1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Xây dựng chương trình tham quan và viết thuyết minh cho điểm du lịch làng cổ đông ngạc thực hành hướng dẫn tại điểm du lịch đó

21 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 374,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta đang trên đường đến với làng cổ Đông Ngạc ngôi làng văn hiến có truyền thống khoa bảng lẫy lừng với nhiều “ danh gia, thế tộc, trâm anh dòng dõi”. Nơi đây đã sản sinh ra nhiều nhân tài xuyên suốt cả chiều dài lịch sử dưới các triều đại phong kiến và cả thời đại hiện nay.

Trang 1

Đề tài: Xây dựng chương trình tham quan và viết thuyết minh cho điểm du lịch Làng cổ Đông Ngạc Thực hành hướng dẫn tại điểm du lịch đó

Tôi tên là Nguyễn Thị Huyền - hướng dẫn viên đến từ công ty Du lịch Việt Nam Open Tour Hôm nay, tôi rất hân hạnh được đồng hành cùng quý vị trong chuyến tham quan này Tôi hy vọng quý vị sẽ có một chuyến đi thật thú

vị, bổ ích, đặc biệt là quý vị sẽ hiểu thêm về một trong những làng cổ của Việt Nam Đó chính là làng cổ Đông Ngạc

Thưa quý khách, Bên cạnh những làng khoa bảng nổi tiếng của Việt Nam như: Tiên Điền, Mộ Trạch, Đông Ngạc là làng khoa bảng nổi tiếng là có nhiều tiến sĩ nhất ở Thăng Long xưa

Chúng ta đang trên đường đến với làng cổ Đông Ngạc - ngôi làng văn hiến có truyền thống khoa bảng lẫy lừng với nhiều “ danh gia, thế tộc, trâm anh dòng dõi” Nơi đây đã sản sinh ra nhiều nhân tài xuyên suốt cả chiều dài lịch sử dưới các triều đại phong kiến và cả thời đại hiện nay

Trước hết, tôi xin giới thiệu về lịch trình ngày hôm nay Điểm dừng chân đầu tiên của chúng ta là đình Đông Ngạc ( đình Vẽ) nơi thờ ba vị phúc thần tượng trưng cho tam tài (Thiên-Địa-Nhân), mỗi vị đại diện cho một thế lực trong xã hội.Tiếp theo, chúng ta sẽ tham quan nhà thờ họ Phạm ở xóm 3, đây là dòng họ có nhiều tiến sĩ nhất ở làng Điểm dừng chân tiếp theo của chúng ta là nhà thờ họ Đỗ, thờ cụ Đỗ Thế Giai, đây là dòng họ có nhiều người giỏi về võ khoa Sau đó, đoàn chúng ta sẽ đến nhà thờ họ Phan- nơi thờ Phan Phu Tiên, người đỗ tiến sĩ đầu tiên, khai khoa cho làng Đông Ngạc Tiếp đến

là chùa Tư Khánh- nơi có nhiều đóng góp trong sự nghiệp cách mạng, đặc biệt

là trong chiến tranh chống Pháp Cuối cùng, chúng ta sẽ đến chợ Vẽ để được thưởng thức những đặc sản ở Đông Ngạc là: nem Vẽ, bánh khoai, bánh sấy…

Trang 2

Thưa quý vị, trước mắt quý vị là cầu Thăng Long- một trong năm cây cầu lớn của Hà Nội( Long Biên, Chương Dương, Vĩnh Tuy, Thanh Trì, Thăng Long) Cây cầu này được khởi công năm 1974, khánh thành năm 1985, dài 1688m gồm 15 nhịp Cầu có 2 tầng, tầng trên rộng 19,5m có 4 làn ô tô, 2 làn dành cho người đi bộ Tầng dưới rộng 17m đặt 2 đường xe lửa.Nếu kể cả cầu dẫn thì tầng trên dài 3116m, tầng dưới dài 5503m

Chỉ một lát nữa thôi, chúng ta sẽ có mặt tại làng cổ Đông Ngạc Tại đó

có rất nhiều điều thú vị đang chờ chúng ta khám phá !

Đông Ngạc được coi là một trong những làng cổ nhất của Hà Nội Làng còn được gọi là "làng tiến sĩ" do có rất nhiều vị tiến sĩ Hán học và Tây học là người làng Làng còn nổi tiếng về một số nghề thủ công truyền thống như

chuyên sản xuất nem ( giò Chèm, nem Vẽ ), làm quang gánh, nặn nồi đất

Theo các thư tịch cổ, cuối thời Trần ( cuối TK 14 ) lần lượt các dòng họ Phan, Phạm, Nguyễn, Đỗ từ các đất Ái Châu, Hoan Châu ra định cư ở làng, có công

mở mang và đặc biệt là nổi tiếng vè khoa bảng Thời vua Lê Trung Hưng làng đào được một chiếc chuông cổ có khắc chữ “ Đông Ngạch Phường - Diên Hựu nhị niên chú “ ( Chuông ở Phường Đông Ngạch đúc năm Diên Hựu II ), làng còn có tên Nôm là Kẻ Vẽ Về chữ Đông Ngạc có tài liệu viết rằng : xưa làng ở trên một gò đất cao bên bờ sông, trên gò có nhiều hàng quán phục vụ khách vãng lai, học trò tụ tập để học bài tiếng đọc bài râm ran như tiếng ếch vì thế dân chúng gọi vui là Đống Ếch, từ đó đọc chệch ra là Đông Ngạc Về tên gọi Vẽ có người giải thích rằng trong làng có đường đi lối lại thẳng tắp tựa như bàn cờ đẹp như vẽ, cũng có người cho rằng tại làng có người làm quan to nên hay bày vẽ trong cách ăn ở và sinh hoạt

Trang 3

Làng hiện có 12 xóm chia theo dọc bờ đê và phân chia thành các xóm trong đê và ngoài đê : xóm Đông ( xóm 1A ) bên kia sông là xóm 1B ( mới lập ) – xóm Ngác ( xóm 2 ) – xóm Vẽ ( xóm 3 ) – xóm Trung ( xóm 4A ) – xóm Ngấn ( xóm 4B ) – xóm Chùa ( 4C ), xóm Lò Nồi – xóm Vạn – xóm Vườn ( xóm 5A ), Hàng Quan , Thượng Khu – Trung Khu – Hạ Khu ( xóm 5B ), xóm

6 xưa là ấp trại, xóm 7 là dọ theo đê từ Sông Nhuệ vào làng Giàn, xóm 8 là xóm mới lập cạnh xóm 1B nơi có nghĩa trang và ủy ban nhân dân hiện tồn tại trên 100 ngôi nhà cổ có thời gian xây dựng trên 100 năm, nhiều ngôi nhà gỗ được đục chạm công phu thể hiện nét tài hoa của các nghệ nhân xưa Làng Đông Ngạc đã góp cho đất nước 25 vị Tiến sĩ và cả ngàn Hương cống, Cử nhân, Sinh đồ, Tú tài Làng Đông Ngạc vì thế đã nổi tiếng với các danh nhân như thời phong kiến có Phan Phu Tiên, Đỗ Thế Giai, Lê Đức Mao, Phạm Gia Chuyên, Hoàng Nguyễn Thự thời cận đại với Phan Văn Trường, Hoàng Tăng Bí và ngày nay là Hoàng Minh Giám (cố Bộ trưởng Bộ Văn Hoá) và nhiều nhà khoa học, chính khách danh tiếng Người Đông Ngạc làm quan khắp nơi và không thời nào không có các vị triều quan về làng đóng góp tiền của và trí tuệ để xây dựng quê hương

Điểm dừng chân đầu tiên của chúng ta là Đình Vẽ Tọa lạc tại xóm 1 ngôi đình nằm hướng ra sông, đây là một ngôi đình cổ đã được công nhận là

di tích lịch sử văn hóa nghệ thuật 6/ 1/ 1993 Chúng ta đang đứng trước tam quan ngoại của đình, có thể thấy hai Hán tự “ Hạ Mã ”ở hai bên cổng với ý nghĩa: “ xuống ngựa ”, bởi đình là một nơi linh thiêng, mọi người bất kể vua chúa hay thường dân đi qua đều phải xuống ngựa để tỏ lòng tôn kính Người Việt Nam có câu: “ qua đình ngả nón trông đình ” Bên trong cổng đình có thờ hai tượng đại tướng quân có nhiệm vụ bảo vệ cho đình

Bây giờ xin mời quí vị vào trong

Trang 4

Chúng ta đang đứng trước cửa tam quan nội Hai bên là hai ao Nhật - Nguyệt tượng trưng cho hai mắt rồng, ngôi đình được đặt trên một thế đất đẹp

có hình đầu rồng nói về thế đất này dân làng có truyền nhau một bài thơ:

Đình làng Đông Ngạc dáng đầu rồng Chính mũi tam quan thẳng hướng sông Hai giếng to tròn hình mắt ngọc

Một tòa đại bái đỉnh đầu long Nội cung u tĩnh thờ ba vị Miếu mạo trang nghiêm nức một vùng

Tam thánh tối linh ban phúc lớn Dân yên, tục đẹp, quý vô cùng

Đình được xây dựng theo kiến trúc “ Nội công ngoại quốc ” gồm có tam quan, đại đình, trung cung, hậu cung Ngoài khu đình về phía đằng xuôi như các bạn thấy bên tay trái của các bạn là nhà Văn Chỉ, đây là nơi thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền

Bây giờ xin mời các bạn vào trong sân của đình !

Bên trái các bạn là hành lang Tả mạc nơi lưu giữ 7 tấm bia nói về công lao của các vị đã cống hiến để xây dựng ngôi đình và những lần trùng tu ngôi đình Các bạn nhìn thấy có một tấm bia duy nhất đặt trên lưng rùa, đó là tấm

Trang 5

bia của cụ Phan Phu Tiên, đây là người đầu tiên đỗ đạt tiến sĩ mở đầu cho khoa bảng làng Đông Ngạc

Bên phải là ban thờ cụ Phạm Thọ Lý là người có công hiến đất để xây dựng đình Dân làng gọi cụ là cụ Đường vì tấm lòng hào hiệp của cụ đã dời nhà đi chỗ khác để hiến toàn bộ đất cho làng dựng đình Khi làng đang tìm đất thì có thầy địa lý nói rằng “ khu đất này có tú khí trung tụ, nếu làm đình thì dân làng sẽ được thịnh vượng, hiển đạt đời đời”

Ngôi đình được xây dựng năm 1637, thực chất nền xưa của ngôi đình là một ngôi miếu cổ xây dựng vào thời Bắc Thuộc ( nhà Đường ) thế kỉ VII ,

Trước mắt quý vị là đại đình với 5 gian 2 dĩ Mái đình lợp bằng ngói mũi hài, một loại ngói cổ của Việt Nam Các đao đình vút cong ở 4 góc mái làm cho 2 mái đình trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng Mặt ngoài của các đầu đao được đắp nhiều hình rồng sinh động như quý vị có thể thấy Bây giờ xin mời quý vị cùng vào bên trong đại đình

Nơi chúng ta đang đứng là bái đường ngoại, phía sau là bái đường nội tượng trưng cho đỉnh đầu rồng Mỗi bái đường này gốm 40 cột gỗ lim to đều được kê trên các tảng đá vuông chắc chắn như qúy vị thấy ở đây.Bên tay trái của quý vị là chiếc chuông, bên phải là chiếc trống sấm được dung mỗi khi có hội họp, tế lễ Theo quan niêm của người Việt, hai đồ vật này được bài trí theo nguyên tắc “tả chuông hữu trống”, tiếng chuông vang lên để thức tỉnh mọi người, tiếng trống để mời dân làng ra đình hội họp, tế lễ Trước kia, dân làng đặt một chiếc mõ đại ở vị trí của chiếc trống này Chiếc mõ đại được làm bằng

cả một cây gỗ to được khoét ở giữa Tiếng mõ hiệu vang lên vào lễ khai đạc hàng năm với ý nghĩa báo hiệu một năm mới đã đến Như quý vị thấy, hai bên của gian thờ này là một đôi hạc đậu trên lưng rùa cao 3m làm bằng gỗ.Xưa kia

Trang 6

đình còn một đôi hac bằng đồng cao 2m nhưng rất tiếc là đôi hạc đã bị kẽ gian lấy mất Hạc là yếu tố dương, rùa là yếu tố âm Hạc rùa chính là biểu tượng của sự hòa hợp âm dương cùng với sự trường cửu của thần thánh Đây là một biểu tượng trang trí phổ biến trong các kiến trúc đình chùa Việt Nam

Bên trái của gian thờ này là bàn thờ đức Lê Quận Công, vốn là người làng, tên Phạm Công Dung, đỗ Đình Nguyên tiến sĩ khoa Bính Tuất(1706) dưới thời vua Lê Dụ Tông Cụ giữ nhiều chức vị quan trọng trong triều đình, khi mất, cụ được phong chức Công bộ Thượng thư, tước Lê Quận Công Cụ chính là người hiến toàn bộ số gỗ để xây dựng ngôi đình này

Bên phải của gian thờ này là bàn thờ đức Mạc Quận Công Vị thần này

đã có công giúp vua Trần đánh quân Nguyên xâm lược, có bùa phép Nhân dân trong làng đã rước chân nhang tữ xã Trân Vệ(vùng ven song Đà) về thờ ở

bờ sông của làng, sau đó mới chuyền về thờ ở đình

Xin mời quý vị hướng tầm mắt lên phía trên của gian thờ trung tâm Trước mắt quý vị là bộ tranh cổ được vẽ bằng sơn màu vào gỗ rất quý hiếm được lưu giữ tại đình này.Chất liệu cổ truyền là sơn ta với ba màu: đen, đỏ và vàng Xưa kia làng có 48 bức nhưng 8 bức đã bị kẽ gian lấy mất vào đêm mùng 2 tháng 3 năm Ất Hợi( 1995) cùng với đôi hạc đồng Đình trưng bày 32 bức ở ngoại bái đường này,8 bức còn lại chỉ đến khi có lễ hội mới mang ra cho dân làng xem.Những bức tranh này không chỉ tô điểm cho ngôi đình mà còn phản ánh một thú chơi tao nhã của tầng lớp trí thức trong làng Trên 16 bức tranh lớn kia có 16 đại tự, 16 bức tranh nhỏ kề bên mỗi bức lớn có 16 câu thơ của hai bài thơ Đường luật, lấy 16 chữ trên làm tiếng đầu câu 16 đại tự ấy là: “Bách cốc phong đăng tư dân an thái, chúc thọ thánh vạn niên kì phúc” Hai bài thơ nghĩa là :”Được mùa, dân yên vui thái bình” và “Chúc vua sống lâu, muôn năm cầu phúc” Nội dung của các bức tranh này là ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị, dân chăm lo thờ cúng để thánh ban phúc lành.8 bức tranh

Trang 7

được cất đi là tranh “tứ hỷ”(bốn điều vui: niềm vui khi bảng vàng treo, khi nắng hạn gặp mưa, khi xa quê gặp bạn cũ và khi có phòng cưới trong đêm đuốc hoa), tranh “ngư tiều canh mục” Các quý vị có thể thấy tại gian này có hai bức hoàng phi, bức bên tay trái quý vị là “Kỳ phúc tang lưu”( nơi xin thẻ cầu phúc), bức kia là “Đông lân thụ phúc”(làng Đông Ngạc nhận phúc).Hai bên của hương án này là bộ bát bửu tức là 8 đồ trang trí gồm 8 vật tượng trưng cho sự đầy đủ về vật chất, giàu có, tốt lành, chiến thắng: quạt, gươm, bầu rượu, cái sênh, giỏ hoa, nhành trúc, sáo, hoa sen Mỗi cái đều được chạm lộng tinh vi trên đầu một cán dài sơn son thiếp vàng cắm trên giá.Trước hương án này là bộ bát kích( tám vũ khí thời xưa) gồm : thanh long đao, cây mác trường, chùy, thanh kiếm, câu liêm, đinh ba, tay thước, cái nắm tay.Còn đây là

đồ lỗ bộ với lọng, tàn, quạt làm bằng vóc, nhiễu xung quanh thêu hình “lưỡng long chầu nguyệt” hoặc cửu long tranh châu”

Thưa quý khách!

Ở hai bên tả hữu của tòa đại đình này là 8 bệ đá được dùng khi có hội họp trong làng, mỗi bệ cho một giáp ngồi, mỗi giáp cử ra 4 người Giáp là đơn vị hành chính nhỏ hơn cấp làng, Đông Ngạc có 8 giáp ở 4 xóm chính: xóm Đông, Ngác, Vẽ, Trung Mỗi xóm chia làm 2 giáp như sau:Đông nhất, Đông nhị…

Ngôi đình này thờ ba vị thần, ba vị đó là ai? Xin mời quý vị cùng theo tôi vào phía trong của đình Chúng ta đang đứng tại trung cung, đây là ban thờ

Hạ thần quan Phía sau trung cung này là hậu cung Trước mắt quý vị là hai ông phỗng có nhiệm vụ bảo vệ các vị thần ở bên trong, họ đang giơ tay lên để ngăn không cho ai vào trong hậu cung Bởi lẽ đây là nơi linh thiêng nhất của ngôi đình, chỉ mở cửa mỗi khi có lễ hội và chỉ những ai có trách nhiệm như sắp đặt đồ lễ mới được vào.Trong hậu cung này thờ “Tam vị Đại vương Thượng đẳng tối linh thần” tức là 3 vị thần tượng trưng cho tam tài" Đầu tiên

Trang 8

là Đệ nhất đẳng thần (thiên thần) là thần Độc Cước còn gọi là Hỏa Quang Tiêu, Sơn Tiêu đại thánh, thần có năng lực trừ yêu quái, bảo vệ dân biển Phan Phu Tiên đã rước chân nhang thần từ Cửa Roi- Nghệ An về thờ tại đình Đệ nhị đẳng thần (nhân thần) là Lê Khôi- cháu gọi vua Lê Thái Tổ bằng chú ruột

vô Thần có công bảo vệ dân vùng song nước được bình an vô sự Cụ Đô đốc đồng tri Đông Xuyên Hầu đã rước chân nhang từ vùng Trào Khẩu- Hưng Nguyên- Nghệ An về thờ.Vị cuối cùng là Đệ tam đảng thần( địa thần) là thần cai quản vùng đất này Thần vốn được thờ ở ven sông để trừ tai, bảo vệ và ban phúc cho dân làng

Sau đây, chúng ta sẽ ra bên ngoài của đình để tiếp tục hành trình tham quan Thưa quý khách, bên phải của ngôi đình này là nhà văn chỉ- nơi thờ Khổng Tử và các vị tiền hiền Từ vị trí này, chúng ta có thể ngắm nhìn toàn bộ cảnh quan ngôi đình với những nét kiến trúc cổ kính, xứng đáng với diện mạo của làng quê có truyền thống văn hiến lâu đời này Chính vì thế mà ngôi đình

đã được chọn làm địa điểm để quay bộ phim “Đêm hội Long Trì” và “ Làng

Vũ Đại ngày ấy”- những bộ phim rất nổi tiếng của Việt Nam Hàng năm, làng

mở hội đình vào các ngày 8-11 tháng 2 âm lịch, chính hội vào ngày mồng 9

Lễ hội gồm có lễ rước, lễ tế, rước bài vị bên cạnh đó trong lễ hội còn diễn ra hát chèo, chơi cờ người và một số trò chơi dân gian khác

Quý khách có 10 phút để tham quan và chụp ảnh tại đình, sau đó chúng

ta sẽ tiếp tục hành trình tham quan vì có rất nhiều điều thú vị đang chờ chúng

ta ở phía trước !

Chúng ta đang đi trên con đường cổ bằng gạch, xưa kia tất cả các con đường trong làng đều được lát bằng gạch này, đó là kết quả của những lần nộp cheo.Theo quy định của làng, các chàng trai khi lấy vợ phải nộp cheo cho làng nhà gái Tiền hoặc lễ vật tùy theo quy định của từng làng Cheo cho trai làng

Trang 9

lấy gái làng rất nhẹ, có khi chỉ cần trầu cau trình làng là đủ, cheo cho trai thiên

hạ lấy gái làng nặng hơn, phải nộp tiền hoặc lễ vật Ở nhiều làng, như làng Đông Ngạc, lệ bắt nộp cheo bằng 100 viên gạch để xây dựng đường làng.Dân gian có câu:

“Có cưới mà chẳng có cheo

Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài”

Thưa quý khách, chúng ta đang có mặt tại nhà thờ họ Phạm làng Đông Ngạc Đây là dòng họ lớn nhất, lâu đời nhất trong làng Họ Phạm đến đây có

lẽ muộn nhất là khoảng năm 1370- 1380 khi giặc Chiêm tiến vào thành Thăng Long Cả họ Nguyễn và họ Phạm trong làng đều từ Thanh Hóa đến Theo thư tịch cổ thì có ba anh em họ Phạm từ Thanh Hóa lên ba vùng khác nhau: Đôn Thư( Thanh Oai), Bát Tràng, và Đông Ngạc Khi đến Đông Ngạc thì dòng họ này nổi tiếng ngay vì tinh thần hiếu học

Người đỗ đại khoa đầu tiên của họ Phạm là cụ Phạm Lân Định, thi đỗ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Giáp Tuất 1514, khai khoa họ Phạm Cụ cũng chính là người đầu tiên ở làng có tên khắc trên bia đá ở Văn Miếu vào thời Lê.Từ đó cho đến năm 1849 có 11 người đỗ đại khoa( 9 tiến sĩ và 2 sĩ vọng), đến trước cách mạng tháng Tám, họ có tổng cộng 16 tiến sĩ và 78 cử nhân.Trong 16 tiến

sĩ đó có 11 người đỗ đại khoa Hán học và 5 người đỗ tiễn sĩ Tây học ở Pháp Thưa quý khách, trước mắt quý khách là hòn non bộ Đây là một hòn núi giả thường được đặt ở trước sân của mỗi nhà thờ họ cũng như ở một số ngôi nhà ở Việt Nam để tượng trưng cho sự hòa hợp âm dương, gia đình, họ tộc sẽ thịnh vượng, khang ninh Như quý vị thấy, hòn non bộ là cảnh rừng núi thu nhỏ xây bằng đá, có cảnh nước non, hang động được đặt trong một bể nước gọi là bể cạn Điều đặc biệt ở hòn non bộ trong nhà thờ này là nó được tạc

Trang 10

theo hình tứ linh, gồm có long, ly quy, phượng, đây là một đề tài trang trí truyền thống trong kiến trúc đình, chùa Việt Nam

Xin mời quý khách tiến lên phía trước của nhà thờ !

Trên hai cây cột này là đôi câu đối:

“Tòng quân kiệt tiết mãn xoan trung nghĩa quán hồng luân”- bên trái

“Học cổ chí than dịch thề khoa danh khai xích xí”-bên phải của quý khách Đôi câu đối này nói về truyền thống hiếu học và khoa bảng của dòng họ Phạm Phía trên đỉnh hai cột có đắp nổi hình con Nghê Quý khách có biết vì sao lại có hình tượng con Nghê ở đây không ạ? Theo quan niệm tâm linh của người Việt thì đây là con vật thiêng, có khả năng nhận ra kẻ ác hay kẻ thiện

Đó là lý do tại sao con nghê được tạc ở đây, bởi nó có nhiệm vụ trông giữ, giám sát tư cách của người ra vào nhà thờ, bảo vệ cho sự tôn nghiêm của nơi thờ tự

Phía sau hai chiếc cột này là hai bức tường với hai bức tranh vinh quy bái tổ, thể hiện khung cảnh của làng quê mỗi khi trong làng cò người đỗ đạt Làng Đông Ngạc, đặc biệt là họ Phạm có truyền thống Nho học lâu đời nối tiếp nhau qua “cửa Khổng sân Trình” nên những phong tục tập quán và cả cách thức giao tiếp, xử thế của dân làng cũng có những nét đặc trưng, mang ảnh hưởng của Nho giáo.Mọi việc cưới xin ma chay đều lấy tình nghỉa làm trọng, không có thủ tục nặng nề Việc khao vọng ở làng là khi các ông Nghè

về vinh quy bái tổ, nhưng cũng tùy nghi mà làm, cái cốt lõi là ở sự thành tâm, gia đình nào có điều kiện thì làm to và ngược lại Nhà Vua đã ban cho lang mĩ

tự “ Mĩ tục khả phong” là vì lẽ đó

Xin mời quý khách hãy nhìn sang bên tay phải, đây là tấm bia do người trong họ tạc nên để ghi danh sách những vị tiến sĩ của dòng họ Trên tấm bia này khắc tên 9 vị tiến sĩ và hai cụ đỗ sĩ vọng Đó là các cụ : Phạm Lân Đính, Phạm Thọ Chỉ, Phạm Hiển Danh, Phạm Quang Trạch, Phạm Quang Hoàn,

Ngày đăng: 27/05/2021, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w