1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự thay đổi của một số nguyên tố vi lượng trong đất dưới các trạng thái rừng tại vườn quốc gia phú quốc

116 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 3,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất thường được quan tâm như: mùn, lân, đạm, độ chua, độ hấp thu, các cation kim loại, đặc biệt là các nguyên tố vi lượng đóng một vai trò quan trọng đ

Trang 1

Chuyên ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Mã chuyên ngành: 60.85.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại Học Công Nghiệp TP.Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Huệ Hương

Người phản biện 1: Người phản biện 2: Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh ngày 22 tháng 08 năm 2020

Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG VIỆN TRƯỞNG VIỆN KHCN & QLMT

Trang 3

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Nguyễn Thị Bích Tuyền MSHV: 16001811

Ngày, tháng, năm sinh: 03/08/1994 Nơi sinh: Tp Hồ Chí Minh Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Mã số: 60850101

I TÊN ĐỀ TÀI:

“Nghiên cứu sự thay đổi của một số nguyên tố vi lượng trong đất dưới các trạng thái rừng tại Vườn Quốc Gia Phú Quốc.”

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Xác định được sự thay đổi của trạng thái rừng tại vùng đệm VQG Phú Quốc qua các năm

- Xác định được sự thay đổi các nguyên tố vi lượng trong các trạng thái rừng tại VQG Phú Quốc

- Xác định mối tương quan giữa sự thay đổi của các nguyên tố vi lượng và sự thay đổi của các trạng thái rừng tại VQG Phú Quốc

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Thực hiện theo Quyết định số 2541/QĐ-ĐHCN ngày

08/05/2018 của Trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM về việc giao đề tài và cử

người hướng dẫn luận văn thạc sĩ

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: Ngày tháng năm 2020

V NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Lê Huệ Hương

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020

VIỆN TRƯỞNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Huệ Hương về sự chỉ dẫn tận tình trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các giảng viên giảng dạy tại Viện Khoa Học Công Nghệ

và Quản Lý Môi Trường của Trường Đại Học Công Nghiệp TP.Hồ Chí Minh đã tận tình hỗ trợ tài liệu, đóng góp ý kiến cũng như động viên tôi rất nhiều và nhiệt tình truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn đến gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất để yên tâm học tập, hoàn thành nhiệm vụ và các bạn học viên đã chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm và giúp đỡ hết mình trong quá trình cá nhân tôi thực hiện luận văn

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Đề tài: “Nghiên cứu sự thay đổi của một số nguyên tố vi lượng trong đất dưới

các trạng thái rừng tại Vườn Quốc Gia Phú Quốc” được tiến hành nghiên cứu

trên địa bàn Vườn Quốc Gia Phú Quốc thuộc huyện Phú Quốc Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định được sự thay đổi các nguyên tố vi lượng trong các trạng thái rừng tại Vườn Quốc Gia Phú Quốc Luận văn sử dụng phương pháp tham khảo số liệu, thu thập và tổng hợp tài liệu, phương pháp lấy mẫu phân tích, kết hợp với phương pháp xử lý số liệu; Đặc biệt phương pháp phân tích mẫu các nguyên tố vi lượng trong đất, để từ đó xác định được sự biến động của các nguyên tố và các nguyên nhân ảnh hưởng đến các nguyên tố vi lượng Ngoài ra, còn ứng dụng phương pháp GIS để vẽ biểu đồ biến động diện tích rừng qua các năm để so sánh các mốc thời gian cũng như đưa ra được sự thay đổi của các trạng thái rừng qua các năm 2009, 2017 và 2018

Kết quả nghiên cứu đạt được:

- Đánh giá sự thay đổi của trạng thái rừng qua các năm 2009, 2017 và 2018

- Kết quả xác định thực trạng và sự thay đổi của các nguyên tố vi lượng trong đất dưới các trạng thái rừng: chưa phục hồi, đang phục hồi và đã phục hồi

- Kết quả đánh giá tương quan giữa hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong đất

và trạng thái rừng tại Vườn Quốc Gia Phú Quốc

Trang 6

ABSTRACT

The subject: "Studying the change of some trace elements in soil under the

forest status in Phu Quoc National Park" was conducted in Phu Quoc National

Park in Phu Quoc district The objective of the study is to identify changes in trace elements in the forest states in Phu Quoc National Park and their correlation The thesis uses the methods of survey, refer to collect and synthesize documents and data in combination with the data processing method Especially, the method of analyzing samples of trace elements in the soil from which to determine the fluctuations of elements and the factors affecting the trace elements In addition, the GIS method is used to graph changes in forest area over the years to compare time points as well as provide the impact of livelihoods on this change

Research results achieved:

- Assess changes in forest status over the years 2009, 2017, 2018

- The results determine the status and change of trace elements in the soil under forest conditions

- Results of assessment of correlation between trace elements content in soil and forest status in Phu Quoc National Park

Trang 7

LỜI CAM ĐOAN

Học viên xin cam đoan kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, tìm hiểu của riêng cá nhân học viên Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều được trình bày là của cá nhân học viên và được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, có nguồn gốc rõ ràng và theo đúng quy định Các tài liệu, số liệu được trích dẫn được chú thích rõ ràng, đáng tin cậy, các tài liệu tham khảo được trích dẫn theo đúng quy định của mẫu từ phòng Sau Đại học Trường ĐH Công Nghiệp TP.HCM Trong đó, số liệu phân tích các nguyên tố vi lượng năm 2009 học viên tham khảo

từ nghiên cứu “Đánh giá hiện trạng môi trường đất và đề xuất biện pháp chống

suy thoái một số hệ sinh thái rừng Vườn Quốc Gia Phú Quốc” của TS Tạ Xuân

Tề và PGS.TS Thái Thành Lượm làm chủ nhiệm đề tài

Học viên cam đoan không đạo văn dưới bất kỳ hình thức nào, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và học viên hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung nghiên cứu

Học viên

Nguyễn Thị Bích Tuyền

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ ii

ABSTRACT iii

LỜI CAM ĐOAN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC HÌNH ẢNH vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 4

5.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn 4

5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan tài nguyên rừng 5

1.1.1 Phân loại theo thảm thực vật rừng 5

1.1.2 Phân loại dựa vào tính chất và mục đích sử dụng 5

1.1.3 Tiêu chí phân loại của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn 5

1.1.4 Các trạng thái rừng chính 6

1.2 Tổng quan về nguyên tố vi lượng 7

1.2.1 Khái niệm các nguyên tố vi lượng 7

1.2.2 Vai trò của các nguyên tố vi lượng 8

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về các trạng thái rừng, nguyên tố vi lượng và mối tương quan giữa chúng 13

1.3.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu về trạng thái rừng ở trong và ngoài nước 13

1.3.2 Nghiên cứu về nguyên tố vi lượng trong và ngoài nước 16

1.3.3 Đánh giá hiện trạng nghiên cứu ở trong và ngoài nước về trạng thái rừng, nguyên tố vi lượng trong đất và mối tương quan giữa chúng 20

1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 20

1.4.1 Chức năng, nhiệm vụ của VQG Phú Quốc 20

1.4.2 Điều kiện tự nhiên 21

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Nội dung nghiên cứu 43

Trang 9

2.2 Phương pháp nghiên cứu 44

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52

3.1 Đánh giá sự thay đổi của trạng thái rừng qua các năm 2010, 2017, 2018 52

3.1.1 Xây dựng bản đồ hiện trạng trạng thái rừng của các năm 2009, 2010, 2017, 2018 52

3.1.2 Biến động chất lượng rừng qua từng trạng thái rừng 60

3.2 Kết quả xác định thực trạng và sự thay đổi của các nguyên tố vi lượng trong đất dưới các trạng thái rừng 64

3.2.1 Các nguyên tố vi lượng tại 6 xã qua các năm 2009, 2017, 2018 64

3.3 Kết quả đánh giá tương quan giữa hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong đất và trạng thái rừng tại Vườn Quốc gia Phú Quốc 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 97

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 103

Trang 10

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Bản đồ ranh giới VQG Phú Quốc 21

Hình 1.2 Bản đồ đất Huyện Phú Quốc- Tỉnh Kiên Giang 26

Hình 1.3 Tình trạng sử dụng đất tại Huyện Phú Quốc, 2010 27

Hình 1.4 Biểu đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2009 28

Hình 1.5 Biểu đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 28

Hình 1.6 Biểu đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2017 29

Hình 1.7 Biểu đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2018 30

Hình 1.8 Biểu đồ nhiệt độ trung bình theo từng tháng qua các năm (oC) 40

Hình 1.9 Biểu đồ lượng mưa trung bình từng tháng qua các năm (mm) 41

Hình 2.1 Vị trí lấy mẫu năm 2009 48

Hình 2.2 Vị trí lấy mẫu năm 2017 và nhắc lại năm 2018 49

Hình 3.1 Bản đồ thể hiện sự biến động trạng thái rừng trong giai đoạn

2009-2018 54

Hình 3.2 Bản đồ hiện trạng trạng thái rừng năm 2009 56

Hình 3.3 Bản đồ hiện trạng trạng thái rừng năm 2010 57

Hình 3.4 Bản đồ hiện trạng trạng thái rừng năm 2017 58

Hình 3.5 Bản đồ hiện trạng trạng thái rừng năm 2018 59

Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện sự biến động số cây bình quân 60

Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện sự biến động đường kính bình quân 61

Hình 3.8 Biểu đồ thể hiện sự biến động chiều cao bình quân 62

Hình 3.9 Biểu đồ thể hiện sự biến động tiết diện ngang 63

Hình 3.10 Biểu đồ thể hiện sự biến động trữ lượng bình quân 64

Hình 3.11 Biểu đồ đánh giá hàm lượng Mn tầng nông tại 6 xã qua các năm 65

Hình 3.12 Biểu đồ đánh giá hàm lượng Mn tầng sâu tại 6 xã qua các năm 66

Hình 3.13 Biểu đồ đánh giá hàm lượng Zn tầng nông tại 6 xã qua các năm 66

Hình 3.14 Biểu đồ đánh giá hàm lượng Zn tầng sâu tại 6 xã qua các năm 67

Trang 11

Hình 3.15 Biểu đồ đánh giá hàm lượng Cu tầng nông tại 6 xã qua các năm 67

Hình 3.16 Biểu đồ đánh giá hàm lượng Cu tầng sâu tại 6 xã qua các năm 68

Hình 3.17 Hàm lượng Mangan (Mn) tầng nông tại 6 xã qua các năm 69

Hình 3.18 Hàm lượng Mangan (Mn) tầng sâu tại 6 xã qua các năm 71

Hình 3.19 Hàm lượng Niken (Ni) tầng nông tại 6 xã qua các năm 73

Hình 3.20 Hàm lượng Niken (Ni) tầng sâu tại 6 xã qua các năm 75

Hình 3.21 Hàm lượng Sắt (Fe) tầng nông tại 6 xã qua các năm 77

Hình 3.22 Hàm lượng Sắt (Fe) tầng sâu tại 6 xã qua các năm 79

Hình 3.23 Hàm lượng Đồng (Cu) tầng nông tại 6 xã qua các năm 81

Hình 3.24 Hàm lượng Đồng (Cu) tầng sâu tại 6 xã qua các năm 83

Hình 3.25 Hàm lượng Kẽm (Zn) tầng nông tại 6 xã qua các năm 85

Hình 3.26 Hàm lượng Kẽm (Zn) tầng sâu tại 6 xã qua các năm 87

Trang 12

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Diện tích có rừng phân theo các phân khu chức năng (Đơn vị: ha) 6

Bảng 1.2 Ảnh hưởng của thiếu Zn, Mn và Cu lên hàm lượng Amino acid tự do và amit ở cây cà chua 16

Bảng 1.3 Ảnh hưởng của việc loại Cu lên sự ra hoa và hoạt tính Enzyme của cây Chrysanthemum Morifolium 17

Bảng 1.4 Ảnh hưởng của đồng lên sự sinh trưởng, hàm lượng Protein, diệp lục và

quang hợp của cây cải xanh 17

Bảng 1.5 Phân loại và đặc điểm các loại đất 23

Bảng 1.6 So sánh các hệ sinh thái rừng VQG Phú Quốc 38

Bảng 3.1 Sự biến động của trạng thái rừng giai đoạn 2009-2018 55

Bảng 3.2 Bảng đánh giá hàm lượng vi lượng trong đất 65

Bảng 3.3 So sánh hàm lượng Mn tầng nông thay đổi qua các trạng thái rừng 70

Bảng 3.4 Bảng so sánh hàm lượng Mn tầng sâu thay đổi qua các trạng thái rừng

72

Bảng 3.5 Bảng so sánh hàm lượng Ni tầng nông thay đổi qua các trạng thái rừng

74

Bảng 3.6 Bảng so sánh hàm lượng Ni tầng sâu thay đổi qua các trạng thái rừng

76

Bảng 3.7 Bảng so sánh hàm lượng Fe tầng nông thay đổi qua các trạng thái rừng78 Bảng 3.8 So sánh hàm lượng Fe tầng sâu thay đổi qua các trạng thái rừng 80

Bảng 3.9 So sánh hàm lượng Cu tầng nông thay đổi qua các trạng thái rừng 82

Bảng 3.10 So sánh hàm lượng Cu tầng sâu thay đổi qua các trạng thái rừng 84

Bảng 3.11 So sánh hàm lượng Zn tầng nông thay đổi qua các trạng thái rừng 86

Bảng 3.12 So sánh hàm lượng Zn tầng sâu thay đổi qua các trạng thái rừng 88

Trang 13

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Đề tài “Nghiên cứu sự thay đổi của một số nguyên tố vi lượng trong đất dưới các

trạng thái rừng tại Vườn Quốc Gia Phú Quốc” được học viên nghiên cứu và thực

hiện nhằm xác định được thực trạng và sự thay đổi của các nguyên tố vi lượng trong đất dưới các trạng thái rừng tại vùng đệm Vườn Quốc Gia (VQG) Phú Quốc Bên cạnh đó, đề tài còn đánh giá được sự thay đổi của trạng thái rừng tại đây qua các năm

2009, 2017 và 2018, từ đó đánh giá mối quan hệ tương quan giữa hàm lượng các nguyên tô vi lượng trong đất và trạng thái rừng tại VQG Phú Quốc

Các nghiên cứu trước đây cho thấy đất và quần thể rừng có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ, vì đất là một thành phần quan trọng của môi trường, nó như là cơ thể sống, có khả năng sử dụng các chất thải, thúc đẩy sự dự trữ dinh dưỡng và làm sạch nguồn nước, cũng như có khả năng chứa, trao đổi ion, di chuyển chất dinh dưỡng và điều hòa chất dinh dưỡng, từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới thảm thực vật rừng Các chỉ tiêu dinh dưỡng trong đất thường được quan tâm như: mùn, lân, đạm, độ chua, độ hấp thu, các cation kim loại, đặc biệt là các nguyên tố vi lượng đóng một vai trò quan trọng đối với thảm thực vật rừng, vì dù chỉ cần một lượng rất ít nhưng việc thiếu hay thừa các nguyên tố vi lượng có thể ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Ngoài ra, sự biến động của các nguyên tố vi lượng này trong đất cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi về thảm phủ thực vật tại khu vực đó, ngược lại sự thay đổi của thảm thực vật rừng cũng đồng thời tác động lên hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong đất

Xét về mặt nghiên cứu, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hệ sinh thái tự nhiên cũng như chất lượng các môi trường thành phần tại VQG Phú Quốc, tuy nhiên chỉ là các nghiên cứu nhằm đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường đất, hàm lượng đa lượng, trung và vi lượng, hàm lượng kim loại nặng cũng như độ phì, mà chưa có nghiên cứu nào đề cập đến sự biến động của các nguyên tố vi lượng dưới các trạng thái rừng tại VQG Phú Quốc

Trang 15

Chính vì vậy, đề tài của học viên không trùng lắp với các đề tài nghiên cứu trước đây

và mang tính cấp thiết cao, vì diện tích rừng tại VQG Phú Quốc đang ngày càng bị thu hẹp dần, các cánh rừng đang bị tàn phá, khoét trọc Bên cạnh đó chất lượng đất vùng đệm VQG cũng đang bị ảnh hưởng rất nhiều do các hoạt động sinh kế dân sinh của người dân bản địa và tốc độ phát triển như vũ bão của ngành du lịch, dịch vụ Điều này thể hiện rõ nhất qua sự thay đổi của trạng thái rừng tại VQG Phú Quốc, diện tích rừng đang ngày càng bị thu hẹp, từ rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh thành các cánh rừng nghèo nàn, cây chậm phát triển, đẩy nhanh quá trình suy thoái của các quần

xã sinh vật rừng

Kết quả của đề tài “Nghiên cứu sự thay đổi của một số nguyên tố vi lượng trong

đất dưới các trạng thái rừng tại Vườn Quốc Gia Phú Quốc” mà học viên thực

hiện giúp làm rõ mối tương quan giữa sự biến động các yếu tố vi lượng trong môi trường đất đến các trạng thái rừng tại VQG như hiện nay, nhằm đưa ra các biện pháp bảo tồn và phát triển kịp thời, duy trì sự phát triển bền vững của VQG Phú Quốc nói riêng và hệ sinh thái rừng Phú Quốc nói chung

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài có các mục tiêu nghiên cứu như sau: Đánh giá sự thay đổi của trạng thái rừng tại đây, xác định thực trạng và sự thay đổi của các nguyên tố vi lượng trong đất dưới các trạng thái rừng tại vùng đệm VQG Phú Quốc và đánh giá tương quan giữa hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong đất và trạng thái rừng tại vùng đệm VQG Phú Quốc qua các năm 2009, 2017 và 2018

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ba trạng thái rừng chưa phục hồi, đang phục hồi,

đã phục hồi và năm nguyên tố vi lượng trong đất dưới tán rừng vùng đệm VQG Phú Quốc: Mn, Fe, Ni, Cu, Zn

Trang 16

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian nghiên cứu:

Vùng đệm VQG Phú Quốc với tổng diện tích là 8808.6 ha thuộc địa bàn hành chính của các xã Bãi Thơm, Cửa Cạn, Gành Dầu, Cửa Dương, Dương Tơ và Hàm Ninh [2] Tác giả chọn vùng đệm VQG Phú Quốc thay vì đánh giá cả vùng do thời gian nghiên cứu và kinh phí hạn hẹp nên chỉ giới hạn nghiên cứu tại vùng đệm VQG Phú Quốc

- Phạm vi thời gian nghiên cứu:

• Thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 đến hết năm 2018

• Thời điểm lấy mẫu: do kinh phí hạn hẹp nên tác giả chỉ lấy mẫu một đợt năm 2017

và năm 2018 vào mùa khô thay vì lấy cả hai đợt mùa khô và mùa mưa như trong

đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường đất và đề xuất biện pháp chống suy thoái một số hệ sinh thái rừng Vườn Quốc Gia Phú Quốc” do TS Tạ Xuân Tề và PGS.TS Thái Thành Lượm làm chủ nhiệm đề tài [3]

- Đợt 1: Từ ngày 14/03/2017 - 20/03/2017 (07 ngày)

- Đợt 2: Từ ngày 12/03/2018 - 15/03/2018 (04 ngày)

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp tham khảo tài liệu, kết hợp điều tra thu thập, tổng hợp tài liệu, cùng với các phương pháp xử lý số liệu, phương pháp xác định hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong đất rừng tại VQG Phú Quốc Ngoài ra kết hợp sử dụng phương pháp GIS để phân tích dữ liệu và xây dựng các bản đồ liên quan

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng hướng tiếp cận từ việc tham khảo số liệu phân tích các nguyên tố vi lượng năm 2009 từ nghiên cứu “Đánh giá hiện trạng môi trường đất

và đề xuất biện pháp chống suy thoái một số hệ sinh thái rừng Vườn Quốc Gia Phú Quốc” của TS Tạ Xuân Tề và PGS.TS Thái Thành Lượm làm chủ nhiệm, đề tài nghiên cứu bắt đầu năm 2008 và kết thúc vào năm 2009 [3]

Trang 17

Đối với số liệu phân tích các nguyên tố vi lượng năm 2017 và 2018, học viên đã lấy

36 mẫu kiểm chứng ở 6 xã thuộc vùng đệm VQG Phú Quốc là Bãi Thơm, Cửa Cạn,

Cửa Dương, Dương Tơ, Gành Dầu và Hàm Ninh

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

5.1 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Kết quả nghiên cứu cung cấp các số liệu về sự thay đổi của các nguyên tố vi lượng

trong đất dưới các trạng thái rừng và mối tương quan giữa chúng, là cơ sở khoa học

cho các học viên, sinh viên, các nhà khoa học, nhà sinh thái học… tham khảo, nghiên

cứu nhằm đưa ra các biện pháp bảo tồn và phát triển VQG Phú Quốc

5.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng để triển khai vào công tác duy trì, bảo vệ,

cải tạo môi trường cũng như tăng cường hàm lượng các nguyên tố vi lượng có lợi

trong đất tại VQG Phú Quốc Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần

nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ địa phương trong công tác bảo vệ rừng

và đất rừng, đặc biệt là những hộ dân sống phụ thuộc vào rừng

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tài nguyên rừng

1.1.1 Phân loại theo thảm thực vật rừng

Theo tiêu chí phân loại của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, dựa vào kiểu thảm thực vật rừng, rừng được phân loại thành 2 loại [1]:

- Rừng mưa nhiệt đới;

- Rừng lá rụng ôn đới

1.1.2 Phân loại dựa vào tính chất và mục đích sử dụng

Theo tiêu chí phân loại của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, dựa vào tính chất và mục đích sử dụng, rừng được phân loại thành 4 loại [1]:

- Rừng phòng hộ;

- Rừng đặc dụng;

- Rừng sản xuất;

- Rừng ngập mặn

1.1.3 Tiêu chí phân loại của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn [1]

Theo tiêu chí phân loại của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, dựa vào trạng thái rừng thì rừng được phân thành ba loại như sau:

- Đất rừng tự nhiên có trảng cỏ và cây bụi (hay gọi là rừng chưa phục hồi): Loại Ia và

Ib

- Đất rừng bị khai thác, tác động đang phục hồi (hay gọi là rừng đang phục hồi): Loại non IIa, IIb, Loại có trữ lượng IIIa

- Rừng nguyên sinh ít bị tác động loại IIIb, rừng nguyên sinh chưa bị tác động loại

IV (hay gọi là rừng đã phục hồi) [1]

Trang 19

1.1.4 Các trạng thái rừng chính

Tổng diện tích có rừng ở VQG Phú Quốc, trong giai đoạn 2010 – 2020 là 28596.9 ha,

số liệu chi tiết được trình bày ở bảng 1.1:

Bảng 1.1 Diện tích có rừng phân theo các phân khu chức năng (Đơn vị: ha) [2]

Rừng nguyên sinh ít bị tác động, trạng thái rừng giàu (IIIA3): Trạng thái này có 314.3

ha chiếm 1.1% tổng diện tích có rừng Phân bố ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Kết cấu tầng tán chưa bị phá vỡ, rừng còn nguyên hoặc bị tác động nhẹ Cấu trúc rừng với tầng cây vượt tán gồm Dầu Song Nàng, Trâm, Kim Giao, Sến Đất v.v Ngoài ra

ở tầng ưu thế sinh thái có Dầu Song Nàng, Kiền Kiền, Bô Bô, Săng Táp, Làu Táu, Trâm v v

Rừng đã bị tác động, trạng thái rừng trung bình (IIIA2): Diện tích 3953.2 ha, chiếm 13.8% diện tích có rừng Kết cấu tầng tán rừng đã bị phá vỡ nhưng đang phát triển

ổn định

Rừng đã bị tác động, trạng thái rừng nghèo (IIIA1): Diện tích 4393.7 ha, chiếm 15.4% diện tích có rừng Trạng thái này đã qua khai thác chọn, kết cấu tầng tán đã bị phá

vỡ, các loài cây có giá trị kinh tế phần lớn đã bị khai thác Các loài cây còn lại đa số

là cây có ít giá trị kinh tế, phẩm chất xấu Tầng cây nhỏ đã phục hồi tạo thành rừng dưới tán khá dày

Rừng non phục hồi (IIA, IIB): Diện tích 18090.1 ha, chiếm 63.3% diện tích có rừng Rừng phục hồi sau khai thác, kết cấu rừng một tầng đã khép tán

Trang 20

Rừng ngập mặn: Rừng ngập mặn phân bố tự nhiên ở ấp Rạch Tràm, nằm ven sông rạch, với diện tích 21.3 ha

Rừng tràm nước: Với diện tích 1667.5 ha, chiếm 5.8% diện tích có rừng Phân bố tự nhiên chủ yếu tập hợp ở xã Bãi Thơm

Rừng trồng: Chủ yếu là loài cây Bô Bô, Huỷnh, Sao Đen, Trai v.v Phân bố chủ yếu

ở xã Bãi Thơm và Cửa Dương [2]

1.2 Tổng quan về nguyên tố vi lượng

1.2.1 Khái niệm các nguyên tố vi lượng

Các nguyên tố vi lượng là nguyên tố chỉ chiếm 10-4% so với trọng lượng khô trong đất [4] Nguyên tố vi lượng là các nguyên tố dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của cây trồng, nhưng hàm lượng của chúng trong cây rất ít: từ

10-3 đến 10-5% Các nguyên tố vi lượng thường gặp gồm có: Mangan (Mn), Sắt (Fe), Niken (Ni), Đồng (Cu), Kẽm (Zn) v.v ; ngoài ra còn có các nguyên tố như: Molipden (Mo), Bo (B), Coban (Co), Iodine (I), Fluoride (F) v.v [5]

Các nguyên tố vi lượng đóng vai trò rất quan trọng trong các quá trình sinh lý và sinh hóa của động thực vật Chúng có trong thành phần của Vitamin, các Enzyme và Hormone Sự thiếu hay thừa các nguyên tố vi lượng trong đất đều không có lợi cho

sự phát triển của thực vật dẫn đến sự suy giảm về năng suất cũng như chất lượng nông sản, đối với đất rừng sẽ gây hao hụt năng suất sinh khối rừng Nhiều nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong đất một mặt với sản lượng của cây, mặt khác với sản lượng động vật và sức khỏe con người [5]

Vi lượng tố, còn gọi là nguyên tố vi lượng, là những nguyên tố hóa học cần thiết cho

cơ thể ở lượng rất nhỏ, cần dùng trong các chức năng trao đổi chất quan trọng cho cuộc sống Cơ thể con người có chứa khoảng 25-27 nguyên tố hóa học thường gặp, nhưng trong cơ thể các nguyên tố vi lượng chỉ chiếm khoảng 4% trọng lượng cơ thể Chúng phải được đưa vào cơ thể đều đặn, lượng cần dùng mỗi ngày của một người

Trang 21

trưởng thành là vài trăm microgram (Selen, Asen) cho đến một vài microgram (Sắt, Iodine) [5]

Đất là nguồn gốc của các nguyên tố vi lượng trong cây, trong thức ăn của động vật

và trong sản phẩm sinh dưỡng cho người Chính vì vậy nghiên cứu hàm lượng và sự

di động của các nguyên tố vi lượng trong đất rất cần thiết để giải quyết những vấn đề thực tiễn của trồng trọt, chăn nuôi, thú y và y học Nghiên cứu các quy luật phân bố các nguyên tố vi lượng trong đất tạo cơ sở khoa học cho việc bón phân vi lượng cho cây và bổ sung vi lượng vào nguồn thức ăn vô cơ cho động vật

1.2.2 Vai trò của các nguyên tố vi lượng

1.2.2.1 Vai trò chung của các nguyên tố vi lượng đối với cây trồng

Nguyên tố vi lượng, còn gọi là vi lượng tố, là cơ sở của sự sống, là những nguyên tố hóa học cần thiết cho cơ thể thực vật ở lượng rất nhỏ, cần dùng trong các chức năng trao đổi chất quan trọng Chúng phải được đưa vào cơ thể đều dặn, mỗi nguyên tố dinh dưỡng có một vai trò nhất định, sự thiếu hụt của bất kỳ nguyên tố nào đều ảnh hưởng tới sinh trưởng và phát triển của cây Sự thiếu hụt này có thể do đất không thỏa mãn và việc bón bổ sung dinh dưỡng không đủ hoặc bón đủ nhưng cây trồng không

sử dụng được, hoặc bón mất cân đối

1.2.2.2 Vai trò sinh lý của các nguyên tố vi lượng đối với cây trồng

a Mối liên quan giữa các nguyên tố vi lượng và Enzyme

Việc nghiên cứu và phát hiện ra mối liên quan khăng khít giữa các nguyên tố vi lượng

và các Enzyme đã giúp hiểu rõ được cơ chế tác dụng và nguyên nhân của hoạt tính sinh học mạnh mẽ của nhóm nguyên tố này, đồng thời nó cũng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành sinh hóa học

Các nghiên cứu cho thấy việc hình thành phức chất giữa Enzyme và các nguyên tố vi lượng làm tăng hoạt tính xúc tác của nguyên tố đó lên gấp bội Ngược lại, các nguyên

tố vi lượng cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt tính xúc tác của Protein mang men

và nhóm hoạt động của Enzyme Nhiều nguyên tố vi lượng như đồng, kẽm đóng vai

Trang 22

trò trực tiếp trong các chuyển hóa hóa học, như trong quá trình chuyển electron trong các hệ thống Enzyme oxi hóa – khử Chúng là thành phần bắt buộc cấu trúc nên nhóm hoạt động của phân tử Enzyme Ngoài ra, rất nhiều nguyên tố vi lượng là tác nhân hoạt hóa không đặc trưng của hàng loạt Enzyme khác nhau Trong trường hợp này các nguyên tố vi lượng được liên kết không bền với Enzyme, chúng thường đóng vai trò làm cầu nối giữa nhóm hoạt động của Enzyme với Protein mang Enzyme hoặc giữa Enzyme với các nguyên liệu tác động của chúng Trong trường hợp khác, việc liên kết với nguyên tố vi lượng có thể ảnh hưởng đến độ bền của các liên kết trong nguyên liệu, đến việc tăng diện tích, do đó ảnh hưởng đến pH thích hợp của Enzyme

và có thể gây ra sự tăng nồng độ OH- ở một số điểm giúp quá trình thủy phân và nhiều loại chuyển hóa khác diễn ra dễ dàng [6]

b Mối liên hệ giữa các nguyên tố vi lượng và trao đổi chất

Các quá trình trao đổi chất ở sinh vật nói chung và ở thực vật nói riêng, muốn thực hiện được phải có sự tham gia của Enzyme, mà các nguyên tố vi lượng có mối liên quan chặt chẽ với Enzyme nên các nguyên tố vi lượng đã tác động mạnh mẽ đến quá trình trao đổi chất Các nguyên tố vi lượng ảnh hưởng đến sự tổng hợp và phân giải acid nucleic

Các nguyên tố vi lượng thúc đẩy quá trình phân giải tinh bột của hạt nảy mầm và tăng tổng hợp tinh bột, đường ở lá và các cơ quan dự trữ tăng aminoacid không thay thế Các nguyên tố vi lượng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh tổng hợp Protein – Enzyme,

từ đó ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phân hóa tế bào Quá trình chuyển hóa, tổng hợp các hợp chất có hoạt tính sinh học cao như vitamin, auxin, gluzit… đều chịu tác động của nguyên tố vi lượng, ví dụ kẽm là tác nhân hoạt hóa Triptofansintetase

và vitamin nhóm B (B1, B6), từ đó ảnh hưởng đến tổng hợp Triptofan là tiền chất của Heteroauxin [6]

c Mối liên hệ giữa các nguyên tố vi lượng và các quá trình sinh lý của thực vật

Trang 23

Khi nghiên cứu quá trình phân giải yếm khí (quá trình đường phân) nhận thấy các nguyên tố vi lượng, đặc biệt là Mangan, Kẽm, Coban, Magie tham gia hoạt hóa nhiều Enzyme

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy các nguyên tố vi lượng có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với quá trình trao đổi chất và năng lượng trung tâm ở tế bào hô hấp Trước hết, các nguyên tố vi lượng tham gia tích cực trong chặng đường phân hủy hiếu khí cũng như trong chặng đường phân hủy yếm khí của các nguyên liệu hữu cơ Các nguyên

tố vi lượng là thành phần bắt buộc trong cấu trúc của các hệ Enzyme Oxi Hóa Khử tham gia trong chuỗi hô hấp (hệ xitocrom chứa sắt, ascorbinoxidase chứa đồng…) Nguyên tố vi lượng giúp quá trình phophoril hóa, oxi hóa tạo ATP trong quá trình hô hấp [5],

Các nguyên tố vi lượng còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình trao đổi nước (hút nước, thoát nước, vận chuyển nước) và do đó ảnh hưởng đến cân bằng nước trong cây Các nguyên tố Mn, Zn, Cu, Mo… có tác dụng làm tăng khả năng giữ nước, tăng hàm lượng nước liên kết keo của mô Điều đó có tác dụng liên quan với tác dụng của các nguyên tố này thúc đẩy quá trình tổng hợp các chất ưa nước như Protein, Acid Nucleic… cũng như tăng độ ưa nước của chúng

d Ảnh hưởng của các nguyên tố vi lượng đến quá trình quang hợp

Cùng với sắt, các nguyên tố vi lượng như Mn, Cu, Mo, Zn…có tác dụng thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp diệp lục, là tác nhân hoạt hóa hoặc là thành phần cấu trúc Enzyme tham gia trực tiếp trong pha sáng cũng như pha tối của quá trình quang hợp các nguyên tố vi lượng cũng ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp carotenoit, đến số lượng

và kích thước lục lạp Điều đáng chú ý là trong một giới hạn nhất định người ta thường thấy có mối tương quan thuận giữa hàm lượng sắc tố và năng suất cây trồng.[6] Ngoài ra, nhiều nguyên tố như Mn, Zn, Cu, Mo…không những tham gia tích cục trong các phản ứng pha sáng và việc hình thành các sản phẩm đầu tiên mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi khâu chuyển hóa về sau trong mọi quá trình nên các sản phẩm quang hợp khác nhau Các nhà khoa học đã phát hiện nhiều nguyên tố vi lượng

Trang 24

như Zn, Cu, Mn, Mo…có tác dụng thúc đẩy quá trình vận chuyển các sản phẩm đồng hóa từ lá xuống cơ quan dự trữ, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp tiếp tục cũng như hạn chế cường độ quang hợp khi gặp điều kiện bất lợi

e Tác dụng của các nguyên tố vi lượng đến quá trình sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu của cây

Các nguyên tố vi lượng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều chỉ tiêu sinh trưởng của cây như tỉ lệ và tốc độ nảy mầm, chiều cao, trọng lượng tươi và khô của cây, bề mặt đồng hóa, hệ rễ nhánh v.v Các nhà khoa học đã phát hiện chính xác rằng các nguyên

tố vi lượng có khả năng chống chịu mặn của cây trên đất ít mặn (ví dụ: B) hoặc mặn trung bình (ví dụ: Cu) Dưới tác dụng của nguyên tố vi lượng, tính thấm của tế bào đối với Clo giảm xuống và tốc độ hấp thụ Photpho, Kali, Calcium tăng lên, đồng thời quá trình tích lũy albumin, globulin, tinh bột, đường và những chất có tác dụng tự vệ cũng được xúc tiến thêm Nguyên nhân của tác dụng này có thể là sự tăng cường hoạt động của men oxi hóa – khử Các nghiên cứu cũng cho thấy các nguyên tố vi lượng

có tác dụng làm tăng độ nhớt, lượng chứa keo ưa nước, lượng nước liên kết và khả năng giữ nước của lá, tăng độ bền của liên kết diệp dục với Protein trong lục lạp [6] Một ảnh hưởng có ý nghĩa thực tiễn lớn của các nguyên tố vi lượng là tăng khả năng chống nhiều loại nấm bệnh (rỉ sắt, đạo ôn…) của cây trồng, điều này có thể do các nguyên tố vi lượng trong khi gây ra những biến đổi nào đó trong trao đổi chất, chúng tạo ra môi trường bất lợi cho nấm kí sinh hoặc do chúng xúc tiến việc hình thành sản phẩm Polyphenol có tác dụng tự vệ cho cây chống lại nấm bệnh

Rõ ràng, các nguyên tố vi lượng có tầm quan trọng đặc biệt đối với cây trồng, do đó việc tiếp tục tìm hiểu sâu hơn nữa về vai trò sinh lí và nông hóa của chúng vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn

f Tác động của các nguyên tố vi lượng đến thực vật

Mangan (Mn): Mangan rất cần thiết cho nhiều chức năng của cây trồng Một trong số chức năng đó là: sự đồng hóa của CO2 trong quang hợp; hỗ trợ trong việc tổng hợp

Trang 25

chất diệp lục và đồng hóa Nitrat; kích hoạt các Enzyme hình thành chất béo; có chức năng trong sự hình thành của Riboflavin (Vitamin B2), Acid Ascorbic và Caratene; ngoài ra còn có chức năng vận chuyển điện tử trong quá trình quang hợp Ngoài ra đối với cây trồng, Mn còn là nguyên tố hoạt hóa rất nhiều Enzyme của quá trình quang hợp, hô hấp và cố định Nitơ phân tử, cây trồng thiếu Mn sẽ úa vàng gân lá, xuất hiện các đốm vàng trên lá non và cuối cùng là hoại tử lá [6]

Sắt (Fe): Sắt rất cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì diệp lục tố trong cây Vai trò quan trọng nhất của sắt là hoạt hóa các Enzyme của quá trình quang hợp và hô hấp

Nó không tham gia vào thành phần diệp lục, nhưng có ảnh hưởng quyết định tới sự tổng hợp diệp lục trong cây Hàm lượng sắt trong lá cây có quan hệ mật thiết đến hàm lượng diệp lục trong chúng Sự thiếu hụt Fe thường xảy ra trên nền đất có đá vôi Lá cây thiếu sắt sẽ chuyển từ màu xanh sang vàng hay trắng ở phần thịt lá, trong khi gân

lá vẫn còn xanh, ngoài ra sự thiếu hụt sắt còn khiến cho cây trồng còi cọc và chậm lớn Triệu chứng thiếu sắt xuất hiện trước hết ở các lá non, sau đến lá già vì sắt không

di động từ lá già về lá non [6]

Niken (Ni): Trong tự nhiên, nó thường tồn tại ở trạng thái hoá trị II với lưu huỳnh và hỗn hợp với SiO2, As Ni được tích tụ trong các chất sa lắng, trong cơ thể thực vật bậc cao và một số loại vi sinh Đối với một số thực vật, vi sinh vật Ni được xem như

là nguyên tố vi lượng cần thiết, còn đối với cơ thể người điều này chưa rõ ràng [6] Đồng (Cu): Đồng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cây trồng Cây trồng thiếu Cu thường có tỷ lệ quang hợp bất thường, điều nay cho thấy Cu có liên quan đến mức phản ứng oxi hóa của cây Lý do chính của điều này là trong cây thiếu chất

Cu thì quá trình oxi hóa Acid Ascorbic bị chậm, Cu hình thành một số lớn chất hữu

cơ tổng hợp với Protein, Acid Amin và một số chất khác mà chúng ta thường gặp trong trái cây Ngoài những ảnh hưởng do thiếu Cu, thì việc thừa Cu cũng xảy ra những biểu hiện ngộ độc mà chúng có thể dẫn tới tình trạng cây chết Lý do của việc này là do dùng thuốc diệt nấm, thuốc trừ sâu, đã khiến cho chất liệu Cu bị cặn lại trong đất từ năm này qua năm khác, ngay cả bón phân cũng gây tác hại tương tự [6]

Trang 26

Kẽm (Zn): Đối với cây trồng, kẽm cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nhiều hoạt động sinh lý, sinh hóa của cây Việc dư thừa kẽm gây ra bệnh mất diệp lục, làm cây úa vàng, mất khả năng quang hợp, cuối cùng làm chết cây Tương tự, thiếu kẽm gây rối loạn trao đổi Auxin nên ức chế sinh trưởng, lá cây bị biến dạng, ngắn, nhỏ và xoăn, đốt ngắn, dị hình [6]

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu về các trạng thái rừng, nguyên tố vi lượng

và mối tương quan giữa chúng

1.3.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu về trạng thái rừng ở trong và ngoài nước

1.3.1.1 Nghiên cứu về trạng thái rừng trên thế giới

Trong nghiên cứu về trạng thái rừng, người ta nhận thấy rằng: Tầng cỏ và cây bụi thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con phục hồi của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô

và nghèo dinh dưỡng khoáng, do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém, nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở lại lớn cho phục hồi rừng [7]

Nghiên cứu tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi, A.Obrevin (1938), nhận thấy cây con của các loài cây ưu thế trong rừng mưa là rất hiếm và đã khái quát hóa các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh, nhưng phần lý giải các hiện tượng này còn bị hạn chế Vì thế lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực tiễn sản xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu đã đề ra (dẫn theo Vũ Tiến Hinh và cộng sự, 2006) [8]

Balley (1973) [9], đã mô hình hóa cấu trúc thân cây với phân bố số cây theo đường kính (N/D) bằng hàm Weibull; nhiều tác giả khác dùng hàm Schumacher, Hyperbol, Hàm mũ, Poisson, Charlier UNESCO (1973) [10], nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này đã không tách rời cấu trúc ngoại mạo của quần xã thực vật khỏi

Trang 27

hoàn cảnh của nó và do đó cũng hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái

Baur G.N (1976) [11], nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã đưa ra quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng; nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung, cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, tác giả đã đưa ra tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh, nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa

Ramakrishnan (1981, 1992), nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy từ 1-20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, nhận xét: chỉ số đa dạng loài rất thấp; chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hóa (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [12]

Long Chun và cộng sự (1993), nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: Tại Baka khi nương rẫy bỏ hóa được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hóa 19 năm thì có 60 họ,

134 chi, 167 loài (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000)[12]

Myiawaki (1993); Yu và cộng sự (1994); Goosem và Tucker (1995); Sun và cộng sự (1995); Kooyman (1996) cũng đưa ra nhiều hướng tiếp cận nhằm phục hồi hệ sinh thái đã bị tác động ở vùng nhiệt đới, một trong số đó chính là việc trồng với mật độ cao của nhiều loài cây trên một khu vực nhất định hoặc áp dụng phương pháp gieo hạt thẳng trên những vùng đất thoái hóa Kết quả ban đầu của những nghiên cứu này

đã tạo nên những khu rừng có cấu trúc và làm tăng mức độ da dạng về loài Tuy nhiên, hạn chế của chúng là không thể áp dụng theo quy mô rộng bởi các yêu cầu về nhân công và các nguồn lực khác trong quá trình thực hiện (dẫn theo Vũ Tiến Hinh

và cộng sự, 2006) [8]

Trang 28

1.3.1.2 Nghiên cứu về trạng thái rừng ở Việt Nam

Hiện nay có các nghiên cứu trong nước về các trạng thái rừng như sau :

Đỗ Thị Hà, Bùi Thanh Hằng (2010) [13], đã có có nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trạng thái rừng IIIA, đề xuất giải pháp kinh doanh rừng bền vững tại Kon Rẫy, Kon Tum, dựa trên kết quả nghiên cứu cấu trúc rừng, tác giả

đã đề xuất nhằm kinh doanh rừng IIIA theo hướng sử dụng rừng bền vững cho từng trạng thái: Rừng IIIA3 có thể đưa vào khai thác và xây dựng rừng IIIA3 định hướng với: cường độ khai thác 15%, trữ lượng khai thác 37.5 m3 với luân kỳ kinh doanh 10 năm Rừng IIIA2, cần tạo lập rừng IIIA2 theo rừng IIIA2 tốt nhất trên địa bàn, dần dần thiết lập cấu trúc rừng IIIA3 định hướng đã xây dựng với thời gian nuôi dưỡng là 18 năm

Nguyễn Văn Trường (2012) [14], đã có nghiên cứu sinh khối ở các trạng thái rừng khộp: Sinh khối của cây cá thể ưu thế trong lâm phần rừng khộp; Sinh khối của tầng cây cao ở các trạng thái rừng khộp; Sinh khối của tầng cây bụi, thảm tươi và vật rơi rụng ở các trạng thái rừng khộp; Sinh khối của toàn lâm phần ở các trạng thái rừng khộp Nghiên cứu trữ lượng Carbon ở các trạng thái rừng khộp: Trữ lượng Carbon của cây cá thể ưu thế của rừng khộp; Trữ lượng Carbon của toàn lâm phần ở các trạng thái rừng khộp Xây dựng mối quan hê ̣giữa sinh khối, trữ lượng Carbon với các nhân

tố điều tra rừng Đề xuất phương pháp xác định trữ lượng Carbon ở các trạng thái rừng khộp tại tỉnh Gia Lai

Nguyễn Văn Hoàn và cộng sự (2013) [15], cũng đã thực hiện nghiên cứu đặc điểm cấu trúc trạng thái rừng IIA và IIIA2 làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý rừng bền vững tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang cho thấy thành phần loài cây gỗ tham gia vào công thức tổ thành ở các trạng thái rừng từ 5-7 loài, có tổng trị số IV% biến động trong khoảng từ 59.8- 77.4% Tổ thành theo nhóm gỗ ở trạng thái IIA tập trung chủ yếu ở nhóm gỗ V-VII, trạng thái rừng IIIA2 nhóm gỗ I,

II, III chiếm 36.2% Phân bố cây trên mặt đất rừng có hai dạng là phân bố đều và

Trang 29

ngẫu nhiên ở xã hợp IIA-1 Mô phỏng phân bố NL/D, N/D theo hàm Weibull có dạng phân bố giảm, phân bố N/H theo hàm Weibull có một đỉnh lệch trái

1.3.2 Nghiên cứu về nguyên tố vi lượng trong và ngoài nước

1.3.2.1 Tình hình nghiên cứu nguyên tố vi lượng trên thế giới

Hiện nay có các nghiên cứu nước ngoài về các nguyên tố vi lượng như sau :

- P.W Richards (1964) [16], đã có nghiên cứu đã cho thấy đất rừng nhiệt đới càng thành thục thì hàm lượng chất khoáng vi lượng hòa tan càng giảm do quá trình rửa trôi và thảm thực vật rừng nhiệt đới là nhân tố tích cực chống lại quá trình đó

- Bên cạnh đó, Hodgon cùng cộng sự (1966) [17], đã chỉ ra rằng thiếu kẽm sẽ phá vỡ quá trình trao đổi Hidratcacbon, kìm hãm sự tạo đường Saccarozo, tinh bột và chất diệp lục Kẽm đóng vai trò không những chỉ tham gia hình thành Enzyme mà còn là nhân tố điều hòa cấu trúc và chức năng hàng loạt Enzyme giúp cho quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ, trong một số phản ứng Enzyme thì Mg2+ và Mn2+ có thể thay thế Zn2+

Để thấy rõ tầm quan trọng của Zn trong quá trình tổng hợp Protein ta so sánh với các nguyên tố vi lượng khác như Mn, Cu được thống kê ở bảng 1.2:

Bảng 1.2 Ảnh hưởng của việc thiếu Zn, Mn và Cu lên hàm lượng Amino

Acid tự do và Amit ở cây cà chua [17]

Kẽm ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp Gluxit, thiếu kẽm hàm lượng đường giảm Trong điều kiện thiếu kẽm trầm trọng có thể dẫn đến sự bài tiết đường qua bề mặt của lá [18] Thiếu kẽm quá trình quang hợp giảm rất mãnh liệt trong phản ứng Hill Rất nhiều dẫn liệu thực nghiệm đã quan sát được rằng đối với sự chịu đựng của cây, việc thiếu kẽm làm thay đổi quá trình trao đổi Hidratcacbon, có liên quan đến quá

Trang 30

trình sinh trưởng của cây Cây sinh trưởng chậm do thiếu kẽm có thể nhìn thấy bằng mắt thường

Năm 1978, Davies và cộng sự [19], đã nghiên cứu tác động của sự ô nhiễm đến các

hệ sinh thái biển và ven biển bao gồm nghề đánh cá ven biển, ngoài biển và cách tiếp cận để quản lý: đánh giá và tổng hợp đã chỉ ra ảnh hưởng của nguyên tố vi lượng đồng đến sự ra hoa và hoạt tính Enzyme ở cây Chrysanthemum Morifolium

Bảng 1.3 Ảnh hưởng của việc loại Cu lên sự ra hoa và hoạt tính Enzyme của cây

Số hoa

Số hoa

nở Hoạt tính Enzyme trong lá

(tính tương đối 100%) Cây Cây

Phenolase IAAoxidase Peroxidase

Đồng tham gia tích cực trong nhiều quá trình trao đổi Nitơ (như khử nitrat, cố định Nitơ, tạo nốt sần ở cây họ đậu…), đồng hóa CO2 Điều này có thể thấy qua nghiên cứu của Botrill [20]

Bảng 1.4 Ảnh hưởng của đồng lên sự sinh trưởng, hàm lượng Protein, diệp lục và

quang hợp của cây cải xanh [20]

N- protein (mg/g T.Ltươi) (mg/g T.Ltươi) Diệp lục

và tạo quả bị ức chế đối với cây ăn quả

1.3.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu tại nước ta về vai trò và tác dụng của các nguyên tố

vi lượng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, các trạng thái rừng

Trang 31

- Trần Đình Lý và cộng sự (1995) [21], khi thực hiện đề tài “Nghiên cứu quá trình tái sinh phục hồi thảm thực vật sau nương rẫy tại Sapa” đã nhận định: Nếu đất thoái hóa nhẹ, vẫn còn chất dinh dưỡng như mùn, chất hữu cơ, các nguyên tố vi lượng, thì quá trình diễn thế thứ sinh phục hồi thảm thực vật diễn ra nhanh; nếu đất xấu (đất thoái hóa trung bình, nặng và rất nặng) thì quá trình diễn ra ngược lại

- Đỗ Khắc Hùng (2009) [22], cũng chỉ ra những ảnh hưởng và mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố chất lượng đất đến sự sinh trưởng và phát triển của các kiểu thảm thực vật và ngược lại Cụ thể là rừng có tác dụng bảo vệ và là thành phần cơ giới, tính chất lý học của đất, rừng cũng có tác dụng cải tạo tốt thành phần hóa học của đất, đặc biệt là hàm lượng vi lượng trong đất Ngoài ra đất giàu các yếu tố dinh dưỡng như mùn, khoáng vi lượng cũng giúp cho các trạng thái rừng tốt hơn, sinh khối cao hơn so với các khu vực khác

- Thái Thành Lượm cùng cộng sự (2009) [3] đã chỉ ra rằng các vị trí lấy mẫu có chất lượng đất tốt, không thiếu hụt nguyên tố vi lượng thì cây rừng phát triển mạnh, có nhiều rừng cây lớn thường xanh lá rộng Ngược lại tại các vị trí chất lượng đất xấu,

có sự thiếu hụt dinh dưỡng, nước, thiếu hụt nguyên tố vi lượng như Cu, Mn, Zn thì thực vật rừng phát triển kém, kích thước nhỏ, chủ yếu là cây Xương cá, Bô bô, bụi cây nhỏ

- Nguyễn Tấn Lê (2010) [23], đã cho thấy, các nguyên tố vi lượng B, Mn, Cu, Zn có tác dụng làm tăng chiều cao, tăng diện tích lá, tăng trọng lượng tươi và trọng lượng khô của cây trong điều kiện nóng hạn so với kiểm chứng Cụ thể chiều cao thân cao hơn 10.19%, diện tích lá tăng 37.91%, trọng lượng tươi và khô cao hơn lần lượt 27.32%, 34.78% Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra các tác động tích cực của các nguyên tố vi lượng như thúc đẩy điều tiết quá trình sinh lý bên trong cơ thể cây trồng thể hiện qua tính chống chọi tốt với các yếu tố bất lợi của môi trường như: Tăng độ nhớt nguyên sinh chất trong tế bào, tăng độ giữ nước trong mô; Gia tăng hàm lượng diệp lục và cường độ quang hợp mạnh hơn bình thường; Tăng cường hoạt độ của Enzyme Catalaza để đẩy mạnh phân giải H2O2 – là sản phẩm tạo ra trong quá trình

Trang 32

hô hấp, gây độc cho tế bào; giảm cường độ hô hấp để tránh phân giải các hợp chất hữu cơ cần thiết Ngoài ra, các nguyên tố vi lượng đã giúp cho hàm lượng acid hữu

cơ tổng số và Vitamin C có trong lá cây cao hơn kiểm chứng từ 12-22%, đây là các yếu tố giải độc của cây dưới tác hại của nhiệt độ cao Tất cả các vượt trội mà nguyên

tố vi lượng đã mang lại, giúp cây trồng lâu héo, khó mất nước, cây khỏe mạnh dù dưới thời tiết vô cùng khắc nghiệt, bên cạnh đó còn tạo thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển và hoạt động sinh lý, hóa sinh, năng suất và phẩm chất của cây

- Nguyễn Thị Tâm (2011) [24], đã xác định dạng tổng số hàm lượng các nguyên tố

vi lượng quan trọng nhất, bao gồm: Zn, Cu, Mo, Mn và V Kết quả cho thấy hàm lượng các nguyên tố trên ở huyện Thanh Hà cao hơn hẳn ở mẫu đối chứng (trừ Mo)

Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê Đất giàu hàm lượng các vi lượng khoáng quan trọng này có thể là một trong những nguyên nhân làm cho vải thiều Thanh Hà có năng suất, chất lượng cao hơn những khu vực khác (không có hoặc có rất ít hàm lượng vi lượng trên)

- Lê Công Nông cùng các cộng sự (2012) [25], đã tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của một số nguyên tố vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất đậu tương vùng Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long trong hai năm 2011-2012 đã cho thấy: Các nguyên tố vi lượng Sắt (FeSO4); Mangan (MnSO4); Kẽm (ZnSO4); Coban; Molipdat Amon; Hỗn hợp các nguyên tố vi lượng và hỗn hợp các nguyên tố đa- vi lượng sử dụng phun lá cho cây đậu tương đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của cây rất rõ rệt, cụ thể như sau:

- Về chiều cao cây: Việc phun các nguyên tố vi lượng, hỗn hợp vi lượng và hỗn hợp đa- vi lượng đã có tác dụng làm tăng chiều cao cây, đặc biệt là hỗn hợp vi lượng (Zn + Fe + Mn +Mo + Co) đã cho kết quả cao nhất 55.9 cm; 69 cm

- Về số quả/ cây: Việc phun các hỗn hợp nguyên tố vi lượng trên đã cho số quả/ cây cao hơn đối chứng

- Về tỷ lệ đậu quả (%): Việc phun CoSO4, hỗn hợp vi lượng (Zn + Fe + Mn +Mo + Co) đã cho kết quả cao nhất ở cả 2 vùng

Trang 33

- Về năng suất thực thu (kg/ha): Việc phun hỗn hợp vi lượng (Zn + Fe + Mn +Mo + Co) và hỗn hợp đa - vi lượng cho năng suất rất cao, hơn hẳn các công thức khác từ 4.98%-21.41% [25]

1.3.3 Đánh giá hiện trạng nghiên cứu ở trong và ngoài nước về trạng thái rừng, nguyên tố vi lượng trong đất và mối tương quan giữa chúng

Từ tổng quan cho thấy vấn đề nghiên cứu sự tác động qua lại giữa nguyên tố vi lượng trong đất và rừng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước Những nghiên cứu này hết sức đa dạng, phong phú và có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn sản xuất Mọi nghiên cứu đều nhằm mục tiêu chung là trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đề ra các phương án sử dụng đất rừng hợp lí, hiệu quả và bền vững nhất

Song các công trình này chỉ ở một số địa điểm, chưa đồng bộ, chưa mang tính khái quát, toàn diện Những công trình tiếp theo cần có sự quan tâm, đầu tư nghiên cứu hơn về thực trạng của các nguyên tố vi lượng trong đất rừng Vấn đề được đặt ra là

sự biến động của trạng thái rừng có liên quan như thế nào đến sự thay đổi hàm lượng

vi lượng của đất và ngược lại Từ đó đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa các nguyên

tố vi lượng trong đất và trạng thái rừng

Mục 1.3.1 và mục 1.3.2 đã đề cập đến hiện trạng nghiên cứu trạng thái rừng và các nguyên tố vi lượng trong đất rừng

1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Chức năng, nhiệm vụ của VQG Phú Quốc

- Bảo tồn hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo, nguồn gen động, thực vật rừng quý hiếm

và có giá trị, các sinh cảnh rừng tự nhiên độc đáo của rừng trên đảo

- Duy trì và phát triển độ che phủ của thảm thực vật rừng để đảm bảo chức năng phòng hộ rừng đầu nguồn, cung cấp nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt của nhân dân, phát triển bền vững kinh tế, xã hội của huyện đảo Phú Quốc

Trang 34

- Góp phần củng cố an ninh quốc phòng, tăng cường sức mạnh cho tuyến phòng thủ Tây Nam Việt Nam [26].

1.4.2 Điều kiện tự nhiên

1.4.2.1 Vị trí địa lý

Hình 1.1 Bản đồ ranh giới VQG Phú Quốc [26]

VQG Phú Quốc được thành lập năm 2001 theo Quyết định số 91/2001/QĐ-TTg ngày

08 tháng 06 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển hạng Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bắc Đảo Phú Quốc thành VQG Phú Quốc và quyết định số 48/2002/QĐ-

UB, ngày 08/07/2002 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc thành lập VQG Phú Quốc với tổng diện tích 31422 ha [26]

VQG Phú Quốc được chia làm 3 phân khu chức năng sau:

- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 8786 ha

Trang 35

- Phân khu phục hồi sinh thái có diện tích 22536 ha

- Phân khu hành chính dịch vụ có diện tích 100 ha Ngoài ra, còn có 6144 ha vùng đệm bờ và khoảng 20000 ha vùng đệm biển [26]

VQG Phú Quốc nằm ở phía Bắc của đảo Phú Quốc, có địa giới hành chính nằm trên địa bàn 6 xã: Cửa Cạn, Gành Dầu, Bãi Thơm, Hàm Ninh, Dương Tơ và Cửa Dương của huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

- Phía Bắc, phía Đông và phía Tây giáp với biển Đông

- Phía Nam và Đông Nam giáp xã Cửa Dương và Hàm Ninh

Có tọa độ địa lý:

- Từ 10012’07” đến 10027’02” vĩ độ Bắc

- Từ 103005’04” đến 104004’40” kinh độ Đông [26]

1.4.2.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Độ cao trung bình của VQG từ 0-600m so với mặt nước biển thuộc dạng địa hình vùng đồi, núi Hệ thống đồi, núi của VQG gồm hai dãy núi chính là:

- Dãy núi Hàm Ninh dài khoảng 30 km, chế ngự bờ phía Đông với những núi khá cao như núi Chúa (603m) là núi cao nhất trong phạm vi VQG, núi Vô Quặp (478m) và núi Đá Bạc (448m)

- Dãy núi Bãi Đại chế ngự bờ Tây Bắc với độ cao trung bình từ 250-300m so với mặt nước biển

Ngoài ra, ở phía Bắc còn có núi Chảo (379m) và phía Tây Bắc có núi Hàm Rồng (365m) hợp với hai dãy núi Hàm Ninh và Bãi Đại hình thành hệ thống núi đồi của VQG với trục Dương Đông – Hàm Ninh Từ trục này trở xuống phía Nam có những núi thấp phân tán Các núi này phần lớn có độ dốc từ 15-20o, có nơi vách đá dựng đứng kéo dài và có độ dốc rất lớn (> 45o)

Trang 36

Địa hình của VQG Phú Quốc thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, phần giữa của VQG là một vùng đất trũng, thấp xen kẽ, có những đầm lầy ngập úng nước ngọt hoặc nước phèn vào mùa mưa mà dân địa phương thường gọi là “lung”, thường

chỉ có cây Tràm (Melaleuca cajuputi) và một số loài thực vật thân thảo của họ Lác

(Cyperaceae), họ Chanh lương (Restionaceae)… sinh sống [26]

1.4.2.3 Địa chất – Thổ nhưỡng

Theo kết quả điều tra và xây dựng bản đồ đất huyện Phú Quốc năm 2005, của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam, VQG Phú Quốc được chia ra 7 đơn vị chú giải bản đồ, thuộc 4 nhóm đất: Nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất xám và nhóm đất đỏ vàng

Bảng 1.5 Phân loại và đặc điểm các loại đất [26]

STT

Tên đất

Ký hiệu

Diện tích (%) Theo phân loại đất Việt Nam Theo phân loại của WRB (*) 98

1 Đất cát biển trắng vàng Ferralic Arenosols C 9.51

2 Đất cát biển, tầng mặt giàu mùn Gleyic Arenosols Ch 8.49

3 Đất cồn cát trắng vàng Hypoluvic Arenosols Cc 0.63

4 Đất phù sa gley Gleyic Fluvisols Pg 1.98

5 Đất xám/ đá macma acid & đá cát Arenic Acrisols Xa 6.69

6 Đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng Gleyic Acrisols Xf 10.71

7 Đất vàng nhạt trên đá cát Skeletic Acrisols Fq 61.85

V Sông suối và mặt nước nuôi trồng thủy sản 0.15

a Nhóm đất cát

Nhóm đất cát chiếm diện tích 11044 ha (chiếm 18.62% tổng diện tích tự nhiên), được chia ra 3 đơn vị chú dẫn bản đồ như sau:

- Đất cát biển trắng vàng (C): đất cát biển trắng vàng có diện tích 5640 ha (chiếm

9.51% tổng diện tích tự nhiên), phân bố thành các dải kéo dài song song với đường

bờ biển, tập trung nhiều ở các xã Gành Dầu, Hàm Ninh, Cửa Dương, Bãi Thơm, Cửa Cạn và thị trấn Dương Đông… đất có thành phần cơ giới thô, thay đổi từ cát đến cát

Trang 37

pha, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp Tuy lượng dinh dưỡng thấp, song độc tố trong đất cát hầu như không có Mặt khác, đất cát biển trắng vàng được phân bố ở địa hình tương đối cao, khá bằng phẳng, thành phần cơ giới nhẹ, độ xốp cao nên khả năng thoát nước nhanh, dễ cải tạo

- Đất cát có tầng mặt giàu mùn (Ch): đất cát có tầng mặt giàu mùn có diện tích 5033

ha (chiếm 8.49% tổng diện tích tự nhiên), phân bố ở các khu vực có địa hình thấp, tập trung nhiều ở các xã Dương Tơ, Hàm Ninh, Bãi Thơm, Cửa Cạn, Cửa Dương và

An Thới

- Đất cồn cát trắng vàng (Cc): đất cồn cát trắng vàng có diện tích 371 ha (chiếm

0.63% tổng diện tích tự nhiên), phân bố thành các dải hẹp kéo dài, có địa hình cao, dốc, thuộc các xã Dương Tơ, Cửa Dương và Cửa Cạn Đất cồn cát trắng vàng vừa phân bố trên địa hình khá dốc nhấp nhô, vừa có thành phần cơ giới thô và nghèo dinh dưỡng [26]

b Nhóm đất phù sa

Nhóm đất phù sa chỉ có một đơn vị chú dẫn bản đồ là đất phù sa Gley (Pg), có diện

tích 1177 ha, chiếm 1.98% tổng diện tích tự nhiên Nhóm đất này phân bố chủ yếu ở vùng địa hình thấp trũng, thuộc các xã Dương Tơ, Hàm Ninh, An Thới và Cửa Cạn Thực chất đây là một đơn vị đất có nguồn gốc hỗn hợp từ những trầm tích biển, phù

sa sông suối và có cả sản phẩm của địa hình bồi lắng dốc tụ Đặc điểm chung của nhóm đất này là có thành phần cơ giới mịn, từ thịt nhẹ đến thịt trung bình

c Nhóm đất xám

Nhóm đất xám có diện tích 10372 ha, chiếm 17.49% tổng diện tích tự nhiên, gồm 2 đơn vị chú dẫn bản đồ sau:

- Đất xám trên đá macma acid và đá cát (Xa): đất xám trên đá macma acid và đá cát

chiếm diện tích 4020 ha (6.78% tổng diện tích tự nhiên), phân bố tập trung nhiều ở các xã Gành Dầu, Cửa Dương, Hàm Ninh, Dương Tơ và Bãi Thơm, trên dạng địa hình cao, dốc nhẹ (độ dốc phổ biến <80o)

Trang 38

- Đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng (Xf): đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng có diện

tích 6352 ha (chiếm 10.71% tổng diện tích tự nhiên), phân bố tập trung ở các xã Bãi Thơm, Gành Dầu, Dương Tơ, Cửa Cạn, Cửa Dương và thị trấn Dương Đông [26]

d Nhóm đất đỏ vàng

Nhóm đất đỏ vàng ở Phú Quốc chỉ có một đơn vị chú dẫn bản đồ là đất vàng nhạt

trên đá cát (Fq) có diện tích 36678 ha (chiếm 61.85% tổng diện tích tự nhiên), phân

bố trên các dạng địa hình đồi núi và có tỷ trọng diện tích cao ở tất cả các xã trong huyện

Khác với các loại đất cát, đất phù sa và đất xám, phần lớn đất Fq có tầng đất hữu hiệu

mỏng và thường có đá lộ đầu ở các mức độ khác nhau Loại đất này có đến 48% diện tích phân bố ở các độ dốc >150o, 21% diện tích ở độ dốc 8o – 150o và 31% diện tích

ở các độ dốc <80o Ở các cấp độ dốc <150o, tỷ lệ diện tích có đá lẫn xuất hiện ở độ

sâu từ 0 – 100 cm chiếm đến 60% và có đá lộ đầu chiếm khoảng 23% Đất Fq có

thành phần cơ giới nhẹ, từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, dinh dưỡng đa lượng ở mức độ trung bình đến rất nghèo [26]

Trang 39

Hình 1.2 Bản đồ đất Huyện Phú Quốc- Tỉnh Kiên Giang

Trang 40

e Hiện trạng sử dụng đất

Hình 1.3 Tình trạng sử dụng đất tại Huyện Phú Quốc, 2010

Ngày đăng: 27/05/2021, 22:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm