Đồng thời, việc nghiên cứu cũng phục vụ cho việc học tập của em và mongmuốn có thể góp một phần nhỏ làm sáng tỏ nội dung của pháp luật quốc tịch.Bên cạnh những văn bản pháp luật trong nư
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Quốc tịch là một vấn đề có ý nghĩa chính trị, pháp lý và xã hội đặc biệtquan trọng Pháp luật quốc tịch là công cụ pháp lý, thông qua đó nhà nước thểhiện chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế và quyền lực nhà nước đối vớidân cư trong lãnh thổ của mình Bên cạnh đó, nó còn là căn cứ quan trọng đểphân biệt công dân của các quốc gia để từ đó có thể xác định hệ thống quyền vànghĩa vụ của công dân Quốc tịch cũng là cơ sở pháp lý và là một trong các căn
cứ để quốc gia có thể bảo hộ công dân nước mình ở nước ngoài
Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nên ngay từ những ngày đầu nước Việt NamDân chủ cộng hòa ra đời, pháp luật về quốc tịch đã được đặc biệt coi trọng Xuyênsuốt quá trình phát triển của đất nước, pháp luật quốc tịch Việt Nam luôn chịu sựảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ của các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử phát triển củaViệt Nam trong từng giai đoạn Điều đó đã tạo ra những quy định pháp luật khácnhau qua từng thời kì, quy định sau là sự kế thừa, phát triển, hoàn thiện của quyđịnh trước và góp phần giải quyết những nhu cầu, đòi hỏi đặt ra xung quanh vấn đềquốc tịch của công dân Việt Nam trong từng tiến trình lịch sử nhất định
Hiện nay, trong thực tế, có những ý kiến cũng như quan điểm về các nộidung của pháp luật quốc tịch Việt Nam nhưng lại tách ra khỏi hoặc không phântích kĩ các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử tương ứng Đây chính là một trong nhiềunguyên nhân dẫn đến việc phân tích, đánh giá không chính xác các quy định vềquốc tịch Việt Nam và đã tạo ra luồng tư tưởng không tốt trong nhân dân
Xuất phát từ những lý do trên, khóa luận sẽ tập trung đi phân tích và làm rõthêm quá trình hình thành phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam, dựa trênnền tảng phân tích từng thời kỳ lịch sử tương ứng với từng dấu mốc phát triểncủa pháp luật quốc tịch nước ta
Nội dung chính của khóa luận tập trung vào sự phát triển của các chế địnhpháp luật quốc tịch Việt Nam theo từng thời kì lịch sử, làm rõ và giải thích sự khácnhau của chế định qua mỗi thời kì phát triển, để từ đó có thể đưa ra một số ý kiến
cá nhân và giúp người đọc có một cái nhìn sâu hơn về pháp luật quốc tịch Việt
Trang 2Nam Đồng thời, việc nghiên cứu cũng phục vụ cho việc học tập của em và mongmuốn có thể góp một phần nhỏ làm sáng tỏ nội dung của pháp luật quốc tịch.
Bên cạnh những văn bản pháp luật trong nước (Hiến pháp, luật dân sự, luậtquốc tịch), em cũng xin đề cập tới các quy định về quốc tịch trong các Điều ướcquốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết và tham gia.Tuy nhiên, đây chỉ là những nội dung phụ để có thể làm rõ hơn phạm vi nghiêncứu của khóa luận Đồng thời trong khóa luận em cũng xin đề ra một số kiếnnghị để có thể hoàn thiện hơn nữa các quy định hiện nay về quốc tịch
Để tiếp cận đề tài, khóa luận vận dụng tổng hợp phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt có sử dụng phương pháp
so sánh kết hợp với phân tích, tổng hợp…
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậnđược chia thành các chương:
Chương I: Khái quát về quốc tịch, sự hình thành pháp luật quốc tịch Việt Nam
Trong chương này, ngoài những nét khái quát về quốc tịch như khái niệm vàtầm quan trọng của quốc tịch, khóa luận còn đề cập tới sự hình thành của phápluật quốc tịch trên thế giới cũng như ở Việt Nam và các điều kiện, hoàn cảnh lịch
sử ban hành các văn bản pháp luật về quốc tịch qua từng thời kì Đồng thời, khóaluận cũng sẽ phân tích những nguyên tắc của pháp luật quốc tịch Việt Nam
Chương II: Sự phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam qua các thời kì.
Trong phần này, khóa luận sẽ đi phân tích và làm rõ sự phát triển của cácchế định về quốc tịch Việt Nam qua các thời kì Đồng thời, khóa luận cũng đưa
ra một cái nhìn chung nhất về bốn thời kì phát triển của pháp luật quốc tịch ViệtNam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quốc tịch nước ta hiện nay
Do phạm vi khóa luận có hạn và vì đây là lần đầu tiên em làm nên khóa luậnkhông thể tránh khỏi những thiếu sót Mong thầy cô giúp đỡ và hướng dẫn Emxin chân thành cám ơn!
Trang 3Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ QUỐC TỊCH,
SỰ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA QUỐC TỊCH.
Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý bền vững giữa một cá nhân với một Nhànước nhất định Mỗi một công dân có những quyền nhất định và nghĩa vụ tươngứng đối với Nhà nước của mình Những quyền và nghĩa vụ này được quy địnhbằng pháp luật của mỗi quốc gia: Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luậtkhác (1)
Quốc tịch là sự quy thuộc về mặt pháp lý và chính trị của một cá nhân vàomột Nhà nước thể hiện mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước và cá nhân Nhànước quy định các quyền cho cá nhân là công dân của mình, bảo vệ và bảo hộcông dân đó ở nước ngoài Về phần mình, công dân phải tuân theo pháp luật củaNhà nước và hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước (2)
Quốc tịch là một chế định cơ bản của luật hiến pháp về địa vị pháp lý củacông dân, là tiền đề pháp lý bắt buộc để một cá nhân có thể được hưởng cácquyền và nghĩa vụ công dân của một nhà nước (3)
Quốc tịch là mối liên hệ pháp lý, chính trị ổn định, bền vững, thường xuyêngiữa một người (thể nhân hay tự nhiên nhân) và một Nhà nước nhất định theoquyền pháp luật của nước đó Quốc tịch được biểu hiện bằng những quyền,nghĩa vụ qua lại của công dân và Nhà nước Người mang quốc tịch của nướcnào là công dân của nước đó, được hưởng những quyền pháp lý, chính trị, đồngthời phải gánh vác những nghĩa vụ đối với nhà nước Ngược lại, Nhà nước cóquyền và nghĩa vụ bảo hộ công dân của mình, dù công dân đó cư trú ở trongnước hay ở nước ngoài (4)
Qua những khái niệm trên, ta có thể thấy được phần nào bản chất của quan
1() Giáo trình Luật quốc tế của Liên Xô cũ (NXB.Quan hệ quốc tế Matxcơva 1987)
2() Từ điển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ ( NXB Bách khoa toàn thư -Matxcova 1984)
3() Giáo trình luật hiến pháp năm 2008 Đại học luật Hà Nội
4() Từ điển Pháp Việt - Pháp luật hành chính (NXB Thế giới, 1992)
Trang 4hệ quốc tịch, nó nói lên mối quan hệ gắn bó, bền vững về mặt chính trị - pháp lýgiữa cá nhân với nhà nước Mối quan hệ này được duy trì trên cơ sở tổng thể cácquyền, nghĩa vụ cơ bản giữa công dân với nhà nước theo quy định của hiến pháp
và pháp luật Về phía nhà nước, quốc tịch đề cập tới một trong những yếu tố tốiquan trọng hình thành nên một Nhà nước có đầy đủ chủ quyền (lãnh thổ, dân cư
và quyền lực thực tế của Nhà nước thông qua bộ máy quân đội, cảnh sát, tư pháp ) Vì vậy, sau khi tuyên bố thành lập nhà nước, các quốc gia đều ban hành cácquy định về quốc tịch nhằm khẳng định độc lập, chủ quyền trong vấn đề xácđịnh, phân biệt công dân nước mình, từ đó áp dụng quy chế công dân và nhiềuvấn đề liên quan khác
Mối quan hệ quốc tịch bình thường là "sợi dây pháp lý" ràng buộc cá nhânvới nhà nước suốt cả đời người và không phụ thuộc vào việc người đó cư trú ởtrong hay ngoài lãnh thổ của quốc gia mà họ là công dân Cho nên, về phía cánhân, quốc tịch vừa mang lại cho họ những quyền và nghĩa vụ theo luật địnhvừa tạo điều kiện cho họ nhận được sự bảo hộ của nhà nước mà chỉ có công dâncủa nước đó mới có được Có thể nói, pháp luật quốc tịch chính là hệ thống nềntảng của pháp luật một quốc gia
1.2 SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH CỦA QUAN HỆ QUỐC TỊCH TRÊN THẾ GIỚI.
Trong thời kỳ lịch sử của nhân loại, quan hệ giữa nhà nước với cá nhân đượctồn tại với tư cách là mối quan hệ pháp luật và ở mỗi thời kì phát triển của nhànước - pháp luật, mối quan hệ đó biểu hiện theo các hình thức khác nhau Ở thời
kỳ chiếm hữu nô lệ, chủ nô là người có các quyền do nhà nước ban cho, còn đại
đa số những người lao động là nô lệ không được coi là con người mà đơn giản chỉ
là thứ công cụ biết nói thuộc quyền sở hữu và khai thác của giai cấp chủ nô Dovậy, vấn đề quyền lợi của người dân không được đặt ra Trong thời kỳ này, mốiquan hệ giữa chủ nô và nô lệ chỉ là mối quan hệ một chiều: đó là những nghĩa vụ
mà người nô lệ phải chịu và những quyền lợi mà chủ nô được hưởng
Tuy nhiên, trong giai đọan này, thuật ngữ quốc tịch đã lần đầu được biết tới
ở hai nhà nước chiếm hữu nô lệ là A-ten và La Mã Tuy nhiên, quốc tịch cổ đại
Trang 5chỉ là đặc quyền dành cho một nhóm người nhất định, đó là giai cấp chủ nô ten) hay những người thuần chủng La Mã (có cha là công dân La Mã) [19, tr.8].Chỉ tới thời kì phát triển sau này, thuật ngữ quốc tịch mới được ra đời với cáchhiểu như hiện nay.
(A-Sang thời phong kiến địa vị pháp lý của người lao động được cải thiện nhiềuhơn, tuy vậy, nô lệ vẫn chỉ được coi là thần dân của vua chúa với rất ít quyền cánhân, không được hưởng quyền chính trị và không được tham gia vào bộ máy nhànước Ở thời kỳ này, dù cho mối quan hệ giữa người dân và vua chúa đã được cảithiện ít nhiều so với thời kỳ chiếm hữu nô lệ, thế nhưng, vua chúa vẫn ở vị trí caohơn so với người lao động, và người dân luôn phải thần phục vua chúa, với nhữngquan niệm như “ý vua là ý trời”, vua chính là thiên tử - “con trời” Chính vì vậy
mà nghĩa vụ của người dân vẫn chiếm vị trí đáng kể, quyền lợi của người laođộng không được đảm bảo mà luôn phụ thuộc vào vua chúa
Đến thời kỳ Tư bản chủ nghĩa với cuộc cách mạng tư sản, chế định quốctịch chính thức được ra đời nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân của các nhà tưbản Cuộc cách mạng tư sản được thực hiện bởi đông đảo người dân dưới sựlãnh đạo của giai cấp tư sản Để có thể lật đổ giai cấp phong kiến già cỗi, cácnhà tư bản thời kì này đã phát triển và sử dụng quan hệ quốc tịch với đầy đủ ýnghĩa và vai trò như hiện nay Lần đầu tiên, thuật ngữ “công dân” mới thực sựđược ra đời, kèm theo là những quyền và nghĩa vụ mà trong đó có cả nhữngquyền lợi dân sự và chính trị một cá nhân được hưởng mà các thời kỳ trước hầunhư không có Đây là một dấu mốc phát triển quan trọng trong lịch sử loàingười Tuy nhiên, quan hệ quốc tịch trong thời kì này còn nhiều hạn chế, do nóchỉ được phục vụ cho lợi ích cá nhân của giai cấp tư bản, chứ không phải đểphục vụ cho đa số người dân lao động Đây chính là một hạn chế của lịch sử
1.3 VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM
Trang 6Ở Việt Nam, chế định quốc tịch không phải là sản phẩm của thời kỳ Tư bảnchủ nghĩa mà là kết quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng dântộc Trước ngày 2/9/1945, nước ta là một nước nửa thuộc địa nửa phong kiếnnên trong tiếng Việt chưa có từ “Quốc tịch Việt Nam”, người dân Việt Namchưa được công nhận là “công dân”.
Sau ngày 2/9/45, với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa - mộtquốc gia độc lập, có chủ quyền, bình đẳng với các quốc gia khác trong cộngđồng quốc tế, pháp luật về quốc tịch mới bắt đầu được hình thành và phát triểnqua nhiều giai đoạn khác nhau Từ đó cho tới nay, pháp luật quốc tịch Việt Nam
đã trải qua những cột mốc phát triển quan trọng gắn liền với các văn bản phápluật về quốc tịch trong từng thời kỳ Những quy định pháp luật này chịu sự ảnhhưởng sâu sắc của từng hoàn cảnh lịch sử, đó là cả một sự tái hiện hình ảnh lịch
sử của đất nước Việt Nam ngay trong từng điều luật Các quy định pháp luật vềquốc tịch Việt Nam được ghi nhận trong các văn bản pháp luật như Hiến pháp(Hiến pháp năm 1946, 1980, 1992) (1), Luật dân sự (2), Luật quốc tịch và các vănbản hướng dẫn thi hành qua bốn thời kì Sau đây, khóa luận sẽ phân tích quátrình hình thành cũng như điều kiện và hoàn cảnh lịch sử của các văn bản phápluật ghi nhận về quốc tịch Việt Nam
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 tới năm 1988.
Trong hai bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1959, vấn đề quốc tịch gần nhưkhông được quy định Trong thời kì này, đất nước ta vẫn còn bị chia cắt làm haimiền Vấn đề cần kíp được đặt ra lúc bấy giờ là giải phóng dân tộc, thống nhất
và bảo vệ đất nước trước sự phá hoại của kẻ thù nên trong những quy định củaHiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, vấn đề quốc tịch hầu như khôngđược quy định Tuy nhiên, ngay sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam dânchủ cộng hòa, nhà nước ta đã ban hành ngay các quy định xác định người cóquốc tịch Việt Nam và những vấn đề khác liên quan Trong giai đoạn này phápluật quốc tịch được đặc biệt coi trọng Chỉ một tháng rưỡi sau khi tuyên bố nềnđộc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, sắc lệnh đầu tiên về quốc tịch
1 Hiến pháp năm 1959 không có một quy định nào ghi nhận vấn đề quốc tịch
2 Luật dân sự đầu tiên được ban hành năm 1995, do vậy khóa luận chỉ đề cập tới những quy định pháp luật dân
sự trong giai đoạn từ năm 1998 trở về sau
Trang 7Việt Nam (Sắc lệnh số 53/SL) đã được ban hành nhằm xác định những trườnghợp có quốc tịch Việt Nam.
Thời kì này, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của Việt Nam dânchủ cộng hòa (diễn ra vào ngày 06/01/1946) đang được chuẩn bị tiến hành Đây
là vấn đề mang tính cấp bách nhất lúc bấy giờ, ảnh hưởng sâu sắc tới các quyđịnh pháp luật thời kì đó nhất là về vấn đề quốc tịch Điều này đã được thể hiệnqua các quy định về nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam và đặc biệt là việc miễngiảm các thủ tục “gia nhập quốc tịch” khi đã có đủ “điều kiện và ưng nhận”(theo điều V Sắc lệnh số 73/SL)
Như trên đã phân tích, chỉ khi một người có quốc tịch Việt Nam, họ mới cóthể đi bầu ra các đại biểu Quốc hội hoặc thậm chí là tự ứng cử mình vào mộttrong những vị trí điều hành, quản lý đất nước Chính vì vậy, nên bên cạnh yêucầu chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên, một nhiệm vụkhông kém phần quan trọng là chống lại các thế lực thù địch Trong bối cảnh đó,Nhà nước ta đã tập trung vào chính sách đại đoàn kết dân tộc như các điều kiện
mở trong vấn đề trở lại quốc tịch với những người đã mất quốc tịch Việt Nam,vấn đề xác định quốc tịch không phân biệt dân tộc hay giai cấp …
Cùng với sắc lệnh số 53/SL, lần đầu tiên vấn đề nhập quốc tịch cho ngườinước ngoài được đặt ra Việt Nam là một đất nước đa dân tộc, lại trải qua gầnmột thế kỷ bị xâm lược, trên đất nước có không ít những trường hợp ngườikhông có quốc tịch Việt Nam làm ăn, sinh sống ổn định lâu dài “có lòng trungthành với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” cũng như mong muốn tham gia vào
“cuộc tổng tuyển cử” Cho nên, bên cạnh việc xác định quốc tịch, vấn đề nhậpquốc tịch được đặt ra một cách cấp thiết Chính vì vậy, chưa đầy hai tháng saukhi ban hành sắc lệnh số 53/SL, sắc lệnh số 73/SL về việc nhập quốc tịch ViệtNam đã được ra đời và đi vào cuộc sống với những quyết định mang tính chấtđặc thù của thời kì lịch sử này
Tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Trong hoàn cảnh
đó, chủ tịch chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký và ban hành Sắc lệnh
số 215/SL ngày 20/8/1948 ấn định các quyền lợi đặc biệt cho những người ngoại
Trang 8quốc giúp cho cuộc kháng chiến Việt Nam nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộcủa các tầng lớp người nước ngoài.
Trong giai đoạn này, pháp luật quốc tịch chỉ phát triển trong những nămđầu từ khi sắc lệnh đầu tiên về quốc tịch được ban hành Trong thời gian sau đó(từ năm 1959 tới trước năm 1988) do đất nước ta vẫn còn bị chia cắt thành haimiền, yêu cầu cấp bách lúc bấy giờ là thống nhất đất nước Do vậy, vấn đề phápluật quốc tịch tạm thời được gác lại Trong giai đoạn này, chỉ có một văn bản vềviệc chuyển đổi thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan tới quốc tịch đượcban hành (nghị quyết 1043/NQ-TVQH ban hành ngày 08/2/1971)
Pháp luật quốc tịch thời kì này đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó Tuynhiên, mỗi sắc lệnh chỉ quy định một nội dung về quốc tịch mà thiếu sự đồng
bộ Hơn nữa, nhiều quy định chưa thể hiện được tinh thần nhân đạo cũng nhưcác chính sách của Nhà nước ta (như nguyên tắc bình đẳng nam nữ, ) Mặc dùvậy, các sắc lệnh đã đặt nền móng cho sự phát triển của pháp luật quốc tịch nước
ta và tạo cơ sở cho sự ra đời luật quốc tịch hoàn chỉnh đầu tiên của Việt Namhơn 10 năm sau đó
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1988 tới năm 1998
Sau hơn mười năm thực hiện sắc lệnh đầu tiên về quốc tịch, Việt Nam cónhững thay đổi đáng kể Tình hình đã có nhiều biến chuyển, đánh dấu một thời kìmới trong tiến trình lịch sử của đất nước, đầy rẫy khó khăn cả trong và ngoài nước.Sau khi thống nhất đất nước, Hiến pháp năm 1980 được ban hành Đây làlần đầu tiên vấn đề quốc tịch được ghi nhận trong Hiến pháp Những quy địnhnày mang đậm tính chất của thời kì kinh tế kế hoạch hóa tập trung, vấn đề đốingoại chỉ được đặt ra trong nội bộ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Phápluật về quốc tịch rất chặt chẽ và khắt khe mà biểu hiện tiêu biểu là chính sách
“một quốc tịch” cứng thể hiện qua điều 53 của Hiến pháp năm 1980
Ngày 30/04/1976, hai miền Nam, Bắc được thống nhất Tuy nhiên, vẫn còntồn tại hậu quả pháp lý về quốc tịch sau hơn 20 năm chia cắt đất nước Theo kếtquả của Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam, nước ta tạm thời bị chia cắt ở vĩ
tuyến 17 Khi đó, tại miền Nam Việt Nam chính quyền Sài Gòn (thực chất là
Trang 9chính quyền ngụy quyền, những tên tay sai cho kẻ thù) cũng ban hành nhữngquy định riêng rẽ về quốc tịch như một số văn bản về quốc tịch và đồng thờicũng quyết định cho nhập hay tước quốc tịch [33] Tình hình này đã đặt ra yêucầu cho Nhà nước ta lúc bấy giờ là cần có một hệ thống pháp luật có thể giảiquyết những tồn tại lịch sử do Hiệp định Giơ-ne-vơ để lại.
Không chỉ có vậy, sau những năm tháng chiến tranh ác liệt, nhiều thế hệngười Việt Nam đã ra nước ngoài, cả hợp pháp lẫn bất hợp pháp, trong đó một
bộ phận đã nhập quốc tịch nước sở tại Theo quy định tại khoản 1 điều thứ 7 Sắclệnh số 53/SL, những trường hợp này sẽ đương nhiên mất quốc tịch Việt Nam
Đó là một quy định phù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, tuy nhiên, nếuđặt trong thời kì những năm 1988, nó lại làm Việt Nam tự cô lập chính mình vàgây ra rất nhiều khó khăn cho nhà nước ta
Ngoài ra, đất nước ta đang từng bước bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới,
sự có mặt của người nước ngoài ở Việt Nam theo Luật đầu tư nước ngoài (đượcban hành ngày 09/01/1988) ngày một tăng và ngày càng có nhiều người nướcngoài kết hôn với công dân Việt Nam, nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi theoLuật hôn nhân và gia đình năm 1986 v.v
Tất cả những điều này đã tạo nên yêu cầu cần có những quy định mới vềquốc tịch đồng bộ và hoàn thiện hơn, đáp ứng được những yêu cầu của côngcuộc đổi mới đồng thời cũng có thể khắc phục được những bất cập của pháp luậtquốc tịch trước đó
Giai đoạn này nước ta vẫn còn ở thế bị bao vây, cấm vận về kinh tế, cô lập
về chính trị Các thế lực phản động trong nước và ở nước ngoài không ngừngtăng cường các hoạt động chống đối, phá hoại Nhiều nước đã dung túng cho cáchoạt động chống lại Chính phủ nước ta Những tên phản động bị bắt lại được
“bảo hộ ngoại giao” với cớ là chúng mang quốc tịch của nước đó [33] Yếu tố anninh - chính trị của vấn đề quốc tịch trong bối cảnh như vậy đã góp phần tạo nênnhu cầu cấp thiết của việc xây dựng một đạo luật quốc tịch mới và hoàn thiện.Hơn nữa, nhà nước ta là nhà nước của hơn 50 dân tộc khác nhau nên vấn đề dântộc cũng như vấn đề xác định quốc tịch Việt Nam khá nhạy cảm và khó khăn
Trang 10Các sắc lệnh về quốc tịch của thời kì trước đã bắt đầu bộc lộ các bất cập Đã tớilúc cần có một luật về quốc tịch hoàn chỉnh và đầy đủ, đáp ứng các nhiệm vụcủa thời kỳ mới Để đáp ứng những yêu cầu này, Luật quốc tịch năm 1988 đãchính thức được ban hành thay thế các sắc lệnh trước đó.
Trong thời kì này, nhà nước ta cũng ban hành các văn bản hướng dẫn chitiết Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 mà cụ thể là: Nghị định số 37/HĐBTngày 5/2/1990 quy định chi tiết thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam và nghị định
số 06/1998/NĐ-CP ngày 14/01/1998 sửa đổi một số điều của Nghị định số37/HĐBT Tuy nhiên, do Luật năm 1988 còn chưa có điều kiện để điều chỉnhmọi vấn đề liên quan tới quốc tịch nên nhà nước ta cũng ban hành các văn bảnđiều chỉnh vấn đề hồi hương của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đó là:Quyết định số 59/TTg ngày 04-2-1994 về việc giải quyết cho người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài hồi hương về Việt Nam và quyết định số 875/TTg ngày21-11-1996 thay thế quyết định số 59/TTg Các văn bản này đã góp phần tạođiều kiện để những quy định của Luật quốc tịch năm 1988 được thực hiện trongcuộc sống
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1998 tới năm 2008.
Năm 1995, luật dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam được ban hành Trong đó, vấn đề quốc tịch được quy định là một quyềnnhân thân cơ bản của con người và là cơ sở để xác định các quyền và nghĩa vụcông dân mà một cá nhận được hưởng
Bên cạnh đó, sau 10 năm thực hiện, Luật quốc tịch 1988 bắt đầu bộc lộ một
số điểm không còn phù hợp với điều kiện mới của đất nước Nhiều quy địnhmang tính hình thức, khó thực hiện như chính sách một quốc tịch cứng Hơnnữa, việc thông qua Hiến pháp năm 1992 đã khiến một số quy định trong Luậtquốc tịch 1988 trở nên bất cập, đặc biệt trong việc xác định thẩm quyền giảiquyết các việc về quốc tịch Những quy định về thủ tục giải quyết các việc vềquốc tịch còn chưa phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính để hoànthiện bộ máy nhà nước Việt Nam.Error: Reference source not found
Trang 11Hơn nữa, với việc đẩy mạnh chính sách hội nhập, phát triển kinh tế, thựchiện chính sách đối ngoại rộng mở với các nước trên thế giới, ngày 20/5/1998,Quốc hội đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, tạo cơ sở pháp lýmới cho việc giải quyết các vấn đề về quốc tịch
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 đã được quy định đầy đủ hơn so vớiLuật năm 1988 Ngoài việc ban hành luật quốc tịch, chính phủ cũng ban hànhmột số văn bản hướng dẫn thi hành luật, mà cụ thể là: Nghị định số104/1998/NĐ-CP ngày 31/12/1998 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành LuậtQuốc tịch Việt Nam và nghị định số 55/2000/NĐ-CP ngày 11/10/2000 sửa đổimột số điều của nghị định số 104/1998/NĐ-CP
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay.
Luật Quốc tịch năm 2008 được ban hành ngày 13/11/2008 đánh dấu mộtbước tiến trong lịch sử pháp luật quốc tịch nước ta với những chính sách, quanđiểm cởi mở hơn cũng như các quy định hoàn toàn mới so với những thời kìtrước Ở giai đoạn hiện nay, tình hình quan hệ quốc tế của nước ta đã có nhiềuthay đổi: Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mạiThế giới WTO, thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên HợpQuốc đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi một số văn bản pháp luật cho phù hợp trong
đó có Luật Quốc tịch năm 1998
Trong nước, năm 2005, Luật dân sự được ban hành kế thừa các quy địnhpháp luật quốc tịch của Luật dân sự năm 1995 cũng với sự ra đời của các đạoluật quan trọng như Luật Đầu tư năm 2005, Luật Cư trú năm 2005 đã dẫn đếnmột số quy định của Luật quốc tịch năm 1998 không còn phù hợp Thêm vào đó,còn một số quy định trong Luật có tính khả thi chưa cao, không có cơ chế đảmbảo áp dụng trong thực tế (nguyên tắc một quốc tịch) đòi hỏi phải được sửa đổi.Công tác quản lý nhà nước đối với vấn đề quốc tịch chưa thực sự phát huy hiệuquả, việc quản lý quốc tịch chưa được tập trung về một đầu mối
Không chỉ có vậy, trong thời kì này, nhà nước ta đã đẩy mạnh thực hiệnchính sách mới trong quan điểm đối xử với người Việt Nam ở nước ngoài (nhưquy định về giữ quốc tịch gốc bên cạnh quốc tịch nước sở tại ) cũng như việc
Trang 12cụ thể hóa chủ trương cải cách thủ tục hành chính trong quy định rút ngắn thờihạn giải quyết các nội dung liên quan tới quốc tịch (trở lại quốc tịch, )
Chính vì vậy, năm 2008, luật quốc tịch sửa đổi đã được ban hành với nhiều
kỳ vọng là sẽ thực sự phát huy hiệu quả trên thực tế để giải quyết triệt để cácvấn đề vướng mắc trong lĩnh vực quốc tịch, tạo sự gắn bó mật thiết hơn nữa giữacộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam
Luật Quốc tịch năm 2008 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và cóhiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 Do vậy, tới nay, ngoài Luật quốctịch Việt Nam năm 2008, chính phủ vẫn chưa ban hành các văn bản hướng dẫnthi hành Luật quốc tịch
Tóm lại, trong hệ thống pháp luật quốc tịch Việt Nam, các sắc lệnh và Luật
Quốc tịch Việt Nam chiếm vị trí tương đối lớn Nếu như ở Hiến pháp và Luậtdân sự, các quy định về quốc tịch chỉ chiếm một số lượng ít và chỉ mang tínhnguyên tắc chung thì tới Luật quốc tịch, các nội dung liên quan tới quốc tịchViệt Nam được thể hiện thành các chế định với những điều luật cụ thể Do vậy,khóa luận sẽ tập trung phân tích sự phát triển của các chế định quốc tịch ViệtNam trong những sắc lệnh, luật quốc tịch cũng như các văn bản hướng dẫn thihành qua các giai đoạn phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam
1.4 CÁC NGUYÊN TẮC NỀN TẢNG CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM
Xuyên suốt quá trình phát triển của mình, pháp luật quốc tịch nước ta mà
cụ thể là Luật quốc tịch luôn được xây dựng dựa trên những chính sách, quanđiểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước ta nhằm định hướng nội dung cho cả luậttrong từng thời kì Trong đó, một số nội dung ngày càng được khẳng định vàphát triển qua mỗi giai đoạn Chúng đã trở thành những nguyên tắc nền tảng vàđược cụ thể hóa trong các quy định của Luật Quốc tịch Sau đây, khóa luận sẽ điphân tích nội dung các nguyên tắc này trong mỗi giai đoạn phát triển
1.4.1 Quyền bình đẳng về quốc tịch (hay còn gọi là quyền có quốc tịch)
Trang 13Đây là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong pháp luật quốc tịch thếgiới Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 đã khẳng định “Ai cũng cóquyền có quốc tịch Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổiquốc tịch một cách độc đoán (Điều 15).
Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước "của dân, do dân,
vì dân" Quyền đối với quốc tịch là một trong những quyền nhân thân cơ bảncủa công dân Việt Nam và đã trở thành nguyên tắc nền tảng trong quá trình xâydựng pháp luật quốc tịch nước ta Đây cũng là một nội dung được ghi nhậntrong pháp luật dân sự tại các quy định về quyền nhân thân của con người.Nguyên tắc này cũng được ghi nhận xuyên suốt trong pháp luật quốc tịch củaViệt Nam Theo đó, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch mà không ai có thểtước bỏ một cách độc đoán, trái pháp luật
Trong pháp luật quốc tịch những năm 1945, nguyên tắc chưa có điều kiện
để được quy định cụ thể trong các sắc lệnh về quốc tịch Tuy nhiên, nó đã bắtđầu gián tiếp được ghi nhận trong các quy định về xác định quốc tịch cho trẻ
sơ sinh bị bỏ rơi được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam (khoản 3 điều thứ 2 sắclệnh 53/SL)
Trong pháp luật quốc tịch thời kì sau này (Luật Quốc tịch năm 1988, LuậtQuốc tịch năm 1998), nguyên tắc này được ghi nhận tại điều 1 Tại đây, nó đãđược hoàn thiện và bổ sung thêm chính sách đại đoàn kết dân tộc Điều đó xuấtphát từ việc nhà nước ta là nhà nước của hơn 50 dân tộc khác nhau Bên cạnhquyền bình đẳng về quyền có quốc tịch, chính sách đại đoàn kết dân tộc cũngđược khẳng định và có mối liên hệ chặt chẽ với quyền có quốc tịch
Tại Luật Quốc tịch năm 2008, nguyên tắc này càng được củng cố và hoànthiện hơn với việc quy định chặt chẽ, cụ thể các căn cứ, cơ sở dẫn tới trường hợpmột công dân có thể không còn quốc tịch (mất quốc tịch, thôi quốc tịch, bị tướcquốc tịch) để có thể đảm bảo đương sự không bị mất quốc tịch một cách độcđoán Quy định này đã đánh dấu một bước phát triển và hoàn thiện của pháp luậtquốc tịch Việt Nam
Xuất phát từ nguyên tắc nền tảng này, nhà nước ta đã triển khai và thực
Trang 14hiện rất nhiều chính sách khác nhau nhằm đảm bảo quyền có quốc tịch cũng như
sự bình đẳng trong vấn đề ghi nhận, thực hiện quyền lợi này của mỗi cá nhân, ví
dụ như các quy định về giữ quốc tịch của vợ, chồng khi quốc tịch của người kiathay đổi hay như các quy định nhằm hạn chế tình trạng không quốc tịch Hiệnnay, số lượng người không quốc tịch Việt Nam thường trú trên lãnh thổ nước ta
là khá lớn: hơn 3000 người có nguyện vọng xin nhập quốc tịch [31] Với việcban hành, thực hiện quy định này, nhà nước ta đã có thể khẳng định và đảm bảoquyền có quốc tịch của mỗi cá nhân
1.4.2 Nguyên tắc một quốc tịch:
Đây là một nguyên tắc cơ bản trên thế giới Tuy nhiên, khác với “quyềnbình đẳng đối với quốc tịch”, nguyên tắc này được quy định không giống nhaugiữa các nước trên thế giới và giữa các thời kì ngay trong cùng một đất nước
Ở trên ta có thể thấy pháp luật quốc tịch của nước ta đã trải qua những thời
kỳ lịch sử đặc biệt và khác nhau Điều này thể hiện rõ qua nguyên tắc “một quốctịch” Nguyên tắc này gắn với quyền được có một quốc tịch bất kỳ của cá nhâncon người nào đó đã được sinh ra Như đã phân tích, quốc tịch là nền tảng của
hệ thống quyền và nghĩa vụ của công dân một nước, là cơ sở để xác định, phânbiệt công dân của quốc gia nào đó Tuy nhiên, do sự không đồng nhất về phápluật quốc tịch của các nước mà dẫn tới tình trạng một người có hai hay nhiềuquốc tịch, hoặc là một người không có quốc tịch của một nước nào hết Phần lớncác quốc gia (trừ những quốc gia quy định de jure cho phép công dân của họđồng thời có quốc tịch nước khác) đều thấy rõ được sự rắc rối, phức tạp màngười có hai quốc tịch mang lại [20]
Trong pháp luật quốc tịch thời kì 1945, vấn đề “một quốc tịch” chưa đượcquy định dưới dạng một nguyên tắc luật Sở dĩ có điều đó là do lý do khách quancủa hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, hơn nữa, vấn đề người có hai hay nhiều quốctịch hay người có không quốc tịch chưa phổ biến và trở thành một vấn đề cấpthiết cần giải quyết
Tuy nhiên, nó đã bước đầu được quy định gián tiếp trong những điều luậtcủa các sắc lệnh thời kì này Ta có thể thấy hình bóng của nguyên tắc “một quốc
Trang 15tịch” qua các quy định về phục hồi quốc tịch và mất quốc tịch Việt Nam (theođiều thứ 4 Sắc lệnh số 53 quy định về quốc tịch Việt Nam và khoản 1 điều 7 Sắclệnh 53/SL) Nhưng các điều luật này còn chịu sự ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch
sử lúc bấy giờ chứ chưa thể hiện một cách rõ ràng nguyên tắc “một quốc tịch”.Trong pháp luật quốc tịch thời kì 1988, nhà nước ta đã thực hiện chính sáchđối ngoại chỉ với một số ít các nước trên thế giới, chủ yếu là trong nội bộ cácnước xã hội chủ nghĩa Do vậy, trong thời kì này nguyên tắc đã thể hiện chínhsách một quốc tịch cứng Điều đó đã được thể hiện qua Điều 3, Luật Quốc tịch
Việt Nam năm 1988: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ công
nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam” Tuy nhiên,quy định này đã tạo nhiều khó khăn trong việc thực hiện trên thực tế, cũng nhưkhông đảm bảo được quyền lợi cho những người Việt Nam định cư ở nhữngnước không bắt buộc phải bỏ quốc tịch gốc để có quốc tịch nước họ Trong khi
đó, không có nước nào đứng trên quốc gia khác trong vấn đề quốc tịch, ViệtNam có thể công nhận một người là công dân nước mình và không thể cấm quốcgia khác công nhận quốc tịch nước sở tại của người đó
Trong pháp luật quốc tịch thời kì 1998, nhà nước ta đã có quan điểm cởi
mở hơn về nguyên tắc này Điều đó đã được thể hiện qua sự thay đổi điều 3 Luậtquốc tịch năm 1988 bằng cách bỏ đi từ “chỉ” Tuy nhiên, như trên đã phân tích,nguyên tắc này cũng khó được thực hiện trên thực tế do chưa có một cơ chếkiểm soát, quản lý với những trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nướcngoài
Trong pháp luật quốc tịch thời kì 2008, nhà nước ta đã thi hành chính sáchmột quốc tịch mềm dẻo, một công dân Việt Nam bên cạnh việc có quốc tịchViệt Nam thì đồng thời trong một số trường hợp còn có thể có quốc tịch của mộtnước khác Đây là một quy định tiến bộ của Luật Quốc tịch năm 2008 khi đượcđặt trong bối cảnh trên thế giới hiện nay, số lượng người Việt Nam định cư ởnước ngoài không phải là ít Và những người này chỉ thôi quốc tịch Việt Namkhi quốc gia họ nhập quốc tịch bắt buộc họ phải thôi quốc tịch gốc, còn đa sốcác trường hợp đều giữ lại quốc tịch Việt Nam Trong thời gian vừa qua, takhông thể phủ nhận vai trò của Việt Kiều đối với việc xây dựng, làm giàu đất
Trang 16nước thông qua các khoản ngoại tệ được gửi về nước, Ngoài ra, quốc tịch ViệtNam còn như một sợi dây tinh thần liên kết họ với quê hương Nhà nước ta đang
có chính sách khuyến khích những người Việt Nam ở nước ngoài góp phần xâydựng quê hương đất nước, chính vì vậy, nguyên tắc một quốc tịch mềm dẻo hiệnnay đã tạo ra cơ chế pháp lý giúp cho Việt kiều tham gia xây dựng đất nước
1.4.3 Nguyên tắc về chính sách bảo hộ người Việt Nam ở nước ngoài.
Đây là một nguyên tắc Hiến định được quy định tại điều 75 Hiến pháp năm
1980 (với Việt Kiều) và điều 75 Hiến pháp năm 1992 (với người Việt Nam định
cư tại nước ngoài) Qua các thời kỳ của pháp luật quốc tịch Việt Nam, nguyêntắc này đã thể hiện rõ tính kế thừa và phát triển
Trong các sắc luật quốc tịch năm 1945, cũng như các nguyên tắc khác,nguyên tắc này chưa được ghi nhận và cũng do chưa có nhiều các trường hợpngười Việt Nam ở nước ngoài Do vậy, đến Luật quốc tịch năm 1988, nguyêntắc này mới bắt đầu được ghi nhận tại điều 2 Luật quốc tịch năm 88: "Nhà nướcbảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam tại nước ngoài" và điều 1, 2nghị định 37/HĐBT Tuy nhiên, pháp luật thời kì này còn chưa ghi nhận mộtcách cụ thể hệ thống cách thức cũng như các cơ quan bảo đảm thực hiện Hơnnữa nguyên tắc còn mang nặng tính hình thức do những lý do khách quan manglại Đó là vì nước ta chưa đặt quan hệ ngoại giao một cách rộng rãi với các nướctrên thế giới, ngoài ra, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, nhà nước ta cũng chưa cóđiều kiện đảm bảo thực hiện nguyên tắc trên thực tế
Tới giai đoạn pháp luật quốc tịch năm 1998 tới năm 2008, nguyên tắc
“nghĩa vụ của nhà nước trong việc bảo hộ của người Việt Nam ở nước ngoài”ngày càng được kế thừa, phát triển cũng như từng bước được hoàn thiện về mặtnội dung như cách thức bảo đảm và quy định rõ hơn về hệ thống cơ quan thựchiện sự bảo hộ này Hơn nữa pháp luật thời kỳ này còn bắt đầu ghi nhận mộtcách cụ thể hơn, đi vào chiều sâu, thể hiện ở chính sách của nhà nước Việt Namvới người gốc Việt Nam ở nước ngoài và công dân Việt Nam ở nước ngoài.Trong Luật quốc tịch năm 2008, đã có sự thay đổi về thuật ngữ “người ViệtNam ở nước ngoài” so với pháp luật quốc tịch năm 1998, bên cạnh đó còn là sự
Trang 17thay đổi, sát nhập nội dung 2 điều 4 và điều 7 Luật quốc tịch năm 1998 Nhữngquy định này đã góp phần hoàn thiện hơn chính sách bảo hộ người Việt Nam ởnước ngoài, bảo đảm quyền lợi cho công dân Việt Nam, người gốc Việt Namsinh sống, học tập tại nước ngoài cũng như thể hiện chính sách của nhà nước tađối với người Việt Nam ở nước ngoài.
Trên đây là một số nguyên tắc của pháp luật quốc tịch Việt Nam Bên cạnh
đó, các nhà lập pháp còn xây dựng, cụ thể hóa rất nhiều chính sách, quan điểmchỉ đạo khác nhau của Đảng và nhà nước ta trong từng thời kỳ Hiện nay, vẫncòn nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định các nguyên tắc nền tảng củapháp luật quốc tịch Việt Nam Tuy nhiên, tựu chung lại, phần đông quan điểmphân tích nền tảng pháp luật quốc tịch nước ta dựa trên ba nguyên tắc trên đây.Mặc dù trong số chúng, có nguyên tắc không được ghi nhận xuyên suốt quátrình phát triển của pháp luật quốc tịch nước ta, có nguyên tắc thời kì đầu chưađược coi trọng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của đất nước các chínhsách, quan điểm khác của Đảng và nhà nước ta về quốc tịch đều được xây dựngdựa trên cơ sở nội dung các nguyên tắc nền tảng này Do vậy, khóa luận đã phântích nền tảng của pháp luật quốc tịch Việt Nam dựa trên ba nguyên tắc trên
Chương 2
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT
NAM QUA CÁC THỜI KÌ
Trang 18Sau đây, khóa luận sẽ đi phân tích sự phát triển của pháp luật quốc tịchnước ta thông qua những nội dung chính của Luật quốc tịch trong bốn thời kìphát triển Hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận nội dung của pháp luật quốc tịchViệt Nam Tuy nhiên, khóa luận sẽ đi tiếp cận trên những nội dung sau:
- Xác lập quốc tịch Việt Nam
- Thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và con nuôi
- Mất quốc tịch Việt Nam
- Thời hạn giải quyết các việc về quốc tịch
Sở dĩ, khóa luận tiếp cận như vậy vì dựa trên cơ sở hậu quả pháp lý của các
sự kiện này Nếu như xác lập quốc tịch và mất quốc tịch có hậu quả pháp lý cốđịnh là việc bắt đầu hay kết thúc mối quan hệ quốc tịch giữa một cá nhân vớinhà nước thì thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và con nuôi lại có thểdẫn tới việc có hay mất quốc tịch Việt Nam Hơn nữa, nếu như các trường hợpkhác tính tự nguyện được đặt lên đầu thì ở đây, việc có hay mất quốc tịch củangười chưa thành niên và con nuôi phụ thuộc vào pháp luật Việt Nam hay phátsinh do sự thỏa thuận của bố mẹ (cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi) bằng văn bản
Do vậy, trong khóa luận này, chế định “thay đổi quốc tịch của người chưa thànhniên và con nuôi” được phân tích tại một phần riêng biệt với hai chế định trên.Thời hạn giải quyết các vấn đề liên quan tới quốc tịch là một vấn đề còngây ra nhiều tranh cãi trong thời gian gần đây, nhất là với những quy định trongLuật năm 2008 đã rút ngắn đáng kể khoảng thời gian này Vì vậy, khóa luận sẽđưa ra một vài phân tích, đánh giá cũng như kiến nghị trong phần nội dung này.Ngoài ra, để có thể có một cái nhìn tổng quát về pháp luật quốc tịch, bêncạnh việc phân tích những nội dung của các chế định về quốc tịch, khóa luậncũng đưa ra những đánh giá chung cho các văn bản luật quốc tịch trong mỗi giaiđoạn phát triển của lịch sử pháp luật quốc tịch nước ta
Sau cùng, khóa luận xin nêu ra một số kiến nghị để có thể hoàn thiện phápluật quốc tịch hiện nay Đây là những kiến nghị tổng quát có liên quan chủ yếutới nội dung của Luật quốc tịch năm 2008, bên cạnh đó, trong mỗi phần nội
Trang 19dung của bài, khóa luận cũng đã đưa vào một số đánh giá cũng như kiến nghị vàthực trạng.
2.1.XÁC LẬP QUỐC TỊCH VIỆT NAM
Đây là căn cứ để xác định công dân nước ta - những người đang có quốctịch Việt Nam và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định pháp luật để từ đóxác lập mối quan hệ pháp lý đặc biệt giữa một cá nhân và nhà nước Việt Nam.Một người được coi là có quốc tịch Việt Nam khi thuộc một trong nhữngtrường hợp sau đây:
- Do sinh ra
- Nhập quốc tịch
- Trở lại quốc tịch
- Giữ quốc tịch
- Có quốc tịch theo điều ước quốc tế
Đây là nhóm quy phạm pháp luật cơ bản và quan trọng xuyên suốt quátrình phát triển của pháp luật quốc tịch Việt Nam Tuy nhiên, qua từng thời kì lại
có sự khác nhau giữa các quy định Điều đó còn tùy thuộc vào điều kiện, hoàncảnh của đất nước cũng như các quan điểm, chính sách của nhà nước ta trongmỗi giai đoạn Sau đây, khóa luận sẽ đi làm rõ hơn những trường hợp này
2.1.1 Có quốc tịch Việt Nam do sinh ra
Đây là cách thức phổ biến nhất để một cá nhân có quốc tịch Theo tập quánquốc tế, có hai nguyên tắc để xác định quốc tịch cho trẻ em khi sinh ra Đó là:quốc tịch của đứa trẻ được xác định theo quốc tịch của cha, mẹ (nguyên tắchuyết thống - jus sanguinis) hoặc đứa trẻ đó được sinh ra trên lãnh thổ của quốcgia nào thì có quốc tịch của quốc gia đó (nguyên tắc nơi sinh - jus soli)
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia kết hợp cả hai nguyên tắc này với nhữngmức độ khác nhau để xác định quốc tịch gốc Là một nước có lịch sử và truyềnthống dân tộc lâu đời, hơn nữa, lại có những đặc thù riêng (chính sách nhân đạo,
số lượng người không quốc tịch trên lãnh thổ nước ta tương đối lớn ) nên ngay
từ đầu, Việt Nam đã thể hiện rõ chính sách áp dụng kết hợp cả hai nguyên tắc
Trang 20“quyền huyết thống” và nguyên tắc “quyền nơi sinh” làm căn cứ xác định quốctịch của trẻ em khi sinh ra, trong đó căn cứ quyền nơi sinh là nguyên tắc chiếm
ưu thế hơn trong việc xác định quốc tịch gốc của cá nhân
Giai đoạn từ năm 1945 tới năm 1988
Tại Sắc lệnh số 53/SL của Chủ tịch Chính phủ lâm thời ngày 20/10/1945quy định về quốc tịch Việt Nam, căn cứ này đã được ghi nhận tại điều thứ 2 củaSắc lệnh Theo đó, Nhà nước ta đã xác định quốc tịch của con căn cứ vào quốctịch cha mẹ Tuy nhiên, ở đây lại có sự phân biệt giữa huyết thống người cha vớingười mẹ, cụ thể là chỉ căn cứ vào huyết thống của người cha để xác định quốctịch con trong trường hợp sinh trong hôn nhân Chỉ trong trường hợp “cha không
rõ là ai hay không thuộc quốc tịch nào” (trường hợp sinh ngoài hôn nhân) thìmới xác định theo quốc tịch của người mẹ
Quy định này đã thể hiện được sự tiến bộ của pháp luật quốc tịch Việt Nam,bởi vì người mẹ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con cái nên trong trườnghợp sinh ngoài hôn nhân thì đứa trẻ vẫn được đảm bảo quyền mang quốc tịch.Nhưng một phần nào đó, nó đã thể hiện sự bất bình đẳng giữa người đàn ông vàngười phụ nữ trong thời kì hôn nhân cũng như chưa phù hợp với nguyên tắc bìnhđẳng giữa nam và nữ, được ghi nhận tại điều thứ 9 Hiến pháp Việt Nam năm
1946 và xuyên suốt trong tất cả các bản hiến pháp của nhà nước ta Hơn nữa, quyđịnh này đã loại trừ những trường hợp xác định quốc tịch Việt Nam của ngườicon được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mà người mẹ có quốc tịch Việt Nam vàngười cha có quốc tịch nước ngoài Đây là một hạn chế lịch sử do xu hướngchung thời kì này vẫn còn giữ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, từ đó suy nghĩnày đã được thể hiện trong pháp luật quốc tịch của nhiều quốc gia [25, tr.34].Bên cạnh nguyên tắc huyết thống, ngay từ những quy định đầu tiên củaNhà nước ta về quốc tịch, nguyên tắc nơi sinh đã được kết hợp sử dụng làm căn
cứ xác định quốc tịch Việt Nam cho trẻ em khi mới sinh ra Việc ghi nhậnnguyên tắc này đã thể hiện rõ tính nhân đạo của pháp luật quốc tịch Việt Nam,hạn chế tối đa những trường hợp trẻ em không có quốc tịch Với quy định này,nếu đứa trẻ sinh ra trên lãnh thổ nước ta mà không xác định được cha, mẹ hoặc
Trang 21cha, mẹ là người không có quốc tịch thì sẽ được cấp quốc tịch Việt Nam nhằmđảm bảo quyền có quốc tịch và quyền công dân cho đứa trẻ.
Giai đoạn từ năm 1988 tới năm 1998
Tại luật đầu tiên của nhà nước ta về quốc tịch - Luật Quốc tịch Việt Namnăm 1988, đã có bước phát triển hoàn thiện hơn trong việc áp dụng kết hợp hainguyên tắc xác định quốc tịch gốc dựa trên chính sách bảo đảm tối đa “quyền cóquốc tịch của trẻ em”
Khắc phục hạn chế mang tính chất phân biệt đối xử trong việc xác địnhquốc tịch theo nguyên tắc quyền huyết thống, luật năm 1988 đã khẳng địnhhuyết thống của cha cũng như mẹ đều ảnh hưởng như nhau đến quốc tịch củacon Ngoài ra Luật còn quy định người con vẫn có quốc tịch Việt Nam kể cảtrong trường hợp sinh ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nếu cha mẹ là công dân ViệtNam (theo khoản 1 điều 6 Luật Quốc tịch năm 1988) Theo quy định này,nguyên tắc quyền huyết thống đã phát triển thêm một bước nữa
Ngoài ra, pháp luật quốc tịch thời kỳ này đã khắc phục hạn chế của sắc lệnh53/SL, mà cụ thể là loại trừ trường hợp trẻ em không có quốc tịch khi người mẹ
là công dân Việt Nam còn người cha có quốc tịch nước ngoài
Bên cạnh việc hoàn thiện nguyên tắc quyền huyết thống, luật năm 1988cũng phát triển quy định về nguyên tắc quyền nơi sinh Theo đó, khi trẻ đượcsinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ đều là người không quốc tịch thì sẽ cóquốc tịch Việt Nam khi cha mẹ có nơi thường trú trên lãnh thổ nước ta Bằngviệc bổ sung thêm điều kiện “thường trú”, nguyên tắc jus soli đã được quy địnhchặt chẽ hơn nhưng vẫn thể hiện tính nhân đạo của pháp luật quốc tịch nước tatrong việc xác định quốc tịch cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam
Ngoài ra, luật quốc tịch năm 1988 còn quy định mới cho cha mẹ quyềnđược lựa chọn quốc tịch cho con mình khi có một người là quốc tịch Việt Nam
mà không tính tới yếu tố nơi sinh hay điều kiện về thường trú (khoản 3 điều 6).Quy định này đã thể hiện được tư tưởng tiến bộ, phát triển trong việc tôn trọng ýnguyện của cha mẹ về lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho trẻ em có cha hoặc mẹ
là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, bất kể con sinh ra
Trang 22trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam và cha mẹ có hay không có nơi thường trú ởViệt Nam; nếu cha mẹ chọn cho con quốc tịch Việt Nam thì con có quốc tịchViệt Nam (khoản 3 điều 6) Quy định này đã đề cao tính tự nguyện của cha mẹ
và nó đã được kế thừa trong pháp luật quốc tịch những thời kì sau
Giai đoạn từ năm 1998 tới năm 2008
Kế thừa luật quốc tịch năm 1988, luật năm 1998 đã một lần nữa áp dụngkết hợp hai nguyên tắc quyền huyết thống và quyền nơi sinh Đối với trườnghợp cha (mẹ) là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài, luật cómột số điểm khác so với thời kì trước Luật năm 1998 không đặt yếu tố nơi sinh
và nơi thường trú của cha mẹ làm cơ sở để xác định việc có (hay không có) quốctịch Việt Nam mà hoàn toàn căn cứ vào nguyện vọng của cha mẹ Theo khoản 2điều 17 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 thì đứa trẻ có quốc tịch Việt Namnếu khi đăng kí khai sinh cha mẹ nhất trí lựa chọn quốc tịch Việt Nam Luậtquốc tịch năm 1998 đã quy định cởi mở hơn rất nhiều so với pháp luật các nướckhác khi đề cao và tôn trọng ý nguyện của cha mẹ, dành cho họ quyền khá rộngtrong việc lựa chọn quốc tịch cho con [33]
Ngoài ra, vấn đề xác định quốc tịch cho trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em đượctìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam cũng đã được quy định hoàn thiện hơn Khácvới giai đoạn trước, nhà làm luật đã bổ sung trường hợp tìm thấy cha, mẹ hoặcngười giám hộ của đứa trẻ có quốc tịch nước ngoài Theo đó, nếu đứa trẻ chưa
đủ 15 tuổi mà tìm thấy cha, mẹ hoặc người giám hộ có quốc tịch nước ngoài thìquốc tịch Việt Nam của đứa trẻ mặc nhiên biến mất Tuy nhiên, đối với nhómđối tượng đã có năng lực hành vi dân sự một phần (từ đủ 15 tới dưới 18 tuổi),pháp luật quốc tịch cũng quy định sự lựa chọn giữ hay không giữ quốc tịch cho
họ Đây là một quy định tiến bộ và phù hợp với luật dân sự năm 1995
Pháp luật quốc tịch từ năm 2008 đến nay:
Trong luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã được ban hành trong đó nhómquy phạm xác định quốc tịch gốc của một người đã thể hiện sự kế thừa so vớipháp luật thời kì trước Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có một số quy định mới:
Trang 23Trong trường hợp trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam,còn người kia là công dân nước ngoài thì đứa trẻ chỉ có quốc tịch Việt Nam khi
và chỉ khi cha mẹ có sự thỏa thuận bằng văn bản tại thời điểm đăng kí khai sinh,nếu cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó
có quốc tịch Việt Nam (theo khoản 2 điều 16) Quy định này đã khắc phụcnhững bất cập của pháp luật quốc tịch trước đó Bởi vì đứa trẻ sinh ra sẽ không
có quốc tịch của quốc gia nào nếu cha mẹ của đứa trẻ do bất đồng, hoặc nhiều lý
do khác nên không có điều kiện để thỏa thuận quốc tịch Việt Nam cho con Vídụ: Trường hợp người còn lại chết hoặc mất tích thì sẽ không thể đạt được sựthỏa thuận trong việc lựa chọn quốc tịch cho đứa trẻ Theo quy định mới củaluật năm 2008, với việc áp dụng kết hợp nguyên tắc “quyền nơi sinh”, các nhàlàm luật đã dự liệu được và loại trừ những hạn chế trên trong pháp luật quốc tịchViệt Nam thời kì trước đó
Như vậy, mặc dù đã trải qua quá trình phát triển lâu dài và có sự khác nhautrong từng nội dung cụ thể; pháp luật quốc tịch Việt Nam vẫn áp dụng chủ yếunguyên tắc quyền huyết thống bên cạnh việc kết hợp với nguyên tắc quyền nơisinh để xác định quốc tịch gốc của một cá nhân Việc kết hợp như vậy đã đảmbảo được quyền có quốc tịch của cá nhân được ghi nhận tại Điều 24 khoản 3Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 [18]
2.1.2 Nhập quốc tịch Việt Nam
Bên cạnh việc xác định quốc tịch gốc, “nhập quốc tịch” là một nội dung cơ bản
và xuyên suốt trong pháp luật quốc tịch Việt Nam Trong xu hướng hội nhập giữacác quốc gia hiện nay, vấn đề “nhập quốc tịch” càng ngày tỏ rõ vai trò quan trọng.Nhập quốc tịch Việt Nam (1) là sự kiện pháp lý được xác lập trên cơ sở ý chí
tự nguyện, thể hiện bằng đơn xin nhập quốc tịch của người không có quốc tịchViệt Nam và được nhà nước ta cho phép nhập quốc tịch khi đương sự thỏa mãnđầy đủ các điều kiện và hoàn thành các thủ tục Kể từ thời điểm nhập quốc tịch,người đó trở thành công dân nước Việt Nam, được hưởng đầy đủ các quyền vànghĩa vụ công dân đã được Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác quy định
1() Giai đoạn từ năm 1988 tới 1998 gọi là vào quốc tịch Việt Nam
Trang 24Trong lịch sử pháp luật quốc tịch Việt Nam, vấn đề “nhập quốc tịch”thường có những nội dung chính sau đây :
- Điều kiện nhập quốc tịch
- Các trường hợp được miễn giảm những điều kiện trên
- Những trường hợp không được nhập quốc tịch
Về điều kiện nhập quốc tịch, pháp luật quốc tịch Việt Nam thường quy
định các điều kiện chủ yếu để một người có thể nhập quốc tịch như sau:
- Độ tuổi
- Thời gian cư trú
- Biết tiếng Việt
- Nhóm điều kiện về tư tưởng chính trị của người xin nhập quốc tịch
Thứ nhất, cá nhân đó phải đạt một độ tuổi nhất định.
Đây là một điều kiện kiên quyết bởi vì nhập quốc tịch là sự kiện pháp lýđược xác lập trên cơ sở ý chí tự nguyện, thể hiện bằng đơn xin nhập quốc tịch
Do vậy, người muốn nhập quốc tịch trước hết phải thỏa mãn tiêu chí “tựnguyện” và có đủ khả năng chịu trách nhiệm về hành vi của mình Chính vì vậy
mà điều kiện này thường bao gồm hai nội dung lớn sau đây:
- Đủ tuổi thành niên: Trong một số thời kì, pháp luật quốc tịch Việt Namchỉ quy định một người có đủ tuổi thành niên thì sẽ có thể được nhập quốc tịch.Tuy nhiên, việc quy định như thế này rất dễ nảy sinh những trường hợp mà cánhân mặc dù có thể đáp ứng những điều kiện nhất định về độ tuổi nhưng thiểunăng trí tuệ nên sẽ tạo thành gánh nặng đối với cộng đồng
- Đủ năng lực hành vi dân sự: Một người được coi là có đầy đủ năng lựchành vi dân sự khi và chỉ khi họ đủ tuổi thành niên và không bị mất hay hạn chếnăng lực hành vi dân sự Như vậy, pháp luật đã có thể hoàn toàn loại trừ những
hệ quả pháp lý do trường hợp trên mang lại
Thứ hai, phải có một thời gian cư trú nhất định trên lãnh thổ nước ta.
Pháp luật quốc tịch nước ta qua các thời kì phát triển đều quy định thờigian cư trú nhất định đối với người xin nhập quốc tịch Tuy nhiên, tùy theo từng
Trang 25giai đoạn mà có sự hướng dẫn, giải thích khác nhau về thuật ngữ “cư trú” Thờigian cư trú có thể được hiểu là thời gian thường trú hoặc bằng các khoảng thờigian tạm trú trên lãnh thổ Việt Nam cộng lại Chính vì có sự khác nhau như vậy
mà đã dẫn tới những khó khăn khi giải thích và áp dụng điều luật này trong thực
tế Trong lịch sử pháp luật quốc tịch đã có thời kì vấp phải sai lầm này và dẫnđến những hậu quả pháp lý trong thực tiễn cuộc sống (giai đoạn năm 1988 -1998)
Trên thế giới, hầu hết pháp luật của các nước đều sử dụng thuật ngữ
“thường trú”, điều này có thể được hiểu là một người có thể được nhập quốc tịchcủa một quốc gia chỉ khi họ cư trú liên tục trên lãnh thổ của nước đó trong mộtthời gian nhất định
Thứ ba, yêu cầu về khả năng ngôn ngữ hay khả năng hòa nhập cộng đồng.
Một cá nhân chỉ có thể thỏa mãn điều kiện này khi người đó biết tiếng Việt
ở một mức độ nhất định đủ để họ có thể hiểu biết lịch sử, văn hóa, xã hội của đấtnước ta và hòa nhập được vào cộng đồng dân cư mới ở mức độ tối thiểu Tuynhiên, thông thường, người xin nhập quốc tịch phải có giấy chứng nhận biếttiếng Việt Đây cũng là một quy định còn có nhiều tranh cãi trong pháp luậtquốc tịch Việt Nam nhất là trước Luật quốc tịch năm 2008 và đã gây ra nhiềuvướng mắc và bất cập trong thực tiễn áp dụng
Thứ tư, điều kiện về tư tưởng chính trị.
Bên cạnh các điều kiện về nhân thân, những yêu cầu về tư tưởng chính trịcũng là một nội dung đặc biệt quan trọng Để hạn chế khả năng người nhập quốctịch có thể làm phương hại tới nền chủ quyền, an ninh, trật tự xã hội của nước
mà cá nhân đó xin nhập quốc tịch, pháp luật quốc tịch thế giới qua các thời kìđều quy định điều kiện này dưới các hình thức khác nhau như quy định khôngcho phép người có xu hướng chính trị đối lập nhập quốc tịch hay được thể hiệnbằng các ngôn từ khác như: “hạnh kiểm tốt”, “đạo đức tốt”, “tuân thủ Hiến pháp
và pháp luật” [19, tr 51] Nhưng do đây là một quy định khá chung chung vàkhông rõ ràng về mặt ngữ nghĩa nên pháp luật quốc tịch nước ta cần có một sựgiải thích pháp lý tương ứng
Trang 26Cá nhân xin nhập quốc tịch chỉ có thể được nhập quốc tịch khi thỏa mãnđầy đủ các điều kiện trên Tuy nhiên trong một số trường hợp, đương sự có thể
được miễn giảm các điều kiện Xuyên suốt lịch sử phát triển, bên cạnh các quy
định về điều kiện nhập quốc tịch, nhà nước ta còn quy định các trường hợp đượcmiễn giảm những điều kiện trên Đây thường là những đối tượng đặc biệt như:đóng góp vào cuộc cách mạng của Việt Nam (pháp luật những năm 1945) hay
có mối quan hệ thân thích, huyết thống với công dân Việt Nam (những thời kìsau năm 1945) v.v
Quốc tịch liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia nên bên cạnh các quy
định trên, luật quốc tịch còn quy định những trường hợp không được nhập
quốc tịch Trong lịch sử pháp luật quốc tịch Việt Nam, nội dung này chỉ bắt đầu
được quy định từ luật quốc tịch năm 1998 và được giữ nguyên tại luật năm
2008, mà cụ thể là người xin nhập quốc tịch không được nhập quốc tịch ViệtNam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam Thếnhưng, cho đến nay vẫn chưa có một sự giải thích pháp lý rõ ràng thế nào là
“phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam” nên quy định này một phần nào
đã gặp khó khăn trong việc áp dụng, thực hiện trên thực tế
Giai đoạn từ năm 1945 tới năm 1988
Trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên ở nước ta, pháp luật còn bảo đảm cho cảnhững người nước ngoài đã sinh sống lâu năm và tỏ lòng trung thành với nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa được nhập quốc tịch nước ta để có thể hưởng quyềnbầu cử Vì vậy ngày 7/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 73/SL quyđịnh điều kiện, thủ tục để người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam để
họ trở thành công dân Việt Nam và được hưởng quyền bầu cử
Tuy nhiên trong khi đó, các thế lực thù địch luôn đe dọa phá hoại chínhquyền non trẻ của ta bằng mọi thủ đoạn Do vậy các điều kiện nhập quốc tịchthời kì này được đánh giá là khá chặt chẽ trong lịch sử pháp luật quốc tịch ViệtNam Ngoài các nội dung cơ bản như biết tiếng nói Việt Nam, đủ 18 tuổi trở lên,sắc lệnh số 73/SL còn quy định thời gian cư trú phải từ 10 năm, có nơi cư trú
Trang 27nhất định trên lãnh thổ nước ta Những quy định này đã đáp ứng được yêu cầulịch sử lúc bấy giờ Tuy nhiên, nó vẫn còn bộc lộ một số hạn chế sau:
- Người muốn nhập quốc tịch phải đủ 18 tuổi Với việc quy định như vậy,các nhà làm luật đã không thể bao quát được trong thực tế những trường hợpngười nhập quốc tịch sẽ trở thành gánh nặng cho đất nước nếu họ bị mất hay hạnchế năng lực hành vi dân sự
- Điều kiện chính trị: Người xin nhập quốc tịch phải “có hạnh kiểm tốt”.Trong các văn bản về quốc tịch giai đoạn này chưa có một quy định giải thích,hướng dẫn cụ thể Điều đó đã tạo nên những khó khăn khi thực hiện, áp dụngđiều luật trong thực tiễn cuộc sống hoặc chỉ có thể tạo ra được một quy định trêngiấy do sự chung chung, không rõ ràng của điều luật
Sắc lệnh số 73/SL là văn bản đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộnghòa quy định về việc “nhập quốc tịch” Nhìn chung, các điều kiện để nhập quốctịch thời kì này đã đáp ứng được các yêu cầu, hoàn cảnh lịch sử của Việt Namlúc bấy giờ Tuy nhiên, do đây là sự ghi nhận đầu tiên trong lịch sử pháp luậtquốc tịch nước ta nên những quy định này vẫn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế
Giai đoạn từ năm 1988 tới năm 1998:
Như trên đã phân tích, các điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam trong Sắclệnh số 73/SL rất chặt chẽ Những quy định này chỉ nhằm tạo điều kiện chonhững người không có quốc tịch Việt Nam đã làm ăn, sinh sống, định cư lâu dàitrên nước ta được nhập quốc tịch trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài Tới khiđất nước thống nhất, nhà nước ta đang thực hiện chính sách mở cửa, giao lưuđối ngoại với nhiều nước trên thế giới, sự có mặt của người Việt Nam ở nướcngoài ngày càng tăng thì điều luật này đã trở thành một rào cản trong quá trình
mở cửa Chính vì vậy mà so với sắc lệnh số 73/SL, luật năm 1988 chỉ còn ghinhận ba điều kiện cần và đủ để bảo đảm cho một người nhập quốc tịch ViệtNam có thể thực sự hòa nhập vào cộng đồng Đó là :
- Từ 18 tuổi trở lên
- Biết tiếng Việt
- Đã cư trú ở Việt Nam ít nhất 5 năm
Trang 28Ngoài ra, người xin nhập quốc tịch còn phải đảm bảo “tự nguyện tuân thủHiến pháp và pháp luật Việt Nam” Đây là nội dung thuộc nhóm điều kiện về tưtưởng chính trị của người xin nhập quốc tịch Trong những giấy tờ phải nộp khiđương sự xin nhập quốc tịch thì phải có bản khai lý lịch (theo quy định tại khoản
1 điều 8 Nghị định số 37-HĐBT) Theo đó, để xem xét một người có đủ điềukiện về chính trị hay nhân thân hay không, các cơ quan chức năng thường thẩmtra rất chặt chẽ lý lịch của người xin nhập quốc tịch Nếu một người có biểu hiệngian dối để nhập quốc tịch thì sẽ bị những chế tài của Nhà nước Nếu người đó
đã nhập quốc tịch thì có thể bị hủy quyết định nhập quốc tịch Nội dung này đãtheo kịp xu hướng phát triển chung của pháp luật quốc tịch trên thế giới và làmột quy định tiến bộ so với pháp luật thời kì trước
Bên cạnh những ưu điểm trên, nhóm quy định về nhập quốc tịch giai đoạnnày còn nhiều hạn chế, gây ra những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiệntrên thực tế, thể hiện qua những điều kiện như “a) Đủ 18 tuổi c) Đã cư trú ởViệt Nam ít nhất 5 năm” Nếu như yêu cầu về năng lực hành vi dân sự không có
gì thay đổi so với sắc lệnh số 73/SL thì điều kiện về khoảng thời gian cư trú đãđược rút ngắn đi Quy định này đáp ứng những yêu cầu của thời kì đầu côngcuộc đổi mới của đất nước ta
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, pháp luật quốc tịch thời kì này được xây dựngtrong bối cảnh Việt Nam đang dần mở cửa, các quy định bớt chặt chẽ hơn, tạođiều kiện cho người nước ngoài nhập quốc tịch Việt Nam Thế nhưng, trongkhoảng thời gian luật quốc tịch năm 1988 có hiệu lực, chỉ có hai trường hợpđược cho phép nhập quốc tịch [22] Sở dĩ có điều đó là do sự mâu thuẫn trongcách hiểu thuật ngữ “cư trú” Chính vì không có cách hiểu thống nhất nên đã tạo
ra những giải thích khác nhau trong thực tế, dẫn tới hệ quả rất ít trường hợp cóthể thỏa mãn điểm c khoản 1 điều 7 luật quốc tịch Việt Nam năm 1988
Tới giai đoạn này, chế định “nhập quốc tịch” đã phát triển thêm một bước,được quy định một cách có hệ thống hơn và đang dần hoàn thiện Các quy phạm
đã khắc phục được phần nào những hạn chế của pháp luật thời kì trước, tuynhiên, bên cạnh đó một số điểm bất cập trong Sắc lệnh số 73/SL vẫn còn được
Trang 29giữ nguyên đồng thời phát sinh những quy định chưa hợp lý, gây ra những khókhăn trong việc giải thích và áp dụng trong thực tiễn cuộc sống.
Giai đoạn từ năm 1998 tới năm 2008:
Trong luật quốc tịch Việt Nam năm 1998, vấn đề nhập quốc tịch được quyđịnh tại điều 20 với năm điều kiện nhập quốc tịch trong đó có bốn nội dung sửađổi và hai điều kiện được quy định mới so với điều 7 luật quốc tịch Việt Namnăm 1988 Nhóm quy phạm này đã phát triển hơn và từng bước giải quyết đượcnhững bất cập mà luật quốc tịch Việt nam năm 1988 để lại, cụ thể là:
- Với việc hoàn chỉnh nội dung điều kiện về năng lực hành vi dân sự, cácnhà làm luật đã bao quát được phần lớn các trường hợp có thể xảy ra trong thực
tế Điều kiện này đã được xây dựng dựa trên những quy định pháp luật tại Mục
1 Chương 2 Luật dân sự năm 1995 Như vậy, điều kiện về năng lực hành vi dân
sự thời kì này đã thể hiện được nội dung chủ yếu, giải quyết được những tồn tạitrong việc giải thích các điều kiện nhập quốc tịch giai đoạn trước đó
- Riêng với điều kiện về tư tưởng chính trị, ý thức luật pháp của người xinnhập quốc tịch, điểm b khoản 1 điều 20 Luật quốc tịch năm 1998 đã bổ sungthêm việc cá nhân đó phải tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dântộc Việt Nam Đây là một quy định hợp lý và tiến bộ, bởi lẽ Việt Nam là một đấtnước có truyền thống văn hóa lâu đời, với những phong tục tập quán cần đượctrân trọng, bảo vệ và gìn giữ qua các thế hệ
- Còn với điều kiện về thời gian cư trú đã có sự thay đổi từ thuật ngữ “cưtrú” thành “thường trú” Theo đó, đã có sự thống nhất trong cách giải thích điềukiện này mà cụ thể là, một người chỉ có thể nhập quốc tịch Việt Nam chỉ khi họ
đã cư trú liên tục trong một khoảng thời gian nhất định trên lãnh thổ nước ta.Với việc quy định như vậy, pháp luật quốc tịch đã giải quyết được những hạnchế, bất cập của giai đoạn trước đồng thời góp phần đầy mạnh công cuộc côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Bên cạnh việc kế thừa luật quốc tịch năm 1988, pháp luật quốc tịch thời kìnày cũng quy định hai điều kiện mới góp phần phát triển nhóm quy phạm vềđiều kiện nhập quốc tịch Việt Nam Đó là:
Trang 30- Điều kiện về “khả năng bảo đảm cuộc sống” đã loại trừ được tình trạngngười nhập quốc tịch sẽ trở thành gánh nặng về tài chính cho quốc gia mà cánhân đó xin nhập quốc tịch và có thể đảm bảo cho đương sự sẽ hòa nhập đượcvới công đồng dân cư mới Tuy nhiên, bên cạnh đó pháp luật quốc tịch ViệtNam cũng mở rộng quy định này bằng việc miễn giảm điều kiện khi người nhậpquốc tịch là vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ của công dân Việt Nam.
- Quy định đảm bảo nguyên tắc một quốc tịch được ghi nhận tại khoản 3điều 20 luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 Với việc lần đầu tiên quy định nộidung này như là một điều kiện tiên quyết khi một người muốn nhập quốc tịchViệt Nam, pháp luật quốc tịch của nước ta giai đoạn này đã xây dựng cơ sở đảmbảo, thực thi chính sách một quốc tịch mềm dẻo trong thực tế, tạo ra sự chặt chẽ,gắn kết giữa các quy định pháp luật Tuy nhiên, điều luật này còn nhiều cứngnhắc về ngôn từ, mà theo đó ta có thể hiểu như sau: Nhà nước Việt Nam chỉcông nhận người nhập quốc tịch có quốc tịch Việt Nam mà không công nhậnquốc tịch nước ngoài của người đó Nhưng việc người đó không thôi quốc tịchnước ngoài không phụ thuộc vào pháp luật quốc tịch Việt Nam Bởi vì, mỗiquốc gia chỉ có thể quy định về quốc tịch nước mình chứ không được quy địnhvấn đề liên quan đến quốc tịch của nước khác
Tới thời kì này, các quy định về điều kiện nhập quốc tịch ngày càng hoànthiện cả nội dung và hình thức Nhìn chung, nhóm quy phạm này không thay đổinhiều so với pháp luật thời điểm trước nhưng kỹ thuật lập pháp đã có sự pháttriển hơn Tuy nhiên, các điều luật triển khai cụ thể cũng như trình tự, thủ tụcthực hiện các quy định này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập
Pháp luật quốc tịch từ năm 2008 đến nay:
Trong lịch sử pháp luật quốc tịch, lần đầu tiên luật quốc tịch Việt Nam năm
2008 ghi nhận những trường hợp có hai quốc tịch bên cạnh quốc tịch gốc, điều
đó được thể hiện rõ ràng qua chính sách của nhà nước ta với người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài Tuy nhiên, đây không phải là chính sách hai quốc tịch màthực chất đó là chính sách một quốc tịch mềm dẻo hơn, cụ thể là luật quốc tịch