NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH Ý nghĩa của một số thực vật được đặt và trang trí trong các công trình kiến trúc tôn giáo Việt Nam: đình, chùa, miếu, phủ 1. CÁC LOÀI THỰC VẬT 1.1. Cây hoa sen Sen là loại cây cao quý, gắn với Phật giáo, có biểu tượng của sự cao quý, trong sạch của tâm hồn. Do mọc từ bùn nhơ, ngâm mình trong nước, vươn lên trời cao, hoa sen còn biểu tượng cho sự chân tu, thoát khỏi những hệ lụy của cuộc đời mà có phẩm hạnh.......
Trang 1NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH
Ý nghĩa của một số thực vật được đặt và trang trí trong các công trình kiến trúc tôn giáo Việt Nam: đình, chùa, miếu, phủ
1 CÁC LOÀI THỰC VẬT
1.1 Cây hoa sen
Sen là loại cây cao quý, gắn với Phật giáo, có biểu tượng của sự cao quý, trong sạch của tâm hồn Do mọc từ bùn nhơ, ngâm mình trong nước, vươn lên trời cao, hoa sen còn biểu tượng cho sự chân tu, thoát khỏi những hệ lụy của cuộc đời mà có phẩm hạnh Trong nghệ thuật tạo hình Phật giáo, chúng ta thường bắt gặp hình ảnh Đức Phật ngồi tọa thiền hoặc đứng thuyết giảng trên toà sen “Một trong nhiều ý nghĩa bông sen được nghĩ tới là: nơi để sinh ra Đó là một ý nghĩa bắt nguồn từ thời nguyên thuỷ Chúng ta đã gặp những hiện vật của thời đó về người đàn bà, mà bộ phận để sinh ra và bộ phận nuôi dưỡng được cường điệu khá lớn, trong ý nghĩa cầu phồn thực - một mặt của hạnh phúc Từ ý kiến trên, có thể rút ra: hoa sen mang yếu tố âm Vì thế trong kiến trúc người ta nhìn thấy đá chân tảng chạm đài sen (âm) làm chỗ kê của chiếc cột (mang hình Linga - dương) như một sự kết hợp của âm dương trong
sự cầu mong vững bền và sinh sôi nảy nở” Hoa sen được dùng làm mô típ trang trí chủ đạo trong chùa Trong trang trí đình làng, hoa sen được
sử dụng nhiều trong những ngôi đình muộn Tuy nhiên, chúng ta bắt gặp hình hoa sen cách điệu, cây sen (hoa, lá, thân) tả thực trong hoạt cảnh
Trang 2tắm đầm sen trên gạch trang trí vách tường đình Yên Sở (Hoài Đức, Hà Tây), hoa sen và rồng trên cốn đình Ngọc Canh
1.2 Cây đào
Cây đào là một trong những loại cây có vị trí quan trọng trong nhiều loại hình nghệ thuật và tập quán, phong tục của nhiều nước ở phương Đông Các nhà thực vật học cho rằng cây đào có nguồn gốc từ Trung Quốc Loại cây này được biết như loài cây cho trái quý của chốn thần tiên, mọc ở khu vườn Tây Vương Mẫu, 3000 năm mới kết quả một lần,
ăn vào sẽ “trường sinh bất lão” Cây đào có biểu tượng phổ biến là mùa xuân, mùa bắt đầu của năm, mùa của sự phồn sinh, đem lại sinh lực và hạnh phúc mới Hoa đào còn là biểu tượng vẻ đẹp của người phụ nữ, nó tượng trưng cho gương mặt, cho nụ cười của người con gái đẹp Hoa đào còn mang lại tình yêu, hạnh phúc đôi lứa (được yêu nhiều = đào hoa) Hình tượng cây đào cổ thụ mang biểu tượng của sự trường sinh Trên cốn của đình Dư Hàng (Hải Phòng) cây đào được bố cục uốn lượn trong hình chữ nhật dài, bên cạnh cây tre Trong chạm khắc trang trí đình làng, đào được cách điệu với môtíp “đào hoá lân” hoặc “đào hoá rồng” ở những ngôi đình muộn Đây là loại môtíp có tính lưỡng nguyên: vừa là cây, vừa là vật
1.3 Lá đề
Cây Bồ đề biểu trưng cho sự đại giác của đức Phật được sử dụng rất nhiều trong trang trí điêu khắc như vòm cửa chùa tháp thời Lý Lá đề
Trang 3tượng trưng cho sự giàu có, phồn thịnh Thường hay gặp trong trang trí cấu kiện gỗ cùng sóng nước
1.4 Bát quả
Bát quả bao gồm: đào, lựu, mận, lê, phật thủ, mãng cầu (na), nho, bầu (bí) Chúng đều mang biểu tượng của sự đông đúc, phú quý, con cháu đầy đàn
- Quả đào: là trái quý của chốn thần tiên gọi là Tiên quả Là loại quả làm dược liệu trị bệnh Vì là loại quả quý ai ăn vào sẽ trở thành bất tử (cây trồng trong vườn Tây Vương Mẫu, 3000 năm mới kết quả một lần) nên nhấn mạnh về biểu tượng của quả đào là sự trường thọ
- Quả lựu: Biểu tượng chính của trái lựu - vì nó có nhiều hạt (tử), là hình ảnh của sự đông đúc, phồn thực và khả năng sinh sản Vì vậy nó mang ước vọng con cháu đầy đàn nhưng trật tự (cấu tạo bên trong của hạt lựu)
- Quả mận: Hoa mận tượng trưng cho cái đẹp và sự rực rỡ ngay cả trong mùa đông Vì thế hoa mận và trái mận trở thành biểu tượng của vẻ đẹp trong nghịch cảnh Trái mận tượng trưng cho sự thuận lợi
- Quả lê: Truyền thuyết Trung Quốc vào năm 1053 trước công công nguyên có vị quan tên là Triệu Công nổi tiếng vô tư, công bằng, thanh liêm Ông thường phán xử những vụ kiện dưới gốc lê hoang, công minh trong phán xử Cho nên quả lê là biểu tượng cho sự thông thái, sáng
suốt
- Phật thủ: Phật thủ, còn có tên là Hương Duyên Quả không ăn được Mỗi múi Phật thủ vào phần cuối trở nên dài và nhọn như những ngón tay Toàn bộ hình dáng của quả như hai bàn tay úp lại với nhau vì vậy có
Trang 4tên là Phật Thủ (bàn tay Phật) Hình ảnh này rõ nhất là bức tường ở đầu Chùa Cầu Hội An có đắp vôi hình dáng quả Phật Thủ Biểu tượng quả nói lên sự giàu có, vinh hoa, phú quý, sự liên tưởng đến an bình, hướng thiện
- Mãng cầu (na): Vì nhiều hạt nên mang biểu tượng tính phồn thực nhưng cũng mang ý nghĩa sự mãn nguyện, toại nguyện do liên tưởng sự đồng âm
- Quả nho: Cây nho có đặc điểm cấu tạo lá nho, dây leo, chùm trái quấn quýt đã gợi sự đông đúc sum vầy.chùm trái quấn quýt đã gợi sự đông đúc sum vầy
- Quả bầu (bí): Là quả có 2 hình cần như dáng chiếc nồi nấu luyện thuốc của nhà luyện đan và có dáng hình núi Côn Luân (Trung Quốc) của người theo Đạo giáo hay bình đựng nước cam lồ của Bồ Tát Quán Thế Âm… Là loài có nhiều hạt, mang biểu tượng sung mãn phồn thực
Là nguồn gốc của sự sống, của sự tái sinh, nguồn gốc nơi sinh ra các dân tộc trong đó có người Việt Vì vậy mà bầu mang ý nghĩa tượng trưng cho sự sinh sôi phát triển
1.5 Tứ thời ( Mai , sen , tùng, cúc )
- Cây mai
Hoa mai biểu tượng cho sự may mắn, phúc lành Năm cánh hoa mai
là hình ảnh của năm vị thần may mắn, gọi là ngũ phúc Mai cũng được xem là biểu tượng của trường thọ Người ta diễn tả đặc trưng này bằng những đóa hoa rực rỡ trên một thân cây trụi lá và gân guốc, vững chãi như sức công phá của thời gian chẳng làm gì được nó
Trang 5Là cây trong Tứ quý, như: mai, liên (sen), cúc, trúc hay mai, lan, cúc,
trúc hoặc tùng, cúc, trúc, mai Cây mai với thân rắn rỏi, phong sương,
vững bền với thời gian (dương tính) thì hoa mai trắng muốt lại biểu tượng cho sự trắng trong, tinh khiết (âm tính), nhưng yếu đuối Hoa mai mang lại điềm lành, hạnh phúc, mùa xuân, nhưng cũng nhắc nhở con người về sự mong manh của vẻ đẹp, hạnh phúc trước thời gian “như bóng câu qua cửa” Người Trung Quốc đặc biệt yêu thích hoa mai Ngay
từ thời Thương Chu, hoa mai đã được trồng rộng rãi với mục đích lấy quả làm gia vị chua Đến thời Bắc Tống, thông qua kỹ thuật chiết cây đã gây trồng nên giống “Tương Mai”, sắc nhị màu vàng nhạt, một bông có đến 20 cánh, có tên là “thiên diệp hoàng hương mai”, có hương thơm và
vẻ đẹp thầm kín, trở thành một kỳ quan.5 Trong mô típ Tứ quý, cây mai thường đứng bên cạnh đá và thường xuất hiện trong chạm khắc trang trí
ở những ngôi đình muộn thời Nguyễn
- Hoa sen kết hợp với hoa cúc: Thường gặp ở thời Lý, tượng trưng cho âm dương giao hoà, thường gặp ở trang trí diềm bia, chạm khắc
- Cây hoa sen:
Sen trong nghệ thuật tạo hình được xem là biểu tượng của đức hạnh
và sự hoàn hảo bởi đặc điểm của nó là vươn lên từ bùn nhơ và không bị vấy bẩn Hoa sen là một món trong kiểu thức trang trí bát bửu của Phật giáo, là dấu huyền nhiệm của bước chân Phật
Là loại cây cao quý, gắn với Phật giáo, có biểu tượng của sự cao quý, trong sạch của tâm hồn Do mọc từ bùn nhơ, ngâm mình trong nước,
Trang 6vươn lên trời cao, hoa sen còn biểu tượng cho sự chân tu, thoát khỏi những hệ lụy của cuộc đời mà có phẩm hạnh Trong nghệ thuật tạo hình Phật giáo, chúng ta thường bắt gặp hình ảnh Đức Phật ngồi tọa thiền hoặc đứng thuyết giảng trên toà sen “Một trong nhiều ý nghĩa bông sen được nghĩ tới là: nơi để sinh ra Đó là một ý nghĩa bắt nguồn từ thời nguyên thuỷ Chúng ta đã gặp những hiện vật của thời đó về người đàn
bà, mà bộ phận để sinh ra và bộ phận nuôi dưỡng được cường điệu khá lớn, trong ý nghĩa cầu phồn thực - một mặt của hạnh phúc Từ ý kiến trên, có thể rút ra: hoa sen mang yếu tố âm Vì thế trong kiến trúc người
ta nhìn thấy đá chân tảng chạm đài sen (âm) làm chỗ kê của chiếc cột (mang hình Linga - dương) như một sự kết hợp của âm dương trong sự cầu mong vững bền và sinh sôi nảy nở” Hoa sen được dùng làm mô típ trang trí chủ đạo trong chùa Trong trang trí đình làng, hoa sen được sử dụng nhiều trong những ngôi đình muộn Tuy nhiên, chúng ta bắt gặp hình hoa sen cách điệu, cây sen (hoa, lá, thân) tả thực trong hoạt cảnh tắm đầm sen trên gạch trang trí vách tường đình Yên Sở (Hoài Đức, Hà Tây), hoa sen và rồng trên cốn đình Ngọc Canh
Trong nghệ thuật Việt Nam, hình tượng hoa sen dày đặc từ các phù điêu, đá tảng kê chân cột, bệ tượng Phật đến các dáng gốm và hoạ tiết trang trí Song cô đọng và sáng tạo hơn cả là hình tượng hoa sen trong kiến trúc chùa tháp Phật giáo
Những công trình kiến trúc tiêu biểu với hình tượng hoa sen thường xuất hiện trong những giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo Đó là thời Lý thế kỷ thứ 11 với Chùa Một Cột - Hà Nội; thế kỷ thứ 17 với Tháp Cửu
Trang 7phẩm liên hoa, Chùa Bút Tháp - Bắc Ninh; thế kỷ 18 với Chùa Tây Phương - Hà Tây, Chùa Kim Liên - Hà Nội
Theo truyền thuyết chùa Một Cột hình thành từ một giấc mộng của vua Lý Thái Tông Vào một đêm mùa xuân năm Kỷ Sửu (1049), vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên đài Khi tỉnh dậy, vua nói chuyện lại với triều thần, có người cho là điềm xấu, nhưng thiền sư Thiền Tuệ thì khuyên vua nên xây chùa, dựng cột đá giữa hồ, xây đài hoa sen có tượng Phật Quan Âm ở trên, đúng như hình ảnh đã thấy trong mộng Các nhà sư chạy đàn xung quanh, tụng kinh cầu sống lâu và đặt tên là chùa Diên Hựu
Hình tượng hoa sen ở Tháp Cửu phẩm liên hoa, Chùa Bút Tháp là một tổ hợp kết cấu gỗ dạng tháp quay chín tầng chồng lên nhau Mỗi tầng có một đài sen rộng chừng 2 m, cao 50 cm Cả tháp cao 7 đến 8 m Phía ngoài tháp các cánh sen bằng gỗ sơn đỏ tạo thành tầng tầng lớp lớp
so le nhau Tầng một đến tầng chín biểu hiện cho những nấc thang của
sự tinh tiến trong đạo Phật
Hoa sen trong các sản phẩm trang trí – thờ tự
Điều dễ dàng nhận thấy ở đây là hoa sen đã quá đỗi gần gũi với nhà chùa Trên mái lợp của chùa cũng có hoa sen, gạch lót nền, những phù điêu trên vách, những chạm trổ trên cửa đều có hoa sen, thậm chí thông gió cũng là hình hoa sen… Điều này muốn nói lên rằng, ngoài tính biểu tượng cho những gì thuộc về triết lý cao siêu của nhân sinh, của Phật giáo; ngoài những gì thuộc về tính “bác học”, hoa sen còn in đậm dấu ấn của mình trong tâm khảm của những nghệ nhân, những người thiết kế,
Trang 8những người tạo mẫu cho các sản phẩm xây dựng, trang trí Ở đó, những đường nét của hoa sen cũng sống động, cũng hài hòa, thanh thoát
- Hoa cúc:
Hoa cúc thời Lý Trần thường thể hiện với dạng dây lượn hình sin Lúc đầu hoa cúc phổ biến ở Trung Quốc với biểu trưng Ðạo giáo, về sau ảnh hưởng vào Phật giáo như một biểu tượng bình dị, thanh cao, kín đáo và lâu bền
Cúc biểu tượng của sự trường thọ Thường dùng để chúc thọ, chúc người già Vì thế có loài cúc mang tên Cúc Vạn thọ
Cúc cũng có chí khí quân tử của nó Ai chơi hoa cúc đều biết Hoa cúc tàn nhưng không rụng, nó chỉ gục rũ trên thân của nó thôi Nó gợi cho ta đến 1 hình ảnh chết đứng, chứ không chết nằm
Hoa cúc có thể dùng làm thuốc và pha trà Trung Quốc có loại trà hoa cúc rất thơm ngon, có thể pha thuần hoa cúc, có thể thả vài bông vào ấm chè mạn, thanh nhiệt giải độc Các cụ già rất khoái uống trà này Uống
trà hoa cúc, bình thơ, đàm đạo, đánh cờ thì rất tuyệt
Hoa cúc với màu vàng rực rỡ, thuộc hành thổ, biểu tượng cho sự giàu sang, phú quý, vương giả Hoa cúc còn là biểu tượng của mùa thu, người xưa gọi tháng chín là “cúc nguyệt” Chữ cúc và chữ lưu (giữ lại) đều có cách phát âm giống nhau là Ju Tháng chín là “cửu” ( Jiu) cũng đồng âm với từ “cửu” với nghĩa vĩnh cửu Do đó, “cúc nguyệt” (cúc tháng chín)
có biểu tượng là lời chúc cho sự trường thọ, an khang, nhiều may mắn Hoa cúc còn biểu tượng cho sự an lạc, viên mãn, niềm vui Đào Tiềm (365 - 427) là thi sỹ nổi tiếng ở Trung Quốc đã cáo quan, về ở ẩn để làm
Trang 9thơ, vui thú với rượu, nhạc và trồng hoa cúc Hoa cúc là đề tài được sử dụng nhiều trong chạm khắc đình làng, dưới nhiều kiểu thức như: cúc hoa, cúc dây, cúc leo Ở ngôi đình sớm nhất, đình Thụy Phiêu (năm
1531), trên cột trốn vì nóc người thợ đã tạc một bông hoa cúc mãn khai khá lớn
- Cây tùng:
Biểu tượng của cây tùng là sự trường thọ, một ước vọng muôn đời của con người Cây tùng (hoặc bách, thông) luôn xanh tốt trong bốn mùa, có khả năng sống bền bỉ trong môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, cho nên tùng còn biểu tượng cho khí phách kiên cường, không sợ hiểm nguy trước những thử thách của thiên nhiên và cuộc đời Do sống trên núi cao, nên cây tùng còn biểu tượng cho lối sống ẩn dật, lánh đời, nhưng kiêu hãnh để giữ cho tâm hồn trong sạch Trong Tứ quý, cây tùng biểu tượng của mùa đông Tùng thường đi với hạc, để tạo nên môtíp tùng - hạc có tính biểu tượng cao về sự trường thọ, ngay thẳng và trong sạch Mô típ Tứ quý này thường được trang trí ở những ngôi đình thời Nguyễn
1.6 Tứ quý
Mỗi mùa có một loài cây, loài hoa đặc trưng Mùa xuân: hoa mai, hoa lan, hoa đào Mùa hạ: hoa sen, hoa hồng, hoa lựu Mùa thu: hoa cúc, hoa phù dung Mùa đông: cây trúc, cây thông (tùng) Mỗi loài hoa, loài cây lại tương ứng với một loài chim Vẽ hoa ấy phải đi với chim ấy mới
là đúng quy tắc, đúng luật Như vẽ hoa mai phải vẽ với chim khổng tước
Trang 10(mai/điểu), hoa hồng với chim công (hồng/công), hoa cúc với gà (kê/cúc), cây thông với chim hạc (tùng/hạc)
Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch
Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ
Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc
Tùng lăng đông tuyết ngọc thiên chi
Tứ quý trong vai trò là biểu tượng của bốn mùa được hình thành ở
những cư dân thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa châu á như Việt Nam và một phần của Trung Hoa lục địa Về sau, khi đã được nâng lên thành một biểu tượng của nghệ thuật, tứ quý thâm nhập vào nhiều nền văn hoá khác nằm cận kề các khu vực văn hoá thuộc vùng khí hậu nói trên Cho tới nay, tứ quý là một trong những biểu tượng nghệ thuật được
sử dụng nhiều trong văn hoá truyền thống ở các quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc á như Nhật Bản, Triều Tiên cùng với Trung Hoa và Việt
Nam Ngoài ra, biểu tượng này còn được các cộng đồng người Hoa và người Việt ở nước ngoài lưu giữ ở những cộng đồng này, tứ quý được xem như một biểu tượng quan trọng của văn hoá truyền thống
Bên cạnh những quan niệm bốn mùa được sản sinh từ yếu tố khí hậu của
tứ quý, một yếu tố hết sức quan trọng đã góp phần tạo nên cụm biểu tượng trang trí này là quan niệm bộ tứ của người phương Đông đã được hình thành từ hàng nghìn năm qua Lối tư duy này được người Hán sử dụng nhiều nhất và lâu đời nhất Đầu tiên phải kể đến là biểu tượng tứ tượng trong hà đồ của người Trung Hoa, với quan niệm lưỡng nghi sinh
Trang 11tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái Thứ đến là tứ thư trong tứ thư, ngũ kinh
- những kinh sách quan trọng của người Trung Hoa và cũng là một trong những biểu hiện quan trọng nhất của nền văn hiến Trung Hoa Thông qua Đạo giáo và Phật giáo, người Trung Hoa hình thành nên Tứ đại
danh sơn - nơi tu luyện của các vị thần phật, bao gồm: Ngũ Đài sơn, Phổ
Đà sơn, Nga Mi sơn và Cửu Hoa sơn Ngoài ra còn có tứ đại mĩ nhân, tứ
Qua đó có thể thấy rằng, người dân sử dụng biểu tượng tứ quý để trang trí trong nhà không có nghĩa là chỉ để làm đẹp hay chỉ để xem
“lịch bốn mùa” mà còn là để cầu mong sự may mắn Đây là một nét rất đặc thù trong văn hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá phương Đông nói
Trang 12chung ở phương Tây, khi cầu nguyện, người ta thường hướng tới một vị thần linh cụ thể với những điều ước cụ thể Còn ở phương Đông, đặc biệt là ở Việt Nam, người dân có xu hướng tự tìm cho mình những yếu
tố may mắn bằng nhiều sự biểu hiện khác nhau như hướng nhà (phong thuỷ), hướng đi, màu sắc, con số Thậm chí, còn có cả những điều may mắn chỉ do một con nhện đưa lại (!) Chẳng hạn như khi đang dự định một công việc gì quan trọng, nếu nhìn thấy một con nhện đang kéo tơ đi lên thì chắc chắn công việc đó sẽ gặp nhiều thuận lợi
Với lối tư duy trừu tượng như vậy, việc lấy biểu tượng tứ quý để tạo
ra sự may mắn không có gì là lạ Tuy nhiên, những biểu hiện của biểu tượng này rất khác nhau Tuỳ theo quan niệm, lối sống của người dân mỗi lúc, mỗi nơi, tứ quý lại được thể hiện bằng những cách thức riêng
để làm phù hợp với các yếu tố lịch sử và văn hoá của người xưa
- Cây tùng
Biểu tượng của cây tùng là sự trường thọ, một ước vọng muôn đời của con người Cây tùng (hoặc bách, thông) luôn xanh tốt trong bốn mùa, có khả năng sống bền bỉ trong môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, cho nên tùng còn biểu tượng cho khí phách kiên cường, không sợ hiểm nguy trước những thử thách của thiên nhiên và cuộc đời Do sống trên núi cao, nên cây tùng còn biểu tượng cho lối sống ẩn dật, lánh đời, nhưng kiêu hãnh để giữ cho tâm hồn trong sạch Trong Tứ quý, cây tùng biểu tượng của mùa đông Tùng thường đi với hạc, để tạo nên môtíp tùng - hạc có tính biểu tượng cao về sự trường thọ, ngay thẳng và trong
Trang 13sạch Mô típ Tứ quý này thường được trang trí ở những ngôi đình thời Nguyễn
- Hoa cúc
Hoa cúc với màu vàng rực rỡ, thuộc hành thổ, biểu tượng cho sự giàu sang, phú quý, vương giả Hoa cúc còn là biểu tượng của mùa thu, người xưa gọi tháng chín là “cúc nguyệt” Chữ cúc và chữ lưu (giữ lại) đều có cách phát âm giống nhau là Ju Tháng chín là “cửu” ( Jiu) cũng đồng âm với từ “cửu” với nghĩa vĩnh cửu Do đó, “cúc nguyệt” (cúc tháng chín)
có biểu tượng là lời chúc cho sự trường thọ, an khang, nhiều may mắn Hoa cúc còn biểu tượng cho sự an lạc, viên mãn, niềm vui Đào Tiềm (365 - 427) là thi sỹ nổi tiếng ở Trung Quốc đã cáo quan, về ở ẩn để làm thơ, vui thú với rượu, nhạc và trồng hoa cúc Hoa cúc là đề tài được sử dụng nhiều trong chạm khắc đình làng, dưới nhiều kiểu thức như: cúc hoa, cúc dây, cúc leo Ở ngôi đình sớm nhất, đình Thụy Phiêu (1531), trên cột trốn vì nóc người thợ đã tạc một bông hoa cúc mãn khai khá lớn
- Cây trúc
Cây trúc là loại cây phổ biến trong trang trí ở nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên Ở Việt Nam cây trúc được ưa thích vì vẻ đẹp và ý nghĩa của nó Trong nghệ thuật tạo hình, cây trúc là biểu tượng của người quân tử Sống ngay thẳng không khuất phục trước cường quyền và danh lợi Đốt trúc rỗng (vô tâm) thể hiện sự trong sáng, ngay thẳng, khiêm tốn, không vụ lợi Có sức sống bền bỉ trước thiên nhiên khắc nghiệt, nên cây trúc còn là biểu tượng của sự trường thọ Trong
Trang 14chạm khắc trang trí đình làng, cây trúc trong bộ Tứ quý biểu tượng cho mùa hạ Cây trúc nhiều khi đứng một mình trong bố cục “trúc hoá rồng” như ở đình Thắng Núi (Bắc Giang) Đây là mô-típ trang trí có tính biểu tượng cao, vừa là cây, vừa là vật, có tính lưỡng nguyên
- Cây mai
Là cây trong Tứ quý, như: mai, liên (sen), cúc, trúc hay mai, lan, cúc, trúc hoặc tùng, cúc, trúc, mai Cây mai với thân rắn rỏi, phong sương, vững bền với thời gian (dương tính) thì hoa mai trắng muốt lại biểu tượng cho sự trắng trong, tinh khiết (âm tính), nhưng yếu đuối Hoa mai mang lại điềm lành, hạnh phúc, mùa xuân, nhưng cũng nhắc nhở con người về sự mong manh của vẻ đẹp, hạnh phúc trước thời gian “như bóng câu qua cửa” Người Trung Quốc đặc biệt yêu thích hoa mai Ngay
từ thời Thương Chu, hoa mai đã được trồng rộng rãi với mục đích lấy quả làm gia vị chua Đến thời Bắc Tống, thông qua kỹ thuật chiết cây đã gây trồng nên giống “Tương Mai”, sắc nhị màu vàng nhạt, một bông có đến 20 cánh, có tên là “thiên diệp hoàng hương mai”, có hương thơm và
vẻ đẹp thầm kín, trở thành một kỳ quan Trong mô típ Tứ quý, cây mai thường đứng bên cạnh đá và thường xuất hiện trong chạm khắc trang trí
ở những ngôi đình muộn thời Nguyễn
2 CÁC LOẠI ĐỘNG VẬT
2.1 Con Nghê
Con Nghê còn gọi là Toan Nghê hay Kim Nghê Là con vật biểu trưng mang yếu tố huyền thoại, dũng mãnh, thiên biến vạn hóa, tượng
Trang 15muôn loài Khi nghê hóa rồng biểu tượng cao cho quyền lực chính trực; khi nghê có mình chó thể hiện lòng trung thành; khi nghê có đuôi vút cao liên tưởng đến ngọc như ý; khi nghê đội giá sớ hay bài vị, thường toát ra vẻ cam chịu; khi nghê ngậm ngọc biểu tượng độc đáo của sự khôn ngoan (suy nghĩ, uốn lưỡi và lựa lời trước khi nói); khi nghê đứng chầu hai bên khán thờ vẻ uy nghiêm; khi nghê đeo lục lạc hay rỡn hí cầu… thể hiện sự tinh nghịch,vui tươi; khi nghê có lông hình xoắn ốc như trên đầu tượng phật mà người ta gọi là Phật ốc, Bụt ốc thể hiện sức mạnh toàn năng, phi phàm
Con nghê trong Phật giáo: Theo Bùi Ngọc Tuấn thì con nghê thuần Việt là biến thể từ con chó Chó đá canh giữ nhà, đình, chùa, miếu, phủ Nghê được chạm trên xà ngang vì kèo trong đình cổ hay trên các mái đình cổ Với mục đích đánh đuổi tà ma Theo ông thì con nghê không phải là con sư tử theo như một số nghiên cứu khác “Một số người lại còn tưởng lầm con Nghê là con sư tử Bởi vì chữ “Nghê” (hay “toan nghê”) trong chữ Hán vốn có nghĩa là con sư tử Tuy nhiên phải để ý rằng có nhiều chữ Hán-Việt mà nếu ta tra tự điển Tầu, thì lại có nghĩa khác hẳn, bởi vì ông cha ta rất nhiều khi mượn chữ Hán nhưng lại đổi nghĩa đi mà dùng (người Pháp khi nghiên cứu về Việt Nam thì lại
thường học chữ Hán của người Tầu, tra cứu sách Tầu viết về Việt Nam - chứ không tìm hiểu thẳng vào văn hóa Việt - nên nhiều khi sai nghĩa, sai
sự việc rất xa”
Hình tượng con nghê không những được sử dụng nhiều trong kiến trúc mà còn dùng để trang trí trên các đồ vật như lưu đốt trầm hương, nậm rượu, trên đình đồng
Trang 162.2 Con Hạc
Con hạc gắn liền với nhiều biểu tượng và truyền thuyết khác nhau Người xưa quan niệm có 4 loài hạc nổi tiếng, được phân biệt qua màu lông: đen, vàng, trắng, xanh Trong đó loài hạc đen là loài sống lâu nhất Tuy nhiên, trong nghệ thuật tạo hình, con hạc thường được thể hiện với
bộ lông trắng muốt, biểu tượng cho sự cao quý, thanh khiết Đầu hạc màu đỏ, hành hoả, nơi tập trung khí dương, tạo nên sự bền bỉ và sức sống dẻo dai Hình tượng con hạc với với đôi cánh dang rộng bay trên trời xanh, thể hiện cảm hứng thi ca và những ước vọng cao quý Con hạc với đôi cánh dang rộng và một chân hơi co lên, lại liên hệ với nghi lễ với người đã khuất Con hạc thường xuất hiện trong điêu khắc trang trí đình làng với mô típ hạc - rùa (tượng tròn, đặt hai ban thờ Thành Hoàng
làng), biểu tượng của sự trường tồn, vĩnh cửu, có ý nghĩa về thời gian và trục vũ trụ Trong những chạm khắc, hạc thường xuất hiện với môtíp hạc tùng, hoặc hạc - thạch - tùng, cũng có ý nghĩa và biểu tượng của sự
trường thọ, bền vững, cao sang và an lạc Đại học Van hóa Hà Nội)
Trong đó hình tượng hạc đứng trên lưng rùa hay còn gọi là tượng
“rùa đội hạc” rất phổ biến trong việc bài trí nội thất thờ cúng trong đền, miếu, chùa ở Việt nam Hình ảnh hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của
sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao Theo truyền thuyết rùa và hạc
là đôi bạn rất thân nhau Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo Ngược
Trang 17lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt
Chim hạc còn gọi là đại điểu là con chim của vũ trụ, của tầng cao, báo hiệu sự chuyển mùa, đại diện cho thế lực siêu nhiên từ trời cao
mang tới
Trong hình tượng trang trí, hạc có kích thước lớn, cao với ước mong phát triển của con người; mỏ dài, nhọn như mũi tên của sự vận động; đôi khi nó ngậm ngọc minh châu biểu trưng cho sang quý, hoặc khi ngậm hoa sen thì biểu trưng cho giác ngộ
Trên đầu hạc thường đội đèn nến thể hiện sự tôn thờ ánh sáng chân lý, ánh sáng giác ngộ, xua đi bóng đen đêm tối
Thân hạc hình khum, tượng trưng cho bầu trời, chân cao như chột chống trời
2.3 Kỳ Lân
Kỳ lân là một vật linh thiêng trong bộ Tứ linh Lân là con vật báo hiệu điều tốt lành, là biểu tượng cho sự trường thọ, sang quý, niềm hạnh phúc lớn lao Kỳ lân khi xuất hiện là báo hiệu sự ra đời của minh chúa, hay bậc hiền nhân quân tử Sử sách Trung Hoa đã chép rằng kỳ lân xuất hiện dưới thời vua Nghiêu, Thuấn, khi Khổng Tử ra đời Kỳ lân xuất hiện ở sông Hoàng Hà dưới thời vua Phục Hy và mang trên mình cuốn thư Hà Đồ Con đực được gọi là kỳ, con cái là lân Giữa con lân, con nghê hay con xô không có sự phân biệt rõ ràng Trong điêu khắc trang trí đình làng, con lân không ở những vị trí trung tâm, trang trọng như