1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ và văn hoá lào trong bối cảnh đông nam á

388 722 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn ngữ và văn hoá lào trong bối cảnh đông nam á
Trường học University of Languages and International Studies
Chuyên ngành Linguistics and Cultural Studies
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 388
Dung lượng 12,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SALA da] 4 2005 CHU DAN CUA NHA XUAT BAN Để giúp độc giả, nhất là các nhà nghiên cứu, có thêm tư liệu nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa Lào cũng như mối quan hệ siữa ngôn ngữ và văn h

Trang 1

GS PHAM DUC DUONG

Trang 2

SACH TRO GIA

Trang 3

SALA

da] 4 (2005

CHU DAN CUA NHA XUAT BAN

Để giúp độc giả, nhất là các nhà nghiên cứu, có thêm tư liệu nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa Lào cũng như mối

quan hệ siữa ngôn ngữ và văn hóa Lào với các ngôn ngữ và văn hóa của một số đân tộc khác ở khu vực Đông - Nam Á, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách “Ngôn

ngữ và văn hóa Lào trong bối cảnh Đông - Nam Á "của Giáo

Chúng tôi hy vọng cuốn sách không chỉ là tài liệu tham

khảo đối với bạn đọc, mà còn góp phần tăng cường hơn nữa

sự hiểu biết và tình hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc Việt - Lào

Cuốn sách này là công trình nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề khá phức tạp cho nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả

Tháng 6 - 1998 Nhà xuất bản Chính trị quốc gía

AI 5-6-8 - 184 [KR

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc đời đầy thách đố nhưng cũng không ít những cơ may Đi theo tiếng gọi cứu nước của Bác Hồ, tôi được tham

gia quân đội tình nguyện Việt Nam chiến đấu chống thực dân

Pháp ở Lào hơn 9 năm Gian khổ, khó khăn, hiểm nguy tất

cả đều qua đi chỉ còn đọng lại trong tôi những kỷ niệm đẹp,

thân thương Có lẽ cuộc đời là vậy! Puskin - nhà thơ vĩ đại của

nước Nga - chẳng đã nói: cái gì đã qua đều trở nên thương

mến! Sau khi hoần thành nhiệm vụ, về nước tôi được đi học

tiếp qua các trường Phổ thông lao động, Bổ túc công nông

Trung ương, Đại học Tổng hợp Hà Nội Nhiều đêm thao thức

trin trọc khó ngủ Hình ảnh các bà mẹ Lào vắt những giọt sữa

ấm ngọt của mình đổ vào miệng tôi trong cơn sốt mê man,

những đêm địch săn lùng, cô gái Lào bất chấp tục lệ, dấu tôi

vào buồng riêng của mình Có lúc tôi đã viết truyện để dịu đi

khát vọng nóng bồng muến ghi lại những tình cảm đó! May

mắn cho tôi khi vào đại học và sau đó về Ủy ban Khoa học Xã

hội tôi đã xin được nghiên cứu ngôn ngữ Lào với hy vọng góp viên gạch nhỏ vào lâu đài hữu nghị giữa hai dân tộc Việt -

Lào Nhờ biết tiếng Lào và đã sống nhiều năm với nhân đân

Lào, tôi nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Lào trong một chừng mực nhất định với cảm thức của người bản ngữ Hơn thế nữa,

tôi nhận thức được rằng muốn nhận điện nền văn hóa Lào

phải đặt nó trong bối cảnh Đông - Nam Á, nơi các dân tộc

5

Trang 5

Lào đã hội tụ, có nhiều quan hệ cội nguồn và tiếp xúc lâu đời

với các dân tộc xung quanh Đương nhiên, là một nhà khoa

học Việt Nam nghiên cứu về Lào, tôi phải so sánh, đối chiếu,

phát hiện những mối quan hệ Việt - Lào

Vì những lẽ đó, cuốn sách này là một tuyển tập những bài viết về những khía cạnh mà tôi quan tâm, giếng như những bức tranh chấm phá tuy có thể có chiều sâu và những phát hiện riêng, nhưng chưa phải là một bức tranh toàn cảnh đầy đủ về

ngôn ngữ và văn hóa Lào - một quốc gia đa dân tộc ở Đông -

Nam Á Mong bạn đọc lượng thứ

Nhân địp này, tôi xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia và Phân ban Hợp tác Việt Nam - Lào đã giúp đỡ về nhiều mặt để cuốn sách “Ngôn ngữ và văn hóa Lào trong bối cảnh Đông - Nam Á" - một công trình có tính chất chuyên sâu - được xuất bản và ra mắt bạn đọc

Tác giả

Trang 6

Phó Thủ tướng Phumi Vôngvichít (người đứng giữa) tiếp Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông - Nam Á - trưởng đoàn chuyên gia VN (bèn phải), có đại sứ của Việt Nam tại Lào - đồng chí Bùi Văn Thanh (bên trái) Viêng Chăn (1981)

Trang 7

NỬA THẾ KỶ TIẾP CẬN VỚI VĂN HÓA LAO :

TỪ CÂM NHẬN ĐẾN THỨC NHẬN

(Tổng luận)

Nếu như mô típ quả bầu (hay bọc trăm trứng) trong những

truyền thuyết đã được các cứ liệu của các bộ môn ngôn ngữ,

khảo cổ, nhân chủng làm hậu thuẫn gợi lên ý niệm xa xưa

về mối quan hệ cội nguồn của các tộc người trên bắn đảo

Đông Dương, thì chính trên mảnh đất đầy nắng gió này, thiên nhiên dường như đã vun đắp cho các dân tộc ở đây một cảnh quan địa lý đồng nhất mà đa dạng trong “khuôn viên” của khu

vực Đông - Nam Á: đó là những dãy núi vòng cung bao quanh cao nguyên Tây Tạng và dãy Trường Sơn kéo dài từ Bắc xuống Nam tạo thành cái cột sống - cột trụ trời phân đôi bán đảo,

một bên tiếp giáp với biển Đông, bên kia là Ấn Độ Dương; đó

là những đồng sông mẹ như hình cánh quạt bat nguồn từ Hymalaya, xòe ra bao trùm lên bán đảo rồi đổ ra biển Đông,

biển Ấn tạo nên những vùng đồng bằng bồn địa, châu thổ mầu mỡ phì nhiêu (Irrawaddy, Salween, Mè nặm Chao Phraya,

1

Trang 8

Mè Khoóng!, Hồng Hà), trong đó dong sông Mè Khoóng dài nhất chảy qua 5 nước như hệ thống tuần hoàn mang lại nhịp sống cho con người

Thế rồi, nhiều thiên niên kỷ trôi qua, trên cơ tầng chung của nền văn minh lúa nước Đông - Nam Á với một phức thể văn hóa gồm 3 yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng, văn hóa biển, các dân tộc, các quốc gia đã hình thành và phát triển trong

Sự giao lưu tiếp xúc nhiều chiều khác nhau, đã tạo dựng nên những nền văn hóa dân tộc độc đáo Lịch sử ở đây đã diễn ra

những quá trình phát tán - hội tụ, dẫn đến những phức thể văn hóa mới chung cho toàn vùng, bước hội tụ sau cao hơn bước

hội tụ trước, đồng thời cũng để lại nhiều sắc thái khác nhau có tính chất dân tộc hoặc mang dấu ấn địa phương Vì vậy, một đặc trưng nổi bật của văn hóa Đông - Nam Á, nói theo thành ngữ của người Inđônêxja là “bhe"nneka tunggal ika” (thống nhất trong đa dạng) Và, quá trình hội tụ bắt nguồn từ nhiều trung tâm khác nhau cho nên nó không mang tính đơn tuyến, biệt lập

mà là đa tuyến trong sự tiếp xúc dan xen nhiéu chiéu tao nén những đường đồng quy, những cấu trúc văn hóa tộc người đa thành phần được vận hành theo những cơ chế linh hoạt mà đồng nhất Kết quả là tính đa dạng ngày càng mở rộng trong không gian, tính đồng nhất được tiềm ẩn sâu trong thời gian, và sự tác động qua lại giữa chúng trở thành một cơ chế tổng hợp quy định sự phát triển của mỗi nước và của cả khu vực Thống nhất trong đa dạng là đặc trưng văn hóa Đông - Nam Á và cũng là đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, trong đó có Lào Tuy nhiên, ở Đông - Nam Á không cố một nước nào lại có

i Sông Mè Khoống (Việt Nam gọi là sông Mê Công) bắt nguồn từ Trung Quốc, đài 4.200 km, chây qua Trung Quốc 1.650 km, Lào (chung với Myanma va Thai Lan) 1.864 km, Campuchia 453 km, Việt Nam 231 km 8

Trang 9

một vị thế mà ở đó do quá trình biến đổi lịch sử, đặt ra nhiều vấn đề lý thú như nước Lào Nằm ở trung tâm Đông - Nam Á

lục địa, với diện tích 236.000 kmˆ mà lại có tới 4.700 km đường biên giới tiếp giáp với 5 nước, một nước dường như bị khép kín không có biển nhưng lại là ngã tư đường của mọi sự tiếp xúc giao lưu cá trên bình điện địa lý, sinh thái, giao thông, dân cư, văn hóa , một dòng sông lớn chảy đài theo đất nước nhưng bị chặn lại trên biên giới Campuchia (thác Li Phi) ma bén dia lớn

của nó lại bị chia thành đôi bờ biên giới; một quốc gia có tới 68

bộ tộc nhưng dân tộc chủ thể là người Lào chỉ chiếm có 56%

đân số với 1,6 triệu người, trong khi đó có tới 20 triệu người

Lào (Lào Y xán và Khon mương) lại nằm bên phía Thái Lan;

một vương quốc một thời rộng lớn nay chỉ là một quốc gia nhỏ

bé bị phân cắt nhưng lại có một lịch sử đấu tranh lâu dài để tồn

tại, một nước chậm phát triển với nền nông nghiện tự cung tự cấp dựa vào tự nhiên, nhưng lại ổn định, vững vàng từng bước

đi vào định hướng của chủ nghĩa xã hội trong khi chủ nghĩa xã

hội đã sụp đổ ở Liên Xô, Đông Âu, v.v., và v.v

Chúng ta đều biết, lịch sử nước Lào gắn liền với quá trình

tích hợp tộc người của cư dân Lào Thái và cư dân Môn - Khmer

ở Đông - Nam Á Nếu như cây lúa nước là thành tựu của các dân tộc ở Đông - Nam Á thì người Lào - Thái đã có phần đóng góp quan trọng, đặc biệt khi họ đưa hệ thống thủy lợi vào nghề

trồng lúa nước và thể nghiệm thành công mô hình văn hóa đó ở

vùng thung lũng hẹp chân núi Là một vùng nhiệt đới ẩm gió

mùa nằm giữa nội chí tuyến với tổng bức xạ lớn, ở Đông - Nam

Á rất thuận lợi cho sự phát triển thực vật thuộc hệ sinh thái phổ quất (đối lập với hệ sinh thái chuyên biệt ôn đới) và không thuận lợi cho sự sinh sống của đàn động vật Vì vậy, khi nông

nghiệp ra đời từ săn bắt hái lượm thì trồng trọt theo phổ rộng

Trang 10

(đa loài nhưng “mỗi thứ một tí”) được nhát triển trên toàn khu vực trước hết là vùng sườn núi và cao nguyên Người ta đã phân chia quá trình phát triển nền nông nghiệp Đông - Nam Á thành hai giải đoạn: giai đoạn trồng cây sinh sẵn kiểu dinh dưỡng vô

tính và giai đoạn cây có hạt hữu tính Giai đoạn đầu gọi là nông

nghiện làm vườn, đúng hơn là làm rẫy trằng rau cũ hay tiền cắc

loại; giai đoạn hai là khi con người ở đây đã thuần dưỡng được cây lúa ở vùng thung lũng hẹp chân núi Từ đây cây lúa được di chuyển theo hai hướng và dần dần thích nghi với môi trường Xuống vùng đồng bằng ngập nước ta có cây lúa nước với phương thức gieo mạ và cấy, tạo nên những cánh đồng “thẳng cánh cò bay” với một hệ sinh thái chuyên biệt mang tính chất nhân tạo;

lên vùng cao ta có cây lúa cạn với phương thức gieo thẳng tạo

nên loại hình nương rẫy có tính chất thấm canh Từ đó khắp nơi hình thành một phức thể canh tác trồng lúa được phân bố theo cảnh quan từ cao xuống thấp Râấy, ruộng - rẫy, ruộng - nương, ruộng - vườn Đằng bằng đóng vai trò chủ đạo trong nền văn hóa lúa nước Vì vậy, các quốc ø gia cổ đại đều ra đời ở đồng bằng và tộc người chủ thể bao giờ cũng chiếm lĩnh đồng bằng

Cư dân Lào Thái đã thể nghiệm mô hình kinh tế - xã hội lúa nước ở các thung lũng với co chu nông nghiệp ruộng - rẫy và một tổ chức xã hội hai cấp: bản - mường Nó đóng vai trò bản lề nối rừng núi và đồng bằng Bản như là cấu kiện đúc sẵn gdm nhiều gia đình hạt nhân (được phân nhỏ từ gia đình lớn mẫu hệ trong công xã thị tộc chuyển sang gia đình nhỏ phụ hệ trong công xã nông thôn) được tập hợp theo hai quan hệ: quan hệ huyết thống (như kiểu “đắm” của người Phù Thay) và quan hệ lắng giềng trong d6 quan hệ thứ hai đóng vai trò chủ đạo Người đứng đầu bản là pho ban (bố lang), dân bản được gọi là lục bản (con làng) ứng xử theo quan hệ gia đình mở rộng (dung ti chi 10

Trang 11

quan hệ gia đình trong xưng hô xã hội) và điều hành theo tập

quán pháp (hít bản khoóng mương) Bộ máy quản lý còn đậm dấu ấn cái gọi là “dân chủ công xã” Đó là chế độ già làng với

ba vòng tròn đồng tâm: người đứng đầu thi hành các quyết định

của hội đồng già làng, khi có việc hệ trọng thì mở hội nghị toàn

thể thành viên Ruộng đất thuộc về của công mà ông phò bản là người đại điện (Đin átnha, na phò bản: đất đai của quan, ruộng làng của phò bản) Do được giao quyền phân chia ruộng đất

cho các thành viên mà người quản lý bóc lột giá trị thing du bằng tô địch (chế độ cuông, lam) và cống nạp, từ đó hình thành

chế độ bóc lột dựa trên cơ sở công hữu về ruộng đất Xã hội

phân chia thành đẳng cấp quý tộc và bình dân Mỗi bản đều có

ma làng (phi bản) được thờ cúng bằng biểu tượng cột đá (lắc

bản) do ông “mo” (thầy cúng) bản đảm nhiệm

Nhiều bản trong một thung lũng họp lại thành một mường l,

Đó là một tổ chức chính trị - xã hội, mường cổ đại của người

Thái, là mô hình cơ sở để hình thành những cơ cấu quyền lực nhà nước Người đứng đầu một mường được gọi là “chẩu

mường”2 (chủ mường) có thể lúc đầu là một tù trưởng có sức

mạnh quân sự hay tôn giáo Bản nơi ông Chấu Mường ở cùng với bộ sậu giúp việc của ông ta, người Thái gọi là bản Chiềng (là bản lớn nhất của mường) Người ta xây dựng bản này thành trụ sở của mường với chức năng hành chính và văn hóa Trụ sở đóng ở chính giữa bản Chiềng gọi là tâm mường (húa chay

! Nếu như ý kiến của Ănghen về vai trò của thủy lợi trong sự hình thành nhà nước có thể đúng cho trường hợp này, thì chúng tôi cũng giả thiết rằng từ Mường (tổ chức hành chính) có thể bắt nguồn từ từ "mương” trong hệ thống

Il

Trang 12

mường) được xây thành bao quanh gọi là viêng Trong thành có -

ba kiến trúc tiêu biểu: Trụ sở làm việc và chỗ ở của Chẩu mường (Hồ xá nam luống) được đặt ở phía tây bắc, chùa (Wat) ở đông - bắc và cột đá của mường (lắc mường) nơi thờ Phi Mường

ở phía nam Vòng ngoài thành là cư dân bản Chiềng, ngoài bản

chiềng là các ban Lao, xa hơn là các bản Puộc (người Khạ, dân hầu hạ, thuộc các tộc Ít người)

là Chẩu Xivit - chủ sinh linh) đã lập bộ máy Trung ương tập

quyền dựa trên quan hệ huyết thống do dòng họ quý tộc đảm

nhiệm Họ chia nhau xuống cai quản các mường phụ thuộc; nơi 12

Trang 13

xa không với tới họ giao cho người thủ lĩnh ở địa phuong! Trong quá trình đô thị hóa bản chiềng trở thành thủ phủ - Viêng

biến thành nội cung Chiềng với các làng nghề, làng buôn biến

thành phố phường (do đó phố bao quanh lấy thành), các bản

Lào biến thành ngoại thành, các bản Puộc biến thành nông thôn

theo 3 vòng tròn đồng tâm cũng tương ứng với cấu trúc thành 3

vòng - thành nội, thành nối, thành ngoài?

Các bộ tộc Lào - Thái xưa kia cũng như sau này luôn nằm ở

vị trí “vùng đệm” hay vùng biên giữa một bên là các cư dân

Môn - Khmer ở phía nam, bên kia phía bắc là các cư dân Hân

Tạng; vùng tiếp giáp với hai nền văn hóa lớn châu A: An D6 vé phía tây - nam, Trung Hoa về phía bắc, sau này là vùng tranh

chấp giữa hai chế độ thuộc địa Anh và Pháp Đó là một vị trí

đầy biến động, trong khi đó con đường phát triển tự nhiên của

cư dân Lào - Thái là xây dựng một xã hội lúa nước ổn định Vì

thế, người Lào, người Thái, như lời ví sống sít của một nhà

nghiên cứu, giống hệt một dòng nước cứ tìm chỗ trũng mà trần

tới Điều đó đã tạo cho họ một lối ứng xử mềm mại và sáng tạo

trong việc giao lưu văn hóa cũng như trong mối quan hệ lắng

giềng với các dân tộc khác - và người Thái Lan còn đi xa hơn bằng việc thi hành một chính sách đối ngoại kiểu “cây sậy”: gió

chiều nào nga theo chiều đó nhưng không được để gẫy! Phải chăng chính vì thế mà họ từng phát huy tác dụng và thúc đẩy

những hứng khởi mới trong lịch sử văn hóa của toàn vùng với

1g người Thái người đứng đầu mường lớn gọi là Pho Khun, dimg đầu mường phụ thuộc là Phò Tạo, đứng đầu bản Chiềng là Phd Chiéng

? Xem Phạm Đức Dương: Cội nguôn mô hình văn hóa - xã hội lúa nước của người Việt qua cứ liệu ngôn ngữ Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5 - 1982

13

Trang 14

sự xuất hiện những nhà nước đầu tiên mang những cái tên độc đáo như “lạn phịa” (triệu vựa lúa), “lạn na” (triệu thửa ruộng),

“lan xang” (triệu voi) ? Các cư dân nói ngôn ngữ Thái với mô hình xã hội lúa nước đã tham gia xây dựng các quốc gia dân tộc, họ có những vị trí khác nhau Ví như ở Lào, ở Thái Lan họ

đóng vai trò chủ thể; người Shan (Miến Điện), người Ahôm

(An D6), người Choang (Trung Quốc) là chủ thể của một bang

hay khu tự trị; còn ở Việt Nam người Thái, người Tày, người

Nùng sống xen kẽ với các dân tộc khác như là những dân tộc

it người ở miền núi Mặc dù có sự phân chia thành các nhóm ngôn ngữ khác nhau, có sự ngăn cách bởi những biên giới hành chính quốc gia, cư dan Lao Thai vin giữ được tiếng nói khá

thống nhất!, cả trong nếp sống cũng như trong mối quan hệ với

người đồng tộc trên tất cả các bình diện kinh tế, văn hóa, xã hội

Đó là nhân tố góp phần vào sự liên kết các quốc gia trong khu

vực, tình hữu nghị giữa các dân tộc, và không một nhà nước nào trong khi thực hiện chính sách đân tộc lại không tính đến mối

quan hệ đó, nhất là mối quan hệ giữa hai dân tộc chủ thể hai

quốc gia Lào và Thái Lan

Do điều kiện địa hình của nước Lào, núi đồi chiếm 3/4 diện

tích, những cánh đồng được tạo dựng như là một thung lũng lớn trải dọc theo đôi bờ sông Mè Khoóng kẹp giữa hai vùng đổi núi

và cao nguyên: Trường Sơn về phía đông, Kò Rạt về phía tây

' Có nhà nghiên cứu cho rằng sở dĩ các ngôn ngữ Thái còn khá thống nhất vì chúng mới được phân ra gần đây Kết quả nghiên cứu của tôi thì nguyên nhân của sự thống nhất đó là nhờ làm lúa nước cạnh các dòng sông nên được dòng sông nối lại, cũng giống như biển đã nốt liền các cư dân sử dụng các ngôn ngữ Malayu ở hải đảo khác xa với Sự vỡ vụn của các ngôn ngữ Môn - Khmer ở vùng núi lục địa

14

Trang 15

chạy dài từ Xip Xóng Pa na đến thac Li Phi Dưới con mất của nhà dân tộc học sinh thái thì cảnh quan thung lũng mà cái đây của nó là các bồn địa nối tiếp nhau theo dòng sông Mẹ từ các thung lũng hình chậu vùng Mường Xinh, Luông Năm thà đến các đồng bằng Viêng Chăn, Khăm Muộn, Savanakhet và Champasac Giữa núi rừng và đồng bằng ở Lào có hai cao nguyên Mường Phuôn phía bắc và Bôlôven phía nam Do đó, ở Lào có các lối canh tác rẫy dốc, rẫy bằng, ruộng - rẫy, nhưng khác với Việt Nam và Thái Lan, không gian văn hóa tộc người chưa cố

sự tách biệt mà có một mối tương quan thường xuyên gan bó giữa người Lào Xủng (Lào vùng cao), Lao Cang hay Lào Thơng (Lào vùng giữa) và Lào Làm (Lào đồng bằng) Trong cảnh quan thung lũng, rừng đóng một vai trò hết sức quan trọng cho

cả nước Rừng, ngoài sản phẩm vật chất, còn là cảm hứng thẩm

mỹ của người Lào]

Cảnh quan thung lũng rộng hẹp khác nhau, tất đa dạng về mặt địa hình, nhưng đều có chung một cấu trúc: giữa hai triền núi có một đồng sông chảy qua tạo nên những bãi bồi phù sa rat thuận lợi cho cư dân làm lúa nước, kết hợp với nương Tay phia sau, các cư dân Lào đã tạo ra mô hình kinh tẾ › Tung - rẫy (ngay

cả ở Viêng Chăn và các đồng bằng khác vẫn có Tẩy) Trong thang giá trị của người Lào, ruộng vẫn đứng đầu, rầy, cùng, với săn bắt và hái lượm là hình thức bổ sung phụ trợ cho đời sống

Trên cơ sở Cơ cấu sản xuất ấy, người Lào cũng tổ chức một mô

hình xã hội gồm 2 cấp bản - mường (như đã trình bày ở trên) Trên cơ tầng tổ chức xã hội truyền thống Ấy nổi lên một đẳng cấp quân sự cầm đầu xã hội mà nguồn gốc ra đời, cho đến nay,

! Người Lào có một thú vui là hội lên rừng "đơn đông" giống như hội leo núi vào hang ở Việt Nam: hội chùa Hương, hội chia Thay (T.G).

Trang 16

còn cần được xác định (bắt nguồn từ tổ chức mường cổ truyền

hay tiếp thu từ xã hội Hán cổ ?)! Dù sao, điều đó có thể giả thiết, ngay từ bây giờ, là đẳng cấp quân sự Ấy đã cung cấp cái

khung đầu tiên, để sau này người Lào, người Thái xây dựng cho

quốc gia mới thành lập của mình một bộ máy nhà nước tập

quyền chắc chắn còn lồng lẻo Bộ máy này có ít nhiều rập khuôn

Trung Hoa không? Chưa rõ Điều chắc chấn là, ngoài một hai

điểm nghỉ vấn vừa nêu trên, còn thì người Lào, người Thái không sẵn sàng chấp nhận ảnh hưởng từ chương học Trung Hoa Trong khi đó và cũng trong lĩnh vực này họ lại dễ dang tiếp thu ảnh hưởng của Ân Độ, của người Môn và các cư đân khác ở Đông -

Nam A

Nước Lào như trên đã nói là nơi giao thoa của nhiều luỗng chuyển cư của nhiều bộ tộc từ bắc xuống nam, từ tây sang đông

Và ngược lại Do đó bức tranh tộc người ở đây đan xen, chẳng

chéo nhiều lớp, xáo qua trộn lại, rất khó bóc tách rạch ròi Sự

xáo trộn dan cu trong lịch sử được phần ánh khá phức tạp trong các phông-xa-va-đan (dã SỬ) Lào mà nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đành bó tay Nếu căn cứ vào những lớp ngôn ngữ chúng

la có thể trên đại thể hình dung các lớp lang như sau: Các cư Thơng) là lớp người đầu tiên tạo nên nền tầng dân cự được phân

bố rải rác khắp nước Lào mà nhìn vào bản đồ ngày nay chúng

ta thấy nhóm này bị vỡ vụn ra từng mảng Có đến 99 tên gọi trong 5 bộ tộc) và ngôn ngữ rất khác nhau Tiếp đó là cư dân Lào - Thái đại điện cho văn hóa đồng bằng thung lũng (được

16

Trang 17

gọi là Lào Lùm) đã chiếm lĩnh vùng đồng bằng và hội nhập với cư dân Môn Khóm để xây dựng nên ngôi nhà chung - quốc g gia Lạn.Xạng thuộc văn hóa lúa nước Muộn hơn, các cư đân Hmông - Dao và Tạng Miễn (được gọi là Lào Xủng) từ nam Trường Giang đi xuống cư trú trên vùng núi Cao góp vào ngôi nhà chung một hương vị mới mang đậm dấu Ấn phương

bắc)

Có thể giả định rằng ở Dong - Nam Á tiền sử có một dòng

ngôn ngữ Môn chung (Mon commun) mà ngày nay các nhà

ngôn ngữ học gọi là Môn - Khmer, chia thành 2 nhánh: Môn ở

phía bắc tập trung ở lực vực sông, ITrawaddi (Myanma) và Môn- Khóm tức là Môn ở phía nam (tiếng Khmer - kr6m = đưới) tập trung ở hạ lưu sông Mè Khoóng (Campuchia) có tên là Khmer hay là Khả mén theo cách gọi của người Lào Người Khmer là

bộ phận chủ yếu của cư dân Nam Á đã phân bố tập trung ở

Campuchia rồi tới Lào, Thái Lan Sang tận biên giới Vân Nam

Họ đã từng xây dựng nhiều vương quốc lớn nhỏ như Phù Nam, Chân Lạp, Xỉ Khốt Ta bong, Mường Phuôn, Mường Xoa, Mường Hủa Phan , bộ phận chính tiếp nhận văn hóa Ấn Độ lập nên vương quốc Angkor rộng lớn mà phạm vi ảnh hưởng của nó lan tỏa cả bán đảo Đông Dương Còn các bộ phận vùng biên trở thành các tộc người thiểu số ma các học giả gọi là Khmer núi, ở

Lào, đông bắc Thái Lan, miền núi Việt Nam đức là ở các sườn

núi vùng cao trung tâm Đông - Nam Á từ miền núi bắc Đông

! Xem Phạm Đức Dương: Nguôn gốc tiếng Việt Từ Proto - Việt Mường đến

Xem Phạm Đức Dương: Bức tranh ngôn ngữở Lào trong sách Tìm hiểu lịch

sử văn hóa Lào, tập II - nhiều tác giả, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr 92 - 111

17

Trang 18

Duong dén cao nguyên Cò rạt Bồlôven Tây Nguyên Người Môn ở phía bác phân bố ở Myanma quá đông bắc Thái Lan đến Lầo và một hộ phan vượt Trường Sơn qua tận bờ biển miền Trung Việt Nam (nhóm Bru - Vân Kiều), Cũng như người Khmer

ở phía nam, người Môn ở phía bắc đã tiếp nhận văn hóa Ấn Độ tạo dựng thành những vương quốc Môn Bộ phận vùng biên ở

Lào trở thành dân tộc ít người (đô2g nhất là Macoong XuỒi) tạo

nên một vột từ tây bắc đến đông nam chia đôi cư dân Khmer núi

ở Lào thành 2 nhóm: nhóm phía bắc (đông nhất là người Khmú),

nhóm phía nam (đông nhất là z0, Taliêng, Brao ) Dưới tac

động của ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, người Môn - Khmer tiếp

tục chía theo đôi bờ Mè Khoống: phía hữu ngạn đậm văn hóa

Ấn, tả ngạn ít hơn được phân bố trên vùng cao kém phát triển

và giữ nhiều yếu tế cổ, cư trú dọc theo đãy Trường Sơn và vùng

núi phía bắc mà bức tranh phân bố tộc người hiện nay đã phản ảnh Văn hóa của cư đân Môn chung trong quá trình hội nhập

đã tạo nên sự khu biệt giữa người Lào, người Thái Lan với các

đồng tộc của họ ở Trung Quốc, Myanma, Việt Nam

Các cư dân nói ngôn ngữ Thái chung được phân bế ở phần cực bắc Đông - Nam Á tiền sử, phía nam sông Trường Giang vắt ngang từ bờ biển phía đồng sang vùng núi phía tây mà các nhà khoa học gọi là cái “đai Thái” nằm giữa cư dân Hân Tạng

và Nam Á! Nhóm Lào Thay ở Lào lúc đầu cư trú ven các thung lũng chân núi vùng Nặm La ở bắc Lào và cứ thế chuyển xuống đồng bằng dọc sông Mè Khoóng làm lúa nước Chắc chắn họ

! Theo P Bénêdict thì người Thái có quan hệ cội nguồn chặt chẽ với người Nam dio nén bing cứ liệu ngôn ngữ_ông đã dựng nên dòng Nam - Thái (Austro - hai) Xem Paul K Bénédict: Austro - Thai and Austroasiatic trong cuén Austroasiatic Studies part | The Univercity Press of Hawai, 1976

I8

Trang 19

có mối liên hệ với Xíp xóng panna ở Vân Nam va Xip xong châu thai 6 tây bắc Việt Nam Nhờ năng suất lia nude cao, cudc sống ổn định, xã hội phát triển năng động nên người Lào Thái trong quá trình cộng cư với người Môn Khóm, dần dần chiếm được ưu thế và chiếm lĩnh các đồng bằng Trong bối cảnh suy thoái của các quốc gia theo mô hình Ấn Độ cổ đại của

cư dân Môn - Khmer, sự tan vỡ của nhà nước Nam Chiếu, sự thất bại của chủ nghĩa bành trướng Nguyên Mông thế kỷ XI,

các cư đân Lào Thái đã xây dựng những nhà nước non trẻ của mình như Xukhôthay và sau này là Aythia trên đất Thái Lan, và

Lan Xang tren đất Lào Quá trình tích hợp văn hóa tộc người, các mường cổ đại của người Lào đã mở rộng thành những tổ chức chính trị và thay thế dần vai trò của người Môn khém Vào giữa thế kỷ XIV, Phà Ngừm đứng ra thống nhất các mưong cát cứ, xây dựng nhà nước Lạn Xang thống nhất mà cương vực của nó bao gồm Lào, đông bắc Thái Lan, một phần ở Myanma

và Trung Quốc Đó là một nhà nước tập quyền do người Lào làm chủ thể dựa trên cơ sở một nền nông nghiệp lúa nước cổ truyền (có cơ cầu 1 HONE ray) với một hệ thống thủy lợi (mương- phai - lai - lin) mém déo thich nghi với điều kiện tự nhiên hơn là dùng sức người (khác với hệ thống thủy lợi của Đại Việt trong

đó mương phai kết hợp với hệ thống đê điều đồ sộ ở miền Bắc

và kênh rạch chằng chịt ở miền Nam Càng khác xa nền thủy lợi kiểu Angkor với hệ thống barai - mương lớn và trên đó là

tổng thể kiến trúc đền núi kỳ vĩ)

Thông qua các quốc gia Môn - Khmer và sự tiếp nối bởi nhà nước Lạn Xang mà người Lào đã tiếp nhận văn hóa Ấn Độ kết hợp với dấu ấn của văn hóa Trung Hoa, do chính họ mang

theo để xây dựng nên một nền văn hóa dân tộc đa dạng cân

bằng và rất độc đáo Có thể nói một cách tổng quát là trên cơ

19

Trang 20

tầng một nền văn hóa Môn - Khmer có nha mầu văn hóa của cư dan Nam dao (phia nam Lao) va cu dan Han Tang (phia bắc)

mà người Lào đã hội nhập thành nền văn hóa mang tên văn hóa Lào trong sự r tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa mà ảnh hưởng của Ấn Độ đóng vai trd trội trên bình điện từ chương học, còn dấu ấn của Trung Hoa thì lại chìm sâu trong đời sống

Xã hội

Quá trình này tương tự với quá trình hình thành nước Thái

Lan Người Thái đã xây dựng nhà nước “Lạn Phịa” mà vị thế của nó phù hợp với đặc tính của chủ nhân Cũng nằm ở trung tâm bán đảo, Thái Lan có thể lợi dụng những cánh đồng đọc các con sông lớn để phat triển nông nghiệp, có thể xuôi theo dòng Sông mà ra biển Đông, biển An Người bạn láng giềng phía bắc - nước Trung Hoa thường xuyên thi hành chính sách đồng hóa, về phía tây, nền văn hóa Ấn Độ thường xuyên thẩm thấu qua người Môn và người Khmer mà vào cư dân Thái Phía nam kéo dài theo bán đảo Mã Lai vuon ra thé giới hải đảo Phía đông là những người bạn lắng giềng đồng tộc hoặc khác tộc, thay déu loi dun ø những điều kiện tương tự để thành lập những quốc gia đa dân tộc dọc các dong sông Khác với Lào, người Thái có được một vùng đồng bằng rộng lớn của cả hai con Sông

Mé nam chau Phraya va Mé Khoong thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp, có đủ 3 yếu tố: đồng bằng, núi và biển Hơn thế niữa, mặc dù ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ rất trội, nhưng ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa được chuyển tải qua người Hoa đã đem lại cho xã hội Thái một sự nang động mới: nền kinh tế hàng hóa

do thương nghiệp phát triển và một ý thức nước lớn trong ứng

xử với các nưỚC láng giềng trước hết là với nước Lào- người đồng tộc gần gũi với họ Vì vậy, từ thời dựng nước cho đến 20

Trang 21

ngày nay, các chính quyền Thái Lan có chính sách đối nội, đối

ngoại rẤt riêng biệt nhằm bảo vệ được lợi ích quốc gia của họ Quốc sách đó dẫn đến hai hệ quả: sự phát triển nội tại của lịch

sử Thái Lan tuân thủ quy tắc tiệm tiến và chính sách đối ngoại thường phụ thuộc vào nước ngoài mạnh hơn Vì vậy, suốt trong

thời kỳ thực đân xâm lược, Thái Lan đã tránh được chiến tranh,

giữ được nền độc lập dân tộc ở một mức độ nhất định và đã mở

rộng được lãnh thổ khi thu nhận ca 16 tinh vùng đông bắc của

Lào theo hiệp ước Pháp - Xiêm năm 1893

Nếu so sánh với Việt Nam thì quá trình hội tụ văn hóa - tộc

người của người Việt ở đồng bằng sông Hồng tuy có nhiều

điểm tương đồng nhưng cũng khá khác biệt Với phương pháp

tiếp cận liên ngành dân tộc - ngôn ngữ học cùng với những cứ

liệu khảo cổ học và tài liệu qua thư tịch cổ Việt Nam và Trung

Quốc, chúng tôi đã nêu giả thiết rằng: vào khoảng thiên niên kỹ

thứ HI trước công nguyên, do sự “đần toa” từ phương bắc xuống,

do sức ép của sự phát triển dân số vùng núi và chân núi trên bậc thềm cổ quá hẹp của các đồng sông, nhất là do sự kích thích của

năng suất lúa nước và cuộc sống ổn định của xã hội nông nghiệp

trồng lúa đã được thể nghiệm thành công vùng thung lũng hẹp

chân núi, hàng loạt các cộng đồng tộc người, nhất là các cư dân Môn - Khmer vùng bắc Đông Dương - cư dân Tiền Việt - Mường,

những người làm rẫy và săn bắt, hái lượm vùng cao da 6 at

xuống vùng trũng quanh vịnh Hà Nội và đã cộng cư với các tộc

người nói tiếng Tày cổ tại đây Họ đã áp dụng mô hình kinh tế

- xã hội lúa nước của người Tày trong quá trình khai phá đồng bằng châu thổ sông Hồng và đã hình thành một cộng đồng mới:

cư dân Việt - Mường, chủ nhân của ngôn ngữ Việt - Mường

chung, một ngôn ngữ có cơ tầng Môn - Khmer (do bị giải thể

21

Trang 22

cấu trúc) được vận hành theo cơ chế Tày - Thái!, Và tiếp đó,

dưới tác động của sự thống trị của nhà Hán với sự ấp đặt đồng

hóa văn hóa, người Việt tiếp nhận mô hình từ chương học Trung

Hoa gần với các nước Đông Á khác như Triều Tiên; Nhật Bản

Khoảng thế kỷ X sau công nguyên, sau khi giành được độc lập

người Việt với tư cách đân tộc chủ thể tách khỏi người Mường

là cư dân trồng lúa nước điển hình vùng châu thổ mang đậm ảnh hưởng văn hóa Hán

Đôi điều sơ lược vừa trình bày trên đây gợi cho ta một ý

niệm nào đó để nhận dạng nền văn hóa Lào và cái hồn của nó

giúp ta khu biệt với văn hóa các dân tộc xung quanh, kể cả văn hóa Thái Lan vốn có quan hệ đồng tộc gần gũi như người Lào thường nói “bản phì mường nọng” (bản anh mường em) Cái hồn ấy là kiểu lựa chọn theo cách ứng xử của người Lào tạo nên phong cách rất Lào Tính độc đáo của nền văn hóa Lào không

những bị quy định bởi những điều kiện môi trường, lịch sử xã

hội mà còn vì người Lào, cũng như bao dân tộc khác, ngay cả khi rất gần nhau, như họ với người Thái Lan, vẫn có một tâm lý

khu biệt nhau để “ta khác người” nhất là khi người Thái ứng xử

theo tư trởng nước lớn đối với Lào Hơn nữa cuộc sống của mỗi

con người, mỗi cộng đồng không phát triển như nhau mà qua

những phương thức đa dạng đến lạ làng Vì vậy, mỗi dân tộc có

một sự đam mê riêng và chính sự đam mê Ấy để lại những đi sẵn văn hóa, những kiểu ứng xử không giống nhau Người Lào thích

vui (Khôn Lào mặc muộn) đó là câu nói cửa miệng của họ

Điều này có thể bắt nguồn từ một nền kinh tế tự cung tự cấp khép kín đến từng gia đình và một cuộc sống ổn định hiền hòa,

S.d.d

22

Trang 23

hồn nhiên thanh bình đến mức phẳng lặng như mặt nước mùa

thu Người Lào không bao giờ đánh mắng con, không bao giờ

to tiếng trong nhà, cuộc sống cứ từ từ mà đi “Khồi khòi pay”, không vội vàng chen lấn, không muốn có sự thay đổi xáo trộn,

không muốn xung đột bằng vũ lực Họ chỉ thích hội hè, bun

than Hầu như quanh năm suốt tháng họ tắm mình trong không khí văn hóa bản làng Có thể nói rằng, nếu như tiếng khèn bè,

tiếng hát lăm, điệu múa lăm vông rao rực cùng với những chàng trai cô gái rộn ràng trong 12 hội bun của 12 tháng trong năm phan ánh cuộc sống thanh bình, vui tươi man mát chất thơ, thì kho truyện cổ tích Lào với hai dòng chảy suốt cả lịch sử văn học dân gian phần ánh hai mặt cơ bản cuộc sống của nhân dân

là tình yêu quê hương đất nước và ước mong một cuộc sống lao

động no đũ, một lối ứng xử mềm mại, thân ái tương trợ lẫn

nhau Những ngày lễ hội ở Lào, đù ai đó chỉ được dự một lần' cũng không bao giờ quên được Chúng ta đều biết lễ hội ở đâu

cũng có hai phần: lễ và hội Phần lễ là những nghỉ thức để giao tiếp với thần linh biểu hiện các ý niệm về đức tin hay tôn giáo

của cuộc sống tâm linh; phần hội là những hình thức vui chơi giải trí để xây dựng sự cộng cảm trong cộng đồng Nhưng đặc biệt ở Lầo người ta thích hội đông vui nhưng vừa phải, không

quá ồn ào như để tận hưởng cái cảm xúc thánh thiện của con

người trước thiên nhiên và thần Phật

Cùng tiếp nhận Đạo Phật và văn hóa Phật giáo, nhưng người

Lao không quá say mê với giáo lý, không quá ép mình trong khuôn khổ lễ nghỉ gò bó, không đùng quyền uy của đức Phật để biến vua thành vua - thần, không quá mất nhiều công sức để xây dựng những chùa tháp nguy nga mà họ tiếp nhận Đạo

Phật một cách tự nhiên, bình dị Đức Phật đã mang lại cho họ

những điều khuyên răn làm cho các quan hệ giữa người với

23

Trang 24

người trong cộng đồng trở nên hiền hòa, êm thấm hạn chế được lòng tham và thói xấu Hơn thế họ có được niềm tin, sự hiểu

biết và một lối sống có văn hóa, có chữ viết, và có những lễ hội

vui tươi lành mạnh Người Lào thích làm phúc nhưng không

phải tích đức để được lên cõi Niết Bàn mà để cho mình được

thanh thản, được san sẻ tình người, tức là để làm việc thiện Vì

vậy, trong giáo lý của Đạo Phật có kinh - luật - luận, người Lào

chú ý đến Luật, trong tam pháp bảo của Đạo Phật có Phật -

Pháp - Tăng, người Lào quan tâm đến Tăng Tất cả đều cân bằng phù hợp với kích thước, với khuôn viên cuộc sống của họ Nếu như người Campuchia tiếp nhận văn hóa Ân Độ, say mê

với tôn giáo, với dén dai miéu mao, thì đi sản lớn nhất mà họ tự

hào chính là nền nghệ thuật tạo hình, chủ yếu là kiến trúc Đó là

những Angkor Thom, Angkor Vat, những bức phù điêu, những

tượng đài, những điệu múa Apxara Trong khi đó đi sản về nghệ thuật ngôn từ không mấy phát triển dù họ có chữ viết khá sớm Ngược lại người Việt học được ở người Hán lồng say mê

với chữ nghĩa văn chương nên để lại trong văn hiến Việt Nam

một kho tàng nghệ thuật ngôn từ đồ sộ Đó là hàng vạn pho sách chữ Hán, chữ Nôm đủ các loại (lịch sở, tiểu thuyết, thơ ) Trong khi đó nền nghệ thuật tạo hình chỉ có những kiến trúc tản

mạn như đình chùa miếu mạo Cho mãi đến thế kỷ XVHI triều

đình nhà Nguyễn mới xây dựng được kinh thành Huế và hệ thống lăng tẩm nhưng cũng rất khiêm nhường và giản đị Còn

người Lào, vừa chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ (yếu tố trội) vừa

tiếp nhận văn hóa Trung Hoa nên không chỉ thiên về một cực

nào mà có phần cân bằng giữa nghệ thuật ngôn từ và phi ngôn

từ trong khuôn viên vừa phải phù hợp với họ Bên cạnh những

Thạt Luông, Vất Xixakêt, những đền đài cung điện ở Luông

Phabăng còn có một khối lượng không ít những tác phẩm văn

24

Trang 25

học, biên niên sử, dã sử viết trên lá cọ; bên cạnh nghệ thuật tạo hình với những đường nét tỉnh 16, mau sic tươi mát là một nền nghệ thuật diễn xướng đủ loại ca, múa, nhạc, kịch Ở trong bất cứ lĩnh vực nào chúng ta vẫn nhận ra lối ứng xử rất Lào, đó

là sự cân bằng, mềm mại, hài hòa, êm thấm, không có gì thái quá Cũng là văn hóa đa dân tộc, nhưng ở Lào tính chất đa sắc tộc Ấy không giống ở người Việt, người Khmer, người Miến và

cả người Thái, nó hòa quyện vào nhau, thâm nhập lẫn nhau, hòa hợp với nhau, ít sự phân biệt, nhất là sự ‘phan biét gitta din tộc chủ thể với các dân tộc thiểu số Tỉnh thần hòa hop dân tộc biểu hiện một cách nhất quần trong mọi mặt đời sống ở Lào từ cách ăn mặc, lối cư xử, việc sử dụng Song ngữ, đa ngữ, đến hội

hè tín ngưỡng, tôn giáo Người Lào có thể nói ngôn ngữ các dân

tộc mà họ ở gần, ngược lại nhân đân các đân tộc sử dụng thành

thạo tiếng Lào Người Lào “thứ Phụt” (theo Đạo Phật) nhưng vẫn thờ ma, người Môn - Khmer, người Tạng Miến, Hmông Dao “thứ phi” (thờ ma) nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đính Cao của sự hòa hợp dân tộc được thể hiện trên nguyện vọng sâu sắc, một ý thức sắt son là xây dựng một quốc gia độc lập và thống nhất Là một nước nhỏ, dân số ít, lại trải đài theo dọc sông đọc núi, sống bên cạnh những người láng giềng lớn hơn mình với một lịch sử đầy biến động chìm nổi để khẳng định sự tồn tại của mình, bảo vệ nền độc lập và thống nhất tổ quốc, không có một đối sách nào mầu nhiệm hơn là đoàn kết, hòa hợp dân tộc, hòa hiếu với lân bang cùng tồn tại hòa bình Tượng trưng cho tỉnh thần đó, vua Phà Ngừm ngay từ ngày đầu dựng nước đã tổ chức hội thề và sau đồ cứ 3 năm | một lần ông lại triệu tập các chau mường về kinh đô để dự lễ cầu nguyện thần linh Dấu ấn của hội thề đó ngày nay còn được bảo lưu trong

“bun Thạt Luông” Trong buổi lễ người ta thấy sự hiện diện

25

Trang 26

một cách tượng trưng đại biểu các mường cổ với những kiệu

sấp ong (hồ phừng) xếp thành hàng ngang trước nơi hành lễ

Nhà sư chủ lễ cầm một cuộn dây trắng đi vồng nối các mường lại bằng nhiều vồng tượng trưng cho sự thống nhất ý chí và

giữ vững lời thả, Đương nhiên, cơ sở thống nhất Lạn Xang la sic rsanh van héa va chinh trị nhằm chống cất cứ và ngoại

xâm hơn là những đồi hỏi về mặt kinh tẾ, trong đó Đạo Phật

có một vai trò hết sức quan trọng Đây là một vấn đề hết sitc

khó khăn mà nước Lào phải đối mặt trong suốt chiều đài lịch

Sử Ngầy nay nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đang phải vượt qua sự yếu kém về kinh tẾ trên con đường phát triển kinh

tÊ - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đoàn kết hòa

hợp dân tộc trở thành một hằng số trong cách ứng xử mềm

dẻo giữa nhân dân các bộ tộc Lào Dù là người Lào Lim, Lao

Thong hay Lao Xing - tit cä đều là Lao, đều đứng trên mảnh đất quê hương của mình mà hướng về một tổ quốc Lào thống

nhất Lối ứng xử đó đã trở thành truyền thống vô giá được

Dang Nhân dân cách mạng và Nhà nước Lào phát huy thành

lợi khí sắc bén trong suốt cuộc cách mạng đân tộc dân chủ ở

Lào Mặt trận đân tộc thống nhất, Chính phủ liên hiệp, Mặt

trận nhân dân Đông Dương, là những biểu hiện mới của tỉnh

thần hòa hợp dân tộc, đoàn kết quốc tế Với người Lào, những

tổ chức đó không phải là sách lược nhất thời mà thực sự là

quốc sách lâu dai, có thủy có chung của nhân dân các bộ

tộc Lào

Dân tộc Lào là một dân tộc có văn hóa, biết cách giữ gìn và

phát triển nền văn hóa của mình Đã một thời, đo nhận thức ấu

trĩ về chủ nghĩa duy vật thô sơ, máy móc, người ta muốn biến

một nền văn hóa giầu tính chất nhân văn hền vững gắn với đời sống tâm linh thành một nền văn hóa dung tục Nhưng với cảm

26

Trang 27

thức và lối ứng xử riêng của mình, nhân dân các bộ Lao dưới sự

lãnh đạo của Đẳng Nhân dân cách mạng Lào đã kiên trì bảo vệ được sự phát triển liên tục và đổi mới nền văn hớa Lao theo hướng dân tộc và hiện đại

Ngày nay, khi thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại cùng tồn tại hòa bình và tập trung nguồn lực quốc gia cho sự tăng trưởng kinh tế bằng những phương tiện hiện đại của cuộc cách mang tin hoc, thì việc giao lưu văn hóa trên thế giới càng được rộng mở hơn bao giờ hết Hành tính chúng ta trở nên chật hẹp, không một quốc gia nào dù nhỏ bé như nước Lào hay Cường quốc như nước Mỹ, lại có thể phát triển trong su biệt lập với thế giới bên ngoài, ngược lại các quan hệ quốc tế đã và đang được

đa phương hóa, da dạng hóa, sự tùy thuộc Tan nhau ngay cang gia tăng và trực tiếp tác động đến từng quốc gia, timg khu vuc

và toàn thế giới Tình hình đó đặt ra hai vấn đề bức xúc, hai nỗi

lo không phải của riêng ai Một là, trong khi chạy theo tăng trưởng kinh té trong co ché thi trường thì phải | làm thế nào để những giá trị nhân bản của các nền văn hóa truyền thống không

bị xối mòn và mai một? Hai là, trong khi tiếp xúc và giao lưu văn hóa với nước ngoài, trước sự tràn ngập của văn hóa phương Tây thì làm thế nào để hiện đại hóa đất nước mà không đánh mắt bản sắc dân tộc? Chúng ta đều hiểu rằng, là nhân 16 quan trong trong nén sản xuất tổng hợp, văn hóa như chất keo kết đính các mối quan hệ kính tế, chính trị, xã hội, như sợi dây truyền thống tạo nên hình hài và bản sắc mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Văn hóa có khả năng bao quát một cách trực tiếp bảo đảm tính bền vững xã hội, tính kế thừa lịch sử và không bị trộn lẫn ngay cả khi hội nhập vào những cộng đồng lớn hơn Vì vậy, trong quá trình hội nhập thế giới, nếu như khoa học - kỹ thuật ngày càng nhất thể hóa bao nhiêu, thì ngược lại, văn hóa mỗi

27

Trang 28

dân tộc như tắm căn cước, càng được khu biệt bấy nhiêu Như những dòng sông, văn hóa của các dân tộc bền bỉ tích lũy, thâu

nhận, gạn lọc tỉnh hoa từ muôn dim nẻo, không ngừng chuyển

tải và biến đổi, không ngừng giao lưu và mở rộng để rồi góp

phần của riêng mình vào đại dương văn hóa mênh mông của

nhân loại Nếu như chứng ta hiểu văn hóa là tất cả những gì do

Con người sáng tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội, thì mọi cái liên quan đến con người đều có mặt văn hóa của nó

Theo dự báo của nhiều ngành khoa học thì trong thé ky XXI, quyền lực sẽ thuộc về trí tuệ Các nhà khoa học cho rằng: trong suốt quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại, nếu

“cái tôn giáo” đã thống trị khoảng 10 nghìn năm văn minh nông

nghiệp, “cái kinh tế” đã thống trị 300 năm văn minh công nghiệp,

thì “cái văn hóa” sẽ thống trị nền văn minh hậu công nghiệp Chúng ta đang ở vào một thời điểm bước ngoat lich sử thời đại

với mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại trực tiếp đan xen

giữa hai cuộc cách mạng xã hội và khoa học công nghệ, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản đi vào chủ nghĩa xã hội, từ văn minh

công nghiệp sang hậu công nghiệp Các nước đang phát triển

như chúng ta, không có con đường nào khác là phải sử dụng

phép lợi thế của người đi sau để đi vào hiện đại Nếu như dự

báo của A Toffler là đẳng tin cậy, thì lợi thế quan trọng có

nhiều triển vọng nhất mà chúng ta cần triệt để khai thác chính

là ở chỗ: Sự xuất hiện mối quan hệ trùng hợp kỳ lạ giữa nền văn minh nông nghiệp “làn sóng thứ nhất” với nền văn minh hậu công nghiệp “làn sóng thứ ba” Điều đó cho phép các nước đi Sau - các nước đang phát triển, Xây dựng một cuộc sống hiện tại

tốt đẹp hơn bằng cách kết hợp giữa quá khứ - văn minh nông

28

Trang 29

nghiệp, với tương lai - văn minh hậu công nghiệp! Phải chăng

điều này cũng trùng hợp với cách nói của Đảng và nhà nước

Việt Nam, Lào là xây dựng từ một nước nông nghiệp lạc hậu

tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản

chủ nghĩa

Mặc dù những hiểu biết của chúng ta về văn hóa Lào chưa đầy đủ, nhưng phương pháp mô hình hóa hiện đại dựa trên kiến thức đồng bộ, tư duy tổng hợp và tiếp cận liên ngành với một lượng thông tin ban đầu như là những yếu tố “chìa khóa” (trong ngôn ngữ học gọi là từ chìa khóa - “Mot clé”) cho phép chúng

ta xây dựng những mô hình xem như là giả thiết công tác và xa hơn là giã thiết khoa học để tiếp cận với văn hóa Lào; tôi tin chắc vào sự phát triển bền vững của Lào sẽ phù hợp với tính

cách Lào và đúng với chiều hướng hiện đại của thế giới

Những lợi thế của người đi sau xét về phương diện văn hóa Lào đó là:

1 Văn hóa Lào là một nền văn hóa mở, dễ tiếp xúc, sẵn

sàng đón nhận những tỉnh hoa của các dân tộc khác với một khả

năng thích nghỉ tốt nhưng theo kiểu Lào: cân bằng giữa con người và tự nhiên, có mức độ thích hợp giữa trình độ và lòng ham muốn, một sự ứng xử uyển chuyển không thái quá, không vội vàng, không kỳ thị chủng tộc, dị giáo mà với một thái độ khoan dung, điều mà nền văn hóa thé giới đang đòi hỏi Trong cuộc tiếp xúc Đông Tây trước dòng xoáy của bước ngoặt lịch

sử thế giới lúc này mang ý nghĩa hội nhập trên tỉnh thần khoan dung mà UNESCO đã đề xướng: chấp nhận cái khác mình của

1 Xem A Toffler: Đợi sóng thứ ba (The thirđ wave), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996

29

Trang 30

người khác để người khác chấp nhận cái khác họ nơi mình, làm cho loài người chung sống hòa bình hữu nghi trong sự khác biệt

đa dạng Đó cũng là một điều hiếm thấy, bởi lẽ phải có một bản lĩnh dân tộc như thế nào mới sẵn sinh ra một nền văn hóa mở trong điều kiện bị khép kín tứ bề và thường xuyên có nguy co bi đồng hóa, bị cuốn hút, trực tiếp và trước hét là người đồng tộc

bờ tây sông Mè Khoóng Phải chăng đó cũng là một cách ứng

xử tối ưu nhằm vượt qua cái thế bị hãm giữa những tranh chấp của các thế lực xung quanh Có lẽ chính vì thế mà nhiều học giả phương Tây đã coi nước Lào là khu vực đệm (tampon)

2 Nền văn hóa Lào có khả năng đổi mới to lớn và đi vào hiện đại một cách êm thấm rất Lào, không sợ bị mai một bản sắc dân tộc Từ chiếc nhà sàn duyên đắng các kiến trúc sư đã chuyển nó thành những biệt thự hiện đại; bộ y phuc Lao cổ truyền với những mầu sắc rực rỡ có thể cải biến thành quốc phục; những làn điệu dân ca mà tiết tấu được nhấn mạnh, những điệu múa lăm vông chân bước theo nhạc tay múa tự do rất dễ dàng chuyển sang ca múa nhạc hiện đại mà vẫn giữ được cốt cách dân tộc Ngay cả trên bình điện ý thức cũng vậy Một người thanh niên Lào đến tuổi đi tụ thì cắt tóc vào chùa (pên buộU) rèn luyện học tập để từ người sống (khôn đíp) thành người chín (khôn xúc) rồi lại bổ tu (pên xích) trở lại đời thường; không phải chỉ có những ông Hoàng yêu nước mà còn có ông Hoàng

đỏ, có nhà sư đi tuyên truyền chủ nghĩa xã hội bằng lời lẽ và những biểu trưng của Đạo Phật, ngược lại, có những người đẳng viên cộng sản vẫn đi lễ Phật như những tín đồ! Những nhà Lào học phương Tây không thể nào hiểu được điều đó nên gần cho

họ một từ châm biếm “nhân danh c6ng san” (au nom du communiste), ho biét dau rằng người Lào theo chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ trái trái tim mình rồi dần dần mới đi vào lý luận, 30

Trang 31

đúng như Gới đã nói: mọi lý thuyết đều xám, cây đời mãi mãi

xanh tươi, một thứ lý luận sống động chứ không phải giáo điều

3 Nền văn hóa Lào lấy mục tiêu con người làm hệ giá trị

chuẩn mực - những giá trị nhân bản, coi trọng tính thích nghỉ và

hòa đồng với tự nhiên và xã hội để con người tạo dựng nên cuộc sống nhân ái, hòa bình, kìm chế những tham vọng, xây dựng

một cộng đồng bền chặt, Điều này được xem là nền tảng, là

động lực, là hệ điều chỉnh để người Lào tiếp nhận khoa học - kỹ

thuật và phát huy vai trò sáng tạo của cá nhân - những thế mạnh của thế giới bên ngoài trong đó có tỉnh hoa của nền văn minh phương Tây, đồng thời giúp họ tránh được những ảnh hưởng không tốt, không phù hợp với tính cách văn hóa Lào mà những nước đi trước họ đã phải trả giá khá đắt, như Thái Lan chẳng

hạn

Văn hóa sẽ giúp người Lào khai thác những lợi thế của

người đi sau trên nhiều bình diện khác, nhất là lĩnh vực phát

triển kinh tế, chúng ta có thể đưa ra một vài thí dụ:

1) Về năng lượng: Nếu như nền văn minh hậu công nghiệp

giải quyết theo hướng đa dạng hóa và phân tán thì phải chăng ở Lào có thể đi theo hướng trên, tức là xây dựng những nhà máy

điện khí sinh, điện mặt trời, thủy điện nhỏ phân tan về nông thôn, giảm bớt sự tập trung ở đô thị :

2) Về nông nghiệp sinh thái: Nền nông nghiệp cơ khí hóa

và hóa học hóa áp đặt đã mang lại nhiều hậu quả nghiêm trọng:

Môi trường bị ô nhiễm, bệnh tật phát triển, rừng bị phá, đất đai

bạc mầu, sản phẩm nông nghiệp kém chất lượng Hướng phát

triển nông nghiệp hiện đại là dựa vào toàn bộ các hệ sinh thái

31

Trang 32

góp phần tạo nên môi trường cộng sinh giữa con người và tự

nhiên bảo đảm cân bằng sinh thái, nâng cao chất lượng cuộc

sống Nền nông nghiệp sinh thái phát triển hệ thống canh tác mới bằng cách chuyển đổi cây trồng thích hợp với những tác

nhân môi trường như thời tiết, khí hậu, thủy văn, bức xạ, nhiệt

độ, độ ẩm, cảnh quan, đất đai, sinh thể, sử dụng kỹ thuật phân bón mới và những biện pháp an ninh sinh học Nước Lào là một xứ sở nhiệt đới có nhiều tài nguyên sinh thái phong phú, đa dạng, dân số ít, nguồn tài nguyên chưa bị khai phá qúa mức cho phép có điều kiện để phát triển nông lâm nghiệp theo hướng

kinh tế sinh thái, bảo vệ môi trường

3) Công nghệ quy mô nhỏ và vừa có hàm lượng kỹ thuật

cao là rất phù hợp với Lào, nó cho phép phân tán, giá thành rẻ,

năng động trong cạnh tranh nó tạo nên nhiều chuyển dịch

ngược chiều: chuyển nhà máy và sức lao động về nông thôn, có thể hòa nhập kỹ thuật mới vào xã hội mà không phải đi chuyển dân số, giảm sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, tạo nên

công ăn việc làm kết hợp giữa lao động, học tập, công tác xã

hội và vui chơi

Để tạo nên những lợi thế đó thì việc xây dựng cơ sở hạ tầng

ở Lào đóng vai trò hết sức quan trọng, trước hết là giao thông liên lạc và đào tạo nguồn lực con người, để nâng cao khả năng thích ứng của người Lào đối với một cuộc sống hiện đại

Tôi thấy rất thứ vị khi đọc bài trả lời phồng vấn của nhà

thạch học người Pháp trên báo “Người đưa tin UNESCO” số 4

- 1994 - ông Jean Malaure với chủ đề “Bắc cực từ đá đến người”

Ông phê phán học thuyết “vị kinh tế” của nền văn minh công

nghiệp và chỉ trích việc người phương Tây luôn miệng đề cao

32

Trang 33

phát triển và qua vô tuyến truyền hình họ giới thiệu những cảnh

giầu có đầy đủ tiện nghi hiện đại và một tương lại tốt đẹp của

thế giới đang phát triển, một viễn cảnh mà người bản địa không bao giờ đạt được Làm như vậy là người ta dùng “những thủ

đoạn không lành mạnh đưa tới một sự suy sụp mắt thế cân bằng

đã từng tồn tại hàng ngàn năm chỉ với mục đích duy nhất là tìm được những nơi tiêu thụ hàng hóa” mà phương Tây sản xuất

Ông cho biết ngay trong tự nhiên sự cân bằng cũng đã là sự

thiết yếu Chẳng khác gì con người, đá cũng có hộ chiếu riêng của chúng Đó là kết quả của sự thỏa hiệp giữa một lực kháng

cơ học (do cấu trúc thạch học tạo nên) với các lực lượng phá

hủy do các tác nhân thời tiết và địa hóa gây nên Một loại đá

nào đó đã tồn tại từ nhiều triệu năm cũng được bảo vệ bằng

những thỏa hiệp bắt ngudn từ hệ sinh thái của chúng; chỉ cần

một tác nhân biến đổi thì sự thỏa hiệp bị phá vỡ Từ đá đến

người theo ông cũng vậy Sự áp đặt dẫn đến mất cân bằng là đổ vỡ! Tôi hy vọng người Lào với cách đi của họ sẽ tránh sự mất cân bằng trong phát triển mà nhiều người cứ phần nàn là quá

chậm chạp Người Lào nói: muốn nhanh cho bò, muốn chậm cho chạy

Là một anh bộ đội cụ Hồ trong những ngày đầu chống thực dân Pháp (đến nay vừa đúng nữa thế kỷ 1947 - 1977), tôi có

may mắn là đã có 9 năm hoạt động trong đội quân tình nguyện Việt Nam tại Lào Chín năm “kháng chiến trường kỳ và gian khổ” với đủ mọi thiếu thốn, bệnh tật, gian nguy nhưng cũng

là 9 năm tôi được sống trong môi trường văn hóa Lào, được nhân dân và cán bộ Lào cưu mang giúp đỡ Tôi đã có dịp đặt

chân lên nhiều nơi trên đất nước “Triệu Voi” từ vùng rừng núi

33

Trang 34

Khăm Muộn đến cao nguyên NaKai, Xiêng Khoảng, từ vùng đồng bằng Thakhek Savanakhet, ngược dòng sông Mè Khoóng

lên Viêng Chăn, Luông Phabăng có dịp tiếp xúc với các bộ

tộc Lào Chính nhờ những năm tháng đó mà tôi dần dần cảm

nhận được cái chất văn hóa Lào theo con đường trực giác Chúng tôi cũng thích ăn “Lạp cọï” (gồi cá), canh măng nấu với “páđẹc”

(mắm cá), lá cây “dạ nàng” và “khấu bừa” (tấm), thích ở nhà

sàn, khi nghe tiếng khèn gọi bạn thì trong người cũng rạo rực, thích múa lăm vông theo nhịp trắng nhịp nhàng, thích “en xáo” (tan tinh) với mấy cô gái Lào bằng những câu “xu pha xít”

(ngạn ngữ) và hát những bài “lăm” (hát) giao duyên của Lào trong những dịp “Vàn na” (đổi công), “Bun than” (hội hè) hay

đi chơi “Đơn đông” (lên rừng)

Chính nhờ những cảm nhận sâu sắc đó thông qua ngôn ngữ

mà sau này khi bước vào con đường khoa học tôi đã bắt đầu nghiên cứu tiếng Lào, văn hóa Lào với tư cách là người bản

ngữ Tôi đã làm luận văn tốt nghiệp đại học “Ngữ âm tiếng Lào

hiện đại” và bảo vệ luận án phó tiến sĩ “Hệ thống thanh điệu và

thanh phổ các nguyên âm tiếng Lào Viêng Chăn” Điều quan trọng hơn và có ý nghĩa đóng góp mới là nhờ vào việc nghiên

cứu văn hóa Lào, Thái Lan mà tôi hiểu sâu sắc hơn cội nguồn

văn hóa Việt Nam và mối quan hệ lịch sử giữa các nước ở Đông Dương Chính nhờ có dịp ở với người Cọi Maca, người Xẹc

bản Tơng, bản Bức, bản Na meo thời kháng chiến (1949) mà

Sau này khi nghiên cứu các ngôn ngữ Mày, Rục, Sách Arem,

Mã Liềng, Poọng ở miền Tây các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh,

Nghệ An - đối diện với vùng Khăm Muộn, Căm Cốt mà tôi

đã dựng lại được ngôn ngữ tiền Việt - Mường, phác thảo quá

34

Trang 35

trình hình thành tiếng Việt với những cứ liệu có sức thuyết phục

và dựng lại bức tranh cội nguồn của mô hình văn hóa lúa nước

của người Việt mặc dù lúc đầu tôi không phải là người nghiên

cứu trên các lĩnh vực này Cũng từ đó mà tôi hiểu rộng hơn và sâu hơn mối quan hệ lịch sử Việt Nam, Thái Lan, Campuchia

và các nước khác ở Đông - Nam Á với việc phát hiện một số cứ

liệu mới Giáo sư A G Haudricourt, một nhà ngôn ngữ - dân

tộc học Pháp nổi tiếng khắp thế giới mà tôi có may mắn được làm việc và đi điền đã với ông ở Tây Bắc, Việt Bắc Việt Nam

và được ông chỉ dẫn, trao đổi tại Paris , một nhà bác học mà tôi

suy tôn là người thầy và ứng xử với tôi như là một người bạn

vong niên, dù cho các giả thiết của tôi về nguồn gốc tiếng Viêt

và các ngôn ngữ Đông - Nam Á có khác ý kiến của ông, nhưng giáo sư A G Haudricourt đã đồng tình và hết sức cổ vũ tôi đi

theo hướng nghiên cứu mà tôi đã chọn

Trong những năm 70 - 80, với tư cách là Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông - Nam Á Việt Nam, một nhà Lào học, tôi đã

có dịp dẫn đoàn chuyên gia về khoa học xã hội Việt Nam sang cộng tác với Bộ Giáo dục Lào làm việc trực tiếp dưới sự chỉ đạo

của cố Chủ tịch nước Phumi Vồngvichít để biên soạn ba công

trình: Lịch sử Lào (tập II), Địa lý Lào, Văn học Lào; sau đó

làm việc với Ủy ban khoa học xã hội Lào dưới sự chỉ đạo của Giáo sư Xixana Xixan - nguyên Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Chủ nhiệm Ủy ban biên soạn các công trình dân tộc học và ngôn

ngữ học Lào Chúng tôi đã có địp học hỏi và tiếp cận với văn hóa Lào một cách khoa học, chúng tôi hiểu biết thêm người

Lào đã nhận thức về lịch sử văn hóa Lào của họ như thế nào, tức

là một phần nào giải mã được cắm thức của người bản ngữ

35

Trang 36

Nếu như trước đây các con đường giao liên Việt - Lào ớ

khu 4 quê tôi từ Mụ Dạ - Bản Naphao, Sơn Phố - Napé, Mường

Xén - Bản Ban, đến Na Mèo - Sầm tớ mà nhân dân và các chiến

sĩ cách mạng hai nước đã đổ bao xương máu để xây dựng nên Con đường cách mạng, con đường mòn Hồ Chí Minh sau này,

đã dẫn đắt tôi đến chung lưng đấu cật với các bạn Lào trong kháng chiến chống thực dân Pháp, thì ngày nay con đường khoa

học lại một lần nữa dẫn dắt tôi đến với các bạn Lào để chúng ta

đào sâu suy ngẫm, nhận thức nhằm góp phần xây dựng sự hiểu biết, lòng tin cậy và tình hữu nghị keo sơn giữa hai dân tộc, Không gian, thời gian, cuộc sống, con người đã gắn bó chúng

ta như một nguyên lý không thể tách rời! Để góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đoàn kết Việt - Lào, cũng như để kỹ niệm về những tình cảm gắn bó sâu đậm của tôi với các bạn Lào thân thiết, với đất nước Lào yêu thương, nơi mà chúng tôi

đã từng sống trong những ngày sôi động nhất của đời mình, trong đó nhiều đồng chí đã vĩnh viễn yên nghỉ không bao giờ

trở lại trong khi chưa viết được một cuốn sách hoàn chỉnh về văn hóa Lào, tôi sưu tầm các bài viết về Lào thành một tập sách

với nhan đề “Ngôn ngữ và văn hóa Lào trong bối cảnh Đông - Nam Á” Do đó cuốn sách chỉ như là một bức tranh chấm phá

từng mảnh rời rạc, chưa có hệ thống, nhiều chỗ trùng lặp và côn

nhiều sai sót mong được bạn đọc lượng thứ Nhân dịp này tôi

xin bày tô lồng khâm phục và biết ơn sâu sắc của tôi với các vị:

Cố Chủ tịch nước Phumi Vôngvichít, cố giáo sự Mahaxila

Vilavong, giáo sư Xixana Xixan, nhà nghiên cứu Maha Khăm Phan, nha thơ Xômxi Đêxa, nhà văn Souvănthon và tất cả các

bạn đồng nghiệp Lào, cố giáo sư Lê Duy Lương và các bạn

đồng nghiệp Việt Nam đã chỉ bảo giúp đỡ chúng tôi trong quá

36

Trang 37

trình học tập và nghiên cứu về Lào Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Viện Phương Đông, Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và các

nhà khoa học Xô viết từ Viện sĩ Xerđưi Xencô, V.M Xônxép,

M K Rumanxép, Yu Ya Plam, V A Achémép, L R Dinđe

đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành công trình ngữ âm Lào

thực nghiệm

37

Trang 38

BUC TRANH NGÔN NGỮ - DÂN TỘC

Ở LÀO *

Lào là một quốc gia đa dân tộc, trong đó người Lào giữ vai

trò chủ thể Việc xác định thành phần các bộ tộc (tiếng Lào gọi

là “phầu”) với tư cách là những thành tố trực tiếp của cấu trúc tộc người là một điều hết sức quan trọng vì nó gắn với ý thức sâu sắc cũng nhy quyền lợi của các bộ tộc Lào trong qúa trình tích hợp văn hoá tộc người trong một quốc gia

Tuy nhiên, việc xác định các bộ tộc gặp rất nhiều khó khăn bởi vì lịch sử hình thành cầu trúc dân tộc ở Lào đã trải qua một

qúa trình lâu đài với những xáo trộn cư dân rất lớn Là một nước

nằm ở trung tâm bán đảo Đông Dương thuộc Đông - Nam Á lục địa, nước Lào là ngã tr đường của các luồng di dân từ bắc xuống:

nam, từ tây sang đông và ngược lại Sự tiếp xúc, Cộng cư trong

lịch sử đã để lại bức tranh ngôn ngữ - dân tộc rất đa dạng, đan

xen, chẳng lấn trong đó có khá nhiều nhóm tộc người bị vỡ vụn ra, bị sống tách biệt, xen kẽ và có rất nhiều tên gọi khác

* CO sự cộng tác của Khăm Bay Nhundalat, Dao Văn Tiến và Nguyễn Duy Thiệu,

38

Trang 39

nhau mà nguồn gốc của chúng không dễ gì giải thích

Các nhà dân tộc học, nhân loại học đã dựa vào tiêu chí ngôn ngữ để phân loại tộc người Điều đó có cơ sở khoa học của nó Trước hết ngôn ngữ là đặc trưng quan trọng nhất để xác định thành phần dân tộc (người ta gọi là đặc trưng tộc người) bởi vì tiếng mẹ đề là đi sản mà mỗi tộc người đã mang theo suốt trong chiều đài lịch sử của mình, là sợi dây bền chặt đuy nhất nối liền thế hệ này qua thế hệ khác và đóng vai trò không thể thay thế được, đó là chức năng xã hội hoá mỗi cá nhân trong

một cộng đồng tộc người nhất định Nói theo ngôn từ khoa học, ngôn ngữ là công cụ giao tiếp chủ yếu, công cụ tư duy của con

người, là bộ từ điển bách khoa ghi lại toàn bộ tri thức, lịch sử

của mỗi dân tộc Theo cách nói của F de Saussure thi “trong một chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân

tộc”! , Nếu ta biên soạn một cuốn từ điển tường giải theo cảm

thức của người bản ngữ thì có lẽ nhà dân tộc học miêu tả không còn việc gì để làm thêm!

Ưu thế tuyệt đối của bộ môn khảo cổ học là khả năng miêu

tả một cách chính xác các lớp văn hóa khảo cổ học được giữ nguyên trong lòng đất với những phương tiện kỹ thuật hiện đại (ví như phương pháp dùng phóng xạ Cụ) nhưng đồng thời bộ môn này gặp phải một khó khăn nan giải: đó là vấn đề xác định chủ nhân của nền văn hoá khảo cổ Chủ nhân đó có thể từ nơi

khác đến, hay từ đó ra đi hoặc đã biến mất và để lại trong lớp đất bụi của thời gian một đi sản văn hoá “câm” (xưa kia cha ông

ta đã có câu nói đùa: “Hòn đất mà biết nói năng, thì thầy địa lý

hàm răng không còn”) Trong khi đó, ngược lại, việc xác định

1 Ngôn ngữ học đại cương Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973,

tr 47

39

Trang 40

chủ nhân của một ngôn ngữ không mấy khó khăn, bởi lẽ các

dân tộc đều mang theo tiếng nói của mình (ngay cả trường hợp

bồ tiếng mẹ đẻ để nói một ngôn ngữ khác, thì dấu vết của tiếng

mẹ đẻ vẫn được hảo lưu trong cơ tầng của ngôn ngữ đang được

Sử dụng), nhưng tiếng nói lại luôn luôn biến đổi rất xa với diện

mạo ban đầu nên rất khó xác định mối quan hệ cội nguẫn cũng

như quan hệ tiếp xúc Đấy là chưa kể có những tư liệu ngôn ngữ

chỉ còn giữ lại cái vô bị biến dạng và mất nghĩa hoàn toàn mà người đời đã nhối vào cái vỏ trống ấy một ý nghĩa tùy tiện theo phương pháp từ nguyên học dân gian Đó là các địa danh, các nhân danh Phương pháp phục nguyên tuy có đạt một số thành

tựu nhưng không có gì để bảo đảm một cách chắc chắn rằng

ngôn ngữ được phục nguyên ấy đã thực sự tồn tại mà đó chỉ vẫn

là những giả thiết Còn ngữ thời học (glottology) di muốn xác định niên đại của sự phân chia ngôn ngữ phỏng theo kiểu ứng

dụng Phương pháp phóng xạ C¡„ trong khảo cổ học, vẫn chưa

có gì là chắc chấn; những niên đại mà ngữ thời học đưa ra nhiều

lắm cũng chỉ là những tín hiệu bước đầu mà chúng ta đã cảm nhận được theo phương pháp định tính Nhự Vậy, giữa khảo cổ

học và ngôn ngữ học có thể gợi ý cho nhau, nhưng cả hai đều phải lên hệ với một môn học khác - môn dân tộc học, để qua đó

kiểm nghiệm các giả thiết của mình

Đặc biệt đối với vùng Đông - Nam A - một khu vực lịch

SỬ văn hoá lâu đời, vốn có một nền văn minh nông nghiệp lúa

nước độc đáo, một nghề rừng, nghề biển cổ truyền, một vùng

vốn có chung một gốc lại phân chia ra nhiều ngữ hệ, nhiều bộ

tộc khác nhau, rồi sống xen kẽ, tiếp xúc với nhau lâu dài, chữ

viết ra đời muộn mỗi dân tộc đều giữ lại những di sản văn hoá

không phải chỉ có các cứ liệu hữu thể, mà phần lớn được bảo

lưu trong ngôn ngữ

40

Ngày đăng: 11/12/2013, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w