1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch tễ lâm sàng và điều trị chấn thương hàm mặt tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang

9 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 345,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, tỉ lệ chấn thương hàm mặt gia tăng đáng kể, là tổn thương thường gặp trong các loại chấn thương do tai nạn giao thông. Bài viết trình bày đánh giá đặc điểm dịch tễ lâm sàng và kết quả điều trị chấn thương hàm mặt tại BVĐK Trung Tâm An Giang từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 06 năm 2017.

Trang 1

DỊCH TỄ LÂM SÀNG VÀ ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG HÀM MẶT

TẠI BỆN VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN GIANG

Trần Thị Thủy Tiên TÓM TẮT:

Đặt vấn đề: Trong những năm gần đây, tỉ lệ chấn thương hàm mặt gia tăng đáng kể, là tổn thương thường gặp trong các loại chấn thương do tai nạn giao thông

Mục tiêu: “Đánh giá đặc điểm dịch tễ lâm sàng và kết quả điều trị chấn thương hàm

mặt tại BVĐK Trung Tâm An Giang từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 06 năm 2017”

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, có can thiệp Mẫu nghiên cứu: BN bị

CTHM đến khám và điều trị nội trú tại khoa RHM BVĐK Trung Tâm An Giang từ 1/2014 06/2017

Kết quả: Qua khảo sát 442 ca Tuổi trung bình của bệnh nhân chấn thương hàm mặt là

31,7 ± 13,6, lứa tuổi thường gặp nhất là 21-30 tuổi, nam:nữ là 4,3:1 Nguyên nhân do tai nạn giao thông chiếm cao nhất, do xe gắn máy hai bánh, có liên quan rượu bia chiếm 25,1%, gãy xương tầng mặt giữa chiếm tỉ lệ cao nhất, gãy xương hàm dưới thấp hơn Kết quả điều trị ở nhóm tiến cứu can thiệp lâm sàng 42 ca: khớp cắn đúng 97,6%, biến chứng sau điều trị: nhiễm trùng phần mềm chiếm cao nhất 6 ca (14,2%), hở vết thương 1 ca (2,4%), sẹo xấu 2 ca (4,8%), sai khớp cắn có 1 ca (2,4%), không có trường hợp không liền xương, chậm liền xương hay tổn thương thần kinh

Kết luận: Chấn thương hàm mặt do tai nạn giao thông chiếm cao nhất, phương tiện

gây ra CTHM nhiều nhất là xe gắn máy hai bánh Việc phòng ngừa CTHM đòi hỏi vào

ý thức của người tham gia giao thông và sự quan tâm của nhiều cơ quan ban ngành của xã hội

Trang 2

ABSTRACT

Introduction: In recent years, the incidence of maxillofacial traumas has increased significantly, with the most common types of traumatic injuries

Objective: "Assessment of clinical epidemiological characteristics and treatment of

maxillofacial traumas in An Giang Geneal Hospital from January 2014 to June 2017"

Study design: Describe Study design: retrospective and prospective study Study

sample: CTHM patients visited the inpatient department of An Giang province hospital from 1/2014 06/2017

Results: Through a survey of 442 cases The average age of patients with maxillofacial

traumatic injury was 31.7 ± 13.6, the most common age was 21-30 years, male: female was 4.3: 1 The cause of traffic accident occupy the highest , due to two-wheeled motorcycles, related alcohol accounted for 25.1%, Middle facial fractures account for the highest incidence, mandibular fractures is lower Results of treatment in the group

of clinical intervention 42 cases: Most correct occlusal after treatment 97.6%, complications after treatment: soft tissue infection occupy the highest 6 cases (14.2 %), one wound (2.4%), scars 2 cases (4.8%), malocclusal (2.4%), no bone loss, or nerve damage

Conclusion: The incidence and causes of mandibular fracture reflect trauma patterns

within the community and, as such, can provide a guide to the design of programs toward prevention and treatment

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, tỉ lệ chấn thương hàm mặt (CTHM) gia tăng đáng kể, là tổn thương thường gặp trong các loại chấn thương do tai nạn giao thông (TNGT) Nước ta phương tiện giao thông bằng xe ô tô và mô tô rất phổ biến nhưng đường xá còn chật hẹp Tỉnh An Giang có hệ thống giao thông liên thông với các tỉnh, tỉ lệ CTHM cao nhưng chưa có nghiên cứu Vào những năm đầu của thế kỷ XX, điều trị gãy xương hàm dưới chủ yếu bằng phương pháp bảo tồn Trong chiến tranh thế giới thứ nhất

Trang 3

(1914-1918), các loại cung, nẹp răng được sử dụng phổ biến, có thể khâu kết hợp xương hoặc không để điều trị các trường hợp gãy xương hàm dưới Đối với gãy xương hàm trên, các tác giả thường dùng phương pháp mũ thạch cao và treo hàm trên bị gãy lên hai bên mũ thạch cao rồi cố định ngoài sọ sau khi điều chỉnh khớp răng đúng vị trí ban đầu [3] Năm 1973 Michelet là người đầu tiên sử dụng hệ thống nẹp vít nhỏ điều trị CTHM Lâm Hoài Phương và cộng sự (2009) [4] cho biết sau một năm thực hiện qui định bắt buộc đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe máy có 1866 bệnh nhân CTHM được khám và điều trị tại BV Răng Hàm Mặt Trung Ương TPHCM, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ CTHM vẫn cao và không có chiều hướng giảm

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá đặc điểm dịch tễ lâm sàng và kết quả điều trị chấn thương hàm mặt tại BVĐK Trung Tâm An Giang từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 06 năm 2017

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu:

BN bị chấn thương hàm mặt đến khám và điều trị tại khoa RHM - BVĐKTTAG

- Nhóm hồi cứu mô tả: hồi cứu hồ sơ bệnh án của các BN bị CTHM đến khám và điều

trị nội trú tại khoa Răng Hàm Mặt BVĐKTTAG từ 1/2014 đến hết 12/2016

Tiêu chí loại trừ: các hồ sơ không đáp ứng đủ những tiêu chuẩn

- Nhóm tiến cứu can thiệp lâm sàng so sánh trước-sau, không nhóm chứng: BN bị

CTHM đến khám và điều trị tại khoa RHM BVĐKTTAG từ 01/2017 đến 6/2017 Tiêu chí chọn bệnh: chọn mẫu thuận tiện gồm tất cả bệnh nhân đến khám và điều trị nội trú có chẩn đoán chấn thương hàm mặt

▪ Có đầy đủ phim X quang chẩn đoán vùng hàm mặt

▪ BN đồng ý tham gia nghiên cứu và tái khám theo hẹn BN được khám, điều trị, theo dõi, đánh giá kết quả điều trị

Trang 4

Tiêu chí loại trừ:

▪ BN không đồng ý tham gia nghiên cứu, không tái khám theo hẹn, kém phát triển tâm thần vận động, nặng, chấn thương sọ não nặng có thể tử vong

▪ Chuyển viện theo yêu cầu và theo quy định phân tuyến kỹ thuật của BYT

Phương pháp nghiên cứu:

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, có can thiệp

Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Khoa Răng Hàm Mặt Bệnh viện Đa khoa Trung Tâm An Giang, thời gian từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 06 năm 2017

- Các biến số: Tuổi, giới, nguyên nhân (TNGT, TNSH, TNLĐ, ẩu đả), sử dụng chất kích thích (rượu, bia), nón bảo hiểm, phương tiện giao thông sử dụng, vết thương phần mềm, gãy tầng mặt giữa, gãy xương hàm dưới, khớp cắn, chấn thương phối hợp, biến chứng (nhiễm trùng, hở vết thương, sẹo xấu, chậm liền xương, khớp giả, tổn thương thần kinh, sai khớp cắn)

Bảng: Tiêu chí đánh giá kết quả điều trị

Tốt

- Xương liền tốt,

không biến dạng

-Tiếp xúc 2 đầu gãy

tốt (di lệch < 1mm)

- Không đau, ăn nhai tốt, nuốt bình thường

- Khớp thái dương hàm

cử động tốt

- Há miệng ≥35mm

- Khớp cắn đúng

- Mặt cân đối

- Xương và phần mềm tại chỗ không biến dạng

Khá

-Xương liền, có biến

dạng ít

-Tiếp xúc 2 đầu gãy di

lệch 1 đến 2 mm

- Đau ít hoặc không đau,

ăn nhai được

- Khớp thái dương hàm cử động được

- 20mm < Há miệng <

- Mặt cân đối

- Xương và phần mềm tại chỗ có thể có biến dạng nhẹ

Trang 5

35mm

- Khớp cắn đúng

Kém

- Xương liền chậm

- Can sai > 2mm hoặc

tạo khớp giả

- Đau, ăn nhai khó khăn

- Khớp thái dương hàm

cử động hạn chế

- Há miệng ≤ 20mm

- Khớp cắn sai

- Mặt không cân đối

-Xương và phần mềm tại chỗ biến dạng

Xử lý và phân tích số liệu: Các số liệu được ghi chép, tổng hợp, nhập liệu và xử lý

bằng phần mềm Stata 14.0 và excel 2013

KẾT QUẢ

Nghiên cứu này tổng số là 442 bệnh nhân nghiên cứu dịch tễ lâm sàng, trong đó 42 ca tiến cứu có gãy xương được can thiệp lâm sàng

1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:

Giới: tỉ lệ gãy xương hàm ở nam giới (81%) cao hơn nhiều so với nữ giới (19%) nam:

nữ là: 4,3:1

Tuổi: Tuổi trung bình của bệnh nhân bị CTHM là 31,7 ± 13,6, nhóm tuổi bị CTHM

nhiều nhất là 21-30 (37,8%), kế đến là nhóm tuổi 31-40 (21,7%)

Nguyên nhân chấn thương: Nguyên nhân chấn thương cao nhất là TNGT 382 trường

hợp (86,4%) Phương tiện gây CTHM: nhiều nhất là xe gắn máy hai bánh 98,2% Tình trạng đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông: Trong 382 trường hợp bị chấn thương hàm mặt do TNGT, ngoại trừ 1 trường hợp nguyên nhân do xe đạp thì đa số đều có đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông, chiếm (97,6%)

Tình trạng CTHM mặt với rượu, bia: có rượu bia khi bị CTHM khá cao (25,1%)

2 Đặc điểm lâm sàng chấn thương hàm mặt

Bảng1: Phân loại chấn thương

Trang 6

Phân loại chấn thương Số BN Tỉ lệ (%)

Vết thương phần mềm đơn thuần 53 11,8

Gãy xương hàm đơn thuần 110 24,9

Phối hợp VT phần mềm và gãy xương 279 63,3

Phối hợp CTHM và chấn thương khác 143 32,4

Nhận xét: Trong 143 ca có chấn thương phối hợp thì chấn thương chi chiếm nhiều nhất

với 64 ca, chấn thương mắt 50 ca, chấn thương sọ não đứng thứ ba với 38 ca

Bảng 2: Phân loại hình thái tổn thương xương

Loại gãy Hình thái tổn thương xương Số BN Tỉ lệ (%)

Đơn thuần

(n=334)

Gãy xương hàm dưới 157 40,4

Phối hợp

(n=55)

Gãy phối hợp xương hàm dưới và tầng mặt giữa 55 14,1

Tổng 389 100

3 Phương pháp điều trị

Bảng 3: Phương pháp điều trị

(n=442) Tỉ lệ %

Nội khoa đơn thuần (n=119) 119 26,9

Bảo tồn đơn

thuần (n=59)

Cố định 1 hàm 12 2,7

Cố định liên hàm 47 10,6 Phẫu thuật

(n=242)

Nâng xương 22 5,0 Kết hợp xương bằng nẹp vít 122 27,6

Trang 7

Phương pháp điều trị Số ca

(n=442) Tỉ lệ %

Phẫu thuật + cố định hàm 98 22,2 Chuyển viện (n=22) 22 5,0

Phương pháp điều trị kết hợp xương bằng nẹp vít chiếm nhiều nhất trong nhóm phẫu thuật Tuy nhiên, đối với các trường hợp gãy xương tầng mặt giữa, một số trường hợp gãy xương hàm dưới ít di lệch, hay gãy lồi cầu không di lệch hoặc di lệch ít chúng tôi vẫn sử dụng phương pháp điều trị bảo tồn là nắn chỉnh và cố định liên hàm

4 Đánh giá kết quả điều trị gãy xương ở nhóm tiến cứu can thiệp lâm sàng

Bảng 4: Tình hình điều trị gãy xương

Nội khoa đơn thuần (n=0) 0 0,0

Bảo tồn đơn

thuần (n=6)

Cố định 1 hàm 1 2,4

Cố định liên hàm 5 11,9

Phẫu thuật

(n=36)

Nâng xương 8 19,0 Kết hợp xương bằng nẹp vít 20 47,7 Phẫu thuật + cố định hàm 8 19,0 Tổng 42 100

Bảng 5: Đánh giá khớp cắn trước và sau điều trị

Khớp cắn Lúc nhập viện

n (%)

Sau điều trị

n (%)

Khớp cắn đúng 12 (28,6) 41 (97,6)

Khớp cắn sai 30 (71,4) 1 (2,4)

Trang 8

Bảng 6: Đánh giá giải phẫu, chức năng, thẩm mỹ sau điều trị

Yếu tố Kết quả

Giải phẫu

n (%)

Chức năng

n (%)

Thẩm mỹ

n (%)

Tốt 31 (73,8) 38 (90,5) 36 (85,7) Khá 10 (23,8) 4 (9,5) 6 (14,3) Kém 1 (2,4) 0 (0) 0 (0)

Đánh giá biến chứng sau điều trị

Nhiễm trùng phần mềm 6 ca (14,2%), hở vết thương 1 ca (14,2%), sẹo xấu 2 ca

(4,8%), sai khớp cắn 1 ca (2,4%)

BÀN LUẬN

Nghiên cứu này có 442 ca bị CTHM, đa số bệnh nhân là nam với nguyên nhân chủ yếu do TNGT, xe gắn máy 2 bánh Nhóm tuổi bị CTHM nhiều nhất theo nghiên cứu này là 21-30 tuổi Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như: Cheema S.A (2006) là 31% [6], Bali R (2013) là 38,3% [5] Tỉ lệ chấn thương phần mềm đơn thuần của nghiên cứu này cao hơn của Lâm Ngọc Ấn (2000) (9,5%) [1], Lâm Thị Xuân Hoa (2011) (1,9%) nhưng tương tự với kết quả của Gassner (2003) (18,2%) [7] Kết quả CTHM phối hợp chấn thương sọ não của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu trước khi có quy định bắt buộc đội nón bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe gắn máy điều này cho thấy nón bảo hiểm đã góp phần làm giảm tỉ lệ chấn thương sọ não Trong 42 ca can thiệp lâm sàng có 06 ca nhiễm trùng phần mềm (14,2%) Nhiễm trùng có thể do nhiều yếu tố gây ra, do vệ sinh răng miệng kém, việc đóng kín vết thương không đảm bảo che phủ đủ cho nẹp và xương, trong khi đó môi trường miệng là môi trường không sạch… Nghiên cứu của Trương Mạnh Dũng (2012), nhiễm trùng phần mềm là 3,8% [2] Nghiên cứu của Ellis E (2002) trên 59 bệnh nhân với 80 đường gãy, có 6 trường hợp bị nhiễm trùng (10,2%), 2 trường hợp sai khớp cắn

(3,4%)Error! Reference source not found Sai khớp cắn sau phẫu thuật: có 01 ca

Trang 9

(2,4%), trường hợp này do gãy phức tạp xương hàm dưới cành ngang mà bệnh nhân tự

ý tháo thun cố định liên hàm Trong nghiên cứu của chúng tôi không có ca nào không liền xương, chậm liền xương hay tổn thương thần kinh

KẾT LUẬN

Chấn thương hàm mặt do tai nạn giao thông chiếm cao nhất, nam nhiều hơn nữ, phương tiện gây ra CTHM nhiều nhất là xe gắn máy hai bánh, tỉ lệ điều trị thành công cao Tuy nhiên, việc phòng ngừa CTHM đòi hỏi vào ý thức của người tham gia giao thông và sự quan tâm của nhiều cơ quan ban ngành của xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Lâm Ngọc Ấn và cộng sự (2000), “Chấn thương vùng mặt do nguyên nhân thông thường (1976-1993)”, Kỷ yếu công trình khoa học 1975 - 1993, Viện Răng Hàm Mặt Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.127-133

[2] Trương Mạnh Dũng (2012), “Nghiên cứu áp dụng hệ thống nẹp vít tự tiêu trong điều trị gãy xương hàm mặt”, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ,

Viện đào tạo Răng Hàm Mặt, Trường Đại Học Y Hà Nội

[3] Lâm Hoài Phương (2000), “Phẫu thuật tạo hình di chứng chấn thương tầng mặt giữa”, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

[4] Lâm Hoài Phương và cộng sự (2009), “Khảo sát dịch tễ học chấn thương hàm mặt

1 năm sau qui định bắt buộc đội mũ bảo hiểm tại BVRHMTW TPHCM”, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học răng hàm mặt 2009, Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y

Dược Thành phố Hồ Chí Minh

[5] Bali R., Sharma P., Garg A., Dhillon G (2013), “A comprehensive study on

maxillofacial trauma conducted in Yamunanagar, India”, Journal of injury and violence research, pp 108-116

[6] Cheema S.A., Amin F (2006), “Incidence and causes of maxillofacial skeletal

injuries at the Mayo Hospital in Lahore, Pakistan”, British Journal of Oral and Maxillofacial Surgery, 44, pp.232-234

[7] Gassner R., Tuli T., Hachl O., Rudisch A., Ulmer H (2003),

“Cranio-maxillofacial trauma: a 10 year review of 9,543 cases with 21,067 injuries”, J Craniomaxillofac Surg, 31 (1), pp.51-61

Ngày đăng: 27/05/2021, 09:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w