Đối với đội ngũ cán bộ hoạt động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và doanh nghiệp không chỉ đòi hỏi bản lĩnh chính trị vững vàng mà cần phải không ngừng bổ xung, nâng cao v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA KẾ TOÁN -o0o-o0o-o0o-
BỘ MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ
Bài tiểu luận
Đề tài 1: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 Thực trạng và giải pháp
Trang 2A -o0o- PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Phạm vi nghiên cứu 2
3.Phương pháp nghiên cứu 2
B -o0o- PHẦN NỘI DUNG 3
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 3
I.KHÁI NIỆM CHUNG 3
1 Khái niệm nguồn nhân lực 3
2.Phân loại nguồn nhân lực 6
3 Khái niệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 8
II.KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 10
1 Khái niệm 10
2 Đặc điểm 10
III NỘI DUNG, NGUYÊN TẮC, TỔ CHỨC CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 11
1 Nội dung 11
2 Nguyên tắc và mục đích của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực 12
3 Tổ chức phát triển và đào tạo nguồn nhân lực 14
IV QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 15
1.Xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 15
2 Tiến trình đào tạo và phát triển 16
PHẦN II: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 19
I.THỰC TRẠNG CHUNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 19
II.THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 23
PHẦN III: GIẢI PHÁP CHO ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 25
I.CÁC GIẢI PHÁP VĨ MÔ 25
Trang 3II CÁC GIẢI PHÁP VI MÔ 28
C – PHẦN KẾT LUẬN 32 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 4
1
A -o0o- PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Trong thời đại cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại, tri thức khoa học và thông tin
trở thành bộ phận cấu thành quan trọng hàng đầu của lực lượng sản xuất, đồng thời
đóng vai trò quyết định đối với nền sản xuất vật chất trên qui mô toàn cầu Nền kinh tế
thế giới đang biến động mạnh mẽ trong cơ cấu chức năng lẫn phương thức hoạt động
và sự phát triển của nó ngày càng phụ thuộc vào nhân tố tri thức-trí tuệ Sự biến đổi
này đang tạo dựng một bước ngoặt lịch sử đánh dấu kỷ nguyên hình thành nền kinh tế
mới – nền kinh tế tri thức
Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN, Đảng
và Nhà nước ta luôn chú trọng vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, coi đây là một trọng
tâm trong “sự nghiệp trồng người”, là chìa khoá mở cánh cửa đến tương lai phồn thịnh
và hội nhập quốc tế
Có thể thấy, để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, chúng ta không thể có sự lựa chọn
nào khác là phải coi trọng xu hướng phát triển kinh tế thị trường, biến tri thức trở
thành trí lực-động lực cho sự phát triển đất nước Bởi vậy, vấn đề đào tạo nguồn nhân
lực ở nước ta hiện nay là vấn đề cấp bách, phải thực sự đặt lên hàng đầu trong chiến
lược phát triển kinh tế – xã hội Đào tạo nguồn nhân lực trong xu hướng phát triển nền
kinh tế thị trường phải trở thành nội dung then chốt trong chiến lược phát triển con
người ở nước ta trong những thập niên đầu tiên của thế kỷ mới Đội ngũ cán bộ, công
chức quản lý xã hội và kinh tế phải thực sự đi tiên phong trong việc nắm bắt xu thế
phát triển kinh tế thị trường và rất cần thiết phải được nâng cao tri thức khoa
học-công nghệ hiện đại Đối với đội ngũ cán bộ hoạt động trong các cơ quan của Đảng,
Nhà nước, đoàn thể và doanh nghiệp không chỉ đòi hỏi bản lĩnh chính trị vững vàng
mà cần phải không ngừng bổ xung, nâng cao và cập nhật tri thức nhằm tăng cường
năng lực tác nghiệp-trình độ chuyên môn, xử lí sáng tạo, hiệu quả những vấn đề đặt ra
trong công tác
Trong dòng chảy tất yếu của xã hội, bất kì ai nếu không chủ động học tập, đào tạo và
tự đào tạo để thích nghi tức là không đủ sinh lực tăng tốc sẽ bị gạt bỏ lại phía sau Đây
cũng là logic đặc trưng của thế kỉ XXI- thế kỷ kinh tế thị trường và điều này đã được
tính đến trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực quốc gia tại Đại hội toàn quốc lần
thứ IX
Việt Nam đang bước trên con đường phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước, cùng với xu hướng hội nhập quốc tế khi gia nhập WTO, đòi hỏi chất lượng
nguồn nhân lực ngày càng cao, nhu cầu về lao động trình độ cao là rất lớn Tuy nhiên,
hiện nay nguồn nhân lực Việt Nam tuy dồi dào về số lượng nhưng lại yếu và thiếu về
chất lượng, mà đây mới là điều có ý nghĩa quan trọng Nguồn nhân lực Việt Nam hiện
Trang 5nay chưa có trình độ học vấn cũng như trình độ chuyên môn cao, chưa đáp ứng được
yêu cầu của thị trường và quá trình hội nhập Vì vậy vấn đề đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực là một vấn đề nóng và bức thiết đặt ra, cần được giải quyết và cái
thiện hiện nay
Chính vì lý do trên mà nhóm em đã nghiên cứu đề tài: “Đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 Thực trạng và giải pháp”.
2.Phạm vi nghiên cứu
Nguồn nhân lực Việt Nam và công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
3.Phương pháp nghiên cứu
-o0o- Phần I Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh
nghiệp ở Việt Nam
-o0o- Phần II: Thực trạng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp ở
Việt Nam
-o0o- Phần III: Giải pháp cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Trang 6
3
PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
I.KHÁI NIỆM CHUNG
1 Khái niệm nguồn nhân lực
Theo giáo trình kinh tế lao động, Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người được
nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh Theo nghĩa hẹp nó bao gồm các nhóm dân cư trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động, như vậy nguồn nhân lực tương đương với
nguồn lao động Theo nghĩa rộng nguồn nhân lực gồm những người từ đủ 15 tuổi trở
lên, nó là tổng hợp những cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao
động
Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
“nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc
gia, suy rộng ra có thể được xác đinh trên một địa phương, một ngành hay một vùng
Đây là nguồn nhân lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội.”
Ở nhiều nơi còn hiểu rằng nguồn nhân lực đồng nhất với lực lượng lao động Theo
ILO, lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham
gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm
Khái niệm nguồn lao động rộng hơn khái niệm lực lượng lao động Nó không chỉ bao
gồm cả lực lượng lao động mà còn bao gồm cả bộ phận dân số từ đủ 15 tuổi trở lên có
khả năng lao động, nhưng chưa tham gia gia hoạt động kinh tế như: đang đi học, nội
trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc hoặc trong tình trạng khác (nghỉ hưởng chế độ
nhưng vẫn có khả năng lao động) Như vậy, ở một không gian và thời gian xác định,
khái niệm nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động
Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên với
lực lượng lao động và nguồn lao động ở Việt Nam
Trang 7Nguồn nhân lực được xem xét dưới 2 giác độ là số lượng và chất lượng:
+ Số lượng nguồn nhân lực: Đo lường thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng Các
chỉ tiêu này có liên quan mật thiết với quy mô và tốc độ tăng dân số Quy mô và tốc
độ tăng dân số càng lớn thì quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược
lại Tuy nhiên sự tác động đó phải sau một khoảng thời gian nhất định mới có biểu
hiện rõ (vì con người phải phát triển đến một mức độ nhất định mới trở thành người
có sức lao động, có khả năng lao động)
+ Chất lượng nguồn nhân lực: là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối
quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực Chất
lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế và đời sống
người dân trong một xã hội nhất định Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện thông qua
một hệ thống các chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chủ yếu sau:
Chỉ tiêu biểu hiện trạng thái sức khỏe của nguồn nhân lực:
Dân s ố từ đủ 15 tuổi trở lên
Có kh ả năng lao động Không có kh ả năng lao động
Đi học
Nội trợ cho gia đình mình
Không
có nhu cầu làm việc
Tình trạng khác
Lực lượng
Trang 8
5
Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất cũng như tinh thần của con người, và
được biểu hiện thông qua nhiều chuẩn mức đo lường về chiều cao, cân nặng, các giác
quan nội khoa, ngoại khoa… Bên cạnh việc đánh giá trạng thái sức khỏe của người
lao động, người ta còn nêu ra các chỉ tiêu đánh giá của một quốc gia như tỷ lệ sinh,
chết, tăng tự nhiên…
Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hóa của nguồn nhân lực:
Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là trạng thái hiểu biết của người lao động đối
với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hội Trong chừng mực nhất định,
trình độ văn hóa dân cư biểu hiện mặt bằng dân trí của một quốc gia Trình độ văn hóa
của nguồn nhân lực được lượng hóa qua các quan hệ tỷ lệ
- Số lượng và tỷ lệ biết chữ
- Số lượng và tỷ lệ người qua các cấp học như tiểu học (cấp I), phổ thông cơ sở (cấp
II), trung học phổ thông (cấp III), cao đẳng, đại học, trên đại học…
Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh chất
lượng nguồn nhân lực và có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển kinh tế xã hội
Trình độ văn hóa cao tạo khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn
Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật nguồn nhân lực
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là trạng thái hiểu biết, khả năng thực hành về một
chuyên môn nghề nghiệp nào đó được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:
- Số lượng lao động được đào tạo và chưa qua đào tạo;
- Cơ cấu lao động được đào tạo:
+ Cấp đào tạo (sơ cấp, trung cấp, cao cấp)
+ Công nhân kỹ thuật và cán bộ chuyên môn;
+ Trình độ đào tạo (cơ cấu bậc thợ, cơ cấu ngành nghề…)
Chỉ tiêu trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực là chỉ tiêu quan trọng nhất
phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, thông qua chỉ tiêu quan trọng này cho thấy nâng
lực sản xuất của con người trong ngành, trong một quốc gia, một vùng lãnh thổ, khả
năng sử dụng khoa học hiện đại vào sản xuất
Chỉ số phát triển con người (HDI – Human development index) chỉ số này được
tính theo ba chỉ tiêu chủ yếu:
- Tuổi thọ bình quân;
Trang 9- Thu nhập bình quân GDP/người
- Trình độ học vấn (tỷ lệ biết chữ và số năm đi học trung bình dân cư)
Chỉ tiêu HDI là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển con người về kinh tế có tính đến chất
lượng cuộc sống và công bằng, tiến bộ xã hội
Ngoài những chỉ tiêu trên, người ta còn xem xét năng lực phẩm chất nguồn nhân lực
thông qua các chỉ tiêu: truyền thống lịch sử, nền văn hóa, văn minh, phong tục tập
quán của dân tộc… Chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí, năng lực tinh thần của người
lao động
2.Phân loại nguồn nhân lực
Tùy theo giác độ nghiên cứu mà người ta phân chia nguồn nhân lực theo các tiêu thức
khác
2.1 Căn cứ vào nguồn gốc hình thành:
Một là, nguồn nhân lực có sẵn trong dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao
động có khả năng lao động Theo thống kê của liên hợp quốc nhóm này là dân số hoạt
động (Active population)
Độ tuổi lao động là giới hạn về tâm sinh lý mà theo đó con người có đủ điều kiện
tham gia vào quá trình lao động Việc quy định giới hạn độ tuổi lao động phụ thuộc
vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước và trong từng thời kỳ Ở nước ta quy định
giới hạn độ tuổi lao động là từ tròn 15 tuổi đến tròn 55 tuổi (đối với nữ) và 60 tuổi
(đối với nam giới)
Hai là, nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế còn gọi là dân số hoạt động kinh
tế Đây là số người có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành kinh tế quốc
Trang 10
7
dân Như vậy nguồn nhân lực này không bao gồm những người trong độ tuổi lao động
có khả năng hoặc động kinh tế nhưng thực tế không tham gia hoạt động kinh tế (thất
nghiệp, có khả năng làm việc song không muốn làm việc, đang học tập…)
Ba là, nguồn nhân lực dự trữ Nguồn nhân lực này bao gồm những người trong độ
tuổi lao động nhưng vì những lí do khác nhau chưa tham gia hoạt động kinh tế song
khi cần có thể huy động được Cụ thể là:
- Những người làm công việc nội trợ trong gia đình Đây là nguồn nhân lực đáng kể
bao gồm đại bộ phận lao động nữ Họ làm những việc phục vụ gia đình, những công
việc thường đa dạng và khá vất vả đặc biệt ở những nước đang phát triển Công việc
nội trợ là những hoạt động có ích và cần thiết, khi có thuận lợi, loại lao động này có
thể gia nhập vào hoạt động kinh tế xã hội
- Những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông trung học và chuyên nghiệp song
chưa có việc làm, được coi là nguồn nhân lực dự trữ quan trọng và có chất lượng Đây
là nguồn nhân lực ở độ tuổi thanh niên có học vấn có trình độ cao Tuy nhiên đối với
nguồn nhân lực này cần được phân chia tỷ mỉ hơn để có thể sử dụng hợp lý hơn (số tốt
nghiệp phổ thông trung học, số tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, đại học, công
nhân kỹ thuật, cao đẳng…)
- Những người hoàn thành nghĩa vụ quân sự
- Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp…
2.2 Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực
- Nguồn lao động chính: Đây là bộ phận nguồn nhân lực nằm trong độ tuổi lao động
và là bộ phận quan trọng nhất
- Nguồn lao động phụ: Đây là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi lao động có thể và
cần tham gia vào nền sản xuất xã hội đặc biệt ở các nước kém phát triển Ở nước ta
quy định số người dưới tuổi lao động thiếu từ 1 – 3 tuổi và trên tuổi lao động vượt từ 1
– 5 tuổi thực tế có tham gia lao động được quy ra lao động chính với hệ số quy đổi là
1/3 và 1/2 ứng với người dưới và trên tuổi Hiện nay có ý kiến cho rằng không nên
tính số trẻ em dưới tuổi lao động vào nguồn nhân lực
- Nguồn lao động bổ sung: là bộ phận nguồn nhân lực được bổ sung từ các nguồn
khác (số người hết hạn nghĩa vụ quân sự, số người trong độ tuổi thôi học ra trường, số
người lao động ở nước ngoài trở về…)
Sơ đồ 2: Hệ thống phân loại nguồn nhân lực
Trang 113 Khái niệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo nguồn nhân lực: Là quá trình trang bị những kiến thức nhất định về
chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận một nghề nào đó,
hay để làm tốt hơn một công việc nào đó, hoặc để làm những công việc khác trong
tương lai
Đào tạo nguồn nhân lực gồm các nội dung:
- Trang bị kiến thức phổ thông (giáo dục phổ thông)
- Trang bị kiến thức chuyên nghiệp (giáo dục chuyên nghiệp)
- Trang bị kiến thức quản lý
Các hình thức đào tạo bao gồm:
• Đào tạo mới: tức là đào tạo cho những người chưa có nghề, để họ có được một nghề
nào đó trong nền kinh tế
• Đào tạo lại: là đào tạo cho những người đã có nghề, nhưng nghề đó hiện không còn
phù hợp nữa
• Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề: là đào tạo cho những người đã có nghề, để
họ có thể làm những công việc phức tạp hơn, có yêu cầu trình độ cao hơn Về phân
loại đào tạo, thường thì đào tạo được phân ra làm hai loại là đào tạo công nhân kỹ
thuật và đào tạo cán bộ chuyên môn
Phát triển nguồn nhân lực: Là toàn bộ những hoạt động tác động vào người lao
động, để người lao động có đủ khả năng phục vụ cho nhu cầu về lao động trong tương
lai để khắc phục những sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng cho những công việc hiện
vi ệc
Lao đ ộng đang làm vi ệc trong các ngành kinh tế quốc dân
L ực lượng lao động đang thất nghiệp
Trang 12
9
tại Còn phát triển mang nghĩa rộng hơn, nó không chỉ bao gồm vấn đề đào tạo mà còn
rất nhiều những vấn đề khác, như chăm sóc y tế, tuyên truyền sức khoẻ cộng đồng
nhằm phát triển nguồn nhân lực trên mọi phương diện Về mặt thời gian, phát triển
nguồn nhân lực mang tính chất dài hạn, lâu dài hơn trong nền kinh tế
Như vậy, xét về nội dung, phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là:
giáo dục, đào tạo và phát triển
- Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào
một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai
- Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng): được hiểu là các hoạt động học tập
nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ
của mình Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về
công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của
người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn
- Phát triển: là các hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của
người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định
hướng tương lai của tổ chức
II.KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM NGUỒN NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP
1 Khái niệm
Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số
người có trong danh sách của doanh nghiệp Hay nói cách khác nguồn nhân lực trong
các doanh nghiệp là tất cả cọi cá nhân tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp Việc
khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này có tính chất quyết định đến sự thành bại
của doanh nghiệp
2 Đặc điểm
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
1 Nguồn nhân lực tạo ra sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của doanh nghiệp
Bằng sức lao động và cùng với các hoạt động nhận thức, tình cảm, ý trí và hành
Trang 13động Các thành viên trong doanh nghiệp sở dụng công cụ lao động và các yếu tố
khác để tác động vào đối tượng lao động, tạo ra các sản phẩm, hàng hoá dịch vụ Điều
này thể hiện sức mạnh vật chất của nguồn nhân lực Mặt khác, doanh nghiệp hoạt
động như một cơ thể sống, nghĩa là còn có “phần hồn”, phản ánh sức sống tinh thần
thông qua văn hoá doanh nghiệp, được tạo ra bởi triết lí và đạo đức kinh doanh, truyền
thống, lễ nghi và nghệ thuật ứng xử trong tập thể lao động và giữa các thành viên của
nó Như vậy sức mạnh tinh thần của doanh nghiệp cũng được hình thành từ nguồn
nhân lực
2 Nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá trên phương diện số lượng, chất lượng,
cơ cấu và tính năng lao động, phản ánh thông qua số lượng lao động, trình độ chuyên
môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức làm việc, tinh thần tự giác, kết quả công việc, tuổi
tác, giới tính, sự biến động, sự thay đổi về các phương diện trên sao cho phù hợp với
các yêu cầu hoạt động của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ
3 Cũng như các nguồn lực khác, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cũng bị hao phí
và hao mòn trong quá trình khai thác và sử dụng Sự khôi phục, củng cố và phát triển
nguồn lực này được coi là yếu tố sống còn của doanh nghiệp
4 Sức mạnh vật chất và tinh thần của nguồn nhân lực có nguồn gốc từ cá nhân (người
lao động) Nó phát sinh từ động cơ và động lực thúc đẩy cá nhân Nói cách khác, chỉ
có thể phát huy và sử dụng nguồn lực này trên cơ sở khai thác các động cơ cá nhân,
kết hợp các động cơ này để tạo nên động lực thúc đẩy chung cho cả doanh nghiệp
5 Không giống như các nguồn lực khác, nguồn nhân lực luôn bị chi phối bởi nhiều
yếu tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài doanh nghiệp như quan hệ sản
xuất và phương thức sản xuất xã hội, các thể chế, các quan hệ xã hội, trình độ, tổ chức
và quản lý nhân sự trong doanh nghiệp, đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu và động cơ cá
nhân, hoàn cảnh và môi trường làm việc
6 Việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phải được xem xét
trên hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Nghĩa là, việc sử dụng nguồn lực
này phải đem lại lợi ích kinh tế- xã hội cho doanh nghiệp Vấn đề khai 8 thác, sử
dụng, củng cố và phát triển nguồn nhân lực không phải chỉ là vấn đề riêng của mỗi
doanh nghiệp mà còn là vấn đề của xã hội
7 Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không phải tự nhiên mà có, cũng không phải tự
thân nó đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh mà phải trải
qua một qua trình tuyển chọn, đào tạo và phát triển
Trang 14
11
III NỘI DUNG, NGUYÊN TẮC, TỔ CHỨC CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1 Nội dung
1.1 Vì sao các doanh nghiệp tiến hành phát triển và đào tạo nguồn nhân lực:
Có ba lí do sau:
Thứ nhất: Để chuẩn bị và bù đắp vào những chỗ bị thiếu, bị bỏ trống Sự bù đắp và
bổ sung này diễn ra thường xuyên nhằm làm cho doanh nghiệp hoạt động trôi chảy
Thứ hai: Để chuẩn bị cho những người lao động thực hiện được những trách nhiệm
và nhiệm vụ mới do có sự thay đổi trong mục tiêu, cơ cấu, những thay đổi về luật
pháp, chính sách và kỹ thuật công nghệ mới tạo ra
Thứ ba: Để hoạn thiện khả năng của người lao động (thực hiện những nhiệm vụ hiện
tại cũng như trong tương lai một cách hiệu quả hơn)
1.2 Tác dụng của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực
Thứ nhất: Giảm bớt được sự giám sát vì đối người lao động được đào tạo họ là người
có thể tự giám sát
Thứ hai: Giảm bớt những tai nạn vì nhiều tai nạn xảy ra là do những hạn chế của con
người hơn là những hạn chế của trang thiết bị hay những hạn chế về điều kiện làm
việc
Thứ ba: Sự ổn định và năng động của tổ chức tăng lên, chúng đảm bảo hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp ngay cả khi thiếu những người chủ chốt do có nguồn đào tạo
dự trữ để thay thế
2 Nguyên tắc và mục đích của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực
2.1 Nguyên tắc:
Thứ nhất: Con người sống hoàn toàn có năng lực để phát triển Mọi người trong một
tổ chức đều có khả năng để phát triển và sẽ cố gắng thường xuyên phát triển để giữ
vững sự tăng trưởng của doanh nghiệp cũng như của cá nhân họ
Thứ hai: Mỗi người đều có giá trị riêng Vì vậy, mỗi người là một con người cụ thể,
khác với những người khác và đều có khả năng đóng góp những sáng kiến
Thứ ba: Lợi ích của người lao động và những mục tiêu của tổ chức có thẻ kết hợp
được với nhau Những mục tiêu của tổ chức về phát triển nguồn nhân lực bao gồm:
- Động viên, khuyến khích mọi thành viên cố gắng tăng cường sự đóng góp của họ
cho tổ chức
- Thu hút và sử dụng những người có đủ năng lực, trình độ
Trang 15- Đạt được giá trị lớn nhất, thông qua những sản phẩm của người lao động làm ra để
bù lại những chi phí bỏ ra cho đào tạo và phát triển họ Mặt khác những mong đợi của
người lao động qua đào tạo và phát triển là:
- Ổn định để phát triển
- Có những cơ hội tiến bộ, thăng chức
- Cố những vị trí làm việc thuận lợi mà ở đó có thể đóng góp, cống hiến được nhiều
nhất
- Được cung cấp những thông tin về đào tạo có liên quan đến họ
Thứ tư: Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo người lao động là một sự đầu tư sẽ sinh
lợi đáng kể vì phát triển và đào tạo nguồn nhân lực là những phương tiện để đạt được
sự phát triển tổ chức có hiệu quả nhất
2.2 Mục tiêu của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực:
Sử dụng tối đa nguồn nhân lực là mục đích chính của phát triển các nguồn lực- đào
tạo người lao động là để chuẩn bị cho con người thực hiện chức năng, nhiệm vụ một
cách tự giác và tốt hơn và có những am hiểu hơn về công việc của họ, phát triển một
thái độ hợp tác tự nguyện giữa những người lao động và bộ phận quản lý Nó cũng
phát triển những kỹ năng và những hiểu biết nhất định trong quản lý để có thể bảo
đảm một sự hiệp tác đầy đủ từ mỗi bộ phận khác nhau và các cấp dưới của họ
Mục tiêu cơ bản của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp
gồm các mục tiêu sau:
Trang 16
13
- Xây dựng và thực hiện một kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của toàn doanh
nghiệp bằng những hoạt động, phát triển và đào tạo có tổ chức của những nhóm khác
nhau, thực hiện phân tích, đánh giá nhu cầu đào tạo của người lao động ở mọi trình
độ
- Chuẩn bị chuyên gia để quản lý, điều khiển và đánh giá những chương trình phát
triển và đào tạo
- Xây dựng một phương án nghề nghiệp và một kế hoạch phát triển từng thời kỳ nhất
định, phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp, sắp xếp theo thứ tự những nghề chủ
yếu
- Nghiên cứu về nhân lực, chuẩn bị những số liệu về cơ cấu lao động và lĩnh vực có
liên quan
- Tạo thuận tiện cho thông tin nội bộ giữa các bộ phận quản lý và người lao động
Thông tin ngược có liên quan đến bộ phận, động cơ của người lao động và tương tự
3 Tổ chức phát triển và đào tạo nguồn nhân lực
Bất kì kiểu cơ cấu nào về tổ chức, phát triển nguồn nhân lực, tiêu chuẩn chính phải
thoả mãn là phải góp phần một cách hiệu quả vào quá trình kinh doanh của doanh
nghiệp
Việc phát triển nguồn nhân lực thực ra không phải vì họ chỉ có vai trò người giúp việc
thuộc về bộ phận quản lý nhân lực Quản lý theo kiểu mệnh lệnh- hành chính khác với
quản lý theo kiểu phát triển các nguồn nhân lực Kiểu quản lý mệnh lệnh – hành chính
gắn với tệ quan liêu thù địch, xét xử và cố chấp về giờ giấc trong làm việc Còn chiến
lược phát triển nguồn nhân lực là vấn đề con người, giáo dục hoạt động và lợi ích của
người lao động và cả bộ phận quản lý
Nhiều tổ chức sử dụng những người quản lý nhân lực, đồng thời cũng có một phòng
phát triển nguồn nhân lực, tồn tại độc lập Loại cơ cấu này thường có trong các doanh
nghiệp loại trung bình và trong một số tổ chức lớn, nơi mà chức năng đào tạo có tầm
quan trọng Bộ phận này liên hệ trực tiếp với phó giám đốc quản trị hay quản trị
trưởng của doanh nghiệp, vì vậy phát triển và đào tạo nguồn nhân lực được tách ra từ
chức năng quản trị nhân lực Những chuyên gia về phát triển nguồn nhân lực được gọi
là: Người quản lý nguồn nhân lực, người quản lý phát triển sức lao động, người đào
tạo, nhân viên đào tạo, chuyên gia đào tạo hay giám đốc đào tạo, phải đảm nhận
những vai trò khác nhau phối hợp với môi trường làm việc của họ Để đạt được hiệu
quả họ phải là những người có kiến thức, sáng tạo, suy nghĩ rộng, biết phối hợp hành
động, ham hiểu biết và thông minh, họ là người giỏi về quan hệ với con người, có tinh
thần tập thể, có đầy đủ khả năng về quản lý, về kỹ thuật, về phân tích và xây dựng các
quan niệm
Trang 17Về kiến thức, chuyên gia về phát triển nguồn nhân lực nên có kiến thức về những môn
khoa học xã hội hay hành vi cư xử như tâm lý học, tâm lý xã hội học, giáo dục học
Cũng là hoàn toàn có ích cho người chuyên gia phát triển nguồn nhân lực, nếu họ có
kiến thức về những môn như qui hoạch tuyến tính, lý thuyết hệ thống, kỹ thuật, công
nghệ thông tin, marketing, sản xuất
Mục đích toàn bộ của việc kết hợp những môn học là đưa đến kiến thức rộng và xa
hơn ngoài chuyên môn hẹp của họ Nếu chỉ có chuyên môn hẹp sẽ gặp khó khăn
Chuyên gia về phát triển nguồn nhân lực và bộ phận đào tạo cần phải có kiến thức
rộng và kỹ năng cao để đảm đương được vai trò quan trọng của nó
IV QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.Xác định nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
1.1 Tại sao cần phải đào tạo và phát triển?
Đó là một câu hỏi mà hầu như ai cũng có thể giải đáp được Đối với một công ty mới
thành lập thì nhu cầu đào tạo nhân viên là một nhiệm vụ cấp bách và quan trọng nhất
Bởi vì cho dù chúng ta có lắp đặt cả một hệ thống máy móc tinh vi mà không có người
biết điều khiển cũng trở nên vô ích Đó là chưa kể các nghiệp vụ có tính cách vô hình
như các kỹ năng quản trị Đối với một công ty lâu đời thì nhu cầu đào tạo huấn luyện
và giáo dục lại là vấn đề khác Họ biết rõ nhân viên mới còn thiếu các kỹ năng nào, dù
lâu hay mau thì người mới tuyển phải qua một thời kỳ đào tạo
Chúng ta đang sống trong thời đại mà nhịp độ thay đổi diễn ra với một tốc độ chóng
mặt - đó là thời đại bùng nổ công nghệ, bùng nổ thông tin Những “bùng nổ” này đã
tác động mạnh đến dây chuyền sản xuất, đến cung cách quản lý, đến nếp sống của mọi
người trong doanh nghiệp Và cũng chính sự bùng nổ này mà các cấp lãnh đạo thấy
cần phải trang bị cho mọi người các kiến thức và kỹ năng mới để theo kịp với sự thay
đổi Nhu cầu đào tạo và phát triển trở nên cấp bách hơn bao giờ hết
1.2 Tiến trình đáp ứng với sự thay đổi
Sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức nhân sự là điều tất yếu phải xảy ra Tổ chức nào thích
ứng một cách năng động với những thay đổi, tổ chức đó dễ thành công nhất
Sự đổi mới hay thay đổi nhân sự trong một tổ chức không bao giờ diễn ra một cách
êm ái, phẳng lặng Khi cấp lãnh đạo dã ý thức được các nhu cầu thay đổi và lựa chọn
các phương pháp đào tạo và phát triển thích hợp, tức thì trong tổ chức sẽ nảy sinh một
lực lượng đối kháng- lực của những người sợ thay đổi, đây là điều “tự nhiên” Sự
chống đối này không nên qui cho cá tính nội tại của nhân viên nhưng nên giải thích
dưới khía cạnh những kì vọng và kinh nghiệm trong quá khứ Để giảm bớt sự đối
kháng này, cần phải:
- Tạo sự tin tưởng nơi công nhân vào cấp quản trị liên hệ trực tiếp đến kinh nghiệm