoảng 0,6m Nơi có địa hình cao nhất tập trung chủ yếu thuộc địa bàn phường Núi Sam, khu vực núi có nới cao độ lên đến khoảng 108m

• Thổ nhưỡng:

Châu Đốc có 6 nhóm đất chính; trong đó nhóm phù sa ngọt và phù sa có phèn chiếm 72% diện tích tự nhiên Phần lớn đất đai của Châu Đốc rất màu mỡ, có độ thích nghi

Trang 37

để canh tác, phù hợp với nhiều loại cây lương thực, cây ăn trái, một số cây công nghiệp nhiệt đới và một phần diện tích có khả năng dành cho chăn nuôi

Hình 1.1 Bản đồ hành chính thành phố Châu Đốc

- Nhóm đất phù sa bồi, phát triển khá ven sông: 1.530,65 ha, chiếm 14,54% tổng diện tích tự nhiên Gồm 1 loại đất chính: Đất phù sa bồi, phát triển khá, có dấu tích đường nứt dọc, dinh dưỡng kém Tập trung chủ yếu ở địa bàn xã Vĩnh Nguơn, Vĩnh

Tế và một phần phường Châu Phú A và Châu Phú B Loại đất này có thành phần sét trong phẫu diện khá cao so với các biểu loại đất ven sông khác

Trang 38

- Nhóm đất phù sa: 6.895,79 ha, chiếm 65,49% tổng diện tích tự nhiên Địa bàn thành phố có 3 loại:

+ Đất glây, tầng mặt dày, dinh dưỡng khá, có dấu tích phù sa bồi: có diện tích 1.736,75

ha

+ Đất glây, tầng mặt dày, dinh dưỡng kém: có diện tích 3.471,08 ha

+ Đất glây đọng mùn, dinh dưỡng kém: có diện tích 1.687,96 ha

- Nhóm đất phèn: 1.786 ha, chiếm 16,96% tổng diện tích tự nhiên Địa bàn thành phố có duy nhất một loại: Đất phèn hoạt động nặng, tầng mặt dày, dinh dưỡng kém, không có đốm jarosite

- Nhóm đất cát núi: 173,25 ha, chiếm 1,65% tổng diện tích tự nhiên Địa bàn thành

phố có duy nhất một loại: Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá, dinh dưỡng khá Sự phân bố loại đất này thường dọc theo các triền núi tập trung chủ yếu ở phường Núi Sam

1.4.1.3 Đặc điểm khí hậu

Thành phố Châu Đốc nói riêng và tỉnh An Giang nói chung nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm Trong năm, có một mùa mưa và một mùa khô, nền nhiệt tương đối cao và ổn định, lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa

• Nhiệt độ

 Nhiệt độ trung bình nhiều năm (giai đoạn 2005 – 2009) là 27,50C

 Chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 5) và tháng lạnh nhất (tháng 1) là 9,50C

 Thời kỳ lạnh nhất là các tháng 12, tháng 1 và tháng 2 có nhiệt độ vào khoảng 25,40C – 27,30C

 Tháng có nhiệt độ trung bình 5 năm thấp nhất là tháng 1, nhiệt độ trung bình tháng này là 260C

 Thời kỳ nóng nhất là các tháng 5, tháng 6

 Tháng có nhiệt độ trung bình 5 năm cao nhất là tháng 5, nhiệt độ trung bình là 28,50C

• Độ ẩm

Trang 39

Độ ẩm không khí thay đổi theo mùa và phân chia thành hai mùa khô - ẩm khá rõ rệt Với mùa nắng có độ ẩm bình quân tháng dao động trong khoảng 77% - 79,5% và mùa mưa có độ ẩm bình quân tháng dao động trong khoảng 79,75% - 84,25%

- Thời kỳ khô trùng với mùa ít mưa, từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, độ ẩm trung bình giảm xuống khoảng 78%, tháng khô nhất thường là tháng 4 và tháng 12

- Thời kỳ ẩm trùng với mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 11, độ ẩm trung bình thường vượt 83% Tháng ẩm nhất thường là tháng 6 và tháng 7

Lượng mưa trung bình nhiều năm ở An Giang vào khoảng 1200 - 1600mm, nơi nhiều mưa nhất chủ yếu xảy ra ở vùng có địa hình là đồi núi Hằng năm có khoảng 140 -

180 ngày mưa

Chế độ mưa bị phân hoá thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa xảy ra từ tháng 5 đến tháng

11 Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau

Lượng mưa hàng năm tập trung hầu hết vào mùa mưa chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa cả năm

Lượng mưa mùa mưa lớn lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông dồn về hạ lưu nên đã gây ra tình trạng úng tổ hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống

• Nắng

An Giang có số giờ nắng mỗi tháng dao động từ 106,1 – 291,1 giờ, trung bình từ 4 -

10 giờ nắng/ngày

Trang 40

Thời kỳ ít nắng thường nhằm vào các tháng 6 đến tháng 10, số giờ nắng mỗi tháng dao động từ 106,1 – 195,1 giờ, trung bình mỗi ngày từ 4 - 7 giờ nắng/ngày

Thời kỳ nhiều nắng là các tháng 1 đến tháng 5, số giờ nắng mỗi tháng từ 170,1 giờ trở lên, mỗi ngày có từ 6 - 10 giờ nắng/ngày

• Gió

Chế độ gió ở An Giang khá thuần nhất với 2 chế độ gió mùa rõ rệt Từ tháng 5 đến tháng 10 là gió mùa Tây Nam mang hơi nư ớc về tạo mưa; từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là gió mùa Đông Bắc có đặc điểm lạnh và khô; tốc độ gió trung bình qua các năm khoảng 3m/giây

Địa bàn An Giang ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, các hiện tượng lốc xoáy có xảy ra trong mùa mưa nhưng tần suất thấp nên mức độ ảnh hưởng không lớn

Tóm lại, với nền nhiệt cao khá đều trong năm, giàu nắng và ít bão, điều kiện khí hậu

ở An Giang rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, có thể thâm canh tăng

vụ và tăng năng suất cây trồng một cách rộng rãi theo không gian và thời gian

1.4.1.4 Đặc điểm thuỷ văn

Chế độ thuỷ văn của thành phố phụ thuộc chủ yếu vào chế độ dòng chảy sông Hậu cùng các yếu tố khác như: chế độ gió, chế độ mưa, đặc điểm địa hình, địa mạo và hình thái kênh, rạch, Độ chênh lệch mức đỉnh triều bình quân từ 1,1m - 1,4m vào các tháng mùa khô và từ 1,7m - 2,3m vào các tháng mùa mưa

Sông Hậu chảy qua Châu Đốc với lưu lượng trung bình năm khoảng 15.000 m3/giây, vào mùa mưa khoảng trên 25.000m3/giây và mùa khô khoảng 5.000 m3/giây Với hệ thống sông Hậu chảy qua thành phố cùng với hệ thống kênh Vĩnh Tế, kênh Đào, với hệ thống kênh, rạch hiện tại đủ sức chuyển tải nguồn nước mặt phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và vận tải thuỷ Nhìn chung, mực nước trung bình cao nhất qua các năm từ năm 2000 - 2009, dao động trong khoảng từ 16,8 - 21,1cm

Ngày đăng: 27/05/2021, 22:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w