1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới

143 528 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tác dụng của polyphenol chè xanh Việt nam đến chuyển hóa lipid và trạng thái chống ô xy hóa trong máu chuột cống trắng gây đái đường thực nghiệm
Tác giả Nguyễn Thị Hà
Người hướng dẫn P. S. Nguyễn Thị Hà
Trường học Học viện Y Hà Nội
Chuyên ngành Nghiên cứu khoa học y học
Thể loại báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đại học y hà nội báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Nghiên cứu tác dụng của polyphenol chè xanh Việt nam đến chuyển hóa lipid và trạng thái chống ô xy hóa trong máu chuột

Trang 1

đại học y hà nội

báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ

Nghiên cứu tác dụng của polyphenol chè xanh Việt nam đến chuyển hóa lipid và trạng thái chống ô xy hóa trong máu chuột cống trắng gây đái đường

Trang 2

Phần a Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài 1-kết quả nổi bật của đề tài

a- Đóng góp mới của đề tài

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một vấn đề nan giải, là gánh nặng đối với

sự phát triển kinh tế, xã hội ở nhiều quốc gia vì tốc độ gia tăng nhanh chóng của bệnh, vì các biến chứng và hậu quả nặng nề của bệnh, vì chi phí điều trị bệnh rất tốn kém do người bệnh phải dùng thuốc suốt đời

Đề tài nghiên cứu đã chứng minh tác dụng của polyphenol chè xanh

(Camellia sinensis) cải thiện những rối loạn của các chỉ số lipid huyết tương,

ngăn ngừa các stress oxy hoá trong máu ở chuột cống trắng gây ĐTĐ thực nghiệm bằng Streptozotocin (STZ) và liều tác dụng rõ là liều uống polyphenol chè xanh 200 mg/kg cân nặng/ngày

Tác dụng của polyphenol chè xanh được so sánh với tác dụng của vitamin E – một chất chống oxy hoá có cấu tạo cũng là polyphenol – với liều uống tương đương

ăn giàu chất béo Sau 30 ngày, chuột được tiêm màng bụng STZ liều thấp 50 mg/kg cân nặng với một liều duy nhất Chuột bị ĐTĐ sau tiêm STZ từ 48

đến 72 giờ

- Polyphenol chè xanh cải thiện rõ rệt những rối loạn của các chỉ số lipid máu ở chuột ĐTĐ thực nghiệm bằng STZ sau 90 ngày thực nghiệm (tức

Trang 3

là sau 60 ngày chuột được uống bổ sung polyphenol chè xanh liều 200

mg/kg cân nặng/ngày): nồng độ TG, TC và LDL-C huyết tương là 2,69 ±

0,79 mmol/L; 1,46 ± 0,29 mmol/L và 0,65 ± 0,08 mmol/L giảm có ý nghĩa

(p < 0,001) so với những nồng độ tương ứng TG, TC và LDL-C huyết tương của lô chuột ĐTĐ không được uống bổ sung polyphenol chè xanh (7,48 ± 2,79 mmol/L; 3,22 ± 0,52 mmol/L; 1,54 ± 0,55 mmol/L)), xấp xỉ bằng nồng

độ tương ứng TG, TC và LDL-C huyết tương của lô chuột chứng (3,22 ±

0,52 mmol/L; 1,32 ± 0,23 mmol/L; 0,61 ± 0,19 mmol/L ); nồng độ HDL-C

huyết tương của các lô chuột thực nghiệm không có những biến động đáng

kể nhưng tỷ số HDL-C/LDL-C huyết tương của lô chuột ĐTĐ uống bổ

sung polyphenol chè xanh là 1,22 , tăng cao so với tỷ số này trong huyết

tương ở lô chuột ĐTĐ không được uống bổ sung polyphenol chè xanh (0,57)

và gần bằng tỷ số HDL-C/LDL-C huyết tương của lô chuột chứng (1,36)

- Polyphenol chè xanh không có ảnh hưởng trên hoạt độ SOD hồng cầu và TAS huyết tương của các lô chuột thực nghiệm nhưng tác dụng rõ rệt đến hoạt độ GPx hồng cầu và nồng độ MDA huyết tương của lô chuột ĐTĐ thực

nghiệm bằng STZ: hoạt độ GPx hồng cầu và nồng độ MDA huyết tương

của lô chuột này là 1799 ± 185 U/gHb và 8,42 ± 2,24 nmol/L, giảm có ý

nghĩa (p<0,001) so với những nồng độ tương ứng trong máu của lô chuột

ĐTĐ không được uống bổ sung polyphenol chè xanh (2320 ± 267 U/gHb và 15,74±2,70 nmol/L)

c- Hiệu quả về đào tạo

- Đào tạo 01 nghiên cứu sinh

Tên đề tài luận án: “Nghiên cứu tác dụng của polyphenol chè xanh

( Camellia sinensis) trên các chỉ số lipid và trạng thái chống oxy hoá trong máu chuột cống trắng gây đái tháo đường thực nghiệm”

Trang 4

Nghiên cứu sinh: ThS Trần Thị Chi Mai

Luận án đã hoàn thiện Sau khi nghiệm thu đề tài NCKH này, NCS sẽ bảo vệ luận án cấp cơ sở

- 02 bài báo đã công bố trên tạp chí “Nghiên cứu Y học” của trường Đại học

Y Hà Nội vol 32, N06, tháng 12/2004 và vol 38 , N05, tháng 9/2005

- 01 Báo cáo khoa học tại Hội nghị KH của NCS trường ĐHYHN tháng 11/2004, đạt giải Nhì; 01 Báo cáo khoa học tại Hội nghị khoa học của Hội Hoá sinh Y Dược học miền Trung tháng 8/2005; 01 Báo cáo khoa học tại Hội nghị KH của NCS trường ĐHYHN tháng 11/2005

d- Hiệu quả về kinh tế, x∙ hội,…: chưa có

2- áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống x∙ hội

Đồng thời đang thực hiện một đề tài nghiên cứu cơ bản (thuộc quản lý của Bộ KHCN) về tác dụng của polyphenol chè xanh trên tế bào một số dòng ung thư nuôi cấy và đã thu được những kết quả khả quan Hy vọng rằng sau những kết quả thu được, nhóm nghiên cứu sẽ cùng hợp tác với một đơn vị bạn nghiên cứu sản xuất polyphenol chè xanh và các sản phẩm tách chiết của

nó (các catechin) để ứng dụng trên động vật thực nghiệm và lâm sàng, có thể tiến xa hơn nữa trong tương lai gần nhằm phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

3- đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu

đ∙ được phê duyệt

a- Tiến độ: thực hiện đúng tiến độ nhưng do bản thân người chủ trì đề

tài bị bệnh phải điều trị lâu ngày nên viết Bản nghiệm thu chậm

b- Thực hiện mục tiêu nghiên cứu: thực hiện đầy đủ các mục tiêu của

Bản đề cương đã được Bộ phê duyệt

Trang 5

c- Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương: đạt yêu cầu

so với dự kiến của bản đề cương với mức độ tốt và tin cậy (kết quả cụ thể, kết quả về đào tạo, bài báo được công bố)

d- Đánh giá việc sử dụng kinh phí:

Tổng kinh phí của đề tài : 82.000.000đ

Kinh phí tồn đọng : 10.000.000đ

Lý do tồn đọng: chi phí cho việc bảo vệ đề tài nghiên cứu ở cấp cơ sở và cấp quốc gia, quản lý phí của Trường

Trang 6

Phần b Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp bộ

đặt vấn đề

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hóa mạn tính với

sự tăng glucose máu do thiếu tương đối hoặc tuyệt đối insulin [50] ĐTĐ là một bệnh khá phổ biến trên thế giới; theo thống kê năm 1997, tỷ lệ ĐTĐ ở

Mỹ là 6,6%, ở Pháp là 6,6%, ở ấn Độ là 6,1%, ở Singapore là 8,6% Tỷ lệ mắc ĐTĐ đang ngày càng gia tăng không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh ĐTĐ tăng trong những năm gần đây: ở Hà Nội khoảng 2,6% (quận Đống Đa 5,6%), ở thành phố Hồ Chí Minh có nơi tỷ lệ ĐTĐ gần 8% Bởi vậy ĐTĐ đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu về bệnh căn, bệnh sinh, các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng nhằm mục đích phòng bệnh, điều trị bệnh và các biến chứng của bệnh một cách có hiệu quả nhất

Rối loạn chuyển hóa các chất trong ĐTĐ trước tiên là rối loạn chuyển hóa glucid, từ đó kéo theo rối loạn chuyển hóa các chất khác - đặc biệt là rối loạn chuyển hóa lipid, gây tổn thương hàng loạt các cơ quan và tổ chức trong cơ thể ĐTĐ týp 1 và týp 2 đều có rối loạn chuyển hóa lipid với các bất thường lipid huyết tương Bất thường này là một trong những yếu tố nguy cơ gây vữa xơ động mạch (VXĐM) ở bệnh nhân ĐTĐ và theo thống kê cho thấy nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất ở bệnh nhân ĐTĐ là bệnh tim mạch do VXĐM [24]

Trang 7

Trong hoạt động sống của tế bào, các quá trình chuyển hóa đã sản sinh các gốc tự do và các dạng oxy có hoạt tính hóa học cao khác Tuy nhiên, ở trạng thái bình thường, gốc tự do tồn tại với hàm lượng rất thấp trong tế bào nhờ hệ thống chống oxy hóa của cơ thể nhằm bảo vệ các mô tránh được những phản ứng gốc gây tổn thương cho tế bào và mô Sự rối loạn chuyển hóa của một chất bất kỳ có thể dẫn tới sự gia tăng hàm lượng các gốc tự do - nguyên nhân của nhiều quá trình biến đổi bệnh lý khác nhau, trong đó có sự gia tăng của quá trình peroxi hóa lipid [9] Các nhà khoa học đã chứng minh

sự có mặt của quá trình peroxi hóa lipid ở các tổn thương VXĐM và vai trò quan trọng của nó trong sự phát triển mảng VXĐM [24] Vai trò của gốc tự

do trong bệnh căn và bệnh sinh của ĐTĐ là chưa chắc chắn, nhưng nhiều nghiên cứu đã cho thấy bệnh lý ĐTĐ có sự gia tăng các stress oxy hóa và thường có liên quan đến mức tăng của glucose trong máu Nồng độ các lipid peroxid trong huyết tương ở bệnh nhân ĐTĐ cao hơn mức bình thường

Điều trị ĐTĐ nhằm kiểm soát nồng độ glucose máu; giảm và loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây biến chứng, bao gồm rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp, tăng hoạt động gốc tự do và điều trị các biến chứng Các thuốc

điều trị hội chứng tăng lipid máu nói chung và rối loạn lipid ở bệnh nhân

ĐTĐ nói riêng hiện đang được sử dụng có hiệu quả tốt, song cũng gây nhiều tác dụng phụ như rối loạn tiêu hóa, đau cơ, tăng nhẹ và tăng tạm thời các enzym gan ; do vậy những người có bệnh gan, thận, loét dạ dày-tá tràng không được dùng các thuốc này [101] Trên thế giới, các nhà nghiên cứu

đang tìm kiếm các thuốc có nguồn gốc thảo mộc nhằm hạn chế những tác dụng phụ nói trên ở Việt Nam, các thuốc được sản xuất từ tỏi, ngưu tất, nghệ, đậu xanh đã được một số thầy thuốc sử dụng để phòng tránh, ngăn ngừa sự phát triển của mảng VXĐM [20] Một số dược liệu phương Đông tỏ

ra hữu hiệu trong việc nâng cao sức khỏe, nâng cao tuổi thọ con người như nhân sâm, tam thất, linh chi và nhiều thảo mộc khác có chứa các chất chống

Trang 8

oxy hóa là vitamin C, α-tocopherol, β- caroten, selen có tác dụng mạnh chống gốc tự do, chống lão hóa đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi

Từ lâu chè xanh được biết đến như một loại thảo dược có tác dụng tốt cho sức khỏe con người, đặc biệt là tác dụng ngăn chặn bệnh ung thư, bệnh tim mạch, chống quá trình lão hóa [127] Chè xanh được sử dụng như nước giải khát phổ biến, được ưa chuộng không những ở các nước châu á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam mà còn được ưa chuộng ở nhiều nước khác trên thế giới Chính vì vậy, chè xanh đã và đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Người ta đã tách chiết và xác định được các thành phần hóa học của polyphenol chè xanh, nghiên cứu một số tác dụng dược lý của chúng [114] Mối liên quan giữa sự tiêu thụ chè xanh với hàm lượng lipid huyết thanh, sự bền vững của các phân tử lipoprotein với các tác nhân oxy hóa, sự hình thành các mảng VXĐM đã được khảo sát bởi các nhà nghiên cứu ở nhiều nước, nhất là ở Nhật Bản [132, 157, 160, 163]

ở Việt Nam, tiếp theo đề tài nghiên cứu về tác dụng của dịch chiết chè xanh trên một số chỉ số lipid và hàm lượng malonyl dialdehid trong huyết

tương thỏ thực nghiệm, đề tài “Nghiên cứu tác dụng của polyphenol chè

xanh (Camellia sinensis) trên các chỉ số lipid và trạng thái chống oxy hóa trong máu chuột cống trắng gây đái tháo đường thực nghiệm ” được

tiến hành nhằm mục tiêu:

1 Đánh giá tác dụng của polyphenol chè xanh trên các chỉ số lipid huyết tương ở chuột gây ĐTĐ thực nghiệm

2 Đánh giá tác dụng của polyphenol chè xanh trên hoạt độ của một

số enzym chống oxy hóa và trạng thái chống oxy hóa toàn phần trong máu ở chuột gây ĐTĐ thực nghiệm

3 Đánh giá tác dụng của polyphenol chè xanh trên những biến đổi mô bệnh học của một số mô ở chuột gây ĐTĐ thực nghiệm

Trang 9

Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm:

1 Chiết xuất polyphenol chè xanh

2 Khảo sát tác dụng của polyphenol chè xanh đến sự thay đổi hàm lượng glucose máu ở chuột gây ĐTĐ thực nghiệm

3 Khảo sát tác dụng của polyphenol chè xanh trên sự thay đổi các chỉ

số lipid huyết tương ở chuột gây ĐTĐ thực nghiệm, bao gồm: triglycerid (TG), cholesterol toàn phần (TC), cholesterol của lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C) và cholesterol của lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C)

4 Khảo sát tác dụng của polyphenol chè xanh đến hoạt độ của một số enzym chống oxy hóa như superoxid dismutase (SOD), glutathion peroxidase (GPx) và trạng thái chống oxy hóa toàn phần (TAS), hàm lượng malondialdehyd (MDA) trong máu chuột gây ĐTĐ thực nghiệm

5 Khảo sát tác dụng của polyphenol chè xanh đến sự biến đổi mô bệnh học của một số mô ở chuột gây ĐTĐ thực nghiệm: thành động mạch chủ, võng mạc, thận

Trang 10

Chương I tổng quan tài liệU 1.1- Lipid và lipoprotein máu

1.1.1- Lipid máu

Các lipid chính có mặt trong máu là acid béo tự do, triglycerid (TG), cholesterol toàn phần (TC) trong đó có cholesterol tự do (FC) và cholesterol este (CE) , các phospholipid (PL) Vì không tan trong nước, lipid được vận chuyển trong máu dưới dạng kết hợp với các protein đặc hiệu Albumin là chất vận chuyển chính của các acid béo tự do, các lipid khác được lưu hành trong máu dưới dạng các phức hợp lipoprotein [10, 101, 154]

TG có trong thành phần chất béo của thức ăn, có thể được tổng hợp trong gan và mô mỡ để dự trữ năng lượng cho cơ thể

PL và cholesterol là thành phần cấu trúc của màng tế bào Cholesterol cũng là tiền chất của các hormon steroid và các acid mật Cholesterol có trong thức ăn (nguồn ngoại sinh) và có thể được tổng hợp ở nhiều mô của cơ thể, đặc biệt là gan với một cơ chế được điều hòa chặt chẽ (nguồn nội sinh) Không giống TG và PL, nhân sterol của cholesterol không thể thoái hóa xa hơn nữa, vì vậy cần thiết phải có quá trình vận chuyển cholesterol từ các mô ngoại vi trở về gan và tại gan, cholesterol được bài tiết hoặc nguyên dạng trong mật hoặc sau khi được chuyển hóa thành acid mật [101, 141, 154]

1.1.2- Thành phần, cấu trúc và phân loại các lipoprotein

Lipoprotein (LP) là những phần tử hình cầu, bao gồm phần nhân chứa

đựng những phân tử không phân cực là TG và cholesterol este, xung quanh bao bọc bởi lớp các phân tử phân cực: phospholipid, cholesterol tự do và các protein - được gọi là apolipoprotein, viết tắt là apo (Hình 1.1)

Các LP huyết tương được xếp loại dựa trên phương pháp điện di hoặc

tỷ trọng của chúng bằng phương pháp siêu ly tâm phân đoạn Có bốn loại LP

Trang 11

chính theo tỷ trọng tăng dần là chylomicron (CM), LP có tỷ trọng rất thấp (very low density lipoprotein- VLDL), LP có tỷ trọng thấp (low density lipoprotein- LDL) và LP có tỷ trọng

cao ( high density lipoprotein- HDL) Lp có tỷ trọng trung

LP có tỷ trọng trung gian (intermediate

density lipoprotein -IDL) là sản phẩm

chuyển hóa của VLDL trong máu và

là tiền chất của LDL, bình thường có

hàm lượng rất thấp trong huyết tương

Sự phân loại này được minh họa ở Hình 1.1- Sơ đồ cấu tạo

Bảng 1.1 của tiểu phân lipoprotein [157]

Lipoprotein (a) hay LP (a) là loại LP không điển hình với chức năng chưa biết Nó to và nặng hơn LDL nhưng có thành phần tương tự, ngoại trừ

có thêm apo (a) Nồng độ LP (a) trong huyết tương thay đổi nhiều giữa các cá thể, trong khoảng từ 0 -100mg/dL, và được xác định do yếu tố di truyền Nồng độ LP (a) tăng cao là một yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh mạch vành sớm [154]

Các apoprotein (apo) có vai trò quan trọng trong cấu trúc và chuyển hóa của lipoprotein Trong quá trình chuyển hóa lipid, các apo có một số các chức năng: (1) chức năng nhận biết các receptor đặc hiệu trên màng tế bào ; (2) chức năng điều hòa: hoạt hóa hoặc ức chế một số enzym, là chất cộng tác của các enzym; (3) chức năng giúp các LP được vận chuyển trong máu và bạch huyết Khi tính hòa tan của các LP bị rối loạn hoặc sự vận chuyển chúng trong máu bị chậm trễ sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng các phân tử có chứa nhiều lipid, đó là một trong những yếu tố gây VXĐM [99, 100, 101]

Các apo chính gồm:

- ApoA là thành phần cấu tạo của HDL, chủ yếu trong HDL mới sinh (được

tổng hợp ở gan)

Trang 12

ApoA-I là apo chính của HDL, có vai trò hoạt hóa lecithin cholesterol

acyltransferase (LCAT) Nồng độ apoA-I thấp là bệnh lý, phản ánh nguy cơ

của VXĐM ApoA-II tham gia cấu trúc HDL 2, chức năng chưa rõ

-ApoB: Apo B-100 là protein cấu trúc chính của VLDL và LDL, đóng vai trò

chất nhận diện receptor màng tế bào đối với LDL, gắn với receptor LDL ở

màng tế bào và đưa LDL vào trong tế bào để cung cấp cholesterol cho tế bào

Bảng 1.1- Phân loại và đặc điểm của các lipoprotein huyết tương

Lipoprotein Tỷ trọng

(g/mL)

Đường kính trung bình

Tiền chất của LDL

chuyển hoá

VLDL qua IDL

Vận chuyển cholesterol từ gan

đến mô ngoại vi

Sản phẩm chuyển hoá

CM và VLDL

Vận chuyển cholesterol trở về gan

(William J Marshall, Clinical chemistry, Fourth Edition, Mosby 2000)

Bảng 1.2- Thành phần của các Lipoprotein trong máu

Trang 13

Apo B-100 tham gia vào cơ chế bệnh sinh của VXĐM và là nguyên nhân của nhiều trạng thái bệnh lý có tăng lipid máu

Apo B-100, cholesterol cùng với VLDL và LDL là những yếu tố nguy cơ gây VXĐM Tăng apo B phản ánh sự thoái hóa cholesterol kém và sự ứ

đọng cholesterol trong mô Phần lớn các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ apo A-I/apo B-100 là chỉ số thể hiện nguy cơ bệnh động mạch vành tốt hơn

so với tỷ lệ HDL-C/LDL-C, sự thay đổi chỉ số này rất có ý nghĩa trong lâm sàng mặc dù hàm lượng cholesterol máu không vượt quá trị số bình thường

Apo B-48 là protein cấu trúc chính trong CM, thiếu vị trí gắn với receptor của LDL

-Apo C có trong thành phần của VLDL, IDL, HDL Apo C-I có nhiệm vụ

hoạt hóa LCAT, apo C-II hoạt hóa lipoprotein lipase (LPL) để thủy phân TG của CM và VLDL, còn apo C-III ức chế LPL

- Apo E là thành phần cấu trúc của CM, VLDL, IDL, HDL1 Apo E gắn với

receptor LDL và có thể gắn với các receptor đặc hiệu khác của gan, đóng vai trò quan trọng trong vận chuyển lipid ở não

1.1.3- Chuyển hóa lipoprotein

• CM được tạo thành từ lipid thức ăn (chủ yếu là TG) trong tế bào

niêm mạc ruột non, đi vào hệ bạch mạch, rồi đổ vào hệ tuần hoàn qua ống ngực tại hợp lưu giữa tĩnh mạch cảnh và tĩnh mạch dưới đòn CM theo máu tới mô mỡ và cơ, tại đó TG được thuỷ phân nhờ enzym LPL khu trú trên bề mặt tế bào nội mạc mao mạch Các acid béo tự do được sử dụng làm nguồn cung cấp năng lượng hoặc được este hóa thành TG dự trữ CM mất TG và trả lại apo C cho HDL, trở thành CM tàn dư giàu cholesterol CM tàn dư được bắt giữ ở tế bào gan nhờ các receptor đặc hiệu với apo B48 và apo E Trong trường hợp bình thường, CM không có trong huyết tương khi đói (>12 giờ sau ăn) [100, 101, 141, 154]

Trang 14

• VLDL giàu TG, được tạo thành ở gan (90%) và một phần ở ruột non

(10%), vào máu đến các mô ngoại vi Tại các mô, TG bị thuỷ phân dưới tác dụng của LPL, đồng thời apo C được chuyển sang cho HDL, chỉ còn lại apo B-100 và apo E Enzym LCAT từ gan vào huyết tương có tác dụng este hóa cholesterol của VLDL thành cholesterol este Như vậy sau khi giải phóng

TG, nhận thêm CE và mất đi apo C, VLDL chuyển thành IDL - tiền chất của LDL LACT tạo ra 75- 90% CE trong huyết tương, phần CE còn lại do gan hoặc ruột sản xuất nhờ enzym acylCoA cholesterol acyltransferase ( ACAT)

Do vậy, sự thiếu hụt LCAT gây các rối loạn chuyển hóa LP [12, 22, 141, 154]

IDL trở lại gan, gắn vào các receptor đặc hiệu (apo B, E) ở màng tế

bào và chịu tác dụng của lipase gan Các IDL chuyển thành LDL (cùng với

sự biến mất của apo E) Bình thường có rất ít IDL lưu hành trong máu

• LDL là chất vận chuyển chính cholesterol trong máu, chủ yếu dưới

dạng CE LDL gắn với các receptor LDL nhận biết apo B-100 trên màng tế bào gan (70%) và các màng tế bào khác của cơ thể (30%) Các LDL được chuyển vào trong tế bào và chịu sự thoái hóa trong lysosom, giải phóng cholesterol tự do Cholesterol tự do có ba tác dụng cơ bản là:

+ ức chế hoạt động của HMG CoA reductase (βhydroxy - βmethyl- glutaryl coenzym A reductase), làm giảm tổng hợp cholesterol trong tế bào

+ Hoạt hóa enzym ACAT, chuyển cholesterol tự do thành cholesterol este

+ Làm giảm số lượng receptor LDL ở màng tế bào qua con đường feed- back âm tính

Đại thực bào tạo ra từ các monocyte trong máu có thể bắt giữ LDL qua receptor thu dọn Quá trình này xảy ra ở các nồng độ LDL bình thường nhưng được tăng cường khi nồng độ LDL tăng cao và bị biến đổi (LDL bị oxy hóa hoặc glycosyl hóa) Sự bắt giữ LDL bởi đại thực bào ở thành động mạch là yếu tố quan trọng trong bệnh sinh của VXĐM Khi đại thực bào quá

Trang 15

tải cholesterol este, chúng chuyển thành các tế bào bọt (foam cell) – một thành phần của mảng vữa xơ [24, 101, 154]

• HDL đ−ợc tổng hợp tại gan (HDL mới sinh) hoặc từ sự thoái hóa

của VLDL và CM trong máu Trong tuần hoàn máu, HDL mới sinh nhận thêm apo A và apo C từ các LP khác và cholesterol tự do từ màng bề mặt tế bào của các mô Cholesterol tự do đ−ợc este hóa bởi LCAT có trong HDL mới sinh, làm tăng tỷ trọng của HDL và chuyển HDL3 thành HDL2 CE

đ−ợc chuyển từ HDL2 sang các CM tàn d− và IDL CE trong các LP tàn d− này đ−ợc bắt giữ bởi gan và đ−ợc bài tiết trong mật nguyên dạng hoặc sau khi chuyển hóa thành acid mật

Tóm lại, HDL có hai vai trò quan trọng là :

+ Thanh lọc các LP giàu TG (CM và VLDL) bằng cách cung cấp cho chúng apo C-II cần thiết cho sự hoạt hóa LPL

+ Vận chuyển trung gian cholesterol tự do từ các mô ngoại vi trở về gan giúp cho thoái hóa và bài tiết cholesterol qua mật

Vì vậy HDL là yếu tố bảo vệ chống VXĐM [24, 100, 101, 141, 154]

1.1.4- Rối loạn chuyển hóa lipoprotein và vữa xơ động mạch

1.1.4.1 Phân loại rối loạn chuyển hóa lipid

♦Phân loại của Fredrickson [154]

Bảng 1.3 Phân loại rối loạn lipid máu theo Fredrickson có bổ xung

Typ I IIa IIb III IV V

Trang 16

Năm 1965, Fredrickson căn cứ vào kỹ thuật điện di và siêu ly tâm đối với các thành phần lipid huyết thanh đã phân loại hội chứng tăng lipid máu làm 5 týp dựa trên những thay đổi của thành phần LP Cách phân loại này nhanh chóng được chấp nhận nhưng sau đó, người ta đề nghị tách týp II thành týp IIa có tăng LDL đơn thuần và týp IIb có tăng LDL, VLDL Bảng phân loại này trở thành phân loại quốc tế của WHO từ năm 1970

♦Phân loại của De Gennes [101]

Bảng phân loại của De Gennes căn cứ vào sự biến đổi của TC và TG trong huyết thanh; có 3 týp rối loạn lipid máu:

- Tăng cholesterol huyết thanh đơn thuần: Tỷ lệ TC/ TG > 2,5 Cholesterol

tăng thường do tăng LDL, nhưng HDL tăng cũng có thể làm tăng nhẹ cholesterol huyết thanh

- Tăng triglycerid huyết thanh đơn thuần: TG tăng rất cao Tỷ lệ TG/TC >

2,5 Khi TG > 11,5 mmol/L thì CM luôn có mặt trong máu Các rối loạn lipid máu tiên phát như tăng VLDL giàu TG hoặc tăng CM làm cholesterol toàn phần có thể hơi tăng do cả hai dạng LP này đều chứa cholesterol tự do ở phần vỏ và cholesterol este ở phần lõi

- Tăng cholesterol và tăng triglycerid huyết thanh (tăng lipid máu hỗn hợp):

TC tăng vừa phải, TG tăng nhiều hơn Tỷ lệ TC/ TG < 2,5 Nguyên nhân có thể do tăng VLDL chứa nhiều TG và LDL chứa nhiều cholesterol, hoặc tăng VLDL tàn dư và CM tàn dư

Trang 17

máu

1.1.4.2 Chế độ ăn và sự rối loạn chuyển hóa lipoprotein

Người ta thấy có mối tương quan thuận giữa mức tiêu thụ chất béo bão hòa với nồng độ cholesterol máu: những dân tộc ăn nhiều mỡ có hàm lượng cholesterol máu cao hơn những dân tộc có thói quen ăn ít mỡ, đồng thời những bệnh lý có liên quan tới tăng lipid máu như VXĐM, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim có tần xuất mắc tăng rõ rệt ở quần thể dân tộc ăn nhiều

mỡ Điều chỉnh chế độ ăn là một trong các biện pháp quan trọng của điều trị tăng lipid máu [ 28, 100, 101]

Mô hình thực nghiệm của Anichkov được coi là mô hình kinh điển và

được nhiều nước trên thế giới áp dụng: khi cho thỏ ăn cholesterol liều cao 0,3 -0,5 g/kg/ngày, cholesterol máu của thỏ sẽ tăng ngay từ tuần đầu thực nghiệm; cùng với sự tăng lipid máu, sự lắng đọng cholesterol trong tổ chức nhất là gan và thành động mạch cũng được phát hiện; sau tháng thứ tư của thực nghiệm trên, người ta thấy có nhiều mỡ lắng đọng ở thành mạch và xuất hiện những mảng vữa xơ [100, 101] Để gây VXĐM vành, Vokva phải cho thỏ ăn cholesterol với liều cao hơn và trong thời gian kéo dài hơn [101]

Gần đây người ta đã tiến hành thực nghiệm trên khỉ Rhesus Bằng cách cho khỉ ăn cholesterol với liều 1,5 g/kg/ ngày và trộn với mỡ; sớm nhất sau sáu tháng, Taylor và B.Cox gây được tổn thương VXĐM điển hình với

Trang 18

nồng độ cholesterol 6,6- 10,2 mmol/L trong máu và các tác giả cho thấy với nồng độ cholesterol máu 14,3 - 14,8 mmol/L đã gây được nhồi máu cơ tim, hoại tử chi [99, 100]

1.1.4.3 Rối loạn chuyển hóa lipoprotein và VXĐM

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây nên VXĐM như rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp, béo phì, đái tháo đường trong đó rối loạn chuyển hóa lipid đóng vai trò chủ yếu [12, 15, 28]

Lipoprotein đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh của VXĐM Các

LP chứa apo B chuyển cholesterol cho thành động mạch và là tác nhân gây VXĐM Nồng độ HDL giảm dẫn đến sự giảm của quá trình vận chuyển cholesterol ra khỏi thành động mạch Các LP chứa apo B như VLDL và các phân tử tàn dư của chúng, LP(a) và LDL được gắn và bị giữ lại tổ chức thành mạch bởi proteoglycan- chất này được bài tiết bởi tế bào mạch máu [24] Các phân tử LP bị giữ lại này có thể bị oxy hóa bởi tế bào nội mạc, tế bào cơ trơn

và đại thực bào bởi một số cơ chế [24, 28, 101]

Các LDL bị oxy hóa kích thích sự kết dính bạch cầu đơn nhân với tế bào nội mạc và hóa ứng động chúng đi vào lớp dưới nội mạc LDL bị oxy hóa còn kích thích sự hoạt hóa và biệt hóa bạch cầu đơn nhân; do đó làm thuận lợi cho sự kết tập, hoạt hóa và trưởng thành của đại thực bào Các LDL

bị oxy hóa còn làm tăng tổng hợp proteoglycan mạch máu và thay đổi thành phần các chuỗi glycosaminoglycan của chúng, do đó cho phép những phân

tử này gắn LDL dễ dàng hơn Các đại thực bào bắt giữ LDL qua các receptor

đặc hiệu trở thành tế bào bọt Các tế bào cơ trơn di chuyển từ lớp giữa vào lớp trong, tại đó chúng tăng sinh dưới tác dụng của các cytokin và các yếu tố tăng trưởng và theo đó tạo ra mảng vữa xơ LP còn điều hòa sự tổng hợp các yếu tố tăng trưởng và các cytokin, tạo điều kiện để các tế bào cơ trơn di chuyển vào lớp trong LDL bị oxy hóa còn ảnh hưởng tới quá trình tổng hợp metalloproteinase, yếu tố tổ chức, yếu tố ức chế sự hoạt hóa plasminogen 1

Trang 19

(plasminogen activator inhibitor-1, PAI-1); dẫn đến sự hình thành vỡ mảng vữa xơ và tắc mạch [24, 101]

Để đánh giá mức độ tổn thương VXĐM, năm 1972 WHO đưa ra bảng phân độ như sau [1]:

- Độ 0: Các tổn thương xơ mỡ giai đoạn đầu, sự lắng đọng các hạt mỡ

ở lớp áo trong chưa nổi rõ trên bề mặt lớp nội mạc động mạch

- Độ I: Những tổn thương xơ mỡ bắt đầu hình thành nên những chấm hoặc những vạch mảnh có màu vàng đục, hiện rõ trên bề mặt lớp nội mạc

động mạch và có thể kết hợp thành từng mảng nhỏ

- Độ II: Tổn thương hình thành những mảng lớn, nổi cao trên bề mặt lớp nội mạc động mạch và bao gồm chủ yếu những mô xơ do quá sản, ở vùng tổn thương có màu trắng đục hay màu trắng vàng

- Độ III: Gồm những tổn thương phức tạp như loét, chảy máu, hoại tử hoặc huyết khối; có thể kèm theo calci hóa ở vùng trung tâm hoại tử

- Độ IV: Thành động mạch bị calci hóa, đôi khi xương hóa làm cho vách động mạch rất cứng

1.1.4.4 Thuốc điều trị rối loạn lipid máu

Trên cơ sở những hiểu biết về chuyển hóa lipid, người ta đã tìm ra nhiều loại thuốc để điều trị các rối loạn lipid máu Dựa vào tác dụng hạ lipid máu, thuốc được chia làm 2 nhóm chính:

♦ Nhóm thuốc làm giảm hấp thu và tăng thải trừ lipid: Cholestyramin,

colestipol, neomycin là những thuốc có tính hấp thu mạnh; tạo phức hợp với acid mật, làm giảm quá trình nhũ hoá lipid ở ruột, dẫn đến sự giảm hấp thu

và tăng đào thải lipid qua phân Ngoài ra, chúng còn có tác dụng tăng số lượng và hoạt tính của receptor LDL ở màng tế bào

♦ Nhóm thuốc ảnh hưởng đến sinh tổng hợp lipid: gồm dẫn xuất của acid

fibric, dẫn xuất của statin, acid nicotinic, Acid nicotinic tăng chuyển hoá của VLDL dẫn đến sự giảm nồng độ VLDL và LDL huyết thanh Nhóm

Trang 20

fibrat giảm vận chuyển acid béo về gan, giảm tổng hợp và tăng thanh thải VLDL, giảm tạo thành và giảm sự oxy hoá LDL; thuốc làm giảm nồng độ

TC, TG, VLDL, LDL và tăng HDL trong huyết thanh; thuốc còn có tác dụng giảm sự kết tập của tiểu cầu, giảm fibrinogen và giảm acid uric máu Nhóm statin là loại thuốc ức chế cạnh tranh với enzym HMG-CoA reductase; dẫn

đến ức chế sự tổng hợp cholesterol ở tế bào gan, tăng receptor LDL và tăng thoái hoá LDL

Một số thuốc từ nguồn thảo dược (nghệ, ngưu tất ) cũng có tác dụng trên sự rối loạn lipid máu Mỗi nhóm có cơ chế tác động riêng của nó Các thuốc tổng hợp hóa học tuy có tác dụng điều trị tốt song còn nhiều tác dụng phụ, vì thế các thảo dược ít độc hại, có tác dụng hạ lipid và chống oxy hóa ngày càng được quan tâm

1 2 Gốc tự do và hệ thống chống oxy hóa của cơ thể:

1.2.1 Các dạng oxy hoạt động trong cơ thể và quá trình peroxi hóa lipid

Các dạng oxy hoạt động bao gồm gốc tự do có oxy luôn được sản sinh trong các hoạt động sinh lý của cơ thể sống Nguồn sinh gốc tự do gắn liền với các chuyển hóa tế bào như các phản ứng oxy hóa khử của tế bào trong quá trình thực bào, trong các phản ứng khử độc của cơ thể bằng cơ chế oxy hóa, đặc biệt trong quá trình hô hấp tế bào Ngoài ra, gốc tự do còn hình thành trong cơ thể do những tác nhân của môi trường và các chất dị sinh (các xenobiotic) Anion superoxid (O2•- ) được tạo nên trong quá trình hô hấp

tế bào là gốc tự do đầu tiên, từ đó sinh ra hàng loạt các dạng oxy hoạt động khác như hydroperoxid (H2O2), gốc hydroxyl (HO•), oxy đơn bội (1O2), gốc peroxyl (LOO•), gốc alkyl (L•), gốc alkoxyl (LO•) Các dạng oxy hoạt động này có liên quan đến nhiều quá trình bệnh lý của con người [3, 8, 9, 21]

Trang 21

1O2, H2O2, HO• là những chất độc đối với tế bào vì chúng sẽ tấn công các acid béo không bão hòa có trong lipid màng tế bào gây nên những biến

đổi màng tế bào và biến đổi của những phân tử DNA, gây đột biến gen 1O2,

HO• có hoạt tính hoá học rất mạnh, chúng là thủ phạm chính gây peroxi hóa lipid màng, một gốc HO• sẽ oxy hóa hàng trăm phân tử acid béo không bão hòa nhiều nối đôi theo cơ chế dây truyền trước khi bị dập tắt [3, 8, 9]

Quá trình peroxi hóa lipid (POL) xuất hiện theo cơ chế phản ứng gốc

tự do xảy ra theo 3 giai đoạn liên tiếp nhưng riêng biệt (khơi mào, lan truyền, dập tắt)

Gốc HO•, 1O2, dạng proton của O2•- là HO2• và các phức hợp khác nhau của oxy với sắt có khả năng khơi mào POL, hình thành các gốc peroxyl Gốc peroxyl này có khả năng lấy đi H từ một phân tử acid béo khác

và gốc alkyl mới tạo nên có thể tác dụng với O2 sinh ra một gốc peroxyl khác

và cứ thế, phản ứng dây chuyền được nhân lên mãi Gốc peroxyl được tạo thành có hai số phận: hoặc tạo lipid hydroperoxid, hoặc tạo endoperoxid

Hydroperoxid hữu cơ (lipid hydroperoxid = LOOH) có thể bị phân hủy bởi các ion kim loại chuyển tiếp và sinh ra các sản phẩm trung gian có hoạt tính thứ cấp cho quá trình peroxi hóa

Sự chia cắt các liên kết trong endoperoxid dẫn đến sự hình thành hoặc malonyl dialdehid (MDA), hoặc pentan; đây là những sản phẩm của POL POL là một quá trình chuyển hóa bình thường xảy ra trong tế bào mọi cơ quan, tổ chức của cơ thể POL có khả năng điều hòa tính thấm của màng,

điều hòa hoạt động các enzym liên kết màng tế bào và lưới nội bào ở một vài giai đoạn của POL sinh ra các dẫn chất cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp prostaglandin, hydroperoxid cholesterin- một trong những dẫn chất cần thiết để tạo thành hormon steroid Khi POL xảy ra mạnh và kéo dài, ở màng

Trang 22

tế bào xuất hiện những đám phân tử lipid hydroperoxid; đó chính là đường dẫn nước qua màng, làm thay đổi tính thấm của màng [3, 8, 9]

Hiện nay người ta thấy POL đóng vai trò quan trọng trong bệnh căn, bệnh sinh của nhiều bệnh như VXĐM, thiểu năng động mạch vành, nhồi máu cơ tim, bệnh ung thư Sản phẩm của POL có liên quan đến sự tích tụ các phân tử polyme sinh học không có hoạt tính và sự hư hại DNA của tế bào Sản phẩm cuối cùng của POL là MDA có thể gây ra sự nối chéo DNA trong chromosome Người ta đã tìm thấy mối liên quan giữa POL với tốc độ phân chia tế bào - cơ sở để nghiên cứu về những yếu tố khởi động của quá trình ung thư

1.2.2 Hệ thống chống oxy hóa của cơ thể

Hệ thống chống oxy hóa có vai trò ngăn ngừa, chống lại và loại bỏ tác dụng độc hại của các gốc tự do và các dạng oxy hoạt động khác

1.2.2.1 Hệ thống chống oxy hóa có bản chất enzym [9, 21]

Loại này tồn tại chủ yếu trong tế bào; hoạt độ các enzym chống oxy hóa rất thấp trong huyết tương, dịch sinh học khác như dịch não tủy, bao hoạt dịch…

♦Superoxid dismutase (SOD - EC.1.15.1.1)

Enzym này có trong tất cả các tế bào có chuyển hóa oxy, xúc tác sự phân hủy anion superoxid

2O2•- + 2H+ HSOD 2O2 + O2Vì superoxid liên tục được sinh ra và liên tục bị phá hủy nên SOD có hoạt tính càng cao thì nồng độ superoxid càng nhỏ Do đó, SOD là chất chống oxy hóa cơ bản, làm hạ thấp nồng độ superoxid ban đầu mà từ đó sẽ sinh ra các dạng oxy hoạt động khác

SOD có 4 loại:

+ Một loại có chứa Cu và Zn (CuZn -SOD) có ở bào tương và khoảng giữa

Trang 23

hai màng của ty thể tế bào

+ Hai loại chứa Mn (Mn - SOD) có ở matrix ty thể của tế bào động vật và vi khuẩn

+ Một loại chứa Fe (Fe - SOD) có ở bào tương của E Coli

♦ Catalase

Là enzym chống oxy hóa được biết đầu tiên, xúc tác phản ứng phân hủy hydroperoxid vô cơ ở nồng độ cao Catalase không phân hủy được hydroperoxid hữu cơ và hydroperoxid vô cơ ở nồng độ thấp vì enzym này chỉ

được hoạt hóa khi hydroperoxid có nồng độ cao

2H2O2 2HCatalase 2O + O2

♦ Glutathion peroxidase (GPx – EC.1.11.1.9)

Glutathion peroxidase (GPx) xúc tác phản ứng loại bỏ các peroxid hữu cơ và H2O2 có nồng độ thấp:

2GSH + ROOH GSSG + ROH + HGPx 2O

( GSH là glutathion dạng khử, GSSG là glutathion dạng oxy hóa, ROOH là peroxid hữu cơ hoặc vô cơ)

GPx là một tetramer, có 4 tiểu đơn vị giống nhau với trọng lượng phân

tử 80.000 và đòi hỏi selenocystein ở 4 vị trí xúc tác của nó Người ta cho rằng có sự tồn tại glutathion peroxidase không phụ thuộc selen, enzym này xúc tác sự khử các peroxid hữu cơ khi có mặt glutathion, trọng lượng phân tử

là 45.000 với 2 tiểu đơn vị, chứa đựng bốn cystein; GPx không phụ thuộc selen có hoạt tính giống glutathion-S-transferase (EC.2.5.1.18) liên quan đến việc giải độc tính của những xenobiotic

Hệ thống glutathion peroxidase bao gồm 3 enzym: glutathion peroxidase (GPx), glutathion reductase (GR) và glucose 6- phosphat dehydrogenase

Trang 24

LH: Acid béo không bão hòa nhiều nối đôi - LOOH:peroxid và L có thể là phần gốc hữu cơ hoặc có thể là H trong H

Hình 1.2-Hoạt động của hệ thống chống oxy hóa Glutathion peroxidase

Hình 1.2-Hoạt động của hệ thống chống oxy hóa Glutathion peroxidase

1.2.2.2 Hệ thống chống oxy hóa có bản chất không enzym [9, 21]

Gồm 3 nhóm chính là nhóm các polyphenol, nhóm các thiol và nhóm các phối tử của sắt hay đồng Chúng hoặc có sẵn trong cơ thể hoặc được đưa

từ ngoài vào theo dạng thức ăn, nước uống

Gồm 3 nhóm chính là nhóm các polyphenol, nhóm các thiol và nhóm các phối tử của sắt hay đồng Chúng hoặc có sẵn trong cơ thể hoặc được đưa

từ ngoài vào theo dạng thức ăn, nước uống

Nhóm các polyphenol

Nhóm các polyphenol

Gồm vitamin A, vitamin E, coenzym Q, vitamin C và các bioflavonoid Các polyphenol có khả năng biến các gốc tự do hoạt động thành các gốc trơ

Gồm vitamin A, vitamin E, coenzym Q, vitamin C và các bioflavonoid Các polyphenol có khả năng biến các gốc tự do hoạt động thành các gốc trơ

Các flavonoid rất phổ biến trong thực vật, có bản chất là polyphenol Những flavonoid có hoạt tính sinh học được gọi là bioflavonoid có tác dụng chống oxy hóa, được sử dụng nhiều trong y học để điều trị một số bệnh có liên quan đến gốc tự do như viêm mạn tính, bệnh tim mạch

Các flavonoid rất phổ biến trong thực vật, có bản chất là polyphenol Những flavonoid có hoạt tính sinh học được gọi là bioflavonoid có tác dụng chống oxy hóa, được sử dụng nhiều trong y học để điều trị một số bệnh có liên quan đến gốc tự do như viêm mạn tính, bệnh tim mạch

Vitamin E là chất chống oxy hóa hòa tan trong lipid, phân phối khắp trong tế bào, được coi như chất bảo vệ màng sinh học vì nó ngăn cản quá trình oxy hóa các acid béo không bão hòa của màng Vitamin E có vai trò như yếu tố tận cùng chuỗi, làm đứt đoạn phản ứng lan truyền của quá trình

Vitamin E là chất chống oxy hóa hòa tan trong lipid, phân phối khắp trong tế bào, được coi như chất bảo vệ màng sinh học vì nó ngăn cản quá trình oxy hóa các acid béo không bão hòa của màng Vitamin E có vai trò như yếu tố tận cùng chuỗi, làm đứt đoạn phản ứng lan truyền của quá trình

H•

2 O 2 - LOH: Acid béo hydroxy (hay H 2 O) - 6PG: 6phosphogluconat - G6P: Glucose 6 phosphat

Trang 25

peroxi hóa lipid, có thể phản ứng với anionsuperoxid và oxy đơn bội Một

điều đáng chú ý là vitamin E chỉ phát huy tác dụng khi có selen

Vitamin C có vai trò đ−a vitamin E từ dạng oxy hóa về dạng khử, loại

bỏ hydroperoxid khi không có mặt ion sắt hoặc ion sắt đã đ−ợc chelat hóa hoàn toàn [9, 20, 21]

Nhóm các thiol

Các thiol có tính khử mạnh nên chúng có thể cùng vitamin C chuyển vitamin E từ dạng oxy hóa về dạng khử, phục hồi chức năng dập tắt quá trình peroxi hóa lipid của vitamin E

Có khả năng trung hòa các gốc tự do nh− gốc HO•, tạo gốc thiyl:

RSH + HO• → RS•

+ H2O 2RS• → RSSR

Glutathion là thiol có vai trò rất quan trọng trong cơ thể Cơ chế hoạt

động của glutathion đ−ợc giả thiết là có liên quan đến phản ứng chuyển một nguyên tử H tới các gốc tự do, hình thành gốc GS• Gốc này lại liên kết với một gốc GS• khác tạo ra glutathion dạng oxy hóa GSSG

Một cơ chế hoạt động khác của glutathion là khử các peroxid của các acid béo không bão hòa thành những hợp chất hydroxy mang ít độc tính hơn

và có thể bị chuyển hóa tiếp bởi quá trình β oxy hóa

Trang 26

O2•- + H2O2 → 1O2 + HO• + HO

-Khi sắt được chelat hoá hoàn toàn nghĩa là sắt tạo phức đủ sáu liên kết phối trí (như trong hemoglobin, myoglobin), sắt sẽ không còn khả năng trên Trong nhóm này có transferin, lactoferin, ceruloplasmin[9, 21]

1 3 Đái tháo đường với rối loạn chuyển hóa lipid, hoạt động gốc tự do và vữa xơ động mạch:

1 3 1 Đái tháo đường:

ĐTĐ là một hội chứng rối loạn chuyển hóa với sự tăng glucose máu

do thiếu tuyệt đối hoặc tương đối insulin Sự thiếu hụt insulin ảnh hưởng tới chuyển hóa carbohydrat, protein và lipid; gây ra các rối loạn hằng định nội môi nước và điện giải Sự mất bù chuyển hóa cấp tính có thể gây tử vong; rối loạn chuyển hóa mạn tính gây ra các thay đổi về cấu trúc và chức năng một cách thường xuyên và không thể đảo ngược đối với các tế bào và mô của cơ thể, trong đó hệ thống mạch máu đặc biệt nhạy cảm Sự thay đổi này dẫn đến các biến chứng mạn tính của bệnh ĐTĐ [50, 154]

ĐTĐ là một hội chứng bệnh khá phổ biến với tỷ lệ bệnh lưu hành khoảng 1- 2% ở các nước Tây Âu ĐTĐ có thể xảy ra thứ phát sau các bệnh

lý khác, ví dụ như viêm tụy mạn, phẫu thuật tụy, tăng bài tiết các hormon đối kháng với insulin (hội chứng Cushing, bệnh to chi ) Tuy nhiên ĐTĐ thứ phát hiếm gặp Phần lớn các trường hợp ĐTĐ là tiên phát, được phân loại thành 2 týp Týp 1 hay ĐTĐ phụ thuộc insulin (insulin dependent diabetes mellitus - IDDM) là dạng ĐTĐ nặng, có biến chứng nhiễm ceton nếu không

được điều trị, thường gặp ở trẻ em và người trẻ Bệnh thường khởi phát một cách cấp tính, nồng độ insulin máu giảm hoặc không có do sự phá hủy các tế bào β của đảo tụy IDDM ít có tính chất gia đình nhưng có mối liên quan rất

rõ với một vài kháng nguyên phù hợp tổ chức như HLA - DR3 và DR4

Trang 27

Týp 2 hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin ( non insulin dependent diabetes mellitus- NIDDM) thường xảy ra ở những người trên 40 tuổi có béo phì, bệnh khởi phát từ từ , hiếm khi gặp nhiễm ceton Mặc dù bệnh biểu hiện không trầm trọng, nhưng các bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có nguy cơ cao phát triển các biến chứng mạch máu lớn và vi mạch Nồng độ insulin máu ở bệnh nhân

ĐTĐ týp 2 phần lớn là bình thường, ở một số bệnh nhân có thể tăng ở đa số các bệnh nhân ĐTĐ týp 2, tế bào β tiểu đảo không nhạy cảm với glucose, dẫn tới sự bài tiết insulin suy giảm Với các trường hợp khác, đặc biệt người béo phì, nồng độ insulin tăng và có sự không nhạy cảm của các mô với insulin (kháng insulin) [50, 154]

1.3.2- Rối loạn chuyển hóa lipid trong đái tháo đường

Các đặc điểm chung nhất của rối loạn chuyển hóa lipid trong bệnh

ĐTĐ là TG máu tăng, HDL- C giảm và xuất hiện các phần tử LDL nặng và nhỏ hơn (tỷ trọng tăng và kích thước nhỏ hơn) Những thay đổi này thường kèm theo sự tăng nồng độ apo B huyết tương Các rối loạn trên có thể gặp ở các bệnh khác và vì vậy không đặc hiệu cho bệnh ĐTĐ Nồng độ LP (a) có thể tăng trong ĐTĐ, nhưng sự thay đổi LP này không được xem như nằm trong hội chứng rối loạn chuyển hóa lipid của bệnh lý ĐTĐ [24, 101]

Xu hướng xuất hiện các phần tử VLDL nhỏ, nặng và tăng IDL, phân

bố lại các LDL về phía những phân tử loại nhỏ và nặng hơn, sự thay đổi đáng

kể thành phần HDL đã được ghi nhận Sự thay đổi thành phần lipid huyết tương xảy ra trong mỗi loại LP với sự tăng tương đối tỷ lệ cholesterol tự do / phospholipid Hơn nữa, người ta đã quan sát thấy sự tăng mức độ glycosyl hóa bởi phản ứng không enzym với tất cả các loại LP trong tuần hoàn Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng LP ở các bệnh nhân ĐTĐ tăng nhạy cảm với tác nhân oxy hóa, điều này có thể cũng làm tăng khả năng gây VXĐM của chúng

Trang 28

Như vậy, rối loạn chuyển hóa lipid trong ĐTĐ bao gồm cả sự thay đổi chất lượng và số lượng lipid và lipoprotein huyết tương [24, 101]

Rối loạn chuyển hóa lipid trong đái tháo đường týp 1

- Tăng TG huyết tương: bất thường phổ biến nhất ở bệnh nhân ĐTĐ týp 1 là tăng TG huyết tương do tăng VLDL Rối loạn này sẽ mất đi khi kiểm soát

được glucose máu Tăng VLDL có thể là kết quả của sự tăng bài tiết VLDL hoặc giảm chuyển hóa VLDL do giảm lipoprotein lipase

- Giảm HDL-C huyết tương: thường gặp phối hợp với tăng TG máu

- LDL-C huyết tương: trong giới hạn bình thường ở bệnh nhân ĐTĐ týp1 Như vậy với ĐTĐ týp1, bất thường chính của LP huyết tương là sự tăng nồng

độ VLDL huyết tương và bất thường này sẽ được cải thiện khi việc điều trị cùng với sự kiểm soát glucose máu một cách chặt chẽ được thiết lập

Rối loạn chuyển hóa lipid trong đái tháo đường týp 2

Rối loạn chuyển hóa lipid trong ĐTĐ týp 2 phổ biến hơn trong ĐTĐ týp1 ảnh hưởng của ĐTĐ týp 2 trên chuyển hóa lipid và lipoprotein phức tạp hơn nhiều vì nó chịu tác động của nhiều yếu tố: tình trạng kháng insulin, béo phì, phương pháp điều trị, mức độ kiểm soát glucose máu, sử dụng thuốc điều trị các rối loạn phối hợp và các biến chứng của bệnh ĐTĐ Rối loạn chuyển hóa lipid đặc trưng ở ĐTĐ týp 2 là tăng TG và giảm HDL-C trong huyết tương

Tăng TG và giảm HDL-C huyết tương: TG tăng ở bệnh nhân ĐTĐ týp

2 có glucose máu từ tăng nhẹ đến tăng vừa phải là do tăng bài tiết VLDL Trong trường hợp ĐTĐ týp 2 không được điều trị sẽ có glucose máu tăng nhiều, có suy giảm insulin kèm kháng insulin; tăng TG máu ở những trường hợp này còn do sự giảm hoạt tính lipoprotein lipase HDL-C huyết tương có thể được cải thiện nếu bệnh nhân ĐTĐ týp 2 giảm cân, được điều trị bằng insulin hay các thuốc hạ glucose máu khác

Trang 29

Rối loạn chuyển hóa lipid ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có thể vẫn kéo dài mặc dù có sự điều trị giảm glucose máu thích hợp Rối loạn chuyển hóa lipid tồn tại dai dẳng ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 được xem xét cùng với các rối loạn tương tự xảy ra ở những bệnh nhân không bị ĐTĐ gợi ý rằng rối loạn chuyển hóa lipid trong ĐTĐ týp 2 không phải chỉ do ĐTĐ mà còn do các yếu tố khác có thể có trước và góp phần gây ra ĐTĐ như béo phì trung tâm, hội chứng kháng insulin

LDL-C huyết tương thường tương đối thấp ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 Cần lưu ý là các phương pháp thông thường định lượng LDL-C thường bao gồm cả IDL và khi IDL được đo riêng rẽ thì LDL-C thật sự bình thường trong ĐTĐ týp 2 Tuy nhiên sự bất thường của LDL xảy ra phổ biến ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 là sự xuất hiện LDL nhỏ và nặng Cơ chế làm xuất hiện các phân tử LDL này có liên quan đến hoạt tính lipase gan - enzym chuyển LDL thành phần tử nhỏ và nặng hơn Hoạt tính lipase gan tăng trong ĐTĐ týp 2 Mặc dù nồng độ LDL- C bình thường trong ĐTĐ týp 2, các nghiên cứu động học cho thấy có sự rối loạn trong chuyển hóa LDL ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 nhẹ không được điều trị, tốc độ tổng hợp và thoái hoá LDL tăng song song nên nồng độ LDL- C bình thường ở những bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có glucose máu tăng vừa phải, không được điều trị hoặc việc kiểm soát glucose máu kém, chuyển hóa LDL có thể giảm và dẫn tới tăng nhẹ LDL-C huyết tương Vì vậy, mặc dù nồng độ LDL-C không bị ảnh hưởng nhiều trong ĐTĐ týp 2 nhưng chuyển hóa của chúng không bình thường và tồn tại các phần tử LDL với kích thước nhỏ và nặng hơn - đó là nguy cơ gây VXĐM

1.3.3- Gốc tự do và đái tháo đường [128]:

Một số tác nhân gây ĐTĐ (ví dụ alloxan) dường như tác động bằng cách tạo các stress oxy hóa trên tế bào β của đảo tuỵ Người ta không chắc chắn liệu các stress oxy hóa có góp phần gây ĐTĐ ở người hay không Có

Trang 30

yếu tố di truyền bẩm sinh rất rõ ở một số bệnh nhân ĐTĐ, trong đó 1 - 2% trường hợp di truyền trội đơn gen nhiễm sắc thể thân Các gen tổn thương ở những bệnh nhân này bao gồm gen mã enzym glucokinase và sao chép yếu

tố gen HNF-1α (hepatic nuclear factor 1α) HNF-1α điều hòa không chỉ sự sao chép gen ở gan mà cả sự sao chép gen insulin ở tế bào β của tuỵ đảo (ít nhất là ở chuột)

Trong một vài động vật xuất hiện ĐTĐ một cách ngẫu nhiên như chuột không béo phì bị ĐTĐ và chuột sinh sản sinh học, dường như chúng

bị các tấn công tự miễn trên tế bào β Điều này gợi ý rằng các dạng oxy hoạt

động (bao gồm cả ONOO-) được tạo thành bởi sự tấn công của các đại thực bào liên quan tới sự tiêu hủy tế bào β [142] Thật vậy vitamin E, SOD và desferrioxamine được thông báo là làm chậm sự khởi phát ĐTĐ ở chuột không béo phì bị ĐTĐ [31] ĐTĐ týp 1 ở người cũng liên quan tới các hiện tượng tự miễn, một kháng nguyên tự thân có thể là enzym glutamat decarboxylase Một số tác nhân nhiễm khuẩn có thể khởi phát ĐTĐ bằng cách gây đáp ứng vật chủ dẫn đến tổn thương mô quá mức

Các bệnh nhân ĐTĐ thường được cho là chịu tác động của các stress oxy hóa Mối liên quan giữa ĐTĐ và các stress oxy hóa đã được bàn luận rất nhiều từ nhiều năm nay; nhưng các thực nghiệm nghiêm túc để làm sáng tỏ tầm quan trọng của vấn đề này vẫn còn để ngỏ Các lipid peroxid huyết tương (ngay cả khi đã hiệu chỉnh theo mức tăng của lipid huyết tương) dường như cao hơn bình thường ở bệnh nhân ĐTĐ, mặc dù điều này chưa được sự nhất trí Nồng độ F2- isoprostan và lipid peroxid là các chỉ điểm sinh học tin cậy hơn cũng tăng cao Một quan sát thú vị nhận thấy rằng chuột gây ĐTĐ thực nghiệm bằng streptozotocin hấp thụ các peroxid từ chất béo bị oxy hóa trong thức ăn nhiều hơn so với nhóm chứng, điều này gợi ý rằng có sự giảm khả năng khử độc đối với các lipid hydroperoxid trong thức ăn ở chuột gây

Trang 31

ĐTĐ thực nghiệm [135]

Nồng độ vitamin C huyết tương ở bệnh nhân ĐTĐ là thấp hơn bình thường [73], trên thực tế sự tăng glucose máu ức chế hấp thu ascorbat và dehydroascorbat vào tế bào [152] Nồng độ GSH hồng cầu cũng dưới mức bình thường nhẹ ở bệnh nhân ĐTĐ Vai trò của stress oxy hóa trong bệnh sinh ĐTĐ không chắc chắn, nhưng thường được giả thiết là có liên quan tới mức tăng glucose máu Có ý kiến cho rằng tăng lipid huyết tương sẽ dẫn tới tăng sự oxy hóa lipid (ví dụ bằng cách β-oxy hóa trong peroxisom, sinh ra

H2O2) và sự giảm hoạt động của hệ thống phòng vệ chống oxy hóa ở những mức độ khác nhau

Người mẹ bị ĐTĐ làm tăng tỷ lệ bất thường thai nhi và các stress oxy hóa được cho là cũng đóng vai trò trong quá trình hình thành các bất thường này Phôi chuột chuyển gen tăng tổng hợp CuZn-SOD biểu hiện ít bất thuờng hơn phôi chuột không chuyển gen trên khi đưa vào chuột mẹ gây tăng glucose máu bằng streptozotocin

1.3.4- Đái tháo đường và vữa xơ động mạch [24, 101]

Rối loạn chuyển hóa lipid trong ĐTĐ có đặc điểm là tăng các LP chứa apo B gây VXĐM, xuất hiện các LDL nhỏ, nặng và giảm HDL Vì LDL nhỏ

và nặng có thể đi vào khoang dưới nội mạc một cách dễ dàng, tăng gắn với proteoglycan và làm tăng khả năng bị oxy hóa nên các phân tử LDL bị oxy hóa tăng lên trong ĐTĐ và hội chứng kháng insulin Nồng độ HDL giảm trong ĐTĐ cùng với sự bất thường thành phần cấu tạo có thể ảnh hưởng đến chức năng của nó, làm giảm quá trình vận chuyển cholesterol trở về, do đó tăng ứ đọng lipid ở mạch máu Tất cả các loại LP đều bị glyco-hóa tăng trong ĐTĐ LDL glyco-hóa gắn kém với receptor của LDL, do đó kéo dài thời gian lưu hành trong máu của LDL và có thể trong cả khoang ngoài tế bào của thành động mạch, tại đó LDL bị các biến đổi oxy hóa LDL glyco- hóa tăng nhạy cảm với tác nhân oxy hóa và làm dễ dàng việc chuyển CE cho các LP chứa apo B Việc tạo thành các sản phẩm cuối cùng glyco- hóa

Trang 32

(advanced glycation end- product) tăng trong ĐTĐ Các lipoprotein này gắn với receptor đặc hiệu trên tế bào thành động mạch dẫn đến tăng stress oxy hóa trong những tế bào này và sự tổng hợp các phân tử kết dính tế bào nội mạc, hóa ứng động các monocyte, giải phóng các cytokin và các yếu tố tăng trưởng Vì vậy các con đường oxy hóa , glyco oxy hóa tăng trong ĐTĐ là có khả năng làm tăng quá trình VXĐM

1.4 các mô hình gây Đái tháo đường thực nghiệm

Mô hình ĐTĐ thực nghiệm trên động vật giúp chúng ta nghiên cứu cơ chế bệnh sinh, bệnh nguyên của bệnh ĐTĐ ở người, đánh giá tác dụng dược

lý của các loại thuốc điều trị cũng như tìm hiểu cơ chế tác dụng của chúng Trên thực nghiệm người ta đã tạo ra các mô hình ĐTĐ mô phỏng hai týp

ĐTĐ chính ở người

1.4.1 Mô hình gây đái tháo đường thực nghiệm týp 1

ĐTĐ týp1 ở người là có đặc điểm là thiếu hụt tuyệt đối insulin do tổn thương tế bào β của đảo tuỵ Để gây mô hình ĐTĐ týp 1 ở động vật thực nghiệm, người ta sử dụng các chất gây phá huỷ tế bào β tuyến tuỵ Hai thuốc thường được sử dụng là alloxan và streptozotocin (STZ) Alloxan được sử dụng lần đầu tiên năm 1943 [56], còn STZ được Rakieten và cộng sự dùng gây ĐTĐ lần đầu tiên năm 1963 [80] Do hoạt tính của alloxan không ổn

định, hiệu quả gây ĐTĐ không cao nên trong những năm gần đây các nhà khoa học trên thế giới thường sử dụng STZ để gây ĐTĐ týp 1 ở động vật thực nghiệm [26, 54, 56]

Ngoài ra, ĐTĐ týp 1 tự phát cũng xuất hiện ở một số loài động vật như chuột nhắt ĐTĐ không béo phì (non obese diabetic mouse), chuột cống BB (biobreeding)[80]

Trang 33

1.4.2 Mô hình gây đái tháo đường thực nghiệm týp 2

Một số loài động vật, đặc biệt loài gặm nhấm xuất hiện ĐTĐ týp 2 tự phát Hiện nay, qua chọn lọc và lai tạo đã xuất hiện nhiều động vật ĐTĐ týp

2 do gen như chuột cống GK (Gotokakizaki) , chuột cống ZDF (Zucker Diabetic Fatty), chuột chắt KK-Ay, chuột nhắt Db/Db

Ngoài các chủng động vật ĐTĐ trên, gần đây người ta còn dùng STZ

để gây ĐTĐ týp 2: tiêm STZ cho chuột mới sinh, tiêm STZ kết hợp với nicotinamid cho chuột, tiêm STZ cho chuột ăn chế độ giàu lipid [124]

1.4.3 Streptozotocin và các mô hình gây đái tháo đường thực nghiệm

STZ có tên hoá học là

2-deoxy-2(3-methyl-3-nitrosoureido)-D-glucopyranose, được phân lập lần đầu tiên năm 1960 từ Streptomyces

achromogenes [26] Đây là kháng sinh có đặc tính tiêu u, sinh u và gây ĐTĐ

[26, 80] Tác dụng gây ĐTĐ của STZ là do sự phá huỷ chọn lọc tế bào bài tiết insulin của tuỵ (tế bào β) (Junod và cộng sự,1967), có thể do biến đổi lớp ngoài của màng tế bào Để gây ĐTĐ, có thể dùng STZ một liều cao duy nhất (đối với chuột cống, chuột nhắt, chó, chuột lang, khỉ) (Brosky và Logothetopoulos, 1969; Ganda và cộng sự, 1976; Levine và cộng sự, 1980) hoặc nhiều liều thấp (subdiabetogenic doses)(với chuột nhắt) (Like và Rossini, 1976) Phương pháp dùng STZ liều cao một lần duy nhất gây tăng glucose máu sớm, từ 48-72 giờ sau tiêm STZ, có thể do tác dụng phá huỷ ồ

ạt các tế bào β đảo tuỵ [80] Trong khi đó, dùng STZ nhiều liều thấp thì sự tăng glucose máu xuất hiện chậm, từ từ và có sự thâm nhiễm tế bào lympho

ở tiểu đảo tuỵ (viêm đảo tuỵ)[26] Vì vậy, phương pháp dùng STZ nhiều liều thấp dường như có cơ chế bệnh sinh giống ĐTĐ týp 1 ở người hơn

Trong những năm gần đây, STZ còn được các nhà khoa học trên thế giới sử dụng gây ĐTĐ týp 2 STZ tiêm cho chuột mới sinh gây ĐTĐ không phụ thuộc insulin Dựa trên tác dụng bảo vệ phần nào của nicotinamid đối

Trang 34

với độc tính của STZ trên tế bào β của đảo tuỵ, năm 1998, Pellegrino và cộng

sự đã tạo mô hình ĐTĐ týp 2 ở chuột cống trưởng thành: chuột cống được tiêm đồng thời STZ và nicotinamid xuất hiện ĐTĐ týp 2 , mô hình ĐTĐ thực nghiệm này có nhiều đặc điểm giống với ĐTĐ týp 2 ở người Năm 2000, Reed M.J và cộng sự đã tạo ra mô hình động vật ĐTĐ týp 2 ở chuột cống bằng cách tiêm STZ cho chuột được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn giàu chất béo Theo các tác giả, mô hình ĐTĐ týp 2 mới này tái tạo bệnh sử và các đặc

điểm chuyển hoá của ĐTĐ týp 2 ở người, thích hợp cho các nghiên cứu dược

lý [124]

1 5 Chè xanh và tác dụng sinh học của chè xanh

1 5 1 Chè xanh và một số đặc tính của chè xanh

Cây chè xanh có tên khoa học là Camellia sinensis O Kuntze thuộc họ

Theaceae, có nguồn gốc từ Trung Quốc, ấn Độ, Myanma Cây chè thích hợp với khí hậu nóng ẩm vùng cận nhiệt đới, được trồng rộng rãi từ vùng khí hậu nhiệt đới tới vùng có khí hậu ôn đới ở Châu á [38, 109, 110] Từ xưa, nhiều nhà Y học Trung Quốc nhận thấy nước chè giúp tiêu hoá thức ăn có nhiều chất béo, mùa hè uống nước chè cảm thấy khoan khoái dễ chịu, buổi sáng uống nước chè thấy sạch miệng và minh mẫn hơn, nước chè có tác dụng giữ cho vóc dáng thon thả, giảm béo, giảm viêm, giải độc, lợi tiểu Chè có mặt trong một số bài thuốc Đông y của Trung Quốc dùng để chữa kiết lỵ, mưng

mủ Trong thế kỷ thứ tám, chè xanh được chuyển từ Trung Quốc đến Nhật Bản để dùng làm thuốc chữa bệnh Ngày nay người Nhật gọi chè là thứ nước uống của thời đại nguyên tử do khả năng hấp thụ và thải chất phóng xạ [127] Như vậy, cây chè đã trở nên gần gũi với cuộc sống của con người từ thời xa xưa trong lịch sử loài người Đầu tiên con người dùng lá chè để làm thuốc chữa bệnh, sau đó nhờ hương vị đặc trưng riêng, nó trở thành thứ đồ

Trang 35

uống được ưa chuộng ở rất nhiều nơi trên thế giới Hiện nay, cây chè được trồng ở hơn 20 nước thuộc châu á, châu Phi và Nam Mỹ [109, 110] ở Việt Nam, cây chè xanh được trồng rộng rãi trên khắp mọi miền, được sử dụng như một thứ đồ uống không thể thiếu trong nhiều gia đình và được xuất khẩu

đi nhiều nước trên thế giới [2] Nước chè xanh có mùi vị đặc biệt đã trở thành phong cách ẩm thực đặc trưng của người Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản .[2, 38]

Do những đặc tính ưu việt trên, cây chè được con người quan tâm nghiên cứu về đặc điểm hình thái, phương thức canh tác, cách chế biến, cũng như về thành phần hoá học, khả năng hấp thu và các tác dụng dược lý trong nhiều thế kỷ qua [38, 39, 143]

Chè xanh có hai loài C.assamica và C.sinensis [38, 109, 110]

+ Camellia assamica: lá to ( 16-19 cm x 7-9 cm), thân cao

+ Camellia sinensis: lá nhỏ (5,5- 6,5cm x 2,2-2,4cm), thân là loại cây bụi rậm

Các nhà khoa học đã xác định được chromosome của hai loài chè trên là giống nhau ( 2n =30) [38, 88] Vì vậy việc lai tạo để có nhiều giống chè cho năng suất cao, chất lượng tốt đã được thực hiện [64, 110] Việt Nam có nhiều giống chè; phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai canh tác của từng vùng [2] Chè xanh được thu hái vào buổi sáng được đánh giá là có chất lượng tốt hơn buổi chiều, thu hái vào mùa xuân tốt hơn mùa thu và các mùa khác [38] Chè xanh thu hái về thường được chế biến trước khi sử dụng Sự chuyển hóa tanin trong lá chè không xảy ra dưới tác dụng của vi sinh vật mà được thực hiện với sự có mặt của các enzym polyphenol oxidase có trong lá chè Dựa vào mức độ lên men dưới tác dụng của các enzym, chè được phân loại thành chè xanh (không lên men), chè oo- long (lên men chưa hoàn toàn) và chè đen (lên men hoàn toàn ) [38, 114, 143, 145] Vì vậy trong trường hợp chế biến chè xanh, lá chè tươi sau khi thu hái được hấp hoặc nấu ngay ở 90 -

Trang 36

1000C để các enzym chứa đựng trong nước chè, đặc biệt là polyphenol oxidase mất hoạt tính [62, 114]

Lá chè chứa nhiều các thành phần hoá học bao gồm: polyphenol, cafein, protein, acid amin, carbohydrat, vitamin và các yếu tố vi lượng.…Trong đó các thành phần chiếm tỷ lệ nhiều nhất là carbohydrat (bao gồm cả cellulose, amylose) và protein, hầu như không tan trong nước nóng; các thành phần có trọng lượng tương đối nhỏ hoà tan được trong nước nóng tạo nên hương vị thơm ngon của nước chè là polyphenol, cafeine và một số acid amin; tỷ lệ các thành phần này ảnh hưởng sâu sắc đến hương vị của nước chè [38]

Một thành phần quan trọng của lá chè xanh là polyphenol, chiếm khoảng 6-16% trọng lượng khô của lá chè, chất này được chiết xuất khi ngâm chè trong nước nóng hoặc chiết xuất với ethyl acetat [114]

Polyphenol chè có vị đắng và hơi chua, hấp thụ qua miêm mạc ruột non một cách dễ dàng Trong vòng 60 phút sau khi uống nước chè xanh, người ta

đã có thể tìm thấy polyphenol của chè trong máu và nồng độ đạt cao nhất khoảng 1-2 giờ sau đó Các công trình nghiên cứu về polyphenol chè chưa phát hiện thấy bất cứ dấu hiệu độc nào của chúng Theo công bố của công ty Taiyo Kagaku (sản xuất SUNPHENOLđ 60% polyphenol), liều chết của polyphenol được xác định là 3,09g/kg chuột nhắt cái /ngày và 5,0g/kg chuột nhắt đực/ngày [143]

Polyphenol trong chè xanh bao gồm catechin và các dẫn xuất của nó, hàm lượng các loại catechin này khác nhau ở các loại chè và mùa thu hoạch Thành phần của polyphenol chè gồm có:

Trang 37

(-)- Gallocatechin gallate [(-)-GCg]

(-) - Epigallocatechin gallate[(-)-EGCg]

Trong các thành phần trên hàm lượng (-)-ECg và(-)-EGCg là cao nhất [114]

1 5 2 Một số nghiên cứu về tác dụng sinh học của polyphenol chè xanh Gần đây, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhiều về tác dụng

phòng bệnh cho người lớn tuổi bằng cách sử dụng polyphenol chè đã loại bỏ caffein và các chất khác Cho đến nay, nhiều kết quả nghiên cứu ở nước ngoài về tác dụng của chè xanh đã được công bố Một số thành phần hoá học của chè xanh (polyphenol) được coi là chất thu dọn gốc tự do và hiện nay đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu [109, 114] Cơ chế chống gốc tự

do của các catechin chè là cơ chế chống oxy hoá chung của các polyphenol,

đó là khi kết hợp với gốc tự do các catechin chuyển từ dạng khử sang dạng oxy hoá và đồng thời các gốc tự do bị mất hoạt tính [21, 74, 93, 96, 103] Polyphenol chè xanh được sử dụng rộng rãi như một chất chống oxy hoá tự nhiên để phòng ngừa sự oxy hoá của dầu ăn hoặc mất màu của thức ăn

có màu đỏ Người ta cũng tìm thấy nhiều đặc tính hoá sinh có lợi của polyphenol chè như ngăn cản sự đột biến của vi khuẩn, ngăn cản sự sao chép ngược của HIV, tác dụng chống sâu răng, hoạt động chống virus, tác dụng phòng bệnh ung thư [27, 36, 41, 75, 78, 86, 111, 129, 130, 150, 151]

Sano và cộng sự đã xác định rằng ở nhóm được uống polyphenol chè , mức độ peroxy hoá trong huyết thanh và ở các mô đều thấp hơn một cách có

ý nghĩa so với nhóm chứng [132] Nhiều nhà nghiên cứu khác cho thấy polyphenol chè hạn chế sự peroxy hoá lipid ở màng hồng cầu và trong huyết thanh của động vật thí nghiệm [101, 112] Polyphenol được đánh giá là có tác dụng chống oxy hoá mạnh hơn α- Tocopherol [63] Trong các loại catechin của polyphenol chè, EGCg có tác dụng chống oxy hoá mạnh nhất , tiếp theo là ECg, EGC, EC [27, 78]

Một số nghiên cứu với chất chiết thô polyphenol của chè xanh hoặc chè

đen đã chứng minh được tác dụng ngăn cản sự oxy hoá và chống đột biến

Trang 38

gen của chúng [127, 150] EGCg chè xanh đã ngăn cản sự sinh ung thư và

sự tiến triển của ung thư qua các thử nghiệm trên động vật [41, 52, 86, 162] Tác dụng bảo vệ của chè xanh trong phòng chống bệnh tim mạch cũng được nghiên cứu trên động vật [37, 68, 163] Sự hấp thu chất chiết chè xanh ở chuột đã làm giảm một cách có ý nghĩa nồng độ cholesterol, triglycerid huyết thanh, giảm nồng độ VLDL- C và tỷ lệ LDL- C/HDC- C trong huyết thanh [37, 107] Chè xanh ngăn cản tế bào nội mạc động mạch oxy hoá LDL [160] Tăng mức tiêu thụ chè xanh sẽ làm giảm nồng độ TC, TG, VLDL - C, LDL-C và làm tăng nồng độ HDL-C trong huyết thanh [94, 127]

ở Việt Nam , chưa có nhiều nghiên cứu về chè xanh và polyphenol

chè xanh Nguyễn Liên và cộng sự nghiên cứu in vitro về tác dụng chống

oxy hoá của một số cây thuốc Việt Nam cho thấy tác dụng chống oxy hoá của chè xanh là cao hơn lá chè khô , lá chay , hà thủ ô [16] Nguyễn Thanh Dương và cộng sự đã xác định được tác dụng chống phóng xạ và làm giảm cholesterol máu của chè xanh ở chuột thực nghiệm [5] Trần Thị Hương cho thấy polyphenol chè xanh có tác dụng làm giảm rối loạn chuyển hóa lipid thể hiện ở sự cải thiện các chỉ số TG, TC, LDL-C và giảm hàm lượng MDA huyết thanh, giảm mức độ VXĐM ở thỏ gây tăng cholesterol máu thực nghiệm [7,17] Ngô Minh Hà đã chứng minh được tác dụng bảo vệ của polyphenol chè xanh ở thỏ chiếu xạ thực nghiệm [6]

Trang 39

Chương II

đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Chất liệu và đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Chè xanh (Camellia sinensis)

Chè xanh được thu hái vào buổi sáng, những ngày trời nắng tháng 2 và tháng 3 tại khu trồng chè xuất khẩu Hòa Lạc, Hà Tây; dùng lá chè mọc trên cành trong khoảng 10 cm thân tính từ chỗ ngắt búp chè trở xuống; được chiết suất theo qui trình

- Các que thử SureStepPro (Jonhson & Jonhson) định lượng glucose máu

- Kit định lượng các thông số lipid máu (TG, TC, HDL- C, LDL- C) của hãng Biorex Mannheim (CHLB Đức) và hãng Human

- Kit định lượng hoạt độ các enzym chống oxy hoá (SOD, GPx), trạng thái chống oxy hoá (TAS) huyết tương và Hemoglobin (Hb) máu của hãng Randox

- Thiobarbituric acid

- Acid acetic

Trang 40

- Streptozotocin (Zonosar) do hãng Upjohn sản xuất, dùng gây ĐTĐ thực nghiệm trên chuột

2.1.4 Trang thiết bị

- Máy cất quay chân không của hãng Buchi (Thụy Sĩ)

- Máy ly tâm lạnh Beckman- Avanti 30 (Mỹ)

- Máy sinh hóa tự động Express Plus (Mỹ)

- Máy One-Touch Profile Meter do hãng Jonhson & Jonhson sản xuất (Mỹ)

- Quang phổ kế Shimadzu UV- 160 (Nhật Bản)

- Cân phân tích chính xác 1/10 mg (CHLB Đức)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Chiết xuất polyphenol chè xanh (theo Đặng Ngọc Dung và cs)[4]

Chè xanh sau khi thu hái được rửa sạch, tránh dập nát, để ráo Sau đó chè được cho vào nước đun sôi theo tỷ lệ 1 kg lá chè/ 3 lít nước Tiếp tục đun sôi nhỏ lửa trong 45 phút rồi vớt lá chè Phần nước chè được lọc qua bông Dịch nước chè đem chiết xuất polyphenol với ethyl acetat và cô đặc bằng máy cất quay chân không; nhờ đó polyphenol chè được tách riêng và ethyl acetat được thu hồi Qui trình chiết xuất được trình bày tóm tắt ở sơ đồ 2.1

Lá chè xanh, tươi

Đun sôi trong nước/ 45 phút

Dịch nước chè

Để nguội Ethyl acetat

Polyphenol tan trong ethyl acetat

Bay hơi dung môi

Phun sương

Bột polyphenol chè

Sơ đồ 2.1 Qui trình chiết xuất polyphenol chè xanh

Ngày đăng: 11/12/2013, 11:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sự  phân  loại  này  đ−ợc  minh  họa ở                 Hình 1.1- Sơ đồ cấu tạo - Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới
ph ân loại này đ−ợc minh họa ở Hình 1.1- Sơ đồ cấu tạo (Trang 11)
Bảng 3.6- ảnh hưởng của chế độ ăn giàu chất béo trên hàm lượng TAS và - Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới
Bảng 3.6 ảnh hưởng của chế độ ăn giàu chất béo trên hàm lượng TAS và (Trang 54)
Ảnh 3.1- Hình ảnh vi thể tuỵ của lô chuột chứng - Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới
nh 3.1- Hình ảnh vi thể tuỵ của lô chuột chứng (Trang 68)
ảnh 3.2- Hình ảnh vi thể động mạch chủ của lô chuột chứng - Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới
nh 3.2- Hình ảnh vi thể động mạch chủ của lô chuột chứng (Trang 69)
ảnh 3.3- Hình ảnh vi thể võng mạc của lô chuột chứng - Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới
nh 3.3- Hình ảnh vi thể võng mạc của lô chuột chứng (Trang 70)
Ảnh 3.4- Hình ảnh vi thể thận của lô chuột chứng - Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới
nh 3.4- Hình ảnh vi thể thận của lô chuột chứng (Trang 70)
Hình ảnh mô học của tuỵ và động mạch chủ xuất hiện những cấu trúc  bất thường ở mức độ vừa hoặc nhẹ - Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới
nh ảnh mô học của tuỵ và động mạch chủ xuất hiện những cấu trúc bất thường ở mức độ vừa hoặc nhẹ (Trang 71)
ảnh 3.6- Hình ảnh vi thể động mạch chủ của lô chuột ĐTĐ thực nghiệm - Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới
nh 3.6- Hình ảnh vi thể động mạch chủ của lô chuột ĐTĐ thực nghiệm (Trang 72)
ảnh 3.7- Hình ảnh vi thể tuỵ của lô chuột ĐTĐ thực nghiệm đ−ợc uống - Nghiên cứu các giải pháp tổng thể phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng tây nguyên trong tình hình mới
nh 3.7- Hình ảnh vi thể tuỵ của lô chuột ĐTĐ thực nghiệm đ−ợc uống (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w