BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯƠNG VĂN NAM NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG THỜI ĐẠI CÁCH MẠN
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG VĂN NAM
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
SỰ THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã chuyên ngành: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: TRƯƠNG VĂN NAM MSHV: 16083621
Ngày, tháng, năm sinh: 20/11/1987 Nơi sinh: Tân Hiệp – Kiên Giang Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã chuyên ngành: 60340201
I TÊN ĐỀ TÀI:
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
- Xem xét yếu tố làm thay đổi công nghệ trong quá trình kinh doanh của ngân hàng thời đại CMCN 4.0
- Mức độ tác động của từng yếu tố đến thay đổi công nghệ trong ngành ngân hàng
- Hàm ý chính sách cho ngành ngân hàng thời kỳ CMCN 4.0 nhằm thay đổi công nghệ mới và khai thác hiệu quả công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 27 tháng 9 năm 2018
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 20 tháng 3 năm 2019
IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Phan Thị Hằng Nga
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 20 …
Trang 4i
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn này, em đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Nghiên cứu cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị…Đặc biệt hơn nữa là sự hợp tác của cán bộ giảng viên các trường: Cao đẳng Tài chính – Hải quan, Đại học Công nghiệp TP.HCM, Đại học Tài chính – Marketing và sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Phan Thị Hằng Nga – người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Công nghiệp, Đại học Kinh tế TP.HCM, Đại học Ngân hàng TP.HCM cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến
đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ
để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 3 năm 2019
Tác giả
Trương Văn Nam
Trang 5ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Bài nghiên cứu này phân tích các yếu tố tác động đến sự thay đổi công nghệ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0 tại Việt Nam Tác giả sử dụng phương pháp định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng để giải quyết vấn đề, cụ thể sử dụng thang đo và dữ liệu thu thập được kiểm định độ tin cậy Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, CFA và kiểm định mô hình hồi quy với mô hình cấu trúc tuyến tính SEM thông qua phần mềm AMOS Nghiên cứu khảo sát đề xuất sáu yếu tố: (1) Sự hữu ích, (2) dễ sử dụng, (3) sự tin tưởng, (4) yếu
tố xã hội, (5) yếu tố đổi mới, (6) yếu tố sự hiệu quả, tác động đến sự thay đổi công nghệ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 Trong đó, yếu tố “Sự hiệu quả” là yếu tố mới được đề xuất trong bối cảnh nghiên cứu Mặt khác, đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam lượng hóa được rõ nét được “các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi công nghệ trong ngân hàng” dựa trên nền tảng lý thuyết mô hình chấp nhận công nghệ và các lý thuyết có liên quan Yếu tố “hiệu quả” cũng là yếu tố mới được tác giả xây dựng trong mô hình nghiên cứu và lượng hóa được tác động của nó (HQ) đến sự thay đổi công nghệ Điều này giải thích lý do vì sao các nhà quản lý ngân hàng lại quyết định thay đổi/đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 05 yếu tố có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến sự thay đổi công nghệ của ngân hàng Từ kết quả nghiên cứu tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm giúp các nhà quản lý ngân hàng khai thác hiệu quả công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ thông tin, ngân hàng, Việt Nam
Trang 6iii
ABSTRACT
This research study analyzed the factors that led to some technological changes in banking business in the Fourth Industrial Revolution in Vietnam The research used both the qualitive and quantitive method to analyze the data collected The data were measured its internal consistency – Cronbach alpha, exploratory factor analysis (EFA), confirmatory factor analysis (CFA) and regression analysis with structuaral equation Model (SEM) using AMOS The research examined six factors: (1) usefulness, (2) user friendifness, (3) reliability, (4) social factors, (5) innovation, (6) effectiveness, wich influenced technologycal shift in banking business in Vietnam Particularly, effectiveness was the new factor proposed for this research project The results of the study indicated that only five factors resulted in changes
in technology of the bank According to the findings of the study, the research offered suggestions in oder to help the bank manager make use technology to enhance their business in the Fourth Industrial Revolution
Key words: The Fourth Industrial Revolution; Information Technology; Banking
Trang 7iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có)
đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Học viên
Trương Văn Nam
Trang 8v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ ii
ABSTRACT iii
LỜI CAM ĐOAN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH ix
DANH MỤC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 7
1.1 Tổng quan về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 7
1.1.1Khái niệm và nguồn gốc và CMCN 4.0 7
1.1.2Những nguyên lý chính của CMCN 4.0 8
1.1.3Những sản phẩm của CMCN 4.0 áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng 9
1.2 Tác động của cuộc CMCN 4.0 12
1.2.1Tác động đối với chính phủ 12
1.2.2Tác động đối với doanh nghiệp/mô hình kinh doanh 14
1.2.3Tác động tới ngành ngân hàng 16
1.2.3.1 Tác động tới chính sách tiền tệ quốc gia 16
1.2.3.2 Tác động tới mô hình tổ chức, mô thức quản trị của ngân hàng 18
1.2.3.3 Tác động đến kênh phân phối sản phẩm dịch vụ của ngân hàng 19
1.2.3.4 An ninh hệ thống ngân hàng 20
1.3 Quá trình phát triển của Fintech và sự thâm nhập vào hệ thống tài chính 21
1.3.1Khái niệm và các lĩnh vực hoạt động chính của Fintech 21
1.3.1.1 Khái niệm 21
1.3.1.2 Các lĩnh vực hoạt động chính của Fintech 23
1.3.2Quá trình phát triển của Fintech tại một số quốc gia và Việt Nam 24
1.3.2.1 Quá trình phát triển Fintech tại một số quốc gia 24
1.3.2.2 Sự phát triển của Fintech tại Việt Nam 25
Trang 9vi
1.3.3Những cơ hội và thách thức của công nghệ Fintech trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng 26
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 29
2.1 Lý thuyết về công nghệ và đổi mới công nghệ trong thời đại CMCN 4.0 29
2.1.1Lý thuyết về công nghệ 29
2.1.2Lý thuyết về sự đổi mới công nghệ 30
2.1.3Vai trò của đổi mới công nghệ trong thời đại CMCN 4.0 32
2.2 Các mô hình nghiên cứu liên quan đến việc chấp nhận và thay đổi công nghệ trong thời đại CMCN 4.0 32
2.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động kinh doanh ngân hàng trong thời đại CMCN 4.0 34
2.3.1Các nghiên cứu nước ngoài 34
2.3.2Các nghiên cứu trong nước 36
2.4 Khoảng trống nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thiết kế nghiên cứu 39
3.1.1Phương pháp nghiên cứu 39
3.1.1.1 Nghiên cứu định tính 39
3.1.1.2 Nghiên cứu định lượng 40
3.1.2Quy trình nghiên cứu 41
3.1.3Chọn mẫu nghiên cứu 43
3.2 Mô hình nghiên cứu 44
3.2.1Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu 44
3.2.1.1 Nhận thức sự hữu ích 44
3.2.1.2 Nhận thức dễ sử dụng 45
3.2.1.3 Sự tin tưởng 46
3.2.1.4 Ảnh hưởng xã hội 47
3.2.1.5 Tính đổi mới 47
3.2.1.6 Tính hiệu quả của sự thay đổi công nghệ 48
3.2.1.7 Sự thay đổi công nghệ 49
3.2.2Mô hình nghiên cứu đề xuất 49
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52
4.1 Đánh giá hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng hiện nay 52
Trang 10vii
4.1.1Sự phát triển của ngành ngân hàng 52
4.1.2Thị phần 53
4.1.3Lợi nhuận 55
4.1.4Xử lý nợ xấu 56
4.2 Đánh giá hoạt động sử dụng và khai thác công nghệ tại các ngân hàng 57
4.2.1Đánh giá tình hình sử dụng công nghệ trong các ngân hàng 57
4.2.2Thay đổi công nghệ và lợi nhuận của ngân hàng 58
4.2.3Phân tích ưu điểm nhược điểm trong quá trình sử dụng và khai thác công nghệ phục vụ hoạt động kinh doanh của các ngân hàng 61
4.2.3.1 Ưu điểm 61
4.2.3.2 Nhược điểm 62
4.3 Kết quả nghiên cứu định lượng 63
4.3.1Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 63
4.3.2Các công nghệ đang sử dụng tại ngân hàng và mức độ hiệu quả của công nghệ mang lại cho ngân hàng 65
4.3.3Đánh giá độ tin cậy của thang đo 66
4.3.3.1 Nhân tố Sự hữu ích (HI) 68
4.3.3.2 Nhân tố Dễ sử dụng (SD) 68
4.3.3.3 Nhân tố Sự tin tưởng (STT) 69
4.3.3.4 Nhân tố Xã hội (XH) 70
4.3.3.5 Nhân tố Đổi mới (DM) 70
4.3.3.6 Nhân tố Hiệu quả (HQ) 71
4.3.3.7 Nhân tố Sự thay đổi công nghệ (YD) 72
4.3.4Phân tích EFA 72
4.3.5Phân tích nhân tố khẳng định CFA 75
4.3.6Mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính SEM 81
4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 83
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
5.1 Kết luận 88
5.2 Một số đề xuất và khuyến nghị 90
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 11viii
PHỤ LỤC 1 102PHỤ LỤC 2 107
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 125
Trang 12ix
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Hệ sinh thái Fintech 22
Hình 1.2 Tỷ lệ các công ty Fintech theo lĩnh vực tại Việt Nam năm 2017 26
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 42
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 550
Hình 4.1 Mô hình phân tích nhân tố khẳng định CFA 80
Hình 4.2 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 82
Trang 13x
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các công ty Fintech, nhà đầu tư lớn và công nghệ áp dụng Fintech tại các
quốc gia 24
Bảng 4.1 Thống kê mô tả đối tượng nghiên cứu 64
Bảng 4.2 Thống kê mô tả đối tượng nghiên cứu 66
Bảng 4.3 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo HI lần 1 68
Bảng 4.4 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo HI lần 2 68
Bảng 4.5 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo SD 69
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định thang đo STT lần 1 69
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định thang đo STT lần 2 70
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định thang đo XH 70
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định thang đo DM 71
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định thang đo HQ 71
Bảng 4.11 Kết quả kiểm định thang đo YD 72
Bảng 4.12 Kiểm định KMO 73
Bảng 4.13 Kết quả EFA cho thang đo nhân tố 74
Bảng 4.14 Các chỉ số đánh giá sự phù hợp của mô hình với dữ liệu nghiên cứu 75
Bảng 4.15 Độ tin cậy tổng hợp và tổng phương sai rút trích các nhân tố 76
Bảng 4.16 Các hệ số chưa chuẩn hóa và đã chuẩn hóa 77
Bảng 4.17 Đánh giá giá trị phân biệt 78
Bảng 4.18 Tổng phương sai rút trích (AVE) của các nhân tố 79
Bảng 4.19 Ma trận tương quan giữa các khái niệm 79
Bảng 4.20 Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM 83
Trang 15đó có Việt Nam
Việt Nam có những điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận với CMCN 4.0 Với cơ cấu dân số trẻ, đa phần sống ở khu vực nông thôn nhưng trình độ học vấn và khả năng tiếp cận các dịch vụ công nghệ mới của người dân Việt Nam khá tốt so với các nước trên thế giới Tỷ lệ sử dụng điện thoại di động của người dân Việt Nam cũng đạt mức cao, trung bình một người dân sở hữu nhiều hơn một thuê bao di động Trong bối cảnh đó, ngành ngân hàng đang đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức to lớn Cùng với đó sự ra đời của hàng loạt công nghệ mới ứng dụng trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng (Fintech) đã và đang đem lại nhiều cơ hội cũng như thách thức cho ngành ngân hàng Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của công nghệ, điển hình
là kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 41
Trong hai thập kỷ qua, ngành tài chính nói chung và ngành ngân hàng nói riêng đã
bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự tiến bộ nhanh chóng và mạnh mẽ trong công nghệ thông tin và truyền thông (Ratten, 2008; Rishi và Saxena, 2004) Điều này chắc chắn đã thay đổi cách thức tổ chức các ngân hàng, chiến lược kinh doanh, mối quan
hệ với khách hàng và tất cả các chức năng cụ thể (Joseph và cộng sự, 1999; Joseph
& Stone, 2003; Mulligan và Gordon, 2002)
1 Bùi Quang Tiên, Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với ngành Ngân hàng Việt Nam và cơ hội, thách thức đối với lĩnh vực thanh toán, Tạp chí ngân hàng Số 8 ngày 05/6/2017
Trang 162
Đối với lĩnh vực kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam nói riêng và các tổ chức ngân hàng trên thế giới nói chung, cuộc CMCN 4.0 tạo ra nhiều cơ hội và thách thức CMCN 4.0 có thể tác động tới mô hình quản trị các hệ thống ngân hàng, ngân hàng điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt… nhờ sự xuất hiện của trí thông minh nhân tạo (AI - Artificial Intelligence) và tác động đến các kênh phân phối, sản phẩm dịch
vụ truyền thống của ngân hàng Khi đó, các giao dịch đơn thuần không chỉ là những giao tiếp đối với các nhân viên, cán bộ ngân hàng mà thay vào đó là một sự tiếp cận mới của trí tuệ nhân tạo Khách hàng có thể thanh toán hóa đơn, rút tiền, thực hiện các giao dịch mua bán mà không cần đến tiền mặt
Đối với mô hình tổ chức, quản trị tại các ngân hàng: AI – trí thông minh nhân tạo sẽ góp phần giúp các ngân hàng dễ dàng hơn trong việc quản lý các danh mục rủi ro, quản lý cơ sở dữ liệu và khách hàng Ngày càng rộng mở hơn việc ứng dụng sự phát triển của công nghệ thông tin đặc biệt là việc kết nối máy vi tính với các phần mềm ứng dụng trong ngân hàng đã ngày càng phổ biến hơn
Đối với kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống: Trong khoảng
10 năm trở lại đây, sự xuất hiện của điện thoại thông minh đã thay đổi hoàn toàn cách con người giao tiếp và tương tác, đồng thời kéo theo đó là sự thay đổi mạng lưới bán hàng, kênh phân phối và thiết kế các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Một thực tế cho thấy: kênh bán hàng qua internet, Mobibanking, Tablet Banking và một
số giao dịch không cần giấy tờ sẽ là một xu thế mạnh trong tương lai
Khoa học phân tích và quản lý dữ liệu trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng có nhiều thuận lợi hơn, nhờ việc xây dựng được những trung tâm dữ liệu lớn được giám sát bởi kỹ thuật công nghệ cao, giảm được chi phí, tiết kiệm thời gian và tạo ra được lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, những tiến bộ về kỹ thuật công nghệ bên cạnh đó cũng tiềm ẩn những nguy cơ về an ninh trong hoạt động giám sát tiền tệ - ngân hàng Thời gian gần đây, việc xảy ra việc mất tiền của khách hàng của tại các ngân hàng ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của công nghệ và chuyển dần sang điện toán đám mây, những lỗ hổng bảo mật cũng kéo
Trang 173
theo, gây nên những lo ngại nghiêm trọng về rủi ro tấn công của tin tặc Theo đó, cơ chế kiểm soát rủi ro trên các phương pháp truyền thống tại ngân hàng sẽ không còn phù hợp
Thị trường lao động trong lĩnh vực ngân hàng cũng sẽ chịu ảnh hưởng của cuộc CMCN 4.0 Với sự phát triển cao của công nghệ, ngân hàng sẽ cắt giảm bớt nhân viên vì hầu hết công việc đã được thực hiện thông qua thành tựu của trí tuệ nhân tạo Nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ gia tăng bởi khi đó ngân hàng sẽ đòi hỏi giỏi cả về chuyên môn nghiệp vụ ngân hàng và công nghệ thông tin
Sự phát triển mạnh mẽ của các đồng tiền ảo (Bitcoin, Onecoin, Lifecoin – 03 đồng tiền nổi tiếng nhất hiện nay) chính là hệ quả của sự phát triển mạnh mẽ của CMCN 4.0 trong lĩnh vực tài chính Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho rằng: “mức độ hiệu quả của các công cụ chính sách tiền tệ (CSTT) có thể bị ảnh hưởng xấu tới các chỉ số tiền tệ trong mục tiêu ổn định giá cả nếu đồng tiền này được chấp nhận rộng rãi trong tương lai”
Theo báo cáo nghiên cứu được đưa ra vào tháng 2/2016 của PwC (một trong bốn công ty kiểm toán hàng đầu thế giới hiện nay), đến năm 2020 – 2025, ngân hàng truyền thống (kinh doanh chủ yếu dựa vào hoạt động huy động vốn và cho vay) có thể dần biến mất và quy mô của khu vực ngân hàng theo đó sẽ thu hẹp đáng kể CMCN 4.0 tạo điều kiện cho các doanh nghiệp công nghệ tài chính – FinTech ngày càng phát triển, tạo ra sự cạnh tranh lớn trong lĩnh vực ngân hàng và làm thay đổi mạnh mẽ ngành dịch vụ tài chính Khảo sát của PwC cho thấy, ngành dịch vụ ngân hàng và thanh toán sẽ chịu nhiều áp lực nhất từ các công ty FinTech.2
Như vậy, để đánh giá các tác động của cuộc CMCN 4.0 đối với lĩnh vực kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam là điều cần thiết vì kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra được những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực và những thách thức mà ngân hàng gặp phải trong thời
kỳ của cuộc CMCN 4.0 Từ đó giúp cho các ngân hàng sẽ có được sự chuẩn bị, đầu
2 PwC (2016), Khảo sát “Những ranh giới bị xóa nhòa: Các FinTech đang định hình ngành dịch vụ tài
chính như thế nào?”;
Trang 184
tư thích ứng với sự phát triển của công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các ngân hàng
Chính vì vậy mà tác giả chọn đề tài “Những yếu tố tác động đến sự thay đổi công
nghệ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu là xem xét yếu tố làm thay đổi công nghệ trong quá trình kinh doanh của ngân hàng thời đại CMCN 4.0
Mức độ tác động của từng yếu tố đến thay đổi công nghệ trong ngành ngân hàng Hàm ý chính sách cho ngành ngân hàng thời kỳ CMCN 4.0 nhằm thay đổi công nghệ mới và khai thác hiệu quả công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các công nghệ đang được sử dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Ý định thay đổi công nghệ của ngân hàng trong thời kỳ CMCN 4.0
Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018, nguồn số liệu sơ cấp được điều tra từ các nhà quản lý ngân hàng trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6 đến cuối tháng 12 năm 2018
Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi tại Việt Nam
Về đối tượng khảo sát: Các nhà quản lý trong các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng đồng thời 2 cách tiếp cận là định tính và định lượng trong đó chủ yếu là định lượng Phương pháp sử dụng trong cách tiếp cận định tính là phân tích tài liệu, phỏng vấn ý kiến chuyên gia - là các lãnh đạo và các chuyên viên có kinh
Trang 195
nghiệm trong việc quản lý ngân hàng Đối với cách tiếp cận định lượng, phương pháp điều tra với Bảng hỏi được thiết kế sẵn được sử dụng để thu thập ý kiến của
các cán bộ, nhân viên đang làm việc tại ngân hàng
Phương pháp điều tra với công cụ bảng hỏi
Để xây dựng bảng hỏi, tác giả tiến hành nghiên cứu sơ bộ thông qua việc nghiên cứu định tính trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý thuyết tổng quan về lý thuyết hành vi và chấp nhận công nghệ, các mô hình đúc kết từ những nghiên cứu đi trước trên thế giới và ở trong nước Đồng thời, kết hợp với việc thảo luận và tham khảo ý kiến chuyên gia, những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý ngân hàng nhằm thiết lập bảng hỏi để tiến hành việc nghiên cứu chính thức tiếp theo
Bảng hỏi được xây dựng, thiết kế với nhiều Item dựa trên Thang đo Likert (5 điểm),
từ “rất không đồng ý” cho đến “rất đồng ý” Đầu tiên, các Item được đưa vào trong bảng hỏi để làm cơ sở cho việc phân tích nhân tố sau này được rút trích từ những nghiên cứu tiền lệ (David, 1989; Chan & Lu, 2004; Fishbein, 1989;…) về việc chấp nhận công nghệ, đặc biệt là những nghiên cứu ứng dụng mô hình TAM vào việc nghiên cứu sự chấp nhận công nghệ đối với hoạt động ngân hàng hay các dịch
vụ có ứng dụng công nghệ khác Sau đó, các item sẽ được chọn lọc và tổ chức lại để
có được thiết kế bảng hỏi phù hợp với nội dung, mục đích nghiên cứu cũng như với đối tượng nghiên cứu tại địa phương Đồng thời, bảng hỏi sẽ được tiến hành điều tra thử trên 50 nhân viên đang làm việc tại ngân hàng bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp để có những điều chỉnh về mặt nội dung cũng như ngôn ngữ phù hợp hơn,
để đối tượng điều tra dễ tiếp cận khi tiến hành nghiên cứu
Bảng hỏi thiết kế bao gồm 2 phần Trong phần đầu tiên, người được điều tra sẽ được yêu cầu trả lời các thông tin liên quan đến các đặc điểm về bản thân (giới tính, độ tuổi, thu nhập,…) và một số thông tin liên quan đến công việc tại ngân hàng; kinh nghiệm áp dụng và sử dụng công nghệ mới trong ngân hàng Ở phần thứ hai, đối tượng điều tra sẽ được yêu cầu đưa ra nhận định của mình (đồng ý/ không đồng ý) về các Item được đưa vào trong bảng hỏi dựa trên 5 mức độ của thang đo Likert
Trang 206
Ngoài ra, trong bảng hỏi điều tra tồn tại một số những câu hỏi có sự tương đồng về mặt ý nghĩa trong phần thông tin cá nhân ban đầu Sở dĩ có sự lặp lại đó, bởi những câu hỏi chéo này sẽ giúp cho công tác chọn lọc đối tượng điều tra được hiệu quả Đối tượng điều tra trả lời đồng nhất những câu hỏi chéo trên được xem những đối tượng đạt yêu cầu khi đã nhận thức, hiểu được nội dung phỏng vấn
Phương pháp chọn mẫu điều tra
Theo nghiên cứu của Hair và cộng sự (1998) đối với phân tích nhân tố khám phá EFA thì cỡ mẫu phải tối thiểu gấp 05 lần tổng số biến quan sát trong các thang đo (một biến quan sát cần có 5 quan sát ứng với 5 Đáp viên) Bảng hỏi của nghiên cứu này gồm 32 quan sát dùng trong phân tích nhân tố Do vậy cỡ mẫu tối thiểu cần đạt 32*5 = 160 quan sát
Đối với hồi quy bội thì theo Tabachnick và Fidell cỡ mẫu tối thiểu được tính bằng công thức: n >= 8m + 50 (m là số biến độc lập) Trong nghiên cứu này có 06 biến độc lập thì cỡ mẫu tối thiểu là 50 + 8*6 = 98 quan sát
Theo điều kiện thực tế, để có thể thực hiện tốt việc thu thập số liệu tác giả đã chọn mẫu phi xác suất theo kiểu thuận tiện
Phương pháp xử lý số liệu
Ngoài các phương pháp thống kê mô tả, tác giả dựa vào mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và mô hình hồi quy làm khuôn khổ phân tích chủ yếu Dữ liệu điều tra được xử lý trên phần mềm SPSS và phần mềm AMOS
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Cho các nhà quản lý Ngân hàng thấy được thực trạng về công nghệ và yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng và thay đổi công nghệ trong ngành ngân hàng Từ đó ngành ngân hàng có những thay đổi phù hợp trong giai đoạn CMCN 4.0
Trang 217
1.1 Tổng quan về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
1.1.1 Khái niệm và nguồn gốc và CMCN 4.0
Khái niệm Industry 4.0 hay là Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (The Fourth Idustrial Revolution - FIR) lần đầu tiên được đề cập trong bản Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao được chính phủ Đức thông qua vào năm 2012 Industry 4.0 (tiếng Đức là Industrie 4.0) là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, xu hướng trao đổi dữ liệu, công nghiệp chế tạo và sản xuất thông minh (Klaus Schwab, 2016)
CMCN 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các “nhà máy thông minh” với cấu trúc đa dạng và linh hoạt, tại đó các hệ thống vật lý không gian ảo sẽ giám sát các quá trình, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật lý Với Internet của vạn vật (IOT- Internet of Things)3, các hệ thống vật lý không gian ảo này tương tác với nhau và với con người theo thời gian thực; sau đó, thông qua Internet của các dịch
vụ (IOS – Internet of Services), người dùng sẽ được tham gia vào chuỗi giá trị thông qua việc sử dụng các dịch vụ này - đồng nghĩa với sự phức tạp của mạng lưới sản xuất và nhà cung cấp sẽ tăng lên rất nhiều Thông qua việc kết nối này, các doanh nghiệp sẽ tạo ra những mạng lưới thông minh trong toàn bộ chuỗi giá trị để
có thể kiểm soát lẫn nhau một cách tự động, qua đó giúp xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học Điều này cho phép tùy biến sản phẩm để phù hợp với khách hàng và tạo ra các mô hình hoạt động mới CMCN 4.0 được hình thành trên nền tảng của cuộc cách mạng thứ 3 (còn gọi là cách mạng kỹ thuật số -
sử dụng các thiết bị điện tử, công nghệ thông tin (CNTT) để tự động hóa hơn nữa
3 IoT là mối quan hệ giữa vạn vật (các sản phẩm, dịch vụ, địa điểm, v.v…) và con người thông qua các công nghệ kết nối và các nền tảng khác nhau Nói cách khác IoT chính là sự kết nối các qui trình sản xuất và các yếu tố sản xuất (con người, máy móc, nguyên nhiên vật liệu) trong môi trường Internet và công nghệ cao
Trang 228
quá trình sản xuất)4 CMCN 4.0 có đặc điểm là thông minh hóa sản xuất, mang tính tích hợp cao, linh hoạt và thân thiện với môi trường; cuộc cách mạng này không chỉ giới hạn ở tự động hóa, hệ thống thông minh và được kết nối, mà còn bao trùm phạm vi rộng lớn bao gồm các làn sóng phát triển của những đột phá trong các lĩnh vực khác nhau: từ mã hóa chuỗi Gen cho tới công nghệ Nano, in 3D, từ các năng lượng tái tạo tới tính toán lượng tử Nói cách khác, đây là sự dung hợp của các công nghệ này và sự tương tác của chúng trên các lĩnh vực vật lý, số và sinh học - đây là yếu tố căn bản khiến CMCN 4.0 khác biệt với các cuộc cách mạng trước đó Một ví
dụ cho CMCN 4.0 là những cỗ máy có thể dự đoán những thất bại và quy trình bảo trì kích hoạt độc lập hoặc việc tự tổ chức công tác hậu cần để phản ứng với những thay đổi bất ngờ trong sản xuất Trong cuộc cách mạng này, các công nghệ mới nổi
và sự đổi mới trên diện rộng được khuếch tán nhanh hơn và rộng rãi hơn so với những lần trước - có thể coi đây là biến động lớn thứ tư với tác động mạnh mẽ nhất trong sản xuất chế tạo hiện đại, sau cách mạng điện những năm 1970, cách mạng gia công những năm 1990, và cách mạng tự động hóa diễn ra trong những năm
2000 Trên thực tế, CMCN lần thứ hai chưa đến được với 17% dân số của thế giới - ước tính khoảng gần 1,3 tỷ người chưa tiếp cận được với điện CMCN lần thứ ba vẫn chưa đến được với hơn nửa dân số thế giới, 4 tỷ người, phần lớn đang sống trong các nước đang phát triển vẫn thiếu tiếp cận Internet (Hermannn, Pentek & Otto, 2015)
1.1.2 Những nguyên lý chính của CMCN 4.0
Có bốn nguyên lý được thiết lập cho CMCN 4.0, hỗ trợ cho việc xác định và thực hiện các kịch bản của CMCN 4.0, bao gồm:
Thứ nhất, khả năng kết nối Khả năng máy móc, thiết bị, vật cảm biến và con người
có thể kết nối và giao tiếp với nhau thông qua Internet (IOT hoặc IOP)
Trang 239
Thứ hai, minh bạch thông tin Khả năng các hệ thống thông tin có thể tạo ra một
bản sao ảo của thế giới vật lý thông qua việc làm phong phú thêm các mô hình kỹ thuật số với các dữ liệu cảm biến Điều này đòi hỏi sự tập hợp của nguồn dữ liệu cảm biến đối với nguồn thông tin có giá trị cao hơn
Thứ ba, hỗ trợ kỹ thuật Nguyên lý này bao hàm hai vấn đề: một là, khả năng các hệ
thống hỗ trợ có thể hỗ trợ cho con người thông qua việc tập hợp và hiển thị thông tin để đưa ra những quyết định và giải quyết các vấn đề khẩn cấp trên một bản thông báo ngắn Hai là, khả năng các hệ thống điều khiển - có thể hỗ trợ về mặt vật
lý cho con người bằng cách giải quyết một loạt các trạng thái như khó chịu, quá mệt mỏi, hoặc không an toàn
Thứ tư, việc quyết định được phân cấp sâu hơn Khả năng các hệ thống điều khiển -
vật lý đưa ra các quyết định của riêng mình và tự thực hiện các nhiệm vụ nếu có thể Chỉ trong trường hợp ngoại lệ, khi bị nhiễu hoặc các mục tiêu mâu thuẫn lẫn nhau thì các nhiệm vụ được thực hiện ở một cấp độ cao hơn
1.1.3 Những sản phẩm của CMCN 4.0 áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng
Theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố tháng 9/2015, 21 sản phẩm công nghệ sẽ định hình trong tương lai dựa trên công nghệ kỹ thuật số và thế giới siêu kết nối5, bao gồm: quần áo kết nối với Internet; những sản phẩm cảm biến kết nối với Internet; lưu trữ dữ liệu không giới hạn và miễn phí trên người (có kèm quảng cáo); dược sĩ Robot; mắt kính kết nối với Internet; số đông dân số hiện diện trên Internet; ôtô được sản xuất hoàn toàn bằng công nghệ in 3D; điều tra dân số bằng các nguồn dữ liệu lớn; điện thoại di động cấy ghép vào người; sản phẩm tiêu dùng được sản xuất bằng công nghệ in 3D; điện thoại thông minh; xe không người lái; cấy ghép gan bằng công nghệ in 3D…
5 Các sản phẩm này được xác định thông qua một cuộc khảo sát được tiến hành bởi hội đồng nghị sự toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới, trong đó có hơn 800 giám đốc điều hành và chuyên gia từ các lĩnh vực thông tin và công nghệ truyền thông tham gia
Trang 2410
Trong lĩnh vực Tài chính – ngân hàng, CMCN 4.0 tạo ra nhiều sản phẩm áp dụng hiệu quả cho ngân hàng, giúp ngân hàng quản lý tốt hơn, mang lại nhiều giá trị tiện ích và mang lại hiệu quả kinh doanh tốt hơn Các sản phẩm công nghệ ngân hàng đang áp dụng gồm các công nghệ sau:
- Digital Banking hay ngân hàng số: là ngân hàng có thể thực hiện hầu hết các
giao dịch ngân hàng bằng hình thức trực tuyến thông qua internet Giao dịch của ngân hàng số không phải đến chi nhánh ngân hàng và giảm thiểu đến mức tối đa những thủ tục giấy tờ liên quan Đồng thời tính năng của ngân hàng số có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi không phụ vào thời gian không gian nên khách hàng hoàn toàn chủ động Ngân hàng số không chỉ làm nền tảng kỹ thuật số cải thiện sự tương tác với khách hàng và giúp những nhu cầu của khách hàng được đáp ứng nhanh hơn, ngân hàng số cũng cung cấp các phương pháp để làm cho các chức năng nội bộ hiệu quả hơn.Bên cạnh đó, Ngân hàng số là một trong những chìa khóa để các ngân hàng cắt giảm chi phí thông qua các ứng dụng tự động thay cho lao động thủ công Nền tảng kỹ thuật số trong tương lai có thể giảm chi phí thông qua sự hỗ trợ của dữ liệu mạng và phân tích, xử lý nhanh hơn với những thay đổi của thị trường Nền tảng công nghệ của ngân hàng số sẽ giúp tính toán, xử lý cũng như ghi nhận những giao dịch, biến động một cách chính xác tuyệt đối Các giao dịch hay bất kìa phát sinh nào trên tài khoản ngân hàng, khách hàng đều nhận được mã OTP cho mỗi lần giao dịch và nhận được tin nhắn hoặc email thông báo Khách hàng hoàn toàn có thể yên tâm về tính bảo mật của ngân hàng số
- Big Data: đang có vai trò lớn trong lĩnh vực ngân hàng với các ứng dụng cụ thể
như: phân tích, phân loại sự hài lòng và hành vi khách hàng; phân tích phát hiện và cảnh báo, ngăn chặn các hành vi rủi ro, giả mạo; tối ưu hóa hoạt động xử lý dữ liệu trong quá trình vận hành phân tích và hỗ trợ ra quyết định… Bên cạnh đó, sự đa dạng với dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau đặc thù của hoạt động ngân hàng tạo ra một nguồn dữ liệu khổng lồ từ những dữ liệu có cấu trúc như lịch sử giao dịch, hồ
sơ khách hàng tới những dữ liệu phi cấu trúc như hoạt động của khách hàng trên web, ứng dụng mobile,… ứng dụng Big Data để khai thác các dữ liệu này sẽ đem
Trang 2511
lại lợi thế cạnh tranh và những hiệu quả to lớn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Big Data nổi bật so với dữ liệu truyền thống bởi lượng dữ liệu lớn hơn nhiều lần, tốc độ xử lý cao không chỉ bao gồm khả năng truy xuất, phân tích, xử lý gần như tức thời mà bao gồm cả sự đáp ứng với tốc độ thay đổi dữ liệu lớn và thường xuyên
- Chatbot:Sự phát triển mạnh mẽ của xã hội và công nghệ đã đòi hỏi các giao dịch cần nhanh chóng, thuận tiện, mọi lúc, mọi nơi và hỗ trợ kịp thời 24/7/365 Đó là một lý do khiến các ngân hàng dần tính toán đến việc áp dụng công nghệ để dần bổ sung và thay thế công việc cơ bản của con người Chatbot đóng vai trò là Trợ lý ảo:
Tự động trả lời cùng lúc cho nhiều KH các câu hỏi/hoặc cung cấp thông tin, tự động trả lời tin nhắn, chăm sóc khách hàng, ví dụ:
+ Lãi suất, tỉ giá: KH hỏi (hoặc lựa chọn menu dựa trên gợi ý có sẵn) về tỉ giá, lãi suất… Chatbot sẽ phân tích và hiểu câu hỏi, sau đó truy vấn dữ liệu tức thời về lãi suất và tỉ giá để đưa ra thông tin cho KH
+ Biểu phí, quy trình, địa điểm ATM… mọi lúc, mọi nơi và ngay lập tức mà không cần có sự tác động của con người
+ Giới thiệu sản phẩm: Tự động chào bán hàng, giới thiệu sản phẩm đến KH đang tham gia tương tác dựa trên đặc tính, thông tin của họ, gửi tin nhắn hàng loạt đến tất cả các thành viên đã trò chuyện trước đó (tỉ lệ đọc cao hơn nhiều lần so với kênh website/email truyền thống)
+ Tìm kiếm, thu thập thông tin: Lưu trữ dữ liệu lịch sử, thông tin, hành vi… dựa trên các thông tin được cung cấp trước đó
+ Giao dịch trực tuyến: Cung cấp dịch vụ giao dịch: Thanh toán, mua bán, vấn tin hoặc tìm kiếm địa điểm… Hai tài khoản trên mạng có thể thông qua kênh Chat để giao dịch với nhau như với các ứng dụng trực tuyến khác
Blockchain: Hiện nay, công nghệ Blockchain được đánh giá là công nghệ bảo mật
tuyệt đối với tốc độ xử lý nhanh chóng Do đó, Blockchain đang là xu hướng ứng dụng được nhiều ngân hàng nghiên cứu triển khai Theo khảo sát của hãng công
Trang 2612
nghệ IBM thì trong 4 năm tới, 66% ngân hàng trên thế giới cho biết sẽ triển khai công nghệ Blockchain ở quy mô thương mại Hiện tại, phần lớn các ngân hàng vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm HSBC và State Street đã thử nghiệm thành công Blockchain trong các giao dịch trái phiếu
Một đặc thù của các ngân hàng là các quy trình thường bị chậm do phải chờ hoạt động kiểm tra của bên thứ ba Nhưng khi được ứng dụng, Blockchain loại bỏ yêu cầu sử dụng của một tổ chức trung gian nên sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ thanh toán, hạ thấp chi phí trong các giao dịch Ví dụ như thay vì phải đợi nhiều ngày để thanh toán một tấm séc, một khoản thanh toán; Blockchain cho phép kiểm tra, xác thực tấm séc, tài khoản đó trong vòng vài giây Do đó, sẽ không còn tình trạng “tạm ứng trước” bởi các khoản ghi có và ghi nợ vào tài khoản là tức thời
Hiện nay, số đông các ngân hàng đã nhận thấy sự thích hợp của công nghệ Blockchain đối với hoạt động giao dịch tài chính không dùng tiền mặt Vì vậy trên thế giới, một liên minh với sự tham gia của 53 ngân hàng đang tiến hành làm việc cùng nhau để khắc phục những điểm yếu của Blockchain, nhằm tăng cường tính riêng tư trong các giao dịch Với bản chất phân tán của dữ liệu theo chuỗi khối, khả năng bị hack gần như không có, công nghệ Blockchain đang được kỳ vọng sẽ là
“Vệ sĩ mới” trong ngân hàng
1.2.1 Tác động đối với chính phủ
Đặng Quang Vinh - Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng: CMCN4.0 sẽ có tác động hai chiều đến thể chế của nhà nước Một mặt, CMCN 4.0 sẽ đòi hỏi và thúc đẩy sự thay đổi về thể chế Mặt khác, chính những công cụ mới trong thời đại 4.0 giúp cho quản lý nhà nước trở nên hiệu quả hơn
Về mặt thứ nhất, tư duy quản lý nhà nước trong thời đại CMCN 4.0 sẽ phải thay đổi Nghiên cứu của CIEM chỉ ra rằng, cần có sự chuyển đổi nhanh chóng từ mô hình hiện tại sang "nhà nước số" Đây là bước phát triển cao hơn, tiếp theo sau Chính phủ điện tử - điều đang được xây dựng ở Việt Nam Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra
Trang 2713
là vừa phải hoàn thiện Chính phủ điện tử ở cấp độ cao nhất, vừa phải xây dựng hệ thống thể chế mới Trong đó, cần có thể chế cho thương mại điện tử, kinh tế chia sẻ; điều tiết kinh doanh thông minh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh trên nền tảng số
Về mặt thứ hai, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Blockchain, Fintech, dữ liệu lớn (Big data), và những công nghệ trong CMCN 4.0 trong quản lý và quy hoạch giúp tối ưu hóa nguồn lực phát triển Sự phát triển của ngành viễn thông là hạ tầng kỹ thuật cho việc hình thành cơ sở dữ liệu, kết nối dữ liệu
Trong thời đại của kinh tế số, với những thay đổi to lớn của cuộc cách mạng công nghệ thì ranh giới giữa các quốc gia đang dần bị xóa mờ, chính phủ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo một môi trường chính sách thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và thế giới Để thực sự đón đầu những thay đổi của cuộc CMCN 4.0, Chính phủ cần phải thật sự đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp
Tư duy xây dựng pháp luật bị bó buộc bởi các yếu tố địa lý hoàn toàn không còn phù hợp để quản lý các mô hình kinh doanh dịch vụ công nghệ trong thời đại số Những tư tưởng quản lý bất cập như vậy có nguy cơ tạo tiền lệ cho các cơ quan quản lý nhà nước quay trở lại với xu hướng áp đặt các điều kiện kinh doanh, rào cản
kỹ thuật, gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường kinh doanh, làm giảm sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
Khi thế giới vật lý số và sinh học đang tiếp tục xích lại gần nhau hơn thì công nghệ
và thiết bị sẽ ngày càng cho phép người dân tiếp cận gần hơn tới Chính phủ để nêu
ý kiến, cùng phối hợp hoạt động Đồng thời, các Chính phủ cũng sở hữu sức mạnh
về công nghệ để tăng cường sự lãnh đạo của mình đối với người dân dựa trên những
hệ thống giám sát rộng rãi và khả năng điều khiển hạ tầng số Tuy nhiên, xét về tổng thể, các Chính phủ sẽ ngày càng phải đối mặt với áp lực phải thay đổi cách thức tiếp cận hiện nay của họ đối với sự tham gia của công chúng và quy trình đưa
ra quyết định khi vai trò trung tâm của họ trong việc thực thi chính sách suy giảm
Trang 2814
trước sự xuất hiện của các nguồn cạnh tranh mới, sự phân phối lại và phân bổ quyền lực dưới sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ Xét cho cùng, khả năng các cơ quan Chính phủ và tổ chức xã hội có thể thích ứng sẽ quyết định sự tồn tại của họ Nếu chứng minh được khả năng có thể bắt kịp một thế giới với những thay đổi đột phá, cải thiện cơ cấu để đạt mức minh bạch và hiệu quả để cho phép họ duy trì được lợi thế cạnh tranh của mình, họ sẽ tồn tại Ngược lại, nếu không thể cải thiện, họ sẽ phải đối mặt với ngày càng nhiều vấn đề
Trên cơ sở đó, với những thay đổi mạnh mẽ của cuộc cách mạng số, Chính phủ cần phải thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng với những bước đi rõ ràng để thật sự tạo ra những sự thay đổi hiệu quả cho quốc gia trong kỷ nguyên số hóa Nếu Chính phủ không có những sự thay đổi kịp thời sẽ dẫn đến sự phát triển thụt lùi cùng những hậu quả không hề nhỏ
1.2.2 Tác động đối với doanh nghiệp/mô hình kinh doanh
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên quy mô toàn cầu và tác động trực tiếp tới nền kinh tế Việt Nam; trong đó các doanh nghiệp là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp Một số lĩnh vực tác động quan trọng nổi lên: kỳ vọng của người tiêu dùng, dữ liệu/thông tin sản phẩm, hợp tác đổi mới và các mô hình hoạt động mới, các dịch vụ và mô hình kinh doanh, độ tin cậy và năng suất liên tục, an toàn công nghệ thông tin, an toàn trong hoạt động của cơ khí, vòng đời sản phẩm, chuỗi giá trị công nghiệp, giáo dục và kỹ năng lao động cho công nhân…
Theo Lê Hoài Quốc (2018), CMCN 4.0 vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho các doanh nghiệp Việt; trong đó, có những ngành sẽ tăng trưởng mạnh mẽ, ngược lại cũng có những ngành sẽ phải thu hẹp đáng kể Nhìn chung, các ngành du lịch, thương mại nội địa, công nghệ thông tin, giáo dục, y tế, xây dựng được hưởng lợi từ nền tảng kết nối dữ liệu, số hóa Trong khi đó, một số ngành như năng lượng, điện, điện tử, công nghiệp chế tạo, dệt may lại phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến chi phí điều chỉnh trong ngắn hạn và trung hạn Tuy nhiên, không phải tất cả các doanh nghiệp trong ngành hàng sẽ cùng tăng trưởng hay cùng gặp khó khăn
Trang 2915
Xuyên suốt tất cả các ngành công nghiệp, bằng chứng rõ ràng rằng các công nghệ là nền tảng cho cuộc CMCN 4.0 đang có tác động lớn đến các doanh nghiệp Về phía cung, nhiều ngành công nghiệp đang thấy sự ra đời của các công nghệ mới tạo ra những phương thức hoàn toàn mới đáp ứng các nhu cầu hiện tại và phá vỡ đáng kể các chuỗi giá trị công nghiệp hiện có Sự phá hủy cũng xuất hiện từ những đối thủ cạnh tranh sáng tạo, nhanh nhạy, những người nhờ tiếp cận với các nền tảng kỹ thuật số toàn cầu cho nghiên cứu, triển khai, tiếp thị, bán hàng và phân phối, có thể lật đổ những người đương nhiệm nhanh hơn bao giờ hết bằng cách cải thiện chất lượng, tốc độ, hay giá cả đối với giá trị cung cấp Những thay đổi lớn về phía cầu cũng đang xảy ra, như minh bạch ngày càng tăng, sự tham gia của người tiêu dùng,
và các hình mẫu mới về hành vi của người tiêu dùng (ngày càng được xây dựng dựa trên sự truy cập vào các mạng di động và dữ liệu) buộc các công ty thích nghi với cách họ thiết kế, tiếp thị và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ Một xu hướng chính
là sự phát triển của các nền tảng công nghệ tạo khả năng, cho phép kết hợp cả cung
và cầu để phá vỡ cấu trúc ngành công nghiệp hiện có, chẳng hạn như những nền tảng mà chúng ta thấy trong nền kinh tế "chia sẻ" hoặc "theo yêu cầu" Những nền tảng công nghệ, dễ dàng sử dụng với các điện thoại thông minh, tập hợp con người, tài sản, và dữ liệu Do đó, tạo ra những cách thức tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn mới trong quá trình này Ngoài ra, chúng hạ thấp các rào cản đối với các doanh nghiệp và cá nhân để tạo ra sự giàu có, làm thay đổi môi trường cá nhân và chuyên môn của người lao động Các doanh nghiệp nền tảng mới này đang nhanh chóng nhân ra nhiều dịch vụ mới Cuộc CMCN 4.0 có bốn tác động chính đối với doanh nghiệp: (1) những kỳ vọng của khách hàng; (2) nâng cao sản phẩm; (3) đổi mới hợp tác và (4) các hình thức tổ chức
Cho dù là người tiêu dùng hay doanh nghiệp, thì khách hàng đang ngày càng trở thành trung tâm của nền kinh tế, tất cả đều nhằm làm thế nào cải thiện cách thức phục vụ khách hàng Hơn nữa, các sản phẩm vật chất và dịch vụ giờ đây có thể được tăng cường với khả năng số hóa làm tăng giá trị của chúng Các công nghệ mới làm cho tài sản bền và linh hoạt hơn, còn dữ liệu và phân tích đang thay đổi
Trang 3016
cách thức chúng được duy trì Trong khi đó, một thế giới những trải nghiệm của khách hàng, các dịch vụ dựa trên dữ liệu và hiệu suất tài sản thông qua phân tích đòi hỏi phải có các hình thức hợp tác mới, đặc biệt là với tốc độ đang diễn ra của đổi mới và phá hủy Và cuối cùng, sự xuất hiện của các nền tảng toàn cầu và các mô hình kinh doanh mới khác có nghĩa là tài năng, văn hóa và hình thức tổ chức sẽ phải được xem xét lại Nhìn chung, sự thay đổi không tránh khỏi từ số hóa đơn giản (CMCN lần thứ 3) sang đổi mới dựa trên sự kết hợp của các công nghệ (CMCN lần thứ 4) đang buộc các công ty phải xem xét lại cách thức kinh doanh Tuy nhiên, điểm mấu chốt là như nhau: các nhà lãnh đạo kinh doanh và điều hành cấp cao cần phải hiểu môi trường thay đổi của họ, thách thức các giả định của nhóm điều hành của họ, đổi mới không ngừng và liên tục Các chuyên gia cho rằng, trong tương lai không xa, sản phẩm, con người và máy móc sẽ giao tiếp với nhau như trên mạng xã hội Để duy trì tính cạnh tranh, các nhà máy sẽ phải cung cấp các thiết kế tùy chỉnh
và có khả năng thay đổi sản phẩm nhanh chóng; sử dụng IoT và các công nghệ khác
để số hóa toàn bộ qui trình, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường; hợp nhất mạng lưới sản xuất dùng giải pháp quản lý vòng đời sản phẩm (PLM) dựa trên Internet để nhân viên có thể làm việc thông qua mạng; dùng robot bán tự động làm việc bên cạnh con người để tăng năng suất và vẫn đảm bảo chất lượng; phân tích dữ liệu thu thập được về khách hàng để cung cấp các dịch vụ kỹ thuật số mới
Một ví dụ khác là Airbnb, Grap và Uber Việc phát triển ngày một rộng của Internet vạn vật cho phép các công ty này tiếp cận tốt hơn với từng đơn vị, từ đó có thể theo dõi và đánh giá hiệu quả của họ trong thời gian thực Như vậy, với Cuộc CMCN lần thứ 4, các doanh nghiệp có thể khởi nghiệp dễ dàng hơn, vốn ít hơn trong khi mang lại lợi nhuận lớn trong thời gian ngắn hơn
1.2.3 Tác động tới ngành ngân hàng
1.2.3.1 Tác động tới chính sách tiền tệ quốc gia
Theo nhà nghiên cứu Phùng Lê Hiền Vân & Lê Ngọc Tú, 2018 - Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia: “đáng lưu ý nhất trên thị trường tài chính hiện nay là sự phát
Trang 3117
triển và dần được chấp nhận rộng rãi của các đồng tiền điện tử không do các ngân hàng trung ương phát hành (như Bitcoin, Onecoin, Lifecoin) Về phương diện thị trường tài chính, việc đầu tư vào tiền điện tử còn khá nhiều rủi ro cho nhà đầu tư khi giá của các đồng tiền này biến động với biên độ lớn trong các phiên giao dịch Về phía các nhà điều hành chính sách, sự xuất hiện của tiền điện tử có thể sẽ gây ảnh hưởng đến hiệu quả của các chính sách tiền tệ ở mỗi quốc gia, đặc biệt là vấn đề tỷ giá và lãi suất…”
Sự phát triển của đồng tiền điện tử (Bitcoin) buộc NHTW các nước phải thay đổi điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) để thích ứng Bitcoin là bằng chứng rõ ràng nhất về sự ra đời và phát triển của đồng tiền điện tử không do NHTW phát hành Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của tiền điện tử đã đặt ra nhiều vấn đề cho NHTW các nước Trên thực tế, nhiều ý kiến cho rằng ngay cả khi tiền điện tử khó
có thể thay thế tiền tệ của một quốc gia, tác động nhất định của nó tới việc điều hành CSTT ở các NHTW là không thể phủ nhận Ngân hàng Trung ương (NHTW) Châu Âu (ECB) cũng cho rằng mức độ hiệu quả của các công cụ CSTT có thể bị ảnh hưởng bởi sự chấp nhận rộng rãi tiền điện tử Sự xuất hiện của đồng tiền này có thể tác động xấu tới các chỉ số tiền tệ trong mục tiêu ổn định giá cả
Nghiên cứu “Đánh giá tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và một
số định hướng hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam” của Ủy ban Kinh tế Trung ương (2016) đã chỉ ra rằng: Một trong những điểm quan trọng quyết định ảnh hưởng của tiền điện tử đối với CSTT là tổ chức phát hành Nếu tổ chức phát hành là các ngân hàng, CSTT không hề bị ảnh hưởng vì tiền điện tử lúc này chỉ là một dạng khác của tiền mặt thông thường Nếu tổ chức phát hành không phải là ngân hàng mà
là một tổ chức trong nước, tiền điện tử có thể được coi như một dạng séc du lịch và được tính như một phần của cung tiền Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn khi tổ chức phát hành này ở nước ngoài vì khi đó NHTW không có thẩm quyền đối quản lý và giám sát họ Điều này tác động tới việc tính toán và đo lường cung tiền, cũng như hiệu quả hoạt động của các công cụ CSTT, giống với các quốc gia mà đồng USD hay ngoại tệ mạnh được lưu hành như một hình thức thanh toán thay thế Bên cạnh đó,
Trang 3218
vì tiền điện tử có thể làm cho việc giao dịch ngoại hối trở nên hết sức dễ dàng nên NHTW cũng phải đối mặt với rủi ro rơi vào tình trạng giống đô la hóa chỉ đơn giản bằng một vài cú nhấp chuột Dạng tiền điện tử cũng ảnh hưởng tới tác động của tiền điện tử đối với CSTT Ở dạng không trực tuyến (offline), tiền điện tử có thể dễ kiểm soát hơn đối với NHTW Các cửa hàng sẽ ưu tiên các hệ thống nội địa, trong khi đó khách hàng cũng sẽ chọn những hệ thống nội địa vì tính dễ được chấp nhận Ngược lại, đối với tiền điện tử trực tuyến (online), do không hề có giới hạn vật lý về phương thức cũng như công cụ thanh toán, người dùng có thể tùy ý lựa chọn dịch
vụ nào phù hợp nhất với họ Do đó, người dùng có thể lựa chọn những nhà cung cấp nằm ngoài sự kiểm soát của các NHTW, gây ra những vấn đề như đã đề cập ở trên Ngoài ra, sự phát triển của tiền điện tử cũng có thể có những tác động tới hệ số tạo tiền Cụ thể, việc tiền điện tử được sử dụng rộng rãi có thể làm tăng hiệu quả của hệ thống thanh toán, thanh toán đa quốc gia sẽ trở nên cực kì thuận lợi, qua đó đẩy nhanh tốc độ lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế Những tác động này cần phải được tính đến trong tương lai, khi tiền điện tử trở nên phổ biến hơn
1.2.3.2 Tác động tới mô hình tổ chức, mô thức quản trị của ngân hàng
Trí thông minh nhân tạo AI - Aritificial Inteligence sẽ là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến mô thức quản trị ở các ngân hàng AI đang là trọng tâm phát triển của rất nhiều công ty công nghệ lớn trên thế giới như Google Trong tương lai gần, các ngân hàng có thể ứng dụng AI trong việc quản lý danh mục rủi ro, quản lý khách hàng và quản lý cơ sở dữ liệu để gia tăng khả năng cung cấp sản phẩm dịch
vụ và quản lý của mình Với khả năng tự học hỏi và thích nghi, tiềm năng của AI là không giới hạn trong các ứng dụng, vì vậy yêu cầu đặt ra đối với ngành ngân hàng trong tương lai là nắm bắt được xu hướng, ứng dụng cách làm việc và kiểm soát AI
để đảm bảo hoạt động ngân hàng diễn ra an toàn, hiệu quả Mô hình ngân hàng số hoạt động dựa trên nền tảng công nghệ thông qua các thiết bị số kết nối với các phần mềm máy tính qua môi trường mạng Internet trên thực tế đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn bộ cấu trúc hệ thống của ngân hàng CMCN 4.0 cũng sẽ tạo ra những
Trang 3319
bước tiến mới trong thay đổi cách giao tiếp và xử lý nghiệp vụ thông qua tương tác
và giao tiếp điện tử
1.2.3.3 Tác động đến kênh phân phối sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Sự phát triển mạnh mẽ của các sản phẩm dịch vụ có ứng dụng công nghệ cao, với những tiện ích to lớn mà những sản phẩm này mang lại đặt ra nhiều vấn đề cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trước đây, sản phẩm dịch vụ của ngân hàng được triển khai đến khách hàng thông qua con đường truyền thống thì ngày nay, với sự phát triển của điện thoại thông minh (Smartphone) đã thay đổi hoàn toàn cách con người giao tiếp và tương tác, kéo theo sự thay đổi trong kênh phân phối, mạng lưới bán hàng và cách thiết kế sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng
Theo Báo cáo của Viện Chiến lược ngân hàng (2016) đánh giá tác động của cuộc CMCN 4.0 và một số định hướng hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam: kênh bán hàng qua Internet, Mobilebanking, Tablet Banking, mạng xã hội (Social Media), phát triển ngân hàng số và giao dịch không giấy tờ sẽ là xu thế phát triển mạnh Trải nghiệm khách hàng sẽ là xu hướng vượt trội, ở một số nước phát triển,
kể cả các nước đang phát triển đã xuất hiện ngày càng nhiều "ngân hàng không giấy" Nhờ ứng dụng chuyển đổi kỹ thuật số, các sản phẩm của ngân hàng có thể tích hợp được với nhiều sản phẩm dịch vụ phụ trợ để làm hài lòng khách hàng Việc áp dụng các nguyên tắc của CMCN 4.0, các vấn đề như giao diện lập trình ứng dụng (API), phân phối liền mạch hay phân tích thông minh (Intelligence analytics)
sẽ là những ứng dụng phổ biến trong hoạt động phát triển sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao của các ngân hàng Ngoài ra, dữ liệu lớn (Big Data) và phân tích hành vi khách hàng cũng đang trở thành xu hướng tương lai cho thời đại công nghệ số khi có thể thu thập dữ liệu bên trong và bên ngoài thông qua tổ chức phân tích hành vi khách hàng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, mang lại giá trị gia tăng, tiết giảm chi phí và hỗ trợ cho các quá trình ra quyết định
Theo báo cáo Mobile banking được thực hiện bởi KPMG tháng 7/2015, có thể khẳng định Mobile banking đang là xu hướng bùng nổ nhất và là kênh lớn nhất
Trang 3420
chiếm khối lượng giao dịch nhiều nhất Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều khách hàng chuyển sang sử dụng máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh để tiến hành các giao dịch với ngân hàng Đến năm 2020, các ngân hàng sẽ bán sản phẩm của mình với tỷ lệ là 40% online Internet và điện toán đám mây là xu hướng để giao dịch dễ dàng
Với những tác động mạnh mẽ của việc thay đổi công nghệ buộc các ngân hàng phải xem xét lại mô hình kinh doanh, kênh phân phối sản phẩm dịch vụ của mình để phù hợp với xu thế quản trị thông minh
1.2.3.4 An ninh hệ thống ngân hàng
An ninh hệ thống ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Để đảm bảo được điều này đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải có trách nhiệm xã hội nhiều hơn, quan tâm nhiều hơn đến tính an toàn và riêng tư trong thông tin của khách hàng và có cách thức phòng thủ mới để bảo đảm an toàn, bảo mật an ninh mạng Ngân hàng cần quan tâm hơn nữa đến việc sử dụng công nghệ mới, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu một cách tốt nhất và đặc biệt nâng cao nhận thức bảo mật, an toàn thông tin trong toàn hệ thống Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của công nghệ số, xu thế chuyển dần sang điện toán đám mây (Cloud – Computing), những lỗ hổng bảo mật cũng vì thế mà tăng theo Trong thời gian gần đây, sự tấn công của các tin tặc (Hackers) ngày càng diễn ra phổ biến hơn trong lĩnh vực ngân hàng Trong nhiều trường hợp, một số cá nhân, tổ chức bị các tin tặc khai thác thông tin cá nhân đăng tải trên mạng xã hội để tiến hành lấy cắp dữ liệu và chiếm đoạt tiền khách hàng gửi tại các ngân hàng Trên cơ sở đó, các ngân hàng cần đặc biệt quan tâm, nhất là các ngân hàng vừa và nhỏ khi mà hệ thống chưa được hiện đại hóa, cần trang bị cho mình công cụ bảo mật mới như quét vân tay, quét mống mắt, sinh trắc học…để thay thế cho mật khẩu như hiện nay
Trang 3521
1.3 Quá trình phát triển của Fintech và sự thâm nhập vào hệ thống tài chính
1.3.1 Khái niệm và các lĩnh vực hoạt động chính của Fintech
Đến nay, có nhiều định nghĩa về Fintech, các định nghĩa đề cập đến việc sử dụng công nghệ mới để tạo ra các dịch vụ tài chính mới đáp ứng tốt hơn cho các giao dịch tài chính và thương mại Vai trò của Fintech ngày càng quan trọng thông qua kết nối năm yếu tố của hệ sinh thái Fintech (Hình 1.1) Theo In Lee (2016), một hệ sinh thái cộng sinh và ổn định sẽ thúc đẩy Fintech phát triển Năm yếu tố của hệ sinh thái Fintech bao gồm:
Một là, các công ty khởi nghiệp Fintech: các công ty này là trung tâm của hệ sinh
thái, tác động đáng kể đến các dịch vụ tài chính với chi phí hoạt động thấp, mục tiêu cung cấp nhiều dịch vụ cho cá nhân hơn tổ chức tài chính truyền thống
Hai là, nhà phát triển công nghệ: Nhà phát triển công nghệ cung cấp nền tảng kỹ
thuật tạo ra môi trường thuận lợi cho các công ty khởi nghiệp Fintech áp dụng công nghệ để nâng cao chất lượng dịch vụ
Ba là, các nhà quản lý chính sách: các nhà quản lý chính sách đã tạo môi trường
pháp lý thuận lợi cho Fintech Các quy định tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty
Trang 3622
khởi nghiệp Fintech cung cấp nhiều dịch vụ tài chính với lợi thế là ít tốn kém và khách hàng dễ tiếp cận hơn những dịch vụ truyền thống
Bốn là, khách hàng tài chính: gồm cá nhân và tổ chức, tạo nguồn doanh thu cho
công ty Fintech Bên cạnh nguồn doanh thu từ nhóm khách hàng tổ chức thì nhóm khách hàng cá nhân và các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng mang lại doanh thu vượt trội và tạo sự tăng trưởng của dịch vụ Fintech
Năm là, các tổ chức tài chính truyền thống: là các ngân hàng truyền thống, công ty
bảo hiểm, công ty chứng khoán, nhà đầu tư mạo hiểm Các tổ chức này là động lực chính trong hệ sinh thái Fintech, các mô hình kinh doanh của các tổ chức tài chính truyền thống được đánh giá lại và phát triển các chiến lược để nắm bắt sự đổi mới của Fintech
Hình 1.1 Hệ sinh thái Fintech
Nguồn: In Lee (2016)
Hệ sinh thái Fintech
Công ty khởi
nghiệp Fintech
Fintech Startups
Chính sách quản lý (CP)
Tài chính truyền thống
Khách hàng tài chính
Trang 3723
1.3.1.2 Các lĩnh vực hoạt động chính của Fintech
Tài chính và đầu tư: phần lớn các nhà đầu tư và các nhà quản lý quan tâm hiện nay
tập trung vào các sản phẩm tài chính thay thế đặc biệt là cho vay Crowdfunding6 và P2P7 Tuy nhiên, Fintech rõ ràng đã vượt qua ngoài phạm vi hẹp khi tiến hành đầu
tư vào các hoạt động như đầu tư mạo hiểm, quỹ tư nhân… Trong tương lai gần, ngoài việc tiếp tục phát triển các sản phẩm tài chính thay thế, Fintech sẽ thâm nhập ngày càng sâu hơn vào các lĩnh vực như dịch vụ tư vấn tự động
Hoạt động tài chính và quản lý rủi ro: sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ
ra 2008 thì đây là lĩnh vực mà các tổ chức tài chính quan tâm nhiều nhất nhằm xây dựng một hệ thống quản trị tốt hơn Sự phát triển của lý thuyết tài chính và kỹ thuật định lượng tài chính với những ứng dụng của chúng trong hoạt động quản trị rủi ro
là một điều rất cần thiết mang tính cốt lõi
Thanh toán và cơ sở hạ tầng: thanh toán qua nền tảng Internet và các thiết bị di
động thông minh là trọng tâm đồng thời là động lực phát triển của Fintech Ngoài
ra, cơ sở hạ tầng phục vụ kinh doanh chứng khoán phái sinh OTC tiếp tục trở thành mũi nhọn của Fintech và là lĩnh vực mà các công ty viễn thông về công nghệ đang tìm kiếm cơ hội nhằm tìm kiếm thị phần của mình từ các định chế tài chính truyền thống đang tồn tại hiện nay
Bảo mật dữ liệu: nâng cao khả năng bảo mật thông tin và dữ liệu của khách hàng
đang được các công ty Fintech tích cực đổi mới với tính ứng dụng cao nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả dụng của các dịch vụ tài chính Fintech mang lại
Giao diện người tiêu dùng: với trọng tâm là dịch vụ tài chính và di động, đây là lĩnh
vực chính mà các công ty công nghệ muốn cạnh tranh trực tiếp với các định chế tài chính truyền thống Bằng việc tận dụng cơ sở khách hàng lớn hiện có để khai thác
Trang 3824
và triển khai các sản phẩm và dịch vụ tài chính mới, khiến việc phát triển giao diện người dùng sẽ mang lại cơ hội cạnh tranh với khu vực tài chính truyền thống
1.3.2 Quá trình phát triển của Fintech tại một số quốc gia và Việt Nam
1.3.2.1 Quá trình phát triển Fintech tại một số quốc gia
Các yếu tố của hệ sinh thái Fintech ngày càng được phát triển và hoàn thiện tại các quốc gia trên thế giới Tại nhiều nước, các công ty Fintech thực sự là trung tâm của
hệ sinh thái, các công ty này tác động đến những lĩnh vực hoạt động của Fintech, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ cho cá nhân và doanh nghiệp nhiều hơn tổ chức tài chính truyền thống (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Các công ty Fintech, nhà đầu tư lớn và công nghệ áp dụng Fintech tại các quốc gia
Bain, Nyca, First Round, Bessemer Venture Partners, IA Ventures, Norwest Venture Partners, Canaan Ventures,
Dữ liệu lớn, truyền thông xã hội, API, ML, nhắn tin
London
(Anh)
Atom Bank, Azimo, Clear Score, Crowdcube, Currency Cloud, Digital Shadows, DueDil, Ebury, eToro
Accel, Anthemis, Augmentum Capital, Aviva Ventures, Balderton
Điện thoại di động, thuật toán, truy cập web, kết nối, ngân hàng số
Dữ liệu lớn, phân tích dữ liệu, điện thoại
di động, điện toán đám mây, API
Zhong An Insurance
Sequoia Capital, IDG Capital Partners, Bank of China, CDH Investments, Wanda
Dữ liệu lớn, điện toán đám mây, cổng thanh toán, đện thoại di động, mạng ngang hàng
Phân tích dữ liệu, dữ liệu lớn, Robotics, NLPBangkok Omise, Digio, Ascend, Claimdi, 500 Startups (500 Nhận diện kỹ
Trang 3925
(Thái Lan) Stockradars, Finnomena, iTax
(Legal Drive), Jitta, Airpay, Piggipo (Neversitup)
Tuktuks), Dtac Accelerate, True Incube, Golden Gate Ventures, M8VC and Digital Ventures
thuật số, ML, dịch vụ ngân hàng số, cổng thanh toán, Blockchain
Singapore
Dragon Wealth, Call Levels, Fastacash, MatchMove Pay, MoolahSense, Crowdonomic, Otonomos, Fitsense
GIC, Temasek, EDBI, Singtel Innov8, Life.SREDA, 500 Startups, Sequoia Capital, Jungle Ventures, Quest Ventures
Phân tích dữ liệu, UX, dữ liệu lớn, ML, các ứng dụng trò chơi (Gamification)
Nguồn: Deloitte (2017), Interim Hub Review (2017) Cùng với sự phát triển của các công ty Fintech, các nhà đầu tư về phát triển công nghệ, về dữ liệu lớn (Big data) giao diện lập trình ứng dụng (Application Programming Interface - API), ứng dụng trí tuệ nhân tạo của khoa học máy tính (Machine learning - ML), ứng dụng về trải nghiệm, cảm nhận của người dùng (User experience - UX), Blockchain, ngày càng nhiều hơn và phát triển mạnh mẽ hơn Bên cạnh các chính sách, các hoạt động hỗ trợ tại một số quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho Fintech phát triển tốt hơn như: hỗ trợ về chính sách thuế, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 5 năm cho các doanh nghiệp mới thành lập tại Thái Lan khi đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định (Financial Institution HUB, 2017); tại Malaysia, miễn thuế cho các công ty công nghệ khởi nghiệp, tiếp cận các nguồn tài trợ, được huấn luyện và cố vấn, tạo điều kiện cho chi phí hoạt động thấp, xây dựng môi trường thân thiện và ổn định, tạo quyền tự do cho các công ty nước ngoài đầu tư (Banktechasia, 2017)
1.3.2.2 Sự phát triển của Fintech tại Việt Nam
Theo thống kê, tại Việt Nam có 53% dân số sử dụng internet - tương ứng với khoảng hơn 50 triệu người Đặc biệt, với hơn 124 triệu thuê bao điện thoại, trong đó
có 41 triệu thuê bao hoạt động thường xuyên, Việt Nam có rất nhiều tiềm năng để Fintech phát triển
Trang 4026
Fintech News (2017), Việt Nam có hơn 48 công ty Fintech và 48% công ty tham gia vào hoạt động thanh toán, cung cấp cho khách hàng và các nhà bán lẻ các dịch vụ thanh toán trực tuyến hoặc các giải pháp thanh toán kỹ thuật số Một số ít công ty hoạt động trong lĩnh vực gọi vốn, chuyển tiền, Blockchain, quản lý tài chính cá nhân, quản lý POS, quản lý dữ liệu, cho vay và so sánh thông tin (Hình 1.2) So với một số quốc gia trong khu vực cho thấy, số lượng các công ty Fintech tại Việt Nam còn khá ít; tại Indonesia, đã tăng trưởng nhanh chóng về sản phẩm dịch vụ và các công ty Fintech trong những năm gần đây, theo Hiệp hội Fintech Indonesia xác định
có khoảng 120 công ty Fintech trong nước vào cuối 2016; tại Singapore, tính đến tháng 11/2016 có hơn 300 công ty khởi nghiệp Fintech, hơn 20 ngân hàng toàn cầu, các công ty bảo hiểm đã thiết lập các văn phòng và trung tâm nghiên cứu đổi mới ở Singapore (Clipford Chance, 2017)
Nguồn: Fintech News (2017), tác giả tổng hợp
Hình 1.2 Tỷ lệ các công ty Fintech theo lĩnh vực tại Việt Nam năm 2017
1.3.3 Những cơ hội và thách thức của công nghệ Fintech trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng
Với khả năng tự động hóa và xử lý linh hoạt của công nghệ Fintech các giao dịch tài chính trở nên nhanh chóng và đơn giản hơn, giúp cho thị trường tài chính hoạt động