1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá diễn biến thoái hóa đất do canh tác nông nghiệp trong khu vực đê bao huyện chợ mới, tỉnh an giang

112 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 3,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Đánh giá diễn biến thoái đất do canh tác nông nghiệp trong khu vực đê bao huyện Chợ Mới tỉnh An Giang “ nhằm đánh giá tình trạng, diễn biến suy giảm độ phì và tìm ra nguyên nhân

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

VŨ HẢI

ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN THOÁI HÓA ĐẤT

DO CANH TÁC NÔNG NGHIỆP TRONG KHU VỰC ĐÊ BAO HUYỆN CHỢ MỚI

Trang 2

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: Vũ Hải MSHV: 17112961

Ngày, tháng, năm sinh: 25/04/1993 Nơi sinh: Kon Tum

Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường Mã số: 60.85.01.01

I TÊN ĐỀ TÀI: “Đánh giá diễn biến Thoái hóa đất do canh tác nông nghiệp trong

khu vực đê bao huyện Chợ Mới tỉnh An Giang”

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

Thu thập số liệu có sẵn liên quan đến đề tài qua 02 giai đoạn (2002 – 2010 và

Đề xuất giải pháp phù hợp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu thoái hóa đất của huyện

III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo quyết đinh số 2743/QĐ - ĐHCN ngày

26/12/2018 của Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Tp Hồ Chí Minh

IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: Ngày 20 tháng 08 năm 2019

V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS Thái Vũ Bình

TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 08 năm 2019

NGƯỜI HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO

VIỆN TRƯỞNG

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

Tôi xin trân trọng cảm ơn đến:

- TS Thái Vũ Bình là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài

- TS Trần Hồng Lĩnh – Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Điều tra và Quy hoạch Đất đai phía Nam, là người giúp đỡ tôi về thu thập tài liệu, số liệu, trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài

- Ths Đỗ Trọng Minh – P Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Điều tra và Quy hoạch Đất đai phía Nam là người đã hỗ trợ bản đồ, số liệu trong thời gian nghiên cứu đề tài

Tập thể các thầy, cô giáo Viện Khoa học công nghệ và Quản lý môi trường; phòng Quản lý khoa học và Đào tạo sau Đại học trường Đại học Công nghiệp thành phố

Hồ Chí Minh và cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, tập thể lớp Cao học Quản lý tài nguyên và môi trường khóa 7B

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

ii

TÓM TẮT

Chợ Mới là một huyện trọng điểm của tỉnh An Giang về canh tác nông nghiệp trong

hệ thống đê bao khép kín Những biểu hiện thoái hóa đất nói chung và đặc biệt suy giảm độ phì do cánh tác nông nghiệp trong đê bao cần phải được nghiên cứu để có giải pháp ngăn ngừa và giảm thiểu suy thoái do độ phì tại khu vực này Đề tài

“Đánh giá diễn biến thoái đất do canh tác nông nghiệp trong khu vực đê bao huyện Chợ Mới tỉnh An Giang “ nhằm đánh giá tình trạng, diễn biến suy giảm độ phì và

tìm ra nguyên nhân chính có tác động và gây ra suy thoái hóa nguồn tài nguyên đất đai của huyện Chợ Mới Đề tài đã triển khai các nội dung như: (1) Điều tra, thu thập số liệu về đất đai, canh tác nông nghiệp, đê bao…(2) Kế thừa số liệu, lấy mẫu phân tích bổ sung nhằm đánh giá suy giảm độ phì theo mô hình canh tác, theo loại đất và theo dạng đê bao, (3) Xác định nguyên nhân gây suy giảm độ phì và (4) Đề xuất giải pháp ngăn ngừa và giảm thiểu suy giảm độ phì do canh tác nông nghiệp

Để đạt được mục tiêu và nội dung đề ra của đề tài, các phương pháp đã được thực hiện gồm: Phương pháp thu thập số liệu; Phương pháp điều tra; Phương pháp lấy mẫu, phân tích; Phương pháp đánh giá suy giảm độ phì; Phương pháp MCA; Phương pháp xử lý số liệu; Phương pháp bản đồ - GIS Kết quả của đề tài cho thấy: (1) Có 03 nguyên nhân gây suy giảm độ phì tại vùng nghiên cứu: Do kỹ thuật canh tác, do chuyển đổi cơ cấu cây trồng và do hệ thống đê bao khép kín; (2) Suy giảm

độ phì trong mô hình canh tác rau màu là cao nhất, kế đến là mô hình canh tác lúa 3 vụ; (3) Canh tác trên vùng đất phù sa được bồi hàng năm có mức suy giảm cao hơn các loại đất khác và (4) Đê bao triệt để góp phần làm suy giảm độ phì tại các mô hình canh tác

Trang 5

iii

ABSTRACT

Cho Moi is a key district of An Giang province for agricultural cultivation in a closed dike system The manifestations of soil degradation in general and especially the decline of fertility due to agricultural cultivation in the dike need to be studied to have a solution to prevent and reduce fertility degradation in this area The project

"Evaluation of changes in land degradation due to agricultural cultivation in the embankment area of Cho Moi district, An Giang province" aims to assess the situation, changes in fertility decline and find out the main causes of impacts and causes degradation of land resources in Cho Moi district The study has folloing contents: (1) Investigating and collecting data on land, agriculture, dykes (2) Inheriting data, taking additional analysis samples to assess fertility decline according to farming models, soil types and dike types, (3) Determing causes of fertility decline and (4) Proposing solutions to prevent and reduce fertility decline due to agricultural cultivation To achieve the objectives and content of the thesis, the following methods have been implemented: Data collection method; Investigation method; Methods of sampling and analysis; Methods of assessing fertility decline; MCA method; Data processing methods; Mapping method - GIS The results of the thesis show that: (1) There are three causes of fertility decline in the study area: Due to farming techniques, crop structure transformation and closed dike system; (2) The decline in fertility in the vegetable farming model is the highest, followed by the 3-rice rice model; (3) Cultivation on alluvial soils with annual accretion is higher than that of other soils and (4) Dyke subsides contribute

to the decline of fertility in farming models

Trang 6

iv

MỤC LỤC

TÓM TẮT ii

ABSTRACT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu tổng quát 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

5.1 Ý nghĩa khoa học 4

5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 6

1.1 Tồng quan về lĩnh vực nghiên cứu 6

1.1.1 Một số khái niệm về thoái hóa đất 6

1.1.3 Tình hình nghiên cứu thoái hóa đất ở Việt Nam 13

1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 15

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, Kinh tế - xã hội 15

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21

1.2.3 Đặc điểm các mô hình canh tác và hệ thống đê bao trên địa bàn huyện 26

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Nội dung nghiên cứu 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu 42

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 42

Trang 7

v

2.2.2 Phương pháp điều tra 43

2.2.3 Phương pháp phân tích đất 44

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 44

2.2.5 Phương pháp đánh giá độ suy giảm và phân hạng 45

2.2.6 Phương pháp xây dựng bản đồ chuyên đề 47

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 55

3.1 Đánh giá suy giảm độ phì tại huyện Chợ Mới 55

3.1.1 Đánh giá suy giảm độ phì theo từng chỉ tiêu 55

3.1.2 Đánh giá suy giảm độ phì theo từng loại đất 76

3.1.4 Đánh giá suy giảm độ phì theo loại đê bao 78

3.2 Xác định nguyên nhân gây suy giảm độ phì 79

3.2.1 Nguyên nhân từ kỹ thuật canh tác 79

3.2.2 Nguyên nhân từ chuyển đổi sử dụng đất 80

3.2.3 Nguyên nhân từ đê bao triệt để 81

3.3 Đề xuất giải pháp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu suy giảm độ phì do canh tác nông nghiệp tại huyện Chợ Mới 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 92

Trang 8

vi

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Chợ Mới 16

Hình 2.1 Vị trí lấy mẫu lấy mẫu đất huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 41

Hình 3.1 Đánh giá suy giảm hàm lƣợng chất hữu cơ trong đất qua các thời kỳ 59

Hình 3.2 Bản đồ suy giảm chất hữu cơ tổng số đất ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 60

Hình 3.3 Bản đồ suy giảm pH của đất ở huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 63

Hình 3.3 Tổng hợp suy giảm giá trị CEC trong đất năm 2002, 2010 và 2017 67

Hình 3.4 Bản đồ suy giảm tổng CEC của đất huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 68

Hình 3.5 Biến động chỉ tiêu N(%) trong đất năm 2010 - 2017 70

Hình 3.6 Bản đồ suy giảm đạm của đất huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 71

Hình 3.7 Bản đồ suy giảm lân của đất huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 73

Hình 3.8 Bản đồ suy giảm lân của đất huyện Chợ Mới, huyện An Giang 75

Trang 9

vii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các nhóm đất chính huyện Chợ Mới 20

Bảng 1.2 Các kỹ thuật canh tác lúa nước trên địa bàn huyện Chợ Mới 28

Bảng 1.3 Kỹ thuật canh tác rau màu 31

Bảng 1.4 Tổng hợp so sánh việc có và không có đê tháng 8 và đê triệt để đến hoạt động sản xuất nông nghiệp chính ở huyện Chợ Mới 33

Bảng 1.5 Tổng hợp quan điểm của các nhà khoa học về vấn đề đê bao triệt để 36

Bảng 1.6 Tổng hợp quan điểm của các nhà khoa học tại chỗ vấn đề đê bao tháng 8 37

Bảng 2.1 Thang điểm và ký hiệu đánh giá suy giảm OM 45

Bảng 2.2 Thang điểm và ký hiệu đánh giá suy giảm CEC 45

Bảng 2.3 Thang điểm và ký hiệu đánh giá suy giảm N 46

Bảng 2.4 Thang điểm và ký hiệu đánh giá suy giảm pH 46

Bảng 2.5 Thang điểm và ký hiệu đánh giá suy giảm P2O5 47

Bảng 2.6 Thang điểm và ký hiệu đánh giá suy giảm K 47

Bảng 3.1 Biến động chỉ tiêu OM(%) trong đất năm 2002 và 2010 56

Bảng 3.2 Biến động chỉ tiêu OM (%) trong đất năm 2010 và 2017 57

Bảng 3.3 Tổng hợp suy giảm giá trị OM trong đất năm 2002, 2010 và 2017 58

Bảng 3.4 Biến động chỉ tiêu PHKCL trong đất năm 2002 và 2010 61

Bảng 3.5 Biến động chỉ tiêu PHKCL trong đất năm 2010-2017 62

Bảng 3.6 Biến động chỉ tiêu CEC (lđl/100g) trong đất năm 2002 và 2010 64

Bảng 3.7 Biến động chỉ tiêu CECtrong đất năm 2010 và 2012 65

Bảng 3.8 Tổng hợp suy giảm giá trị CEC trong đất năm 2002, 2010 và 2017 66

Bảng 3.9 Biến động chỉ tiêu N(%) trong đất năm 2002 – 2010 69

Bảng 3.10 Biến động chỉ tiêu N(%)trong đất năm 2010 – 2017 69

Bảng 3.11 Tổng hợp biến động P2O5 (%) qua các giai đoạn 72

Bảng 3.12 Tổng hợp biến động K2O (%) qua các giai đoạn 74

Bảng 3.13 Tổng hợp sự suy giảm độ phì trong đất phù sa 76

Bảng 3.14 Tổng hợp sự suy giảm độ phì trong đất phèn 77

Trang 10

viii Bảng 3.15 Tổng hợp đánh giá suy giảm độ phì theo các mô hình canh tác 77Bảng 3.16 Tổng hợp đánh giá sự suy giảm độ phì theo loại hình đê bao 78

Trang 11

sự suy giảm chất lượng đất khá rõ rệt, điều này đồng nghĩa với việc đất ngày càng

bị thoái hóa theo chiều hướng tiêu cực

Trong những năm gần đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện nhiều cuộc điều tra, đánh giá thoái hóa đất các vùng tự nhiên - kinh tế trong cả nước, trong đó

có vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; đánh giá thực trạng môi trường đất tại các vùng kinh tế trọng điểm Kết quả thực hiện các cuộc điều tra, đánh giá trên cho thấy bước đầu tài nguyên môi trường đất đai bị thoái hóa rất đáng kể như: đất bị xói mòn; đất bị mặn hóa, phèn hóa; đất bị kết von, đá ong hóa; đất bị suy giảm độ phì; đất bị khô hạn, hoang mạc hóa, sa mạc hóa; …Từ kết quả các cuộc điều tra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã đút kết và xây dựng tài liệu hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật về thoái hóa đất, đặc biệt là xây dựng văn bản pháp luật về điều tra thoái hóa đất, từ đó làm cơ sở tiến hành các cuộc điều tra chi tiết về thoái hóa đất tại phương

An Giang là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng lúa lớn nhất cả nước Từ những năm 1990, tỉnh đã tích cực xây dựng hệ thống thủy lợi nhằm khai thác tiềm năng đất đai sẵn có của địa phương (đặc biệt trong việc khai phá vùng đất phèn thuộc Tứ giác Long Xuyên) Bên cạnh những thành tựu đã đạt được rất đáng ghi nhận, tỉnh đang phải đối mặt với những yếu tố gây thoái hóa đất,

cụ thể: Việc xây dựng hệ thống đê bao ngăn lũ, sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu đã làm cho đất nông nghiệp, đặc biệt là đất chuyên canh lúa nước bị chai cứng bề mặt và suy giảm độ phì Chứng minh cho điều này là kết quả điều tra thoái hóa đất của tỉnh (năm 2012) cho thấy có diện tích đất bị thoái hóa ở mức nặng

là 12.557 ha (chiếm 12,98%), mức trung bình là 74.113 ha (chiếm 76,61%) và mức nhẹ là 10.074 ha (chiếm 10,41%) Năm 2014 kỳ bổ sung điều tra thoái hóa đất cho

Trang 12

2

thấy các mức độ thoái hóa đất đều có xu hướng tăng Trong đó, yếu tố suy giảm độ phì nhiêu của đất là 113.060 ha (chiếm 32% DTTN) và chủ yếu xảy ra trên loại hình

sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh

Chợ Mới là một trong những huyện trọng điểm sản xuất nông nghiệp, đóng góp sản lượng lúa gạo xuất khẩu tương đối lớn của tỉnh Những năm qua, với sự hỗ trợ tích cực từ chính quyền các kỹ thuật canh tác nông nghiệp đã có bước tiến rất lớn, đồng thời cũng gây ra nhiều vấn đề cho việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất đai như: suy giảm chất lượng, ô nhiễm đất do lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật… do quá trình sản xuất

Dự án Kiểm soát lũ vùng đê bao Nam Vàm Nao huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang được Trung ương đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, xây dựng các công trình thủy lợi với tần suất lũ năm 2000, nhằm thiết lập hệ thống thủy lợi một cách có hiệu quả, phục vụ cho sản xuất, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Chợ Mới Từ thực tế sản xuất và phân bố dân cư, vùng dự án đã hình thành nên 4 phân vùng với 76 tiểu vùng dựa trên cơ sở điều kiện canh tác, sông rạch, đường giao thông và bờ bao tự nhiên Ranh giới các phân vùng là các đê bao vành đai ngoài gọi là đê bao phân vùng dài 161,06 km, cao trình từ +3,2m đến +3,5m, bề mặt

đê rộng từ 4m - 6m Các tiểu vùng được bao quanh bởi hệ thống đê vành đai trong gọi là đê bao tiểu vùng dài 384,36 km, thực chất đây là hệ thống bờ kênh các cấp,

có nhiệm vụ vừa là bờ kênh, vừa là đê bao các tiểu vùng Hệ thống kênh cấp 1, cấp

2 dài 320,95 km, với nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp, kết cấu chủ yếu là kênh đất, đáy kênh đang bị bồi lắng, mặt cắt ngang thu hẹp đã ảnh hưởng đến nhiệm vụ tưới tiêu, vận tải thủy bộ của kênh, cao trình đáy kênh từ +0,0 m đến -1m Kênh nội đồng với

262 tuyến dài 436,2 km Dưới đê bao là các cống điều tiết, gồm 590 cống lớn nhỏ các loại, có nhiệm vụ tưới tiêu kết hợp, diện tích phụ trách từ 50 ha – 150 ha, cửa van điều tiết chủ yếu là cửa gỗ không chủ động trong đóng mở cống, cao trình đáy phụ thuộc vào địa hình nơi đặt cống, chủ yếu từ -0,5 m đến +0,0 m

Trang 13

3

Sản xuất nông nghiệp của huyện với thế mạnh là trồng lúa và hoa màu, 5 năm trở lại đây sản lượng rau màu của huyện chiếm 70% sản lượng rau của cả tỉnh, nông nghiệp phát triển từ 2 vụ sang 3 vụ, khai thác hết tiềm năng đất đai

Hệ thống thủy lợi phát triển cùng với mạng lưới kênh, rạch tự nhiên chằng chịt và đặc biệt là hệ thống kênh đào ngang, dọc giúp thau chua, rửa phèn, cải tạo một vùng đất rộng lớn

Tuy nhiên, hệ thống đê bao ngăn lũ làm cho đất trong đê ít được phù sa bồi tụ, dẫn đến nguy cơ suy giảm độ phì

Vì vậy cần phải tiến hành “Đánh giá diễn biến thoái đất do canh tác nông nghiệp trong khu vực đê bao huyện Chợ Mới tỉnh An Giang” nhằm tìm ra nguyên nhân

chính có tác động và gây ra suy thoái hóa nguồn tài nguyên đất đai của huyện

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Xác định được tình trạng và nguyên nhân thoái hóa đất (suy giảm độ phì) trong đê bao qua các giai đoạn nhằm đề xuất giải pháp phù hợp cho huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

Trang 14

4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Chất lượng đất trong đê bao thuộc địa bàn huyện Chợ Mới

- Hệ thống đê bao huyện Chợ Mới

- Kỹ thuật canh tác nông nghiệp tại huyện Chợ Mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Đề tài là toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: 27.000 ha (gồm: đất trồng lúa 19.000 ha, đất trồng cây hàng năm 4.000 ha, đất trồng cây lâu năm 4.000 ha)

Phạm vi về mặt thời gian: Đánh giá qua 02 giai đoạn: từ 2002 – 2010 và 2011 –

Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kỹ thuật canh tác cũng là yếu tố tác động đến quá trình thoái hóa đất Do vậy, đề tài ngoài việc nghiên cứu nguyên nhân

từ đê bao còn tìm hiểu các nguyên nhân từ kỹ thuật canh tác trong đê bao nhằm củng cố thêm cơ sở khoa học đối với giả thiết nghiên cứu của đề tài

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nội dung nghiên cứu của đề tài gắn với vấn đề đang đặt ra trong việc sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh hệ thống đê bao khép kín, dày đặc tại địa phương, đó là quá trình tác động vào đất bằng các kỹ thuật canh tác đang được áp dụng

Trang 15

5

Kết quả đề tài là cơ sở thực tiễn để hoạch định các chính sách sử dụng đất nông nghiệp của huyện đồng thời cần cân nhắc và đƣa ra biện pháp nhằm hạn chế quá trình thoái hóa do suy giảm độ phì của đất tại khu vực nghiên cứu

Trang 16

6

1.1 Tồng quan về lĩnh vực nghiên cứu

1.1.1 Một số khái niệm về thoái hóa đất

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về thoái hoá đất như:

- Thoái hóa đất theo FAO xác định là sự suy giảm khả năng sản xuất và lợi nhuận của một loại sử dụng đất đặc trưng trong điều kiện quản lý đất đai nhất định

- Các dạng thoái hóa đất bao gồm: Đất bị xói mòn, rửa trôi, sạt lở, suy giảm độ phì, khô hạn, hoang mạc hóa và ô nhiễm (Lal và Stewart, 1990)

- Theo Oldeman - Ed (1988) đã định nghĩa, thoái hoá đất là quá trình làm giảm khả năng hiện tại hay trong tương lai của đất trong sản xuất hàng hoá hay cung cấp các dịch vụ

- Thoái hoá đất có thể được hiểu như là mức độ thay đổi theo chiều hướng xấu đi của chất lượng đất, kết quả là làm giảm khả năng sản xuất của đất do nguyên nhân chính là sự can thiệp của con người (UNEP, 1992)

- Thoái hóa đất là sự suy giảm nguồn tài nguyên đất do sử dụng đất không đúng (Bergsma et al 1996)

- Thoái hóa đất là sự mất lâu dài chức năng và các tác dụng của hệ sinh thái do các xáo trộn gây ra làm cho hệ thống đó không thể phục hồi nếu không có trợ giúp (UNEP, 2007)

- Đất bị suy thoái là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng nông, lâm nghiệp (Đào Châu Thu, 2009)

Trang 17

7

Chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) đã cho phép Trung tâm thông tin và tham chiếu đất quốc tế (ISRIC) thực hiện dự án "Đánh giá thoái hoá đất toàn cầu (GLASOD)" và xây dựng bản đồ thực trạng thoái hóa đất thế giới tỷ lệ nhỏ 1: 10.000.000

Từ những năm 1994 đến nay, các quốc gia đã quan tâm đến đánh giá thoái hóa đất cho những vùng đất đặc thù và xây dựng những bản đồ thoái hóa đất tỷ lệ lớn hơn: Bản đồ thoái hóa đất tỷ lệ 1:500.000 ở Togo và vùng Tây, Trung Phi (do Cơ quan Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật về Hải ngoại (Viện ORSTOM) và Viện quốc gia Pháp thực hiện)

Bản đồ thoái hóa đất tỷ lệ 1: 440.000 ở Ấn Độ (do Cục điều tra và quy hoạch sử dụng đất Ấn Độ tiến hành)

Kết quả các nghiên cứu trên ngoài việc xây dựng được bản đồ thực trạng thoái hóa đất đã bước đầu xác định được các loại hình thoái hóa đất hiện có trên thế giới và các nguyên nhân gây thoái hóa đất như sau:

* Các loại hình thoái hóa đất

- Xói mòn đất do nước

- Xói mòn đất do gió

- Sự suy giảm độ phì của đất

+ Sự suy giảm chất hữu cơ của đất

+ Sự thoái hóa các đặc tính vật lý

+ Sự thay đổi hàm lượng chất dinh dưỡng (thiếu hoặc mức độ độc)

+ Tích lũy các chất độc

- Sự úng nước

Trang 18

8

- Sự tăng lên của muối

- Sự lắng đọng hoặc sự chôn vùi đất

Ngoài những loại thoái hóa đất chủ yếu nêu trên còn tồn tại những loại thoái hóa đất đai thông thường khác như:

- Sự hạ thấp mực nước ngầm

- Mất sự che phủ của thảm thực vật

- Lớp vỏ chai cứng và đá của đất tăng lên

* Các nguyên nhân gây thoái hóa đất

Các nguyên nhân thoái hóa đất có thể được chia thành các nguyên nhân tự nhiên (nguyên nhân trực tiếp) và các nguyên nhân kinh tế xã hội (nguyên nhân gián tiếp)

+ Các nguyên nhân tự nhiên: Là những điều kiện tự nhiên dẫn đến tình trạng thoái hóa đất như: độ dốc, địa hình cùng với lượng mưa lớn và tập trung là một nguyên nhân của xói mòn, rửa trôi đất, lượng mưa ít, nắng nóng, lượng bốc hơi cao cùng với sự suy giảm của thảm thực vật là nguyên nhân gây khô hạn và hoang hóa, + Các nguyên nhân kinh tế xã hội bao gồm: Chính sách quản lý và sử dụng đất (chính sách giao đất giao rừng; chính sách phủ xanh đất trống đồi núi trọc; chính sách định canh định cư; chính sách về công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; chính sách an toàn lương thực, chính sách kinh tế, …), quy hoạch chuyển đổi các mục đích sử dụng đất, áp lực của việc tăng dân số và định hướng phát triển kinh

tế xã hội (hệ số sử dụng đất, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người, suy thoái rừng, phát triển đô thị và môi trường, ô nhiễm do các hoạt động công nghiệp và du lịch dịch vụ, ô nhiễm do chất thải, ô nhiễm do hóa chất dùng trong nông nghiệp, …)

là các nguyên nhân gián tiếp gây thoái hóa đất

Trang 19

9

a Nghiên cứu ở Châu Âu

Theo kết quả nghiên cứu của B.Houskova và L.Montanarella (EU) về các mối đe dọa chủ yếu đến chất lượng đất ở Châu Âu (Main threats of soil quality in Europe), phương pháp được 2 ông sử dụng các yếu tố như loại đất (phân đến cấp 2 theo WRB), các giá trị nhạy cảm (susceptibility) theo thành phần cơ giới của đất, sự thay đổi về kết cấu theo độ sâu tầng đất, chỉ số nhạy cảm theo các giới hạn trong nông nghiệp (mặn, kiềm, đá lộ …), chế độ nước trong đất, mức trở ngại để phát triển rễ cây … để đánh giá và xây dựng chỉ số chất lượng đất thông qua thang bậc 4 mức để đánh giá chất lượng đất là L (low), M (medium), H (high) và VH (very high) Thông qua 3 bước tiến hành là:

+ Bước 1: Lựa chọn các thông số có quan hệ với các loại đất;

+ Bước 2: Xây dựng giá trị cho các thông số được lựa chọn;

+ Bước 3: Tạo ra các nguyên tắc chuyển đổi các giá trị cần đánh giá

Theo kết quả nghiên cứu về chất lượng và đánh giá sự bền vững của đất ở Châu Âu (Soil quality and sustainability evaluation) của Viện Môi trường và Phát triển bền vững (Italy) xây dựng chỉ số bền vững của đất thông qua 3 nhân tố là: Các chức năng của đất, thuộc tính của đất và sự tác động đến đất

b Nghiên cứu ở Nam Phi

Theo tài liệu nghiên cứu của 3 dự án là World Overview of Conservation Approaches and Technologies (WOCAT) thực hiện dự án về quản lý đất bền vững, Land Degradation Assessment in Drylands (LADA) thực hiện dự án về đánh giá suy thoái đất tại vùng khô hạn và dự án DESIRE thực hiện về thiết lập mục tiêu chiến lược sử dụng và quản lý bảo tồn đất Kết quả nghiên cứu chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến suy thoái đất (thông qua thang bậc chỉ số tác động trực tiếp hay gián tiếp) và cách đánh giá toàn diện về sự suy thoái đất đai theo tỷ lệ suy thoái (thông

Trang 20

về suy thoái đất (sinh học, vật lý và hóa học)

c Nghiên cứu ở Nam Á và Đông Nam Á

Trong tài liệu “The Assessment of the Status of Human-induced Soil Degradation in South and South Asia” của Trung tâm Thông tin và tham chiếu đất quốc tế (ISRIC,1998) về xây dựng bản đồ thoái hóa đất khu vực Nam Á và Đông Nam Á (ASSOD) Trong tài liệu này, tác giả hướng dẫn những yếu tố xây dựng bản đồ thoái hóa đất ở Nam Á và Đông Nam Á gồm có các dạng như sau:

+ Wt: Mất lớp đất bề mặt do xói mòn và rửa trôi, được mô tả là lớp đất bề mặt bị xói mòn bởi dòng chảy (chiều ngang), nguyên nhân do công tác quản lý đất đai không phù hợp đặc biệt là quản lý đất nông nghiệp, dẫn đến rửa trôi lớp đất bề mặt

và mất đi lớp phù sa

+ Wd: Địa hình biến dạng rãnh hoặc xói lở do nguồn nước mặt, được mô tả do sự chuyển động của các vật liệu đất gây ra những vết nứt của địa hình Nguyên nhân công tác quản lý đất đai không phù hợp, đặc biệt là trong nông lâm nghiệp, hoặc do dòng chảy quá mức và không có biện pháp ngăn ngừa

+ Wo: Ngoại vi ảnh hưởng bởi xói mòn do nước trong khu vực có dòng chảy, được

mô tả gồm có 3 dạng: Lắng tụ trầm tích của hồ chứa và sông suối, lũ lụt và sự ô nhiễm nguồn nước Nguyên nhân xác định là xói mòn, rửa trôi của dòng chảy

+ Et: mất lớp đất bề mặt do hoạt động của gió, được mô tả là giảm đi tầng dày của đất do mất lớp đất bề mặt Nguyên nhân được xác định là do lớp đất bề mặt không được bảo vệ bởi thảm thực vật (hoặc cách khác) chống lại sức gió, đất không đủ độ

ẩm, cấu trúc đất bị phá hủy

Trang 21

kể nào, sự ô nhiễm có nghĩa là sự thoái hóa đất do sự tập trung của các chất gây độc

và ảnh hưởng tiêu cực của các chất trong đất, các chất này có liên quan đến nguồn gây ô nhiễm (chất thải, tràn hóa chất, nhà máy…) Dạng thoái hóa này bao gồm cả

sự khuếch tán và lắng đọng các chất ô nhiễm trong không khí như các hợp chất axit hoặc kim loại nặng Nguyên nhân được xác định là do các ngành công nghiệp hóa sinh, rác thải,

+ Cs: Mặn hóa (kiềm hóa), được mô tả là sự gia tăng hàm lượng muối trong đất dẫn đến sự giảm sút năng suất của cây trồng Nguyên nhân được xác định là do sự xâm nhập của nước biển (trong các điều kiện khí hậu gồm có mặn do nước mặn xâm nhập vào nội địa hoặc sự bay hơi của nước ngầm bị mặn)

+ Ct: Phèn hóa, được mô tả do sự giảm độ pH đất bởi các quá trình phản ứng hóa học hoặc sự gia tăng hàm lượng axit hữu cơ trong đất Nguyên nhân do sự tiêu thoát nước trong đất có chứa pyrite, từ đó sản sinh ra đất có pH thấp, hoặc do sự axít hóa các chất trong không khí bị ô nhiễm cũng làm giảm pH trong đất

+ Ce: Phú dưỡng hóa, được mô tả là sự thừa chất dinh dưỡng trong nước dẫn đến giảm sự phát triển của cây trồng Nguyên nhân do sử dụng phân bón hữu cơ và hóa học không đúng dẫn đến dư thừa Nitrogen và Phosphorus

Trang 22

12

+ Pc: Đất bị nén dẻ, được mô tả là sự suy giảm cấu trúc của đất bởi trọng lượng của gia súc và máy móc Nguyên nhân do sử dụng máy móc hạng nặng một cách thường xuyên hoặc chăn thả gia súc quá mức

+ Pk: Đất bị đóng cứng, được mô tả là sự tắc nghẽn và phát triển một lớp đất không thấm nước trên bề mặt, làm cản trở sự xâm nhập của nước mưa Nguyên nhân do lớp thảm phủ bề mặt kém, mưa lớn hạt làm phá hủy cấu trúc đất và giảm hàm lượng hữu cơ trong đất

+ Pw: Đất bị ngập úng, được mô tả do ảnh hưởng của con người bao gồm các hợp chất hydro (trừ cánh đồng lúa) Nguyên nhân do gia tăng lượng nước (gồm cả xây dựng các hồ chứa, thủy lợi) hoặc lũ lụt

+ Ps: Suy yếu bề mặt đất, được mô tả là sự sụt lún đất có chất hữu cơ, sự di chuyển đất Nguyên nhân là do quá trình oxy hóa than bùn và sụt lún do giảm lượng nước ngầm trong đất

+ Pu: Mất chức năng sản xuất của đất, được mô tả là đất bị mất các khả năng hoạt động sinh học Nguyên nhân là do đô thị hóa, công nghiệp hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng và khai thác mỏ, khai thác đá…

+ Pa: Đất bị khô hạn, được mô tả là sự giảm độ ẩm trung bình trong đất Nguyên nhân là do hạ mực nước ngầm trong sản xuất nông nghiệp, khai thác nước khoáng, giảm các chất hữu cơ trong đất

+ Sn: Sự ổn định đất trong điều kiện tự nhiên như không có sự tác động của con người, thực vật không bị xáo trộn

+ Sh: Sự ổn định của đất dưới tác động của con người với ảnh hưởng này là thụ động, không có biện pháp duy trì sự ổn định hoặc các biện pháp được thực hiện để ngăn chặn hoặc đảo ngược suy thoái

+ W: Đất bị bỏ hoang, đất không có thực vật hoặc không có sự tác động của con người, sa mạc hóa vùng núi cao Quá trình thoái hóa đất tự nhiên có thể xảy ra

Trang 23

13

1.1.3 Tình hình nghiên cứu thoái hóa đất ở Việt Nam

Các kết quả nghiên cứu thoái hóa đất ở Việt Nam được tổng hợp chủ yếu ở các đề tài, dự án, công trình nghiên cứu cấp nhà nước trong đó đáng quan tâm nhất là các

dự án do Bộ Tài nguyên và Môi trường, các đề tài do Viện Địa lý (Viện Khoa học

và Công nghệ Việt Nam) thực hiện

* Viện Địa lý - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện gồm:

- Nghiên cứu tổng hợp đất bazan thoái hóa Tây Nguyên

- Đặc trưng phát sinh và thoái hoá đất trên các cao nguyên bazan nhiệt đới

- Quan hệ giữa Địa lý phát sinh và thoái hoá đất - lấy ví dụ ở vùng Đông Bắc Việt Nam

- Nghiên cứu hoang mạc hoá ở miền Trung Việt Nam thuộc Chương trình phòng tránh giảm nhẹ thiên tai (1996 - 2000)

- Điều tra nghiên cứu các yếu tố phát sinh và thoái hoá một số loại đất trống đồi núi trọc ở Vĩnh Phúc

* Ngoài ra còn có các đề tài do các cơ quan khác thực hiện:

- Nghiên cứu nguyên nhân và mức độ suy thoái môi trường đất vùng Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn; Đặc điểm đất phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá bazan Tây Nguyên và thực trạng thoái hóa (do Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp -

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện) và một số công trình nghiên cứu khác về xói mòn hay suy thoái môi trường đất của các tiểu vùng sinh thái, Các nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam tập trung theo hai hướng: Nghiên cứu, đánh giá thoái hóa đất ở phạm vi nhỏ (tiểu vùng sinh thái của các tỉnh hoặc thoái hóa của các loại đất đặc trưng cho từng tỉnh, vùng ) và sâu về một vài loại hình thoái hóa đất chính là: xói mòn đất, vấn đề ô nhiễm đất hay khô hạn,

Trang 24

14

* Các kết quả nghiên cứu thoái hóa đất ở phạm vi vùng sinh thái và mang tính hệ thống, cụ thể như các Dự án do Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện:

- Điều tra, đánh giá thoái hóa đất vùng Miền núi và Trung du Bắc bộ phục vụ quản

Các nghiên cứu điều tra đánh giá thoái hóa đất cấp vùng nêu trên đã đánh giá được thực trạng và nguyên nhân thoái hóa đất của vùng Trong đó, đi sâu nghiên cứu về loại hình thoái hóa đất chính và dựa vào kịch bản biến đổi khí hậu, định hướng sử dụng đất bền vững để đưa ra những kịch bản dự báo thoái hóa đất

Trong đó, đánh giá thoái hóa đất cấp tỉnh lần đầu tiên được thử nghiệm đánh giá ở

An Giang nhưng được thực hiện một cách rất khái quát trên tất cả các loại đất và loại hình canh tác nông nghiệp, không đi sâu vào từng loại cụ thể đặc trưng và kết quả chủ yếu là xây dựng các biểu bảng và nội dung điều tra, đánh giá thoái hóa đất

áp dụng cho các tỉnh, thành khác tổ chức thực hiện

Các kết quả nghiên cứu thoái hóa đất đã khẳng định:

- Đánh giá thoái hóa đất tự nhiên (thoái hóa tiềm năng): Xác định nguy cơ thoái hóa đất do các yếu tố tự nhiên tác động

Trang 25

15

- Thoái hóa đất hiện tại: Thực trạng thoái hóa đất do tác động của các yếu tố tự nhiên và con người Trong đó con người đóng vai trò chủ yếu làm cho quá trình thoái hóa diễn ra nhanh chóng hơn

Mức độ thoái hóa đất hiện tại chủ yếu tập trung phản ánh mức độ suy giảm độ phì nhiêu hiện tại của đất (theo hình thái phẫu diện) Các dự án, công trình nghiên cứu

về thoái hóa đất trên thế giới và trong nước đều phản ánh khá đầy đủ các trạng thái của sự thoái hóa đất là sự tác động của các yếu tố bên ngoài làm suy giảm hoặc thay đổi theo chiều hướng tiêu cực đối với đất, từ đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng

Các dự án, công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở khoa học rất quan trọng để đề tài đút kết và thực hiện nghiên cứu trên địa bàn tỉnh An Giang với các kỹ thuật canh tác

đã và đang ảnh hưởng đến quá trình thoái hóa đất của tỉnh mà trong đó vấn đề thoái hóa đất trong vùng đê bao khép kín của huyện Chợ Mới là một vấn đề quan trọng nhưng chưa được đề cập một cách cụ thể và rõ ràng

1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.2.1 Điều kiện tự nhiên, Kinh tế - xã hội

1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Chợ Mới có diện tích tự nhiên là 36.925,8 ha, là một trong 4 huyện cù lao của tỉnh

An Giang Huyện Chợ Mới có vị trí địa lý như sau:

+ Phía Đông giáp thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

+ Phía Tây giáp Huyện Châu Phú, Châu Thành và thành phố Long Xuyên

+ Phía Nam giáp Huyện Lấp Vò (tỉnh Đồng Tháp)

+ Phía Bắc giáp Huyện Phú Tân và Huyện Thanh Bình (tỉnh Đồng Tháp)

Trang 26

16

Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Chợ Mới

Về đơn vị hành chính, Chợ Mới gồm 2 thị trấn và 16 xã: thị trấn Chợ Mới, thị trấn

Mỹ Luông, xã Kiến An, xã Mỹ Hội Đông, xã Long Điền A, xã Tấn Mỹ, xã Long Điền B, xã Kiến Thành, xã Mỹ Hiệp, xã Mỹ An, xã Nhơn Mỹ, xã Long Giang, xã Long Kiến, xã Bình Phước Xuân, xã An Thạnh Trung, xã Hội An, xã Hòa Bình và

Trang 27

- Chợ Mới được bao bọc bởi 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu với một lượng lớn phù

sa được bồi đắp hàng năm, đất đai màu mỡ quanh năm, tạo điều kiện thuận lợi đối với sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Huyện, Chợ Mới không những là một trong những vựa lúa của tỉnh mà còn là vùng chuyên canh màu lớn của tỉnh; đồng thời Chợ Mới nằm ở hạ nguồn hai nhánh sông Hậu và sông Tiền của dòng sông Mê Kông, so với các Huyện khác trong vùng Cù Lao của tỉnh, Huyện có nguồn lợi thủy sản khá dồi dào mỗi khi vào mùa nước nổi

Bên cạnh đó, Chợ Mới có một số hạn chế về vị trí địa lý:

- Chợ Mới cách xa các cửa khẩu quốc gia và quốc tế Hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém gây khó khăn trong việc giao thương hàng hóa của Huyện với nước bạn Campuchia

- Do nằm ở hạ nguồn Sông Hậu và sông Tiền nên Chợ Mới chịu sự tác động về môi trường đối với nguồn nước từ 2 nhánh sông này xuất phát từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của các Huyện ở thượng nguồn

- Bên cạnh đó, địa bàn Chợ Mới bị chia cắt bởi 3 nhánh sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao, kênh, rạch chia cắt gây khó khăn về giao thông bộ với một số xã với nhau và với các Huyện và trung tâm kinh tế khác

Trang 28

18

b Địa hình

Địa hình Huyện Chợ Mới chủ yếu là đồng bằng phù sa khá bằng phẳng, độ nghiêng nhỏ, có cao độ thay đổi từ 1,0 m đến 2,0 m theo từng khu vực Ven sông Tiền và sông Hậu địa hình tương đối cao, càng vào sâu trong nội đồng địa hình càng thấp dần

Địa hình của Huyện Chợ Mới được phân chia như sau:

+ Dạng cồn bãi phân bố ở 3 xã cù lao: xã Tân Mỹ, xã Mỹ Hiệp và xã Bình Phước Xuân

+ Dạng lòng chảo có đặc điểm là ở hai bờ sông cao hơn và thấp dần vào nội đồng + Dạng hơi nghiêng có đặc điểm cao từ bờ sông rồi thấp dần vào trong đồng

Tuy nhiên, địa hình bằng phẳng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; những nơi địa hình thấp trũng dễ gây ngập úng trong mùa mưa, thoát nước gặp nhiều khó khăn

c Khí hậu, thời tiết

Huyện Chợ Mới nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang những đặc tính chung của khí hậu Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ bình quân hàng năm 27oC, nhiệt độ cao nhất từ 36oC - 38oC, nhiệt độ thấp nhất hàng năm thường xuất hiện vào tháng 10, dưới 18oC, lượng bốc hơi bình quân hàng năm là 1.332mm, độ ẩm bình quân là 80%

Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng V đến tháng XI trùng với thời gian hướng gió mùa Tây Nam thịnh hành, mùa khô từ tháng XII đến tháng IV năm sau trùng với thời gian hướng gió mùa Đông Bắc thịnh hành, lượng mưa trung bình hàng năm 1.500 mm

Trang 29

19

Khí hậu, thời tiết Huyện Chợ Mới có nhiều điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, thích hợp đối với các loại cây trồng đặc biệt là cây lúa, màu, ít chịu sự ảnh hưởng của gió bão nhưng chịu sự tác động mạnh của chế độ thủy văn có thể gây ra hiện tượng sạt lở đất bờ sông, ngập lụt, chảy tràn…

d Hệ thống thủy văn

Chế độ thủy văn mang đặc trưng của vùng ĐBSCL Huyện Chợ Mới có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt được phân bố hầu khắp trên địa bàn Huyện Hệ thống này đóng vai trò rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp và vận chuyển hàng hóa và hành khách

Một số sông chính trên địa bàn Huyện:

Sông Cửu Long chảy qua địa bàn Huyện theo 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu với lưu lượng trung bình hàng năm là 13.500 m3/giây, vào mùa lũ 24.000 m3/giây và vào mùa kiệt là 5.020 m3/giây, cung cấp một lượng nước lớn phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và vận tải thủy

Sông Vàm Nao: đoạn sông nối giữa 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu, chịu ảnh hưởng trực tiếp của Sông Tiền và sông Hậu

Chế độ thủy văn trên địa bàn Huyện chịu sự chi phối bởi các yếu tố dòng chảy sông Tiền và sông Hậu, chế độ mưa và hình thái kênh rạch, phân thành 2 mùa rõ rệt +Mùa kiệt từ tháng 2 đến tháng 5: mực nước thấp có lưu lượng dao động từ 1.000

Trang 30

Bảng 1.1 Các nhóm đất chính huyện Chợ Mới

(ha)

Tỷ lệ (%)

3 Đất glây, tầng mặt dày, dinh dƣỡng kém 1.135 3,07

4 Đất phù sa đang phát triển, glây, dinh

6 Đất phèn tiềm tàng nông, tầng mặt dày,

dinh dƣỡng kém, có phù sa bồi 220 0,60 III Các loại đất xáo trộn (không phân tích) 4.246,06 11,51

Trang 31

21

Nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và các loại hình sản xuất khác Bên cạnh đó, với lưu lượng và trữ lượng nước mặt khá dồi dào là tiền đề để Huyện phát triển kinh tế nông nghiệp

Nguồn nước ngầm

Theo đánh giá của các tài liệu địa chất - thủy văn của tỉnh, nước ngầm ở Chợ Mới

có trữ lượng khá dồi dào nhưng việc quản lý khai thác còn tự phát chưa theo một quy hoạch cụ thể về khai thác và bảo vệ tài nguyên nguồn nước ngầm

c Tài nguyên khoáng sản

Cho đến nay, tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Huyện Chợ Mới không phong phú

và được xác định có giá trị kinh tế không cao, chủ yếu là bột sét và cát mịn do trầm tích trên sông tích tụ dọc theo các bờ sông

1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.2.2.1 Về lĩnh vực kinh tế

a Về sản xuất nông nghiệp

- Tổng diện tích gieo trồng là 66.076 ha, giảm 2,18% (1.473 ha) so cùng kỳ năm 2015; trong đó diện tích lúa 40.817 ha giảm 4,61% (970 ha), năng suất lúa trung bình 03 vụ ước đạt 5,95 tấn/ha (tăng 0,02 tấn/ha so cùng kỳ); diện tích màu 25.259

ha, giảm 1,95% (503 ha) so cùng kỳ; nguyên nhân diện tích lúa, màu giảm do chuyển sang diện tích trồng cây ăn trái và cây màu dài ngày như: khoai cao, ớt,

- Tổng diện tích trồng cây ăn trái tiếp tục phát triển, đến năm 2018 là 6.474,5 ha (tăng 666,5 ha so với năm 2015), trong đó diện tích trồng xoài là 5.707 ha, chiếm 88,1% diện tích (có 127,3 ha xoài đạt chứng nhận VietGAP tại 03 xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp và Bình Phước Xuân) Đến nay Chủ dự án Viện cây ăn quả Miền Nam đã tổ chức tập huấn được 20 lớp cho 730 hộ nông dân về sản xuất xoài theo tiêu chuẩn VietGAP (dự kiến đầu quý II/2019 sẽ hoàn thành chứng nhận 500ha VietGAP) và trong năm đã xuất khẩu được 64,4 tấn xoài vào thị trường Hàn Quốc, Úc

Trang 32

22

- Công tác ứng dụng khoa học kỹ thuật được chú trọng nhằm giảm chi phí giá thành sản xuất như: thực hiện các mô hình trồng rau màu trong nhà lưới, nhà màn ươm cây con, chương trình 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, công nghệ sinh thái,… Chăn nuôi gia súc, gia cầm có xu hướng tăng quy mô về tổng đàn, nhất là chăn nuôi heo

do giá heo hơi tăng ở mức cao Đến nay, tổng đàn bò hiện có là 21.575 con tăng 0,04%; đàn heo là 18.201 con tăng 0,01%; đàn gia cầm là 652.176 con tăng 0,16%

so cùng kỳ Tình hình nuôi thủy sản được thuận lợi do giá cả tiêu thụ ở mức cao, diện tích nuôi cá duy trì ổn định Phối hợp Sở ngành tỉnh tổ chức lễ phát động thả cá bảo tồn, tái tạo nguồn lợi thủy sản tự nhiên tại địa bàn huyện Chợ Mới Rà soát toàn huyện có 43 hộ dân nuôi chim yến (phát sinh mới 37 hộ so với năm trước), huyện

đã chỉ đạo các ngành chuyên môn, địa phương tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, tuân thủ các quy định pháp luật về xây dựng, môi trường, quy hoạch đô thị

- Về kinh tế hợp tác: toàn huyện có 2 trang trại nuôi heo đạt theo tiêu chí mới tại xã Kiến An, Long Điền A và 24 hợp tác xã đang hoạt động (trong đó có 20 HTX nông nghiệp, 01 HTX Nuôi trồng thủy sản, 02 HTX Giao thông vận tải, 01 HTX Khai thác cát) Đã có 23/24 HTX chuyển đổi mô hình hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012

* Công tác Phòng chống thiên tai & TKCN: do ảnh hưởng của mưa bão, đã gây thiệt hại 73 căn nhà (gồm 07 căn sập hoàn toàn, 25 căn tốc mái hoàn toàn, 41 căn tốc mái một phần); địa phương đã thăm hỏi, hỗ trợ cho các hộ có nhà bị thiệt hại bình quân từ 03 - 12 triệu đồng/hộ Sạt lở đất bờ sông xảy ra tại 10 xã, thị trấn với

111 đoạn, tổng chiều dài khoảng 8.076m, ảnh hưởng gần 40 căn nhà, trại quán, không ảnh hưởng về người; chính quyền địa phương đã di dời các hộ bị ảnh hưởng đến nơi an toàn và đã gia cố một số đoạn sạt lở, đề nghị tỉnh hỗ trợ di dời khỏi vùng sạt lở cho 32 hộ (20 triệu đồng/hộ) theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg

Các tuyến đê, cống rò rỉ, tràn đê do ảnh hưởng của nước lũ đã khắc phục, gia cố để đảm bảo an toàn cho sản xuất vụ Thu Đông

Trang 33

23

b Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng

Tổng giá trị sản xuất ước đạt 8.034,42 tỷ đồng tăng 7,13% so cùng kỳ Một số ngành chủ yếu của huyện sản xuất tiếp tục tăng khá như: sản xuất các sản phẩm bằng gỗ tăng 8,19%, xay xát và lau bóng gạo tăng 8,52%, sản xuất dây keo tăng 7,95% so cùng kỳ Các hoạt động khuyến công tiếp tục được thực hiện tốt, từ đầu năm đến nay đã hỗ trợ 01 đề án với số tiền 130 triệu đồng từ nguồn chính sách khuyến công tỉnh năm 2018 Hoạt động làng nghề được quan tâm thường xuyên và tiếp tục trích ngân sách uỷ thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội huyện cho các làng nghề vay vốn nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Được Hội đồng bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh năm 2018 xem xét quyết định đối với 02 sản phẩm: Bánh kẹp Tiến Anh - thị trấn Chợ Mới (đạt cấp khu vực) và Tranh kiếng - Long Điền B (đạt cấp tỉnh) Phát triển mới 37 cơ

sở, giải quyết việc làm cho 70 lao động, với vốn đầu tư 1,583 tỷ đồng

Hiện nay trên địa bàn huyện đã được quy hoạch 03 cụm công nghiệp, gồm: 02 cụm công nghiệp chế biến lương thực Hòa An và Hòa Bình (với diện tích mỗi cụm 75 ha) và đã có nhiều doanh nghiệp tự thoả thuận với dân mua đất và tiến hành xây dựng các nhà máy sản xuất, nhà xưởng với quy mô lớn, nằm phân tán trên địa bàn

ấp An Thạnh xã Hòa An và ấp An Thạnh xã Hòa Bình, chủ yếu là xay xát và chế biến lương thực xuất khẩu, nhưng quy hoạch chi tiết chưa được phê duyệt, vì vậy hiện đang kêu gọi đầu tư lập quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (đường giao thông, hệ thống điện, nước…) để 02 cụm công nghiệp khu công nghiệp này sớm đi vào hoạt động; 01 cụm công nghiệp xay xát, chế biến lương thực xuất khẩu,

cơ sở dây keo và các ngành nghề khác phù hợp theo quy định tại xã Nhơn Mỹ (28 ha) Ngoài ra, đang triển khai lập quy hoạch cụm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng xã Long Giang (48 ha), hiện đang trình Sở Xây dựng thẩm định phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 và cụm công nghiệp làng nghề Mộc Long Điền A

Hệ thống hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư xây dựng, sửa chữa, gia cố, nâng cấp để phục vụ nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hoá và sự đi lại trong nhân

Trang 34

24

dân Đã thi công sửa chữa hoàn thành và đưa vào sử dụng 11 tuyến đường, 05 cây cầu nông thôn và lắp đặt đèn cảnh báo an toàn giao thông đường bộ tại thị trấn Chợ Mới, Mỹ Luông, Hội An,… Quan tâm đầu tư, mở rộng hệ thống điện nước, góp phần nâng cao khả năng cung cấp nguồn điện và nước sạch đáp ứng nhu cầu sản xuất, sinh hoạt trong nhân dân Đến nay tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 99,63%, hộ

2 bước) Đến nay đã giải ngân kế hoạch vốn năm 2018 với giá trị 89,904/169,238 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 53%)

Đối với công trình xây dựng dự án tưới nhỏ giọt trên cây xoài tại 3 xã Tấn Mỹ - Mỹ Hiệp - Bình Phước Xuân và tưới phun sương trên rau màu xã Kiến An (tiến độ thi công đến nay đã đạt 90% khối lượng và đang hoàn thiện để nghiệm thu) Đối với dự

án Nam Vàm Nao: Hiện có 12/14 tuyến đường thi công đạt 100% khối lượng; 02 tuyến đường còn lại đạt trên 90% và đang thực hiện tưới nhựa các đoạn còn lại chuẩn bị bàn giao đưa vào sử dụng; 22/50 cây cầu đã đã lắp xong cầu thép chuẩn bị thông xe, 10 cây cầu đã xong mố cầu đang chuẩn bị lắp giàn cầu thép, 08 cây cầu còn lại đang đóng cọc đại trà và thi công mố, các cây cầu còn lại đang thi công phần

mố cầu và sẽ thông cầu trong tháng 12/2018

Công trình khắc phục sạt lở ấp Mỹ Hòa (Mỹ Hội Đông): Đường đấu nối cụm dân cư đạt 60%; Đường tránh khu sạt lở đạt 70%; Cụm dân cư ấp Mỹ Hòa đã có 11/92 hộ dân bị ảnh hưởng sạt lở Mỹ Hòa và 08 hộ sạt lở xã Kiến Thành vào ở ổn định

Trang 35

25

c Thương mại - dịch vụ

Hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển Huyện thường xuyên phối hợp với các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài huyện tổ chức hội chợ, phiên chợ,… nhằm đưa hàng Việt về nông thôn để kích thích người tiêu dùng, cũng như sản xuất kinh doanh thương mại trên địa bàn huyện Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, nhất là trong các dịp

lễ, Tết, góp phần bình ổn giá cả thị trường Công tác quản lý thị trường và kiểm tra

vệ sinh an toàn thực phẩm được bảo đảm Đầu tư nâng cấp, sửa chữa, thực hiện chuyển đổi mô hình chợ, trung tâm thương mại, nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc giao thương mua bán của người dân Trong năm có 510 hộ đăng ký sản xuất kinh doanh dịch vụ - thương mại, với vốn đầu tư trên 55,8 tỷ đồng

1.2.2.2 Về lĩnh vực Văn hóa – Xã hội

Về giáo dục: Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, củng cố nâng cao chất lượng giáo dục được ngành và địa phương quan tâm thực hiện Phong trào khuyến học được duy trì và đẩy mạnh, tạo cơ hội cho nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn được tiếp tục đến trường

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số kế hoạch hóa gia đình: Ngành y tế thực hiện tốt công tác kiện toàn tổ chức mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, phòng chống dịch bệnh nguy hiểm như sốt xuất huyết, tay chân miệng, virut Zika, không để bùng phát trên diện rộng Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ và chăm sóc bà

mẹ, trẻ em, phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em luôn được chú trọng, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 05 tuổi là 12,6% (giảm 0,36% so với năm 2017) Công tác tiêm chủng mở rộng đã được tổ chức thực hiện đầy đủ

Về Văn hóa thông tin, thể dục thể thao: Tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, thể dục thể thao đã thu hút được sự quan tâm, hưởng ứng của nhân dân Nhiều phong trào,

lễ hội được các ngành, địa phương tổ chức trang trọng, tạo khí thế và phong trào thi đua yêu nước sôi nổi

Trang 36

26

Chính sách xã hội: Trong năm đã thực hiện chi trả trợ cấp kịp thời, đúng chế độ trên

12 ngàn đối tượng hưởng bảo trợ xã hội với tổng kinh phí trên 53 tỷ đồng; thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc các đối tượng chính sách được chu đáo, tổ chức đoàn đến viếng nghĩa trang liệt sĩ, thăm, tặng quà cho gia đình chính sách

1.2.3 Đặc điểm các mô hình canh tác và hệ thống đê bao trên địa bàn huyện

1.2.3.1 Các loại hình sử dụng đất và loại hình canh tác chính trên địa bàn huyện Chợ Mới

a Tình hình chung

Sản xuất nông nghiệp năm 2018 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt hơn cụ thể là tình hình mưa bão, giông lốc ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng; cùng với giá cả các loại vật tư nông nghiệp luôn biến động tăng, dịch bệnh có xu hướng phát triển mạnh, giá cả thị trường tiêu thụ bấp bênh, các Doanh nghiệp tham gia chuỗi liên kết sản xuất đúng nghĩa theo hướng có lợi cho người nông dân rất hạn chế

Trước những khó khăn trên, cùng với hỗ trợ kịp thời của Tỉnh; sự chỉ đạo điều hành linh hoạt của Huyện ủy, UBND huyện, ngành Nông nghiệp & PTNT và các địa phương trong huyện đã tập trung chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp cấp thiết, ứng phó phù hợp nên kết quả sản xuất nông nghiệp tiếp tục duy trì và phát triển ổn định Bên cạnh đó việc tiêu thụ thuận lợi do giá một số sản phẩm nông nghiệp ở mức cao, nhất là giá cá tra đã góp phần phát triển cho ngành nông nghiệp

Trang 37

27

b Kết quả trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng năm 2018 được 66.076 ha Trong đó:

- Diện tích gieo trồng lúa là 40.817 ha, năng suất lúa trung bình 03 vụ ước đạt 5,95 tấn/ha (CK: 5,93 tấn/ha), sản lượng ước đạt 242.861 tấn, so cùng kỳ giảm 4.936 tấn (CK: 247.797 tấn) Sản lượng lúa giảm do giảm diện tích gieo sạ

- Diện tích gieo trồng màu là 25.259 ha, giảm 1,95% bằng 503 ha so cùng kỳ (CK: 25.762 ha) Diện tích gieo trồng giảm do người dân chuyển lên trồng cây ăn trái và trồng cây màu dài ngày (như khoai cao, ớt…) nên vòng quay giảm, kéo theo diện tích gieo trồng giảm

- Rau an toàn: Tập trung chủ yếu tại vùng trồng của xã Kiến An Trong năm diện tích sản xuất rau màu theo hướng an toàn được 9.741 ha, chiếm 38,56% diện tích gieo trồng Nhìn chung đầu ra rau an toàn vẫn còn gặp nhiều khó khăn nên chưa phát triển mở rộng diện tích

- Cây ăn trái: Diện tích trồng cây ăn trái tiếp tục phát triển, đến nay là 6.474,5 ha, tăng 666,5 ha so cùng kỳ Trong đó diện tích trồng xoài là 5.707 ha, chiếm 88,1% diện tích, có 127,3 ha xoài đã được chứng nhận VietGAP Đã kêu gọi được công ty TNHH XNK trái cây Chánh Thu tiêu thụ sản phẩm xoài VietGAP nhằm đảm bảo đầu ra ổn định cho sản phẩm xoài và đã thực hiện xuất khẩu được 64,4 tấn xoài vào thị trường Úc, Hàn Quốc

- Diện tích chuyển dịch: Tổng diện tích chuyển dịch trong năm 2018 là 677,6 ha Trong đó chuyển đổi từ đất lúa là 373,3 ha (chuyển từ lúa sang màu 132,9 ha, chuyển từ lúa sang cây ăn trái 240,4 ha); chuyển đổi từ đất màu sang cây ăn trái 300,2 ha; chuyển đổi từ vườn tạp sang cây ăn trái 4,1 ha

Trang 38

28

c Kỹ thuật trồng trọt một số mô hình cây trồng chính trên địa bàn huyện

- Kỹ thuật trồng lúa nước: Nghiên cứu khu vực chuyên trồng lúa nước trên đất phù

sa chủ yếu tại các huyện ven sông Tiền và sông Hậu của tỉnh cho thấy các khâu kỹ thuật canh tác lúa gồm:

Bảng 1.2 Các kỹ thuật canh tác lúa nước trên địa bàn huyện Chợ Mới

2002, máy móc được sử dụng nhiều hơn và gần như các công việc có máy móc thực hiệc, một số công việc sử dụng thủ công

So với trước đây, việc

cơ giới hóa bằng máy móc đã tác động mạnh vào đất ảnh hưởng đến tính chất vật lý trong đất như: mất kết cấu, tích tụ khoáng sét nhiều hơn,

dễ rửa trôi các chất dinh dưỡng

2 Giống lúa và gieo sạ

Lượng hạt giống sạ khoảng 100-120 kg/ha

Khoảng cách sạ hàng cách hàng 20 cm Các loại lúa giống thường sử dụng có thời gian sinh trưởng ngắn ngày từ 90-100 ngày, năng suất cao, chống chịu với một số sâu bệnh chính

và có phẩm chất gạo tốt

đủ tiêu chuẩn xuất khẩu

OMCS2000, IR64, MTL250, VD95-20, AS996, OM5040, lúa thơm, nếp … So với năm

2002, chất lượng giống lúa đã được cải tạo, tuyển chon phù hợp, công việc gieo sạ có sự hỗ trợ của máy móc

Khâu canh tác này không ảnh hưởng nhiều đến thoái hóa đất do ít tác động đến đất

3 Bón phân Chủ yếu sử dụng các loại Chủ yếu sử dụng phân

Trang 39

So với năm 2002, lượng phân bón vô cơ sử dụng nhiều hơn trước với nhiều loại phân khác nhau

bón vô cơ nên ảnh hưởng rất lớn đến sự thay đổi một số tính chất hóa học trong đất như: gây chua đất, mất cần bằng dinh dưỡng và xuất hiện chai cứng đất…

thuốc kích thích

(Bidamin, Siêu to hạt …)

Liều lượng sử dụng có cao hơn so với khuyến cáo từ 1-2 lần, cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bằng máy phun tự chế hoặc kết hợp với thủ công So với năm 2002, các loại thuốc được sử dụng nhiều hơn với nhiều loại đặc chủng, việc phun thuốc có sự hỗ trợ của máy móc

Việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật đều nằm trong danh mục cho phép sử dụng, tuy liều lượng có cao hơn so với khuyến cáo nhưng các hợp chất trong thuốc không tích tụ trong đất hoặc rất ít, do đó không hoặc ít ảnh hưởng đến thoái hóa đất

5 Xử lý phế phẩm

Gồm rơm, rạ thường được đốt tại ruộng hoặc thu gom làm nấm, cho trâu,

bò ăn…So với năm 2002, rơm rạ để lại ở ruộng ít hơn do bị đốt hoặc lấy về

sử dụng cho mục đích khác, trước đây thường để

Chất hữu cơ trong rơm

rạ bị đốt cháy tại ruộng chưa đủ thời gian phân hủy dẫn nên gây độc, chua đất và ảnh hưởng đến vi sinh vật có ích trong đất

Trang 40

Năm 2002 các khu vực thường không có đê bao, thời gian ngập lũ nhiều và phù sa được bồi đắp lớn nhưng chỉ canh tác được 1-2 vụ trong năm

Xây dựng hệ thống đê bao làm cho lượng phù

sa không bồi đắp cho đất nên ảnh hưởng rất lớn đến độ phì nhiêu của đất, đặc biệt là trong khu vực đê bao khép kín

Qua phân tích các kỹ thuật canh tác lúa ở bảng trên cho thấy có 6 khâu chính trong canh tác lúa nhưng có đến 4 khâu quan trọng trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến thoái hóa đất gồm: chuẩn bị đất, bón phân, xử lý phế phẩm và xây dựng hệ thống đê bao Nghiên cứu và theo dõi tập trung ở 4 khâu canh tác này nhận thấy có 2 khâu ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ phì nhiêu của đất phù sa là bón phân và xây dựng

hệ thống đê bao Hai khâu canh tác này đã tác động trực tiếp vào các tính chất hóa học trong đất và làm giảm độ màu mỡ của đất dẫn đến thoái hóa Vấn đề lạm dụng phân bón vô cơ đã có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh những ảnh hưởng của phân bón từ thực tế canh tác của địa phương (Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI))

Các kỹ thuật và mức độ đầu tư canh tác lúa nước tương đối như nhau trong khu vực đất phù sa, tuy nhiên có sự khác nhau về cơ cấu mùa vụ do hệ thống đê bao ngăn lũ

Cụ thể trong đê bao triệt để cơ cấu 3 vụ lúa quay vòng liên tục trong năm, trong đê bao không triệt để cơ cấu 2 vụ lúa và có thời gian để ngập lũ, còn lại khu vực ngoài

đê bao có cơ cấu 1-2 vụ lúa tùy thuộc vào mức độ và thời gian ngập lũ

Ngày đăng: 27/05/2021, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm