1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG của CHỈ TIÊU NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRUNG BÌNH của VIỆT NAM QUA các năm 2006, 2011và 2016

28 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 38,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUCHƯƠNG INHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO1.1.Khái niệm năng suất lao động và tăng năng suất lao động.1.1.1. Khái niệm năng suất lao động của doanh nghiệp thương mại.1.1.2.Khái niệm tăng năng suất lao động trong thương mại.1.2.Phân loại năng suất lao độnga)Theo nội dung : chia làm 2 loạib)Theo phương pháp chọn giá gốc so sánhbao nhiêu chi phí cho lao động trong kỳc)Theo ý nghĩa của chỉ tiêu : chia NSLĐ thành 3 loạinhững bất ổn ở bên ngoài.1.3. Năng suất lao động và việc áp dụng tính toán ở Việt NamCHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CỦA CHỈ TIÊU NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM QUA CÁC NĂM 2006, 2011VÀ 20162.1.Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam năm 20062.2. Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam năm 20112.3. Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam năm 2016CHƯƠNG 3MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAMKẾT LUẬNTÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO

1.1 Khái niệm năng suất lao động và tăng năng suất lao động.

1.1.1 Khái niệm năng suất lao động của doanh nghiệp thương mại.

1.1.2 Khái niệm tăng năng suất lao động trong thương mại.

1.2 Phân loại năng suất lao động

a) Theo nội dung : chia làm 2 loại

b) Theo phương pháp chọn giá gốc so sánh

- bao nhiêu chi phí cho lao động trong kỳ

c) Theo ý nghĩa của chỉ tiêu : chia NSLĐ thành 3 loại

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế thị trường đồng nghĩa với việc tựđiều tiết của thị trường bằng các qui luật kinh tế như: qui luật giá trị,qui luật cung-cầu và qui luật cạnh tranh,do vậy các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thươngtrường thì họ phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

Một trong những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của DoanhNghiệp đó là nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp Để hiểu và làmđược điều này thì cần nắm rõ những lí luận về năng suất lao động, các yếu tố ảnhhưởng đến năng suất lao động là hết sức cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp Năng suất lao động là : Sức sản xuất của lao động cụ thể có ích” Nó nói lênkết quả hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một đơn vị thời giannhất định Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trongmột đơn vị thời gian;hoặc bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vịsản phẩm

Vì vậy em chọn đề tài “ Sử dụng cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thống kê để phân tích về biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình Việt Nam qua các năm 2006, 2011, 2016 do ảnh hưởng cua hai nhân tố: năng suất lao động các thành phần kinh tế và cấu trúc nguồn lao động các thành phần kinh tế.” làm

đề tài tiểu luận

Trang 3

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO 1.4 Khái niệm năng suất lao động và tăng năng suất lao động.

1.4.1 Khái niệm năng suất lao động của doanh nghiệp thương mại.

Năng suất lao động: Một cách khái quát năng suất lao động được hiểu làphạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng lao động sống trong quá trình sản xuấtkinh doanh, được đo bằng mức doanh thu của một nhân viên Vì vậy nó cũng làmột chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được với chiphí bỏ ra để dạt được kết quả đó

Năng suất lao động = kết quả / chi phí lao động

Năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại là mức tiêu thụ hàng hóabình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian

Năng suất lao động của một nhân viên bán hàng = mức tiêu thụ hàng hóa / số

nhân viên bán hàng Hoặc số nhân viên bán hàng / mức tiêu thụ hàng hóa 1.4.2 Khái niệm tăng năng suất lao động trong thương mại.

- Tăng năng suất lao động là quá trình tăng lực lượng sản xuất của lao động,tăng hiệu quả sử dụng lao động sống Thực chất đây là quá trình tiết kiệmquá trình lao động sống trong việc sản suất sản phẩm dịch vụ, từ đố chi phícho lao động sản suất sản phẩm dịch vụ đưuọc giảm xuống, đồng nghĩa vớiviệc bán sản phẩm dịch vụ đó sẽ tăng lên

- Tăng năng suất lao động trong thương mại là mức tiêu thụ hàng hóa bìnhquân của một nhân viên bán hàng trong cùng một đơn vị thời gian, hoặcgiảm thời gian lao động cần thiết để thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóatiêu thụ Như vậy năng suất lao động luôn gắn với giảm hao phí lao động,

Trang 4

giảm giá thành sản suất kinh doanh Đó chính là sự khác biệt giữa tăng năngsuất lao động với tăng cường độ lao động.

- Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là giảm chi phí lao động sống nhưng chấtlượng cung câp dịch vụ cho khách hàng không bị giảm sút Việc tăng năngsuất lao động có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với ngành, đối với mọi doanhnghiệp và đối với người lao động

- Ý nghĩa đối với người lao động kinh doanh sản phẩm dịch vụ, tăng năngsuất lao động đồng nghĩa với việc tăng lời nhuận và tăng hiệu quả kinh tế.Mối quan tâm lớn nhất và quan trọng hàng đầu của mỗi doanh nghiệp là lợinhuận, do đó họ sẽ thực hiện mọi biện pháp để có thể tăng năng suất laođộng đến mức tối đa

- Ý nghĩa đối với ngành, việc tăng năng suất lao động làm cho khả năng táisản suất được tăng lên từ đó qui mô ngành cũng tăng cao Khi qui mô củangành tăng cao thì vị thế đống góp cho nền kinh tế của ngành cũng tăng cao

- Ý nghĩa đối với người lao động, tăng năng suất lao động có nghĩa là lượnggiá trị do người lao động tạo ra tăng lên từ đó thu nhập của người lao độngcũng tăng lên, các lợi ích vật chất khác của họ cũng cao hơn Năng suất laođộng làm cho việc kinh doanh của doanh nghiệp có xu hướng mở rộng vềqui mô và tăng cao về chất lượng, từ đó điều kiện làm việc của người laođộng sẽ được nâng lên

- Theo cách tính năng suất lao động bằng chỉ tiêu giá trị:

W= M/ T

giảm thời gian lao động cần thiết để thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóa

W : năng suất lao động

M : mức hàng hóa tiêu thụ trong kì

T : số lao đọng bình quân trong kì

- Để tăng năng suất lao động xảy ra các trường hợp sau:

Trang 5

- TH1: mức tiêu thụ hàng hóa tăng và số lao đọng bình quân không đổi dochi phí không đổi lên doanh nghiệp có lợi nhuận tuy nhiên qui mô của doanhnghiệp không tăng vì thế đó không phải là lựa chọn tối ưu đẻ doanh nghiệpphát triển.

- TH2: doanh thu không đổi và số lao động bình quân giảm do chi phí giảm

vì lượng lao động giảm nhưng qui mô của doanh nghiệp lai giảm vì thế đâykhông phải là sự lựa chọn tốt để doanh nghiệp phát triển

- TH3: doanh thu tăng số lao động bình quân giảm trường hợp này doanhnghiệp có lợi nhuận cao nhất, do doanh thu tăng lên và chi phí lao độnggiảm, tuy nhiên số lao động bình quân giảm tức qui mô của doanh nghiệpgiảm, điều này không tốt với doanh nghiệp

- TH4: doanh thu và số lao động bình quân đều giảm, nhưng doanh thu giảm

ít hơn so với mức của chi phí tiết kiệm được từ việc giảm lao động ở đâydoanh nghiệp vẫn có lợi nhuận nhưng cả doanh thu lẫn qui mô hoạt độngđều giảm so với trước điều này hoàn toàn không có lợi

- TH5: doanh thu và số lượng lao động đều tăng, nhưng doanh thu tăng nhiềuhơn mức chi phí tăng lên do có thêm lao động lúc này doanh nghiêp có lợinhuận do doanh thu cao hơn chi phí, mặt khác qui mô của doanh nghiệpcũng tăng lên do thuê thêm lao động đây chính là lựa chọn tối ưu của doanhnghiệp phát triển kinh doanh theo cả chiều rộng và chiều sâu

1.5 Phân loại năng suất lao động

d) Theo nội dung : chia làm 2 loại

- Năng suất lao động sống là chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động thông quakết quả sản xuất với chi phí về số lao động tạo ra kết quả đó (vd: số côngnhân )

Trang 6

- Năng suất lao động vật hóa : là chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động thôngqua kết quả sản xuất với chi phí trung gian (C) ( vd: chi phí về nguyên vậtliệu, về khấu hao máy móc…) để tạo sản phẩm.

- Trong các chỉ tiêu biểu hiện năng suất lao động trên thì còn có thể phân tích

ra nhiều chỉ tiêu năng suất lao động tùy theo từng chi tiêu kết quả hoặc chiphí

- Các chỉ tiêu kết quả có thể dùng để tính năng suất lao động có thể là:

+ Giá trị sản xuất-GO

+ Giá trị gia tăng-VA

+ Giá trị gia tăng thuần-NVA

+ Doanh thu –DT

+ Lợi nhuận-M

- Các chỉ tiêu chi phí có thể là:

+ Tổng số lao động trong doanh nghiệp

+ Tổng số ngày người làm việc

+ Tổng số công nhân sản xuất

e) Theo phương pháp chọn giá gốc so sánh

- Năng suất lao động thuận: biểu hiện bằng cách lấy chỉ tiêu kết quả chia chochi phí

- Năng suất lao động nghịch: biểu hiện bằng chỉ tiêu chi phí chia cho chỉ tiêukết quả

- Hai chỉ tiêu này đều biểu hiện năng suất lao động nhưng có ý nghĩa khácnhau nên có tác dụng phân tích khác nhau năng suất lao động thuận nóilên : cứ một đơn vị lao động hao phí trong kỳ tạo ra một đơn vị kết quả cầnbao nhiêu chi phí cho lao động trong kỳ

f) Theo ý nghĩa của chỉ tiêu : chia NSLĐ thành 3 loại

- Năng suất lao động trung bình

Trang 7

- Năng suất lao động cận biên

- Năng suất lao động ca biệt

Ngoài ra còn có một số cách phân loại năng suất lao động khác nữa dựa trênnhiều quan điểm và tiêu thức phân loại khác nhau

- Mối quan hệ của năng suất lao động với các phạm trù khác Mối quan hệ

giữa năng suất lao động và việc làm: Việt Nam đã đạt được những kết quảquan trọng trong giải quyết việc làm cũng như cải thiện đáng kể năng suấtlao động Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế mà chúng ta cần khắc phục đểlao động và năng suất lao động không trở thành điểm “nghẽn” của tăngtrưởng Lao động và năng suất lao động có vai trò to lớn do tạo ra thu nhập

và sức mua có khả năng thanh toán, làm tăng tiêu thụ ở trong nước – độnglực của tăng trưởng kinh tế, là “cứu cánh” của tăng trưởng kinh tế trướcnhững bất ổn ở bên ngoài

1.6 Năng suất lao động và việc áp dụng tính toán ở Việt Nam

- Năng suất lao động (NSLĐ) là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động sống, đặc

trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) và mộtchỉ tiêu đầu vào (lao động làm việc) Đây là một chỉ tiêu khá tổng hợp nóilên năng lực sản xuất của một đơn vị hay cả nền kinh tế - xã hội

- Tùy theo mục đích nghiên cứu của mỗi nước, mỗi ngành khác nhau trong

từng giai đoạn khác nhau mà áp dụng chỉ tiêu năng suất lao động (nói cụ thể

là chỉ tiêu năng suất lao động sống) theo phương thức khác nhau, được tínhtoán bằng chỉ tiêu đầu ra khác nhau

- Ở Việt Nam, năng suất lao động được tính toán theo chỉ tiêu giá trị tổng sản

lượng (tính toàn bộ giá trị của sản phẩm tương tự như chỉ tiêu giá trị sảnxuất ngày nay) được đưa vào chế độ báo cáo thống kê của các xí nghiệp (naygọi là doanh nghiệp) trong các ngành công nghiệp, giao thông vận tải, xâydựng, ngay từ những năm đầu mới thành lập ngành thống kê Trong thời

Trang 8

kỳ kế hoạch hóa tập trung có những năm năng suất lao động được coi là mộttrong những chỉ tiêu pháp lệnh để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch nhànước của doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thôngvận tải,

- Bước sang thời kỳ đổi mới, nhất là phát triển kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, chỉ tiêu năng suất lao động trong nền kinh tế quốc dân nóichung và các ngành kinh tế nói riêng, bấy lâu ít được chú ý tính toán Trongchế độ báo cáo của các doanh nghiệp không còn có chỉ tiêu năng suất laođộng và như vậy, tất nhiên, trong các ngành cũng không còn phải tổng hợp

và báo cáo về chỉ tiêu năng suất lao động nữa Tuy nhiên, trong nội bộ cácdoanh nghiệp, năng suất lao động vẫn được tính toán để phục vụ cho yêu cầuphân tích hoạt động kinh tế và chỉ đạo sản xuất của doanh nghiệp Ở các loạiphương tiện thông tin đại chúng và trên nhiều văn bản nhiều khi vẫn nhắcđến chỉ tiêu năng suất lao động, động viên phấn đấu nâng cao năng suất laođộng,

- Từ khi nước ta gia nhập tổ chức năng suất châu Á (Asia Productivity

Organization - APO) và quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng, đặc biệt làgia nhập khối ASEAN (tháng 7 năm 1995) thì việc nghiên cứu chỉ tiêu năngsuất lại được đặt ra

- Cũng thời gian này, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng (Bộ Khoa

học Công nghệ và Môi trường) đã thiết lập Trung tâm năng suất Việt Nam.Tuy mới được thành lập nhưng Trung tâm năng suất đã tham gia thực hiệnnhiều chương trình của APO liên quan đến Việt Nam, tổ chức hội thảo, cửcán bộ đi nghiên cứu khảo sát ở một số nước trong khu vực, tiến hành một

số đề tài khoa học để nghiên cứu cách tiếp cận mới về năng suất, tính toáncác chỉ tiêu năng suất, trong đó có chỉ tiêu năng suất lao động và năng suấtcác nhân tố tổng hợp

Trang 9

- Hiện nay, các chỉ tiêu năng suất lao động và tốc độ tăng năng suất các nhân

tố tổng hợp được đưa vào danh mục các chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêuThống kê quốc gia của Việt Nam Tuy nhiên, mức độ áp dụng ở cấp nào,tính toán cụ thể ra sao thì còn đang ở giai đoạn nghiên cứu để giải thích vàhướng dẫn áp dụng rộng rãi

- Trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, tổng sản phẩm trong nước (Gross

Domestic Production - GDP) là chỉ tiêu được dùng để tính toán tốc độ tăngtrưởng kinh tế, làm căn cứ để đánh giá sự phát triển kinh tế của đất nước vàtính toán nhiều chỉ tiêu kinh tế quan trọng khác, nên tất nhiên sẽ làm căn cứ

để tính toán các chỉ tiêu năng suất, trong đó có năng suất lao động trongphạm vi toàn nền kinh tế quốc dân

- Khác với phạm vi chung của nền kinh tế, trong các ngành như công nghiệp,

nông - lâm nghiệp vẫn tiếp tục áp dụng chỉ tiêu giá trị sản xuất để tính toántốc độ tăng trưởng, đánh giá kết quả hoạt động sản xuất của từng ngành cũngnhư để tính toán các chỉ tiêu năng suất, chất lượng và hiệu quả Tuy vậy, khitính toán và phân tích năng suất lao động của các ngành trong quan hệ vớinăng suất lao động toàn nền kinh tế quốc dân dưới đây, chúng tôi không tínhtheo chỉ tiêu giá trị sản xuất, mà theo chỉ tiêu giá trị tăng thêm - bộ phận cấuthành nên chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước

- Năng suất lao động tính theo giá trị tăng thêm có ưu điểm hơn hẳn so với

năng suất lao động tính theo giá trị sản xuất vì ở tử số của chỉ tiêu năng suấtlao động không tính phần chi phí trung gian (phần giá trị này luôn bị tínhtrùng giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành) nên sự biến động của chỉ tiêunăng suất lao động không phụ thuộc vào thay đổi tổ chức sản suất như năngsuất lao động tính theo giá trị sản xuất Hơn nữa, nếu trong toàn nền kinh tế,năng suất lao động tính theo tổng sản phẩm trong nước, thì đối với từngngành, từng doanh nghiệp, năng suất lao động cũng cần được tính theo giá

Trang 10

trị tăng thêm Có như vậy mới cho phép nghiên cứu, phân tích mối liên hệgiữa năng suất lao động của các doanh nghiệp, các ngành với năng suất laođộng chung của toàn nền kinh tế quốc dân.

Trang 11

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH BIẾN ĐỘNG CỦA CHỈ TIÊU NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG

TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM QUA CÁC NĂM 2006, 2011VÀ 2016

2.4 Biến động của chỉ tiêu năng suất lao động trung bình của Việt Nam năm

2006

Từ số liệu về tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá thực tế và lao độnglàm việc có trong Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, ta tính được mứcnăng suất lao động của năm 2006 đạt 19,62 triệu đồng Nếu tính theo giá cố định(giá năm 1994) và nghiên cứu biến động của năng suất lao động ta thấy 5 năm quanăng suất lao động chung toàn nền kinh tế quốc dân của Việt Nam liên tục tăng lên

và tăng với xu thế cao dần, cụ thể như sau:

Bảng 1: Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội giai đoạn 2002 – 2006

năm Tôc độ tăng

NSLĐ (%)

Nếu quy đổi mức năng suất lao động toàn nền kinh tế từ giá thực tế (VNĐ)theo tỷ giá hối đoái thành đô la Mỹ (1 USD = 15.858 VNĐ) thì năng suất lao độngtoàn nền kinh tế của Việt Nam năm 2006 đạt 1.237 USD

So sánh mức năng suất lao động tính theo USD và tốc độ tăng năng suất laođộng tính bằng % năm 2006 của Việt Nam với một số nước trên thế giới, ta có kếtquả như sau:

Bảng 2: Mức năng suất và tốc độ tăng năng suất lao động của một số nước và

lãnh thổ trên thế giới năm 2006 Tên nước và

lãnh thổ

Mức năng suất lao động

Tốc độ tăng NSLĐ Mức NSLĐ

(USD)Thứ tự

Trang 12

Như vậy, có thể nói, năng suất lao động của Việt Nam còn quá thấp so vớinăng suất lao động của các nước khác Điều đó có thể giải thích về trình độ kỹthuật, công nghệ của ta còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo, công tác quản lý cònmột số hạn chế, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, đặc biệt là sản xuấtnông nghiệp Tuy nhiên, nếu xét theo xu thế biến động từ năm 2002 - 2006 thìnăng suất lao động chung của Việt Nam liên tục tăng lên và có mức tăng khá (từ4,25% đến 5,51%) Bình quân 5 năm là 4,81% Những năm gần đây, Việt Nam đãchú ý đầu tư vốn và kỹ thuật để phát triển sản xuất, thực hiện chuyển dịch cơ cấukinh tế là những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất lao động.

Trang 13

- Phân tích năng suất lao động theo khu vực kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam chia thành 3 khu vực: Kinh tế nhà nước, kinh tế ngoàinhà nước (gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, kinh tế tư nhân, )

và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (gồm các loại hình 100% vốn đầu tư nướcngoài và loại hình liên doanh liên kết với nước ngoài)

Trong 3 khu vực kinh tế nói trên, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn có mứcnăng suất lao động cao nhất Năm 2006, năng suất lao động theo giá thực tế củakhu vực kinh tế này đạt 196,97 triệu đồng Khu vực kinh tế nhà nước có mức năngsuất đứng vị trí thứ hai, đạt 78,01 triệu đồng Thấp nhất là năng suất lao động củakhu vực kinh tế ngoài nhà nước, đạt 10,1 triệu đồng

Nếu so sánh năng suất lao động năm 2006 của các khu vực kinh tế có mức đạtđược cao hơn là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế nhànước với năng suất lao động của khu vực kinh tế có mức thấp nhất (khu vực kinh

tế ngoài nhà nước), thì năng suất lao động khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài gấp 19,50 lần và mức năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước gấp7,72 lần Nói cách khác, nếu lấy mức năng suất của khu vực kinh tế ngoài nhànước là 1 đơn vị, thì năng suất lao động của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài là 19,50 đơn vị và kinh tế nhà nước là 7,72 đơn vị

Quan sát theo thời gian, năng suất lao động giữa 3 khu vực kinh tế trên ở nhữngnăm trước còn có sự chênh lệch nhiều hơn, và đã ngày càng được thu hẹp, tức làtheo xu hướng càng những năm về sau mức độ chênh lệch này càng nhỏ dần

Nếu so sánh năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước, đặc biệt là năngsuất của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt được năm 2006 với mứcnăng suất lao động chung toàn nền kinh tế quốc dân đạt được của các nước trên thếgiới và trước hết là so với 10 nước thuộc "tốp dưới" trong số 20 nước kể trên, thìnăng suất lao động của Việt Nam không phải là quá thấp Năng suất lao động củakhu vực kinh tế nhà nước, năm 2006 đạt 78,01 triệu đồng tương đương 4.919 USD

Trang 14

Còn mức năng suất lao động bình quân chung của 2 khu vực kinh tế nhà nước và

khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài năm 2006 đạt 94,75 triệu đồng, tương

đương 5.975 USD

Theo hai phương án mức năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước cũng

như năng suất lao động chung của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có

vốn đầu tư nước ngoài đều cao hơn mức năng suất lao động chung cả nền kinh tế

quốc dân đạt được của 5 nước: Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Trung Quốc, Phi-lip-pin và

Thái Lan

Qua đây có thể thấy, năng suất lao động chung của cả ba khu vực ở Việt Nam

đạt thấp chủ yếu là do, năng suất lao động của khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt

quá thấp, trong khi đó lao động của khu vực kinh tế này lại rất lớn, chiếm tới 88%

tổng số lao động làm việc ở cả ba khu vực

Xét về tốc độ tăng, quan sát năng suất lao động tính theo giá cố định (giá năm

1994), thì năng suất lao động khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng nhanh và đều

nhất, sau đến năng suất lao động khu vực kinh tế nhà nước Năng suất lao động

khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài liên tục giảm qua các năm Đến năm

2006, bắt đầu tăng lên và có mức tăng khá (tăng trên 5%), nhưng bình quân cả thời

kỳ 2002 – 2006 năng suất lao động khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn

giảm trên 10% Cụ thể xem bảng 3

Bảng 3: Tốc độ tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế và các khu vực

Ngày đăng: 27/05/2021, 13:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w