1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Ứng dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2007-2015

94 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ứng Dụng Mô Hình SFA Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam
Tác giả Nguyễn Hữu Dự
Người hướng dẫn PGS.TS. Võ Xuân Vinh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN (11)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (11)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (11)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu (11)
    • 1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu (12)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (12)
    • 1.6 Kết cấu của luận văn (12)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (14)
    • 2.1 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại (14)
    • 2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM (14)
      • 2.2.1 Các nhân tố bên trong (15)
        • 2.2.1.1 Năng lực về vốn (15)
        • 2.2.1.2 Chỉ tiêu khả năng thanh khoản của ngân hàng (15)
        • 2.2.1.3 Khả năng sinh lời của ngân hàng (15)
        • 2.2.1.4 Năng lực quản lý của ban lãnh đạo (16)
        • 2.2.1.5 Năng lực về công nghệ (16)
        • 2.2.1.6 Nguồn nhân lực (16)
      • 2.2.2 Các nhân tố bên ngoài (16)
        • 2.2.2.1 Tác động từ kinh tế vĩ mô (17)
        • 2.2.2.2 Môi trường pháp lý (17)
    • 2.3 Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 7 (17)
      • 2.3.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu tài chính (17)
        • 2.3.1.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi (18)
        • 2.3.1.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh (19)
        • 2.3.1.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng (19)
      • 2.3.2 Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên (21)
        • 2.3.2.1 Phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA)- Tiếp cận tham số (21)
        • 2.3.2.2 Phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) - Tiếp cận (23)
    • 2.4 Tóm tắt các nghiên cứu trước đây (24)
      • 2.4.1 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ ngân hàng bằng mô hình SFA trên thế giới (25)
      • 2.4.2 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ của ngân hàng bằng mô hình SFA ở Việt Nam (26)
  • CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM (31)
    • 3.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam (31)
    • 3.2 Tình hình hoạt động của các NHTMCP Việt Nam (32)
      • 3.2.1 Hoạt động huy động vốn (32)
      • 3.2.2 Hoạt động cấp tín dụng (34)
      • 3.2.3 Hoạt động thanh toán và đầu tư công nghệ (0)
      • 3.2.4 Hoạt động kinh doanh ngoại hối (37)
    • 3.3 Đánh giá HQHĐ của NHTMCP Việt Nam bằng các chỉ số tài chính (38)
      • 3.3.1 Lợi nhuận trước thuế (38)
      • 3.3.2 Khả năng sinh lời (39)
      • 3.3.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (39)
  • CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM (42)
    • 4.1 Phương pháp tiếp cận biên ngẫu nhiên SFA (42)
      • 4.1.1 Dữ liệu và định nghĩa biến (43)
      • 4.1.2 Các biến liên quan đến hiệu quả (44)
      • 4.1.3 Công thức của mô hình (46)
    • 4.2 Kết quả mô hình SFA (49)
      • 4.2.1 Kiểm định sự phù hợp mô hình SFA (49)
      • 4.2.2 Kết quả ước lượng hiệu quả bằng mô hình SFA (50)
      • 4.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả ngân hàng Việt Nam (57)
        • 4.2.3.1 Tác động của rủi ro và chất lượng tài sản lên hiệu quả chí phí (0)
        • 4.2.3.2 Tác động của các biến đặc trưng của ngân hàng lên chi phí (0)
        • 4.2.3.3 Các biến thêm vào (60)
  • CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM (62)
    • 5.1 Kiến nghị đối với NHNN (62)
    • 5.2 Đối với các NHTMCP Việt Nam (63)
      • 5.2.1 Nâng cao năng lực tài chính và sử dụng vốn (63)
      • 5.2.2 Kiểm soát việc tăng quy mô ngân hàng (64)
      • 5.2.3 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực (0)
      • 5.2.4 Gia tăng thị phần đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ cung cấp phát triển các dịch vụ mới (65)
      • 5.2.5 Đầu tư vào công nghệ (0)
    • 5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo (67)
      • 5.3.1 Hạn chế (67)
      • 5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo (67)
  • KẾT LUẬN (12)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)
  • PHỤ LỤC (75)

Nội dung

Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có ý nghĩa đối với ngân hàng trong việc giải quyết những vấn đề còn vướng mắc, sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện hữu, tăng cường năng lực cạnh tranh và đưa ra các quyết định chính sách nhằm mang lại lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng và giúp các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hỗ trợ tạo điều kiện để các ngân hàng hoạt động tốt hơn.

GIỚI THIỆU LUẬN VĂN

Lý do chọn đề tài

Sau hơn 25 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trở thành trụ cột quan trọng trong sự phát triển kinh tế, với nhiệm vụ huy động và phân bổ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời thúc đẩy lưu thông hàng hóa thông qua các dịch vụ thanh toán.

Trong bối cảnh kinh tế mở cửa và sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng nước ngoài, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ ngân hàng và biến động từ các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu yêu cầu các ngân hàng phải cải cách để nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và cải thiện năng lực cạnh tranh Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng sẽ giúp giải quyết vấn đề, sử dụng hiệu quả nguồn lực và đưa ra quyết định chính sách tối ưu Vì vậy, tôi chọn đề tài "Ứng dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2007-2015".

Mục tiêu nghiên cứu

- Ước lượng và phân tích HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam bằng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA)

- Gợi ý giải pháp nâng cao HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam như thế nào?

- HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam như thế nào theo mô hình SFA? Các yếu tố nào tác động đến HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam?

- Từ kết quả mô hình thì các giải pháp nào góp phần cải thiện và nâng cao HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam?

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu luận văn là HQHĐ của các NHTMCP (bao gồm ngân hàng tư nhân và có vốn nhà nước) Việt Nam giai đoạn 2007-2015

Nghiên cứu này tập trung vào hoạt động huy động vốn của 15 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2015, do hạn chế về dữ liệu Các ngân hàng được chọn có tổng tài sản chiếm 53% tổng tài sản của toàn hệ thống NHTMCP Việt Nam, được sắp xếp theo thứ tự giảm dần của tổng tài sản tính đến ngày 31/12/2015.

Phương pháp nghiên cứu

Tổng hợp và kế thừa các nghiên cứu trước đây là bước quan trọng để xác định các biến giá đầu vào, biến đầu ra và các biến tác động đến hiệu quả hoạt động của mô hình.

- Sử dụng phương pháp định lượng để đưa ra kết quả về HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam thông qua phương pháp SFA

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần kết luận, kết cấu luận văn gồm 5 chương:

- Chương 1: Giới thiệu luận văn

- Chương 2: Cơ sở lý luận về mô hình SFA đánh giá HQHĐ của ngân hàng thương mại

- Chương 3: Thực trạng HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam

- Chương 4: Ứng dụng mô hình SFA đánh giá HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam

- Chương 5: Một số gợi ý giải pháp nâng cao HQHĐ của các NHTMCP Việt nam

Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về mục tiêu nghiên cứu, dữ liệu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu trong luận văn Bằng việc sử dụng mô hình nghiên cứu biên ngẫu nhiên SFA với mẫu nghiên cứu gồm 15 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2015 để đánh giá HQHĐ của các NHTMCP Việt Nam

Từ đó luận văn đưa ra các gợi ý giải pháp phù hợp để cải thiện và nâng cao HQHĐ của các NHTMCP.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại

Theo Kumbhakar và Lovell (2000), hiệu quả là khả năng tối thiểu hóa đầu vào để sản xuất ra một đầu ra nhất định, hoặc ngược lại, tối đa hóa sản lượng từ một đầu vào nhất định Farrell (1957) phân chia hiệu quả thành hai loại: hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Hiệu quả kỹ thuật liên quan đến việc sử dụng các đầu vào vật lý như lao động, máy móc và nhà xưởng để đạt được sản lượng tối ưu Nó thể hiện khả năng tối đa hóa đầu ra trong điều kiện đầu vào cố định (định hướng đầu ra) hoặc tối thiểu hóa tổng đầu vào cho một lượng đầu ra nhất định (định hướng đầu vào) Tóm lại, hiệu quả phản ánh khả năng và trình độ sử dụng nguồn lực hạn chế của đơn vị.

Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, do đó việc đánh giá hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của ngân hàng cũng dựa trên các nền tảng lý thuyết tương tự như đánh giá HQHĐ của doanh nghiệp Trong luận văn này, tác giả tập trung vào việc đánh giá HQHĐ của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) dựa trên tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế, nhằm thể hiện khả năng của ngân hàng trong việc kết hợp các nguồn lực đầu vào như lao động, kỹ thuật và vốn để tạo ra các đầu ra là thu nhập và lợi nhuận.

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM

Theo nghiên cứu của Ongore và cộng sự (2013) cùng với Masood và cộng sự (2012), các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại được chia thành hai nhóm chính: nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài Nhóm bên trong bao gồm các yếu tố đặc trưng của ngân hàng như năng lực vốn, khả năng thanh khoản, rủi ro tín dụng, khả năng sinh lời và năng lực quản lý của ban lãnh đạo Ngược lại, nhóm bên ngoài phản ánh tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế và chính sách pháp luật mà ngân hàng phải tuân thủ.

2.2.1 Các nhân tố bên trong

Nghiên cứu của Berger (1997) và Sufian cùng Habibullah (2010) chỉ ra rằng tỷ lệ nguồn vốn thấp có thể dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, do đó, một cấu trúc vốn mạnh sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Năng lực vốn vững mạnh không chỉ giúp ngân hàng ứng phó với điều kiện kinh tế vĩ mô không ổn định mà còn tăng cường tính an toàn cho khách hàng gửi tiền (Athanasoglounn và các cộng sự, 2008) Tại Việt Nam, nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong quy mô kinh doanh của ngân hàng, với những ngân hàng có vốn mạnh và ổn định thường có lợi thế hơn trong việc mở rộng quy mô, chiếm lĩnh thị trường và phòng ngừa rủi ro.

2.2.1.2 Chỉ tiêu khả năng thanh khoản của ngân hàng:

Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không đủ khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính thường xuyên, dẫn đến tình trạng thiếu hụt tiền mặt Điều này có thể xảy ra khi ngân hàng không thể cung cấp đủ tiền hoặc không vay mượn được để thanh toán các khoản nợ tức thời Khả năng thanh khoản của ngân hàng thường được đo lường qua các chỉ tiêu như tỷ lệ thanh khoản trên tổng tài sản, khả năng chi trả trong 30 ngày và tỷ lệ dự trữ thanh khoản.

2.2.1.3 Khả năng sinh lời của ngân hàng:

Mục tiêu chính của ngân hàng là tối đa hóa lợi nhuận, vì vậy khả năng sinh lời là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động và tiềm năng phát triển của ngân hàng thương mại Các chỉ tiêu như lợi nhuận sau thuế, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và thu nhập lãi cận biên thường được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời Các nhà nghiên cứu có thể so sánh các chỉ tiêu này giữa số liệu thực hiện và kế hoạch, so với các ngân hàng khác trong ngành, và theo dõi xu hướng qua các thời kỳ để đánh giá khả năng sinh lời trong tương lai của ngân hàng.

2.2.1.4 Năng lực quản lý của ban lãnh đạo

Nghiên cứu của Kauko (2009) chỉ ra rằng năng lực quản lý và trình độ học vấn của ban lãnh đạo có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Sự thay đổi trong ban lãnh đạo, như nghỉ hưu hoặc chuyển công tác, có thể gây ra xáo trộn trong điều hành và tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động Do đó, một ban lãnh đạo được đào tạo tốt, có năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức ổn định sẽ góp phần tích cực vào hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

2.2.1.5 Năng lực về công nghệ

Nghiên cứu của Manlagnit (2010) chỉ ra rằng sự thay đổi công nghệ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Để nâng cao hiệu quả này, các ngân hàng cần đầu tư vào công nghệ, bao gồm hiện đại hóa hệ thống thanh toán, hệ thống thông tin điện tử, hệ thống báo cáo rủi ro và hệ thống thông tin quản lý Những cải tiến này sẽ giúp đa dạng hóa dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, tăng cường khả năng dự báo rủi ro, hạn chế tổn thất và đạt được hiệu quả kinh doanh cao hơn.

Nghiên cứu của Hasan và Marton (2003) chỉ ra rằng chi phí hoạt động, đặc biệt là chi phí cho nhân viên, có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Chi phí nhân viên chiếm tỷ trọng lớn, do đó, nếu chi phí này cao sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng cho sự phát triển và hoạt động của ngân hàng, nên các ngân hàng cần cân nhắc kỹ lưỡng trong việc hoạch định cơ cấu nhân lực Việc phát triển nguồn nhân lực cần đi đôi với việc nâng cao hệ thống và mục tiêu phát triển của ngân hàng.

2.2.2 Các nhân tố bên ngoài

Hệ quả hoạt động của ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố nội tại mà còn bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố môi trường, đặc biệt là các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý.

2.2.2.1 Tác động từ kinh tế vĩ mô

Theo nghiên cứu của Ongore và các cộng sự (2013) và Masood và các cộng sự

Từ năm 2012, các yếu tố như lạm phát và tăng trưởng GDP đã chứng minh có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Lạm phát tác động đến giá trị đồng tiền, sức mua của người dân và lãi suất thực, tạo ra tác động tích cực đến hiệu quả ngân hàng Theo nghiên cứu của Ongore và các cộng sự (2013), tốc độ tăng trưởng GDP cao thúc đẩy ROA và NIM, vì nó khuyến khích ngân hàng cho vay nhiều hơn và người vay sẵn sàng đầu tư, từ đó gia tăng lợi nhuận Nghiên cứu của Neely và Wheelock (1997) cũng chỉ ra rằng thu nhập bình quân đầu người có tác động tích cực đến thu nhập ngân hàng, ảnh hưởng đến hiệu quả chung của ngành ngân hàng.

Nghiên cứu của Pasiouras và các đồng sự (2009) chỉ ra rằng các quy định ngân hàng không chỉ nâng cao kỷ luật thị trường mà còn tăng cường sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền, từ đó cải thiện hiệu quả chi phí và lợi nhuận của các ngân hàng Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định nghiêm ngặt về nguồn vốn có thể nâng cao hiệu quả chi phí nhưng lại làm giảm lợi nhuận Do đó, môi trường pháp lý có thể tạo ra cả tác động tích cực và tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 7

2.3.1 Phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua các chỉ tiêu tài chính

Theo nghiên cứu của Ongore và các cộng sự (2013) và Masood và các cộng sự

Từ năm 2012, có nhiều chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, các nhà nghiên cứu sẽ lựa chọn và áp dụng những chỉ tiêu phù hợp nhất Các chỉ tiêu này thường được chia thành ba nhóm chính: chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi, chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh và chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động ngân hàng.

2.3.1.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi là công cụ quan trọng để đánh giá hiệu quả tạo ra lợi nhuận của ngân hàng Trong số nhiều tỷ lệ đánh giá, Ongore và các cộng sự (2013) nhấn mạnh rằng tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) là những chỉ số phổ biến nhất được sử dụng.

Tỷ lệ ROA là chỉ số quan trọng thể hiện khả năng sinh lợi của ngân hàng, đánh giá hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập Nó cho thấy cách mà ngân hàng khai thác nguồn lực để đạt được lợi nhuận Theo nghiên cứu của Wen (2010), một tỷ lệ ROA cao chứng tỏ rằng ngân hàng đã sử dụng hiệu quả các nguồn lực của mình.

ROE là tỷ số tài chính quan trọng, cho thấy lợi nhuận mà ngân hàng kiếm được so với tổng vốn cổ phần đầu tư Chỉ số này giúp cổ đông đánh giá hiệu quả đầu tư của họ; ROE cao hơn đồng nghĩa với khả năng tạo lợi nhuận tốt hơn Do đó, ROE càng hiệu quả càng chứng tỏ khả năng quản lý vốn cổ đông tốt hơn.

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) là chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng thu nhập lãi so với chi phí lãi phải trả cho người cho vay và tổng tài sản của ngân hàng NIM được tính bằng cách chia thu nhập lãi ròng cho tổng tài sản thu nhập, cho thấy chi phí dịch vụ trung gian ngân hàng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Một tỷ lệ NIM cao cho thấy lợi nhuận ngân hàng tăng và sự ổn định cao hơn Tuy nhiên, mức lãi suất ròng cao cũng có thể chỉ ra các hoạt động cho vay rủi ro liên quan đến nợ cho vay đáng kể.

2.3.1.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh

Theo Ongore và các cộng sự (2013), các chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh thường được sử dụng gồm:

Tỷ lệ tổng thu nhập hoạt động trên tổng tài sản phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao cho thấy ngân hàng đã phân bổ tài sản hợp lý, từ đó nâng cao lợi nhuận.

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng, được tính bằng tổng chi phí hoạt động chia cho tổng tài sản, phản ánh khả năng quản lý chi phí như tiền lương và đầu tư tài sản Tỷ lệ hiệu quả hoạt động thấp cho thấy ngân hàng gặp khó khăn trong việc quản lý chi phí, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tổng thể của ngân hàng.

2.3.1.3 Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng

Ngoài các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi và kinh doanh của ngân hàng, các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng rất quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động Theo Ongore và các cộng sự (2013), các chỉ tiêu này bao gồm nhiều yếu tố khác nhau nhằm đo lường mức độ rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt.

Tỷ lệ an toàn vốn, được tính bằng tổng vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản, phản ánh sức mạnh tài chính của ngân hàng và là chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng vốn của ngân hàng Một tỷ lệ an toàn vốn cao cho thấy ngân hàng có ít nhu cầu tài trợ vốn bên ngoài, đồng thời có khả năng tái phân phối nguồn vốn để gia tăng lợi nhuận Hơn nữa, tỷ lệ này cũng thể hiện khả năng chịu đựng các cú sốc bên ngoài và năng lực quản lý rủi ro của cổ đông ngân hàng.

Chất lượng tài sản của ngân hàng được đánh giá qua hai tỷ lệ chính: tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản phản ánh nguồn thu nhập và kỳ vọng lợi nhuận, trong khi tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản là chỉ số quan trọng để xác định chất lượng tài sản Tỷ lệ nợ xấu cũng cho thấy rõ các danh mục cho vay nào đang ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của ngân hàng (Aydogan, 1990).

Tỷ lệ thanh khoản, được tính bằng tài sản thanh khoản chia cho tổng tài sản, phản ánh khả năng của ngân hàng trong việc đối phó với rủi ro thanh khoản Tài sản thanh khoản dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt khi cần thiết, nhưng thường có mức sinh lời thấp Vì vậy, các ngân hàng cần điều chỉnh mức nắm giữ tài sản này một cách hợp lý để tối ưu hóa lợi nhuận.

Tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu và chi phí thấp nhất của ngân hàng, đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi thành các khoản cho vay Việc sử dụng hiệu quả nguồn tiền gửi không chỉ tạo ra thu nhập lãi suất mà còn gia tăng lợi nhuận từ các khoản vay Do đó, tiền gửi của ngân hàng có tác động tích cực đến hoạt động tài chính.

Hệ số rủi ro tín dụng, được tính bằng tổng dư nợ tín dụng chia cho tổng tài sản, phản ánh tỷ trọng cho vay của ngân hàng so với tổng tài sản Tỷ trọng này càng lớn, lợi nhuận của ngân hàng càng cao, nhưng nếu tỷ lệ này quá cao, nó có thể dẫn đến rủi ro tín dụng nghiêm trọng cho ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu, được tính bằng nợ xấu chia cho tổng dư nợ tín dụng, là một chỉ số quan trọng để đánh giá rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Chỉ số này càng thấp, chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao, cho thấy ngân hàng ít gặp rủi ro trong hoạt động cho vay.

Mặc dù các chỉ tiêu tài chính được sử dụng phổ biến để đo lường hiệu quả ngân hàng, nhưng chúng cũng có những hạn chế nhất định Theo Yeh (1996), mỗi tỷ lệ chỉ có ý nghĩa khi được so sánh với một tiêu chuẩn phù hợp, tuy nhiên việc thiết lập các tiêu chuẩn này lại rất phức tạp và cần có cái nhìn tổng quát về tình hình ngân hàng Hơn nữa, sự biến động của hệ thống kinh tế và các yếu tố bên ngoài cũng tạo ra khó khăn trong việc xây dựng mô hình nghiên cứu chính xác Do đó, các nhà phân tích hiện nay thường áp dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên để đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng, vì phương pháp này giúp khắc phục nhược điểm của các chỉ tiêu tài chính và phản ánh rõ ràng thực trạng ngân hàng dưới ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh.

2.3.2 Đánh giá hiệu quả bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên

Tóm tắt các nghiên cứu trước đây

Có nhiều phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của ngân hàng thương mại (NHTM), trong đó mô hình SFA được áp dụng chủ yếu ở các nước phát triển Việc sử dụng mô hình này ở các nước đang phát triển còn hạn chế và thường chỉ được thực hiện ở mức độ phân tích chéo giữa các khu vực như Châu Âu và Châu Á Bài viết này sẽ tổng quan các nghiên cứu về HQHĐ ở một số quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, với trọng tâm là phân tích tham số SFA.

2.4.1 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ ngân hàng bằng mô hình SFA trên thế giới Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu về hiệu quả chi phí của Berger và Humphrey

Nghiên cứu năm 1997 đã chỉ ra sự khác biệt trong kết quả giữa các mô hình biên, bao gồm phương pháp phi tham số (DEA, FDH) và tham số (SFA, TFA, DFA) khi đánh giá hiệu quả chi phí của 130 tổ chức tài chính tại 21 quốc gia Kết quả phân tích cho thấy các phương pháp phi tham số thường đưa ra mức hiệu quả chi phí thấp hơn so với phương pháp tham số Hai tác giả cũng nhấn mạnh rằng các kết quả ước lượng từ nghiên cứu này có thể là chỉ dẫn đáng tin cậy cho việc ra quyết định trong chính sách của chính phủ cũng như trong quản lý nhà nước và doanh nghiệp.

Nghiên cứu nổi tiếng của Berger và Mester (1997) đã khám phá "bên trong chiếc hộp đen" để giải thích hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Họ đã phân tích dữ liệu từ 6000 ngân hàng thương mại ở Mỹ, kéo dài từ năm 1990 đến năm 1995, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu suất và các yếu tố ảnh hưởng đến ngành ngân hàng.

Năm 1995, các tác giả đã đề xuất cách lựa chọn các biến ảnh hưởng đến đo lường hiệu quả kinh tế dựa trên ba khái niệm chính: cơ cấu chi phí, lợi nhuận tiêu chuẩn và các khoản lợi nhuận khác Bài nghiên cứu này làm rõ lợi ích và nhược điểm của từng loại Đồng thời, nghiên cứu cũng điều tra việc áp dụng các phương pháp DEA và SFA, giải thích sự khác biệt giữa hàm Fourier linh hoạt và hàm translog Đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng các biến như quy mô ngân hàng, sở hữu tổ chức, quản trị doanh nghiệp, đặc điểm ngân hàng, đặc điểm thị trường, điều chỉnh chính sách liên bang, và các yếu tố địa lý có thể ảnh hưởng đến hiệu quả.

Nghiên cứu của Altunbas và các cộng sự (2000) đã phân tích ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro và chất lượng đến chi phí hoạt động của các ngân hàng thương mại Nhật Bản trong giai đoạn 1993.

Năm 1996, các tác giả đã áp dụng phương pháp biên ngẫu nhiên để đánh giá hiệu quả quy mô, hiệu quả chi phí và sự phát triển công nghệ trong ngân hàng Nghiên cứu cho thấy rằng nguồn tài chính lớn có ảnh hưởng đáng kể đến tối ưu hóa quy mô ngân hàng, trong khi hiệu quả theo quy mô lại nhạy cảm hơn với rủi ro và chất lượng tài sản so với hiệu quả chi phí Hơn nữa, các tác giả cũng chỉ ra rằng sự thay đổi công nghệ có thể làm giảm chi phí sản xuất trong tương lai.

Isik và Hassan (2002) đã nghiên cứu tác động của các yếu tố như qui mô ngân hàng, quản trị và quyền sở hữu đến hiệu quả chi phí và sản xuất của hệ thống ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ từ 1988 đến 1996 bằng phương pháp biên ngẫu nhiên Nghiên cứu sử dụng đầu ra là các khoản cho vay ngắn, dài hạn và thu nhập khác Qua phân tích 2 bước, các tác giả nhận thấy hiệu quả của hệ thống ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ chịu ảnh hưởng từ các yếu tố kinh tế vĩ mô và chính sách bảo hộ của nhà nước, đồng thời chỉ ra mức độ liên kết giữa hiệu quả chi phí và lợi nhuận là rất thấp.

Hughes và Mester (2008) đã trình bày các lý thuyết và bằng chứng về phân tích hiệu quả ngân hàng, tạo nền tảng cho hai phương pháp thực nghiệm tổng quát: tiếp cận phi cấu trúc và cấu trúc trong đo lường hiệu suất ngân hàng Nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ giữa quyền sở hữu, sáp nhập và giá trị ngân hàng Manlaguit và cộng sự (2011) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro và hiệu quả hệ thống ngân hàng Philippines giai đoạn 1990-1999, sử dụng mô hình Battese và Coelli (1995) để phân tích chi phí với các biến rủi ro và chất lượng tài sản Kết quả cho thấy khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả chi phí và tác động đến cải cách ngân hàng tại Philippines Nghiên cứu cũng chứng minh rằng việc mua bán và sáp nhập ngân hàng có mối quan hệ tiêu cực với hiệu quả chi phí của các ngân hàng.

2.4.2 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ của ngân hàng bằng mô hình SFA ở Việt Nam

Vu và Turnell (2010) đã sử dụng kỹ thuật Bayesian để đánh giá hiệu quả chi phí của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2000-2006, với kết quả cho thấy hiệu quả chi phí đạt 87,21% Điều này có nghĩa là các ngân hàng cần giảm 12,79% chi phí để đạt được mức tối ưu Ngoài ra, trong giai đoạn này, các ngân hàng đang phải đối mặt với việc giảm hiệu quả chi phí do đầu tư vào việc đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng mạng lưới và nâng cấp công nghệ.

Nghiên cứu của Vu và các cộng sự (2013) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2000-2006, tập trung vào bốn nhóm biến số: đặc trưng ngân hàng, quyền sở hữu, sự chuyển đổi môi trường kinh tế và điều kiện kinh tế vĩ mô Kết quả cho thấy, hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng tăng lên khi quy mô lớn và khả năng quản lý tốt, nhưng giảm khi chất lượng tài sản kém và vốn hóa quá cao Môi trường kinh tế thuận lợi với tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ lệ lạm phát thấp giúp ngân hàng cải thiện khả năng sinh lời Ngoài ra, các ngân hàng nước ngoài từ Úc, Nhật, Mỹ và Châu Âu có hiệu quả hoạt động tốt hơn so với ngân hàng từ châu Á, trong khi ngân hàng nội địa có hiệu quả thấp hơn đáng kể.

Nghiên cứu của Nguyễn và các cộng sự (2016) đã áp dụng mô hình SFA và DEA để đánh giá sự cải cách và hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2000-2014, với dữ liệu từ 32 ngân hàng Kết quả cho thấy các ngân hàng có đầu tư từ đối tác chiến lược nước ngoài và niêm yết trên sàn chứng khoán có hiệu quả chi phí cao hơn Ngược lại, hiệu quả chi phí của các ngân hàng sau khi được mua lại thấp hơn so với trước khi mua lại và có xu hướng giảm dần theo thời gian Tuy nhiên, còn thiếu chứng cứ rõ ràng về hiệu quả ngắn hạn và trung dài hạn của các ngân hàng niêm yết.

Các nghiên cứu chủ yếu xem ngân hàng như cầu nối giữa người gửi tiền và người vay tiền, và kết luận rằng các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hoạt động chưa hiệu quả Mặc dù các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của NHTM Việt Nam sử dụng phương pháp SFA với các biến số và cách thu thập dữ liệu khác nhau, mỗi nghiên cứu đều đóng góp vào sự phát triển của ngành ngân hàng Từ đó, các giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.

Nghiên cứu về hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt là về HQHĐ, là rất quan trọng Việc cải thiện HQHĐ sẽ giúp các ngân hàng Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trong bối cảnh hiện tại.

Bảng 2.1 Một số nghiên cứu đánh giá HQHĐ ngân hàng bằng mô hình SFA trên thế giới

Nghiên cứu Mẫu nghiên cứu

Biến đầu ra Biến tác động

6000 ngân hàng thương mại ở Mỹ từ năm 1990 đến 1995

- Giá các khoản tiền gửi

- các khoản cho vay doanh nghiệp

-Nợ xấu Tài khoản ngoại bàng

Vốn tài sản hữu hình

Altunbas và các cộng sự

136 ngân hàng từ năm 1993- 1995 và 139 ngân hàng trong năm 1996

- Vốn chủ sỡ hữu/ tổng tài sản

- Cho vay/ tổng tài sản

- Nợ xấu/ tổng tài sản

43 ngân hàng hồi giáo từ 21 nước giai

- Giá các khoản cho vay ngắn hạn khác

31 ngân hàng thương mại ở Philipin từ năm 1990 đến 2006

- Tiền gửi/nợ phải trả

- Biến ngân hàng niêm yết

- Biến loại hình ngân hàng

56 Ngân hàng Việt Nam từ năm

- Chi phí phi tài chính

Vu và các cộng sự

56 ngân hàng Việt Nam từ năm 2000 đến 2007

- Chi phí phi tài chính

- Kết hợp nghiên cứu với mô hình tobit

Nguyễn và các cộng sự

32 ngân hàng từ năm 2000 đến 2014 trong đó có 5 ngân hàng nhàn nước và

- Giá tài sản cố định

- Các tài sản sinh lời khác

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế

- Biến giả sở hữu ngân hàng

- Biến giả loại hình ngân hàng

- Các biến số cải cách quản trị trung và dài hạn

Chương 2 đã trình bày tổng quan về HQHĐ của NHTM và các phương pháp phân tích, đánh giá HQHĐ NHTM Hai phương pháp đánh giá thường được sử dụng chủ yếu là đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính và đánh giá bằng phương pháp phân tích hiệu quả biên Trong phương pháp phân tích hiệu quả biên thì được thực hiện thông qua tiếp cận tham số và tiếp cận phi tham số Cách tiếp cận tham số thường được sử dụng nhất là phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA

THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Kể từ khi gia nhập WTO vào năm 2007, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Sự phát triển này không chỉ làm đa dạng hóa loại hình ngân hàng mà còn tăng cường tính cạnh tranh trong ngành Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra thách thức cho các ngân hàng nhỏ và vừa trong nước trong việc giữ chân khách hàng và chiếm lĩnh thị trường.

Bảng 3.1 Số lƣợng ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015

Năm Loại hình ngân hàng

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 33 39 40 48 50 50 51 46 47

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 5 5 5 5 5 5 5 5 6

(Nguồn : Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm ) Ghi chú: NHTM Nhà nước là các ngân hàng có vốn Nhà nước góp trên 50%

Bảng 3.1 cho thấy từ năm 2007 đến 2015, ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số ngân hàng thương mại tại Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các NHTMCP có quy mô vừa và nhỏ, dẫn đến sức cạnh tranh yếu và gặp khó khăn trước các ngân hàng nước ngoài có kinh nghiệm.

Bảng 3.2 Quy mô vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 –

2015 Đơn vị tính: nghìn tỷ đồng

Vốn điều lệ của các NHTM

(Nguồn : Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Từ năm 2007 đến 2013, tổng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã tăng trung bình 22,17% Tuy nhiên, từ năm 2013 đến 2015, tốc độ tăng trưởng này có xu hướng chậm lại, phản ánh những khó khăn trong hoạt động của các ngân hàng Sau giai đoạn đầu tư mạnh mẽ từ các nhà đầu tư chiến lược, thị trường đã giảm dần các thương vụ lớn từ nguồn vốn nước ngoài Đặc biệt, các NHTMCP có vốn Nhà nước vẫn giữ vị trí cao nhất về vốn điều lệ trong hệ thống ngân hàng.

Tình hình hoạt động của các NHTMCP Việt Nam

3.2.1 Hoạt động huy động vốn

 Khả năng huy động vốn:

Ngân hàng thương mại chủ yếu phát triển dựa vào nguồn tiền huy động từ nền kinh tế Vì vậy, việc đảm bảo huy động vốn ổn định về chất lượng và số lượng luôn là ưu tiên hàng đầu trong hoạt động của các ngân hàng.

Biểu đồ 3.1 Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của hệ thống NHTMCP Việt

(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Tốc độ tăng trưởng huy động vốn của hệ thống ngân hàng đã có những biến động không đều, với hai lần giảm mạnh trong giai đoạn 2007-2011, cụ thể là từ 37,3% năm 2007 xuống 22,84% năm 2008 và từ 36,2% năm 2010 xuống 12,4% năm 2011 Từ năm 2011 trở đi, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn giữ dưới 20%, chủ yếu do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, lạm phát gia tăng và cuộc đua lãi suất bùng phát vào cuối năm 2010 Để ứng phó với tình hình này, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 02/2011/TT-NHNN vào ngày 03/03/2011, quy định mức lãi suất trần nhằm ổn định thị trường.

Dấu hiệu căng thẳng về thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) được thể hiện qua sự cạnh tranh lãi suất, tương tự như giai đoạn 2010-2011 Để bù đắp chi phí đầu vào và hoạt động, các NHTMCP đã phải nâng lãi suất huy động cao nhằm thu hút thêm nguồn tiền gửi, dẫn đến lãi suất cho vay cũng tăng theo Điều này đã gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong hoạt động, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phát triển của họ.

2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 trả gốc và lãi của doanh nghiệp Đó cũng là lý do tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTMCP gia tăng

Mức độ an toàn vốn trong hệ thống ngân hàng được đảm bảo nhờ Thông tư 36 của NHNN, có hiệu lực từ tháng 2 năm 2015, quy định các tỷ lệ an toàn tối thiểu Đến cuối năm 2015, tất cả các NHTMCP đã đạt tỷ lệ đảm bảo vốn tự theo quy định (CAR tối thiểu 9%) Hiện tại, NHNN đang thử nghiệm áp dụng tiêu chuẩn Basel II cho một số NHTMCP và dự kiến sẽ mở rộng áp dụng chính thức cho toàn bộ hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.

3.2.2 Hoạt động cấp tín dụng

Như chúng ta đã biết, dư nợ tín dụng vẫn là thành phần chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục tài sản của ngân hàng

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ dƣ nợ tín dụng/Tổng tài sản của các NHTMCP giai đoạn

(Nguồn : Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ dư nợ tín dụng trong tổng tài sản của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam Mặc dù gần đây các ngân hàng đã chú trọng đến việc mở rộng các dịch vụ khác, nhưng thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ lệ cao, dao động từ 60-80% trong tổng thu nhập của họ, với mức cao nhất đạt 88,8% vào năm 2015.

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của hệ thống NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015

(Nguồn : Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Từ năm 2007 đến 2015, tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình đạt 22,89%, nhưng có sự biến động lớn, điển hình là sự sụt giảm mạnh từ 51% xuống 23,38% vào năm 2008 do khủng hoảng kinh tế Tuy nhiên, nhờ các chính sách kích thích kinh tế, tăng trưởng tín dụng đã phục hồi lên 37,53% vào năm 2009 Từ năm 2010 trở đi, tăng trưởng tín dụng có xu hướng giảm do chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiểm soát lạm phát Đến năm 2012, tăng trưởng tín dụng giảm xuống mức thấp nhất, chỉ đạt 8,91%, trong khi mục tiêu đầu năm là 15-17% Mặc dù NHNN đã phân nhóm và giao chỉ tiêu tăng tín dụng cho các ngân hàng, nhưng hầu hết các chỉ tiêu này đều không được hoàn thành.

2015, tăng trưởng tín dụng có chiều hướng tăng nhẹ nhờ sự hồi phục của nền kinh tế

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ nợ xấu / tổng dƣ nợ của hệ thống NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007– 2015

(Nguồn : Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm )

Biểu đồ 3.4 cho thấy tỷ lệ nợ xấu tăng liên tục từ năm 2007 đến 2011, đạt đỉnh 4,08% vào năm 2012, trùng với thời kỳ kinh tế khó khăn và sự suy giảm của thị trường bất động sản Năm 2013, sự ra đời của Công ty quản lý tài sản của các TCTD (VAMC) đã hỗ trợ các TCTD trong việc tự giải quyết nợ xấu thông qua nguồn dự phòng tái cơ cấu nợ, giúp tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 3,61%.

2013 Từ năm 2014 đến 2015 tỷ lệ nợ xấu giảm dần về mức 2,9%

Theo đánh giá của Cơ quan xếp hạng tín dụng, nếu áp dụng tiêu chuẩn Quốc tế về phân loại nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu tại Việt Nam sẽ cao hơn nhiều do sự sai lệch trong cách phân loại Các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam chủ yếu phân loại nợ dựa vào thời hạn nợ, thay vì tình hình kinh doanh của các đơn vị có nợ xấu Điều này dẫn đến việc phân loại nợ không phản ánh đúng thực chất, gây khó khăn trong việc mua bán và thu hồi nợ.

3.2.3 Hoạt động thanh toán và đầu tƣ công nghệ

 Về hoạt động thanh toán trong nước :

Hiện nay, các dịch vụ thanh toán của ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đã có sự phát triển mạnh mẽ, không chỉ trong các hình thức thanh toán truyền thống như ủy nhiệm chi và thanh toán qua thẻ, mà còn mở rộng sang các dịch vụ thanh toán định kỳ như tiền điện, tiền nước, điện thoại, cước Internet và thuế.

Từ năm 2007 đến 2015, ngành ngân hàng đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ với sự ra đời và nâng cấp các kênh dịch vụ tài chính hiện đại như Mobile banking, Internet banking, SMS banking và dịch vụ thẻ Hệ thống máy POS và ATM được đầu tư đồng bộ tại nhiều địa điểm như siêu thị, nhà hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho thanh toán không dùng tiền mặt Tuy nhiên, do thói quen sử dụng tiền mặt, Việt Nam vẫn có tỷ lệ người dùng thẻ thanh toán thấp so với khu vực, với số lượng giao dịch rút tiền mặt qua ATM vẫn chiếm ưu thế.

 Về hoạt động thanh toán quốc tế :

Thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính giữa các tổ chức và cá nhân ở các quốc gia khác nhau Kể từ khi gia nhập WTO vào năm 2007, hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam đã có sự tăng trưởng đáng kể Sự hợp tác với các ngân hàng đại lý toàn cầu đã giúp các ngân hàng Việt Nam cung cấp đầy đủ các dịch vụ thanh toán quốc tế, bao gồm thanh toán bằng thư tín dụng (LC), chuyển tiền qua thư (MTR), dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, cùng với dịch vụ kiều hối.

Đầu tư vào công nghệ ngân hàng hiện đại là xu hướng tất yếu trong hệ thống ngân hàng hiện nay Để đảm bảo hoạt động ổn định và hiệu quả, nhiều ngân hàng trong nước đã đầu tư và nâng cấp hệ thống quản trị ngân hàng tập trung (Corebanking) Hiện nay, hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) đã triển khai các hệ thống này Bên cạnh đó, việc phát triển các hệ thống quản lý rủi ro và hệ thống đánh giá tự động cũng được chú trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

3.2.4 Hoạt động kinh doanh ngoại hối

Hoạt động kinh doanh ngoại hối đang phát triển mạnh mẽ tại các ngân hàng Việt Nam, hỗ trợ cho các dịch vụ như chuyển tiền, cho vay và thanh toán Tuy nhiên, các ngân hàng cần chú ý đến rủi ro tỷ giá có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của họ Tại Việt Nam, có bốn nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối chính: giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi và quyền chọn Trong bối cảnh thị trường ngoại hối còn sơ khai, các giao dịch chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ giao ngay để tài trợ cho xuất nhập khẩu, trong khi Ngân hàng Nhà nước đang điều chỉnh và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động khác.

Đánh giá HQHĐ của NHTMCP Việt Nam bằng các chỉ số tài chính

Giai đoạn 2008 – 2015 nền kinh tế gặp nhiều khó khăn tuy nhiên các NHTMCP Việt Nam đã không ngừng phấn đấu để tồn tại và từng bước phát triển

Bảng 3.3 Lợi nhuận trước thuế của NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 –

Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Tổng lợi nhuận trước thuế

(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN qua các năm)

Bảng 3.3 cho thấy lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2007 đến 2015 Trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2011, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng tăng trưởng ổn định Tuy nhiên, từ năm 2012 trở đi, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng thương mại đã giảm mạnh, với mức giảm cụ thể là 47,8% vào năm 2012.

Từ năm 2011, lợi nhuận ngân hàng đã giảm do lãi suất cho vay giảm mạnh, nền kinh tế gặp khó khăn và cạnh tranh gia tăng giữa các ngân hàng Tuy nhiên, từ năm 2013 trở đi, lợi nhuận bắt đầu có xu hướng tăng, mặc dù vẫn ở mức thấp do điều kiện kinh tế tiếp tục khó khăn.

Bảng 3.4 Khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 Đơn vị tính: %

(Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN Việt Nam qua các năm)

ROA và ROE có chiều hướng tăng giảm không ổn định điển hình giai đoạn 2007-2010 cả hai chỉ tiêu này có xu hướng tăng Tuy nhiên, trong giai đoạn 2010 –

Từ năm 2015 trở đi, cả hai chỉ số ROA và ROE đều có xu hướng giảm mạnh, đặc biệt là vào năm 2012 với ROA giảm 43,13% và ROE giảm 46,85% Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm khả năng sinh lời này từ năm 2010 đến 2015 là do khó khăn trong nền kinh tế và chi phí dự phòng rủi ro gia tăng Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, các ngân hàng không mở rộng chi nhánh và nhân sự để chiếm lĩnh thị phần.

3.3.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Bảng 3.5 Chỉ số NIM của một số NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2015 Đơn vị tính: %

Tốc độ tăng trưởng ROA 8,4 -21,71 27,74 -15,57 -43,13 -20,93 4,08 -9,8

Tốc độ tăng trưởng ROE 23,38 -28,43 39,73 -1841 -46,85 -1189 -12,6 16,9

An Bình 2.23 2.01 2.60 3.11 4.49 4.05 2.28 2.18 275 Đầu tƣ và phát triển Việt Nam 3.01 2.88 3.05 3.17 3.81 3.47 2.97 3.15 3.44

(Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng và tính toán của tác giả)

Từ năm 2007 đến 2011, hệ số NIM của hầu hết các ngân hàng tăng mạnh nhờ chênh lệch lớn giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, dẫn đến lợi nhuận cao trong giai đoạn này Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, hệ số NIM có xu hướng giảm do cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều giảm, làm giảm dần chênh lệch giữa hai loại lãi suất này.

Trong chương 3, luận văn phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2015 Các chỉ tiêu liên quan đến huy động, thanh toán, cấp tín dụng và khả năng sinh lời của ngân hàng cho thấy hoạt động của các NHTMCP có xu hướng chậm lại và có dấu hiệu sụt giảm Điều này chỉ ra rằng các ngân hàng chưa khai thác triệt để nguồn lực của mình, do đó, nghiên cứu về hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTMCP là rất cần thiết.

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SFA ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI VIỆT NAM

Ngày đăng: 27/05/2021, 14:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm