1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN

19 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 5,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong hầu hết các trận động đất, sự chuyển động của mặt đất gây ra nhiều thiệt hại nhất.. Lũ quét tạm thời có thể phân chia làm 3 loại: + Lũ gây ra do mưa địa phương, tập trun

Trang 1

bµi tËp m«n NghiÖp vô híng dÉn du lÞch

CÁC HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN

I Lở tuyết

Tuyết lở hay tuyết truồi là hiện tượng khi một lượng tuyết lớn, thường trộn với nước và không khí, đột ngột tuôn xuống triền núi Tuyết lở là mối

đe dọa lớn nhất gây thiệt hại nhân mạng và của cải ở miền núi lạnh.Tuyết lở

có khi đẩy thêm cả đá tảng.Tuyết lở xảy ra dưới ba dạng:

- Trường hợp thứ nhất là khi lượng tuyết vượt quá độ bền cắt khiến tuyết trườn xuống dốc nhìn từ trên giống như hình giọt nước

- Trường hợp hai là khi cả một nền tuyết đặc ở trên trượt xuống vì lớp tuyết phía dưới không đủ chắc để giữ nguyên vị trí Đây là động lực gây ra 90% vụ thương vong vì nền tuyết dày đến vài mét và bề rộng có thể đến vài trăm mét

- Trường hợp thứ ba là khi lớp tuyết thấm nước

II Động đất

Động đất hay địa chấn là một sự rung chuyển hay chuyển động lung

lay của mặt đất Động đất thường là kết quả của sự chuyển động của các

Trang 2

phay (geologic fault) hay những bộ phận đứt gãy trên vỏ của Trái Đất hay

các hành tinh cấu tạo chủ yếu từ chất rắn như đất đá Tuy rất chậm, mặt đất vẫn luôn chuyển động và động đất xảy ra khi ứng suất cao hơn sức chịu đựng của thể chất trái đất Hầu hết mọi sự kiện động đất xảy ra tại các đường ranh giới của các mảng kiến tạo là các phần của thạch quyển của trái đất (các nhà khoa học thường dùng dữ kiện về vị trí các trận động đất để tìm ra những ranh giới này) Những trận động đất xảy ra tại ranh giới được gọi là động đất xuyên đĩa và những trận động đất xảy ra trong một đĩa (hiếm hơn) được gọi là động đất trong đĩa.

Đặc điểm

Động đất xảy ra hằng ngày trên trái đất, nhưng hầu hết không đáng chú ý và không gây ra thiệt hại Động đất lớn có thể gây thiệt hại trầm trọng

và gây tử vong bằng nhiều cách Động đất có thể gây ra đất lở, đất nứt, sóng thần, nước triều giả, đê vỡ, và hỏa hoạn Tuy nhiên, trong hầu hết các trận động đất, sự chuyển động của mặt đất gây ra nhiều thiệt hại nhất Trong rất nhiều trường hợp, có rất nhiều trận động đất nhỏ hơn xảy ra trước hay sau lần động đất chính; những trận này được gọi là dư chấn Năng lực của động đất được trải dài trong một diện tích lớn, và trong các trận động đất lớn có thể trải hết toàn cầu Các nhà khoa học thường có thể định được điểm mà các sóng địa chấn được bắt đầu Điểm này được gọi là chấn tiêu Hình chiếu của điểm này lên mặt đất được gọi là chấn tâm

Nhiều trận động đất, đặc biệt là những trận xảy ra dưới đáy biển, có thể gây ra sóng thần, hoặc có thể vì đáy biển bị biến dạng hay vì đất lở dưới đáy biển

Trang 3

Thang đo động đất (Độ Richter)

- 1–2 trên thang Richter : Không nhận biết được

- 2–4 trên thang Richter : Có thể nhận biết nhưng không gây thiệt hại

- 4–5 trên thang Richter : Mặt đất rung chuyển, nghe tiếng nổ, thiệt hại

không đáng kể

- 5–6 trên thang Richter : Nhà cửa rung chuyển, một số công trình có

hiện tượng bị nứt

- 6–7 trên thang Richter

7–8 trên thang Richter

Mạnh, phá hủy hầu hết các công trình xây dựng thông thường, có vết nứt lớn hoặc hiện tượng sụt lún trên mặt đất

- 8–9 trên thang Richter

- >9 trên thang Richter

Rất hiếm khi xảy ra

Các thang đo khác

- Thang độ lớn mô men (Mw)

- Thang Rossi-Forel (viết tắt là RF)

- Thang Medvedev-Sponheuer-Karnik (viết tắt là MSK)

- Thang Mercalli (viết tắt là MM)

- Thang Shindo của cơ quan khí tượng học Nhật Bản

- Thang EMS98 tại châu Âu

Nguyên nhân

Trang 4

 Nội sinh: liên quan đến vận động phun trào núi lửa, vận động kiến tạo

ở các đới hút chìm, các hoạt động đứt gãy

 Ngoại sinh: Thiên thạch va chạm vào Trái Đất, các vụ trượt lở đất đá với khối lượng lớn

 Nhân sinh: Hoạt động làm thay đổi ứng suất đá gần bề mặt hoặc áp suất chất lỏng, đặc biệt là các vụ thử hạt nhân dưới lòng đất

Ngoài ra còn phải kể đến hoạt động âm học, đặc biệt là kỹ thuật âm thanh địa chấn

III Bão

Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời

tiết cực trị Ở Việt Nam, thuật ngữ "bão" thường được hiểu là bão nhiệt đới,

là hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm chỉ xuất hiện trên các vùng biển nhiệt đới, thường có gió mạnh và mưa lớn

Một định nghĩa khí tượng chặt về một cơn bão là có cấp gió Beaufort lớn hơn hoặc bằng 10, (89 km/h) Ở Việt Nam, gió xoáy có cấp Beaufort từ 6 đến 7 trên một diện rộng gọi là áp thấp nhiệt đới Gió xoáy từ cấp 8 trở lên trên một diện rộng, có thể kèm theo mưa lớn gọi chung là bão

Điều kiện hình thành bão

Bão là một xoáy thuận nhiệt đới được cấu trúc bởi khối khí nóng ẩm với dòng thăng rất mạnh xung quanh mắt bão, tạo hệ thống mây, mưa xoáy vào vùng trung tâm bão Năng lượng bão là ẩn nhiệt ngưng kết của lượng hơi nước khổng lồ bốc hơi từ mặt biển, ngoài ra bão hình thành đòi hỏi không khí có tầng kết bất ổn định đảm bảo cho sự hình thành đối lưu sâu và

Trang 5

dông Bão chỉ có thể hình thành khi có đủ 3 điều kiện: Nhiệt, ẩm và động lực

để tạo xoáy

Nhà khí tượng Erik palmen đã tìm ra ràng bão chỉ có thể hình thành trên biển trong dải vĩ độ 5 - 20ovĩ hai bên xích đạo có nhiệt độ cao (từ 26 –

27oC trở lên) - đảm bảo cung cấp đủ lượng hơi nước khổng lồ bốc hơi mạnh

từ mặt biển để cung cấp năng lượng ngưng kết cho bão hình thành và lực coriolis dủ lớn để tạo xoáy, tạo điều kiện thuận lợi cho bão hình thành Sở dĩ bão không thể hình thành trong giải 0 – 5ovĩ về hai phía của xích đạo vì ở đó lực coriolis quá nhỏ, không đủ để tạo xoáy

các giai đọan bão( xoáy thuận nhiệt đới)

 Vùng áp thấp (low pressure area): có vùng áp thấp trên bản đồ khí áp

bề mặt, nhưng vị trí trung tâm không thể xác định được

 Áp thấp nhiệt đới (ATNĐ: tropical depression): vị trí trung tâm có thể xác định được, nhưng Vmax < 34 kt

 Bão tố nhiệt đới (Tropical storm - TS): Vmax 34-47 kt ("storm" gốc từ tiếng Hà Lan là "dông tố", tiếng Trung là "cuồng phong", ở đây tạm dịch là "bão tố")

 Bão tố nhiệt đới mạnh (severe TS): Vmax 48-63 kt

 Bão (Typhoon): Vmax => 64 kt Có cơn bão quá mạnh người ta gọi là

"siêu bão" (supertyphoon)

IV Lũ – Lũ quét

Trang 6

Lũ là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất

định, sau đó giảm dần Trong mùa mưa lũ, những trận mưa từng đợt liên tiếp trên lưu vực sông, làm cho nước sông từng đợt nối tiếp nhau dâng cao, tạo ra những trận lũ trong sông, suối Vào các tháng mùa mưa có các trận mưa lớn, cường độ mạnh, nước mưa tích luỹ nhanh, nếu đất tại chỗ đã no nước thì nước mưa đổ cả vào dòng chảy, dễ gây ra lũ Khi lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông (đê), chảy vào những chỗ trũng và gây ra ngập lụt trên một diện rộng

Lũ lớn và đặc biệt lớn nhiều khi gây ra những thiệt hại to lớn về người và của cải Cha ông ta đã xếp lũ, lụt là một trong những loại thiên tai nguy hiểm nhất

Nước lũ do mưa (hay băng, tuyết ở những nước vùng vĩ độ cao) sinh ra nên mùa lũ thường đi đôi với mùa mưa Mùa lũ ở Bắc bộ từ tháng 5-6 đến tháng 9-10, Bắc Trung bộ từ tháng 6-7 đến tháng 10-11, Trung và Nam Trung bộ: tháng 10-12, Tây nguyên: tháng 6-12, Nam bộ: tháng 7-12 Tuy vậy đầu mùa mưa cũng có thể có lũ sớm, như lũ "tiểu mãn", thường xảy ra vào "tiết tiểu mãn" (tháng 5) hàng năm ở vùng núi phía bắc nước ta Song mùa lũ hàng năm cũng biến động cùng với mùa mưa, thậm chí sớm muộn

1-2 tháng so với trung bình nhiều năm

Một số biện pháp phòng chống lũ lụt lớn: trong phòng chống lũ, lụt nhằm giảm nhẹ thiệt hại người ta quy thành hai biện pháp, gồm: biện pháp công trình và biện pháp không công trình Biện pháp công trình là nhằm thay đổi đặc tính của thiên tai như xây dựng các hồ chứa để điều tiết lũ, xây dựng các hệ thống đê ngăn lũ tràn vào đồng bằng, tu bổ bảo vệ đê điều, giải pháp phân, chậm lũ… Biện pháp không công trình là nhằm thay đổi tác động của thiên tai như trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn để giảm thấp cường độ lũ lụt, xây nhà ở có khả năng chịu được nước lụt (chung sống với lũ)…

Trang 7

Lũ quét là một hiện tượng thiên tai có tính chất và đặc điểm khác biệt

là lũ diễn biến nhanh, mang tính bất thần và khốc liệt, mỗi trận xảy ra trên một diện hẹp và phạm vi tác động cũng hẹp hơn lũ sông Nếu mưa lớn, nước mưa lại bị tích luỹ bởi các trướng ngại vật như đất đá, cây cối cho đến khi lượng nước vượt quá sức chịu đựng của vật chắn, phá vỡ vật chắn, ào xuống cấp tập (rất nhanh), cuốn theo đất đá, cây cối và quét đi mọi vật có thể quét theo dòng chảy thì được gọi là lũ quét (hay lũ ống), thường diễn ra rất

nhanh, khoảng 3-6 giờ Lũ quét xảy ra bất ngờ, nhanh, có sức tàn phá lớn ở các lưu vực nhỏ Tiếng Anh lũ là flood, lũ quét là flash flood (flash là vụt hiện rồi tắt), tiếng Trung Quốc lũ là "hồng thuỷ", nghĩa là "nước lớn"

Lũ lụt là hiện tương thuỷ văn đặc biệt nguy hiểm, nhất là lũ quét Trong một

số trường hợp nó có sức tàn phá khủng khiếp và trở thành thảm hoạ tự nhiên, như trận lũ quét năm 1998 ở thị xã Lai châu (cũ) đã xoá sổ cả bản Mường Lay và khu vực thị xã Lũ thường xảy ra ở vùng núi, nơi có địa hình đồi núi cao xen kẽ với thung lũng và sông suối thấp

Lũ quét tạm thời có thể phân chia làm 3 loại:

+ Lũ gây ra do mưa địa phương, tập trung lớn ở các lưu vực tự nhiên (hầu như chưa có tác động của con người);

+ Lũ gây ra do mưa lớn trên các lưu vực đã chịu tác động mạnh của các hoạt động kinh tế của con người làm mất ổn định hay phá vỡ cân bằng sinh thái lưu vực (thay đổi lớp phủ, chế độ dòng chảy, lượng trữ hay các đặc tính lưu vực…);

+ Lũ gây ra do tháo, vỡ thình lình một lượng nước tích do vỡ đập chắn hay các đập giữ nước, các đập băng

Lũ quét thường gây hoạ cho các sông nhỏ và vừa nhưng ít đối với

Trang 8

sông lớn ở các lưu vực sông suối nhỏ miền núi, nới có điều kiện thuận lợi

để hình thành lũ quét như: địa hình chia cắt, độ dốc lưu vực và độ dốc long sông/suối lớn, độ ổn định của lớp đất trên bề mặt lưu vực yếu do quá trình phong hóa mạnh, lớp phủ thực vật bị tàn phá… ở những nơi này, khi xẩy ra mưa lớn, tập trung trong một thời gian ngắn thì dễ xảy ra lũ quét

CÁC HỆ SINH THÁI Ở VIỆT NAM

Nước ta có nhiều hệ sinh thái (HST):

- HST nhiệt đới gồm:

+ HST rừng rậm nội chí tuyến gió mùa ẩm thường xanh, còn gọi là HST rừng ẩm nhiệt đới từ độ cao 700m trở xuống ở Miền Bắc và 1000m trở xuống ở miền Nam

+ HST rừng rậm gió mùa ẩm trên núi đá vôi (HST karst)

+ HST savan nội chí tuyến gió mùa (HST savan)

+ HST rừng rậm nhiệt đới hơi khô nửa rụng lá (rừng khộp) phân bố ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ

- HST núi cao gồm:

+ HST núi đá vôi

+ HST núi đất

+ HST trên núi đá granit

Trang 9

- HST đất ngập nước gồm:

+ HST rừng ngập mặn ven biển

+ HST đầm lầy nội địa

+ HST mặt nước sông, biển

+ HST đầm phá

- HST san hô, cỏ biển

- HST vùng cát ven biển

- HST biển đảo

- HST nông nghiệp

Trong các hệ sinh thái nói trên có một số hệ sinh thái điển hình sau:

1 Hệ sinh thái san hô

HST san hô ở Việt Nam có thành phần loài khá phong phú, đa dạng, ước tính có đến trên 1500 loài chiếm khoảng hơn 50% số loài san hô của khu vực Thái Bình Dương và tương đương với khu vực giàu san hô khác của Tây Thái Bình Dương Ước tính ở Việt Nam có khoảng 400.000 ha san hô,

mộ số biển có san hô đẹp như : Trà Cổ, Cát Bà, Hạ Long, Nha Trang, Phú Yên…

Trong các loài san hô ở ven biển Việt Nam, bước đầu đã xác định được tên 350 loài Ở vùng ven bờ biển phía Bắc 95 loài đã xác định được tên Ở vùng ven bờ biển phía Nam xác định được tên 255 loài

Các loại san hô vùng ven biển nước ta có khả năng tạo rạn khá cao như vịnh biển Vĩnh Hy của Phú Yên có 350 loài san hô, trong đó có 306 loài

có khả năng tạo rạn và có nhiều loại rạn như: rạn riềm hở, kín, kín và nửa kín ở ven biển miền Trung; kiểu đáy cứng, đáy xốp, ở vùng vịnh Thái Lan; kiểu rạn nền và kiểu đảo san hồ vòng ở vùng ngoài khơi Nhưng Việt Nam

Trang 10

thiếu vắng kiểu cấu trúc bờ chắn đồ sộ như ở HST san hô ở các nước, HST san hô có tác dụng chắn sóng, bảo vệ bờ biển; là môi trường sinh sống, bảo

vệ, cung cấp thức ăn cho nhiều loài thủy sinh HST này tạo phong cảnh đẹp thần tiên, kỳ thú; là cơ sở tài nguyên cho phát triển loại dình du lịch lặn biển

và tham quan bằng tàu đáy kính

2 Hệ sinh thái vùng cát ven biển

Dọc theo bờ biển nước ta có khoảng 60.000 ha đất cát ven biển, gồm nhóm các HST trảng cây bụi trên đất cát, HST phi lao trên đất cát và HST nông nghiệp trên đất cát

- Nhóm HST trảng cây bụi trên đất cát là nơi phát triển của những loài muống biển, các loại cỏ…Đây là nơi đậu, kiếm ăn của nhiều loài chim nước như: diều hâu trắng, hải âu, nhạn cát pia, mồng biển mỏ ngắn, choắt lớn mỏ vàng, choắt chân màng bé, rẻ mỏ thìa…và đây cũng là nơi sinh sống của nhiều loài cua, ốc, ngao…

- Nhóm HST rừng phi lao có tác dụng chắn gió bão, chắn cát ở các vùng ven biển, bảo vệ cho HST nông nghiệp và tạo ra môi trường xanh mát trong HST bãi cát

- Nhóm HST nông nghiệp ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới

đã được thau chua, rửa mặn, cải tạo thành các vùng trồng cây công nghiệp như trồng mía, cói, lúa, hoa màu Một số nơi cải tạo để nuôi trồng thủy sản

3 Hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển

Nước ta có khoảng 250.000 ha rừng ngập mặn ven biển, trải suốt từ Bắc vào Nam Đây là HST có giá trị đối với việc bảo vệ đa dạng sinh học và moi trường đối với các vùng ven biển

Rừng ngập mặn ở Việt Nam có thành phần thực, động vật khá phong phú

so với các nước trong khu vực Ở HST này, theo điều tra ban đầu có 70 loài

Trang 11

thực vật trong đó có 35 loài thuộc 15 họ là những thức vật ngập mặn, điển hình phân bố trên các bãi triều ngập hằng ngày Các loài phổ biến là đước, mắm, sú, bần…

Về động vật, có 258 loài cá thuộc 78 họ đã gặp ở vùng ven biển Việt Nam, 168 loài thân mềm thuộc 51 họ, 69 loài cua ( 8 họ), 386 loài chim với

73 loài chim di cư, đồng thời còn có nhiều loài bò sát, thú gặm nhấm và lưỡng cư

Do có sự đa dạng về thành phần các loài, họ, chi động thực vật và là HST

có giá trị về bảo vệ môi trường biển và vùng đất ven biển, bảo vệ sự đa dạng sinh học của toàn cầu Vì vậy, nhiều khu bảo tồn và vườn quốc gia có rừng ngập mặn ven biển như khu rừng ngập mặn Cần Giờ; các khu ngập nước, rừng ngập mặn lien tỉnh châu thổ sông Hồng, khu ngập nước và rừng ngập mặn Cát Bà và các khu rừng ngập mặn ở ven biển Kiên Giang đã được UNESSCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển Thế giới

Ngoài ra, còn có HST mặt nước ven biển, mặt nước của sông là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sinh như cá, tôm, phù du, tảo biển và là nơi kiếm ăn của nhiều loài chim nước

4 Hệ sinh thái đầm lầy nội địa

HST này ở nước ta tập trung nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiêu biểu là ở vùng Đông Tháp Mười, Kiên Giang đây là một HST độc đáo với kiểu rừng kín, lá rộng thường xanh, ngập nước theo mùa trên đáy phèn Ngoài ra ở đây bảo tồn các loại quần xã thực vật mẩu chuẩn sinh thái của các vùng đất ngập nước nội địa như: sen, lúa ma, cỏ ống lăn, mồm mốc Ở vương quốc gia Chàm Chim – Đồng Tháp đã có tới 198 loài chim nước thuộc 49 họ trong đó có 16 loài chim đang bị đe dọa trên quy mô toàn cầu như: sếu đầu đỏ, ngan cánh trắng,…ở các khu ngập nước nội địa cũng là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sinh, bò sát lưỡng cư

Trang 12

5 Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Đây là HST khá phổ biến trong các khu bảo tồn, các vườn quốc gia ở nước ta ở độ cao dưới 700m đối với các khu rừng nguyên sinh ở miền Bắc

và dưới 1000m đối với các khu rừng nguyên sinh ở miền Nam từ Đà Nẵng trở vào

Đây là một HST còn khá nhiều và khá phổ biến trong các khu bảo tồn, đặc biệt là ở các VQG trên các đảo và đất liền HST này có đa dạng sinh học cao tùy từng vị trí, điều kiện tự nhiên của các khu bảo tồn thiên nhiên mà loại rừng này có các loài, chi, họ thực vật và động vật khác nhau Nhưng đây

là nơi sinh sống của nhiều loài thực động vật quý hiếm Ở miền Bắc, thành phần thực vật thường có các loài: chò chỉ, chò xanh, đinh, lim…các tầng rừng thường có từ 4 đến 5 tầng cây: tầng ưu thế sinh thái cao từ 20-30m hoặc 30-40m Tầng dưới tán cao khoảng 15m tầng cây bụi cao dưới 5m, tầng thảm tươi cao dưới 1m Trong các khu rừng quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên HST này thường có sự đa dạng, phong phú về thành phần thực, động vật nên hấp dẫn du khách tham quan nhất

6 Hệ sinh thái rừng khộp

Diện tích rừng khộp nước ta chiếm khoảng 50.000ha phân bố từ Tây Nguyên đến Tây Ninh, mà tập trung chủ yếu ở VQG York Đôn và ở Easup tỉnh Đắc Lắc Đặc trưng của HST này: cấu trúc của rừng là tầng cây gỗ thưa, tán lá không liên tục, rụng lá về mùa khô, có tầng thảm xanh phát triển Các loại cây thường gặp là dầu tra beng, dầu lông, dầu đồng, cẩm hến, cà trắc, chiêu liêu, gụ, cẩm lai Đây là những loại gỗ quý có vỏ dầy, chịu lửa tốt nên

có thể sống sau các đợt cháy rừng vào mùa khô Ở HST này có nhiều loại thảo cỏ Vì vậy, ở đây thích hợp với điều kiện sống của các loài thú ăn cỏ lớn như bò tót, bò banten, voi, mang lớn, mang Trường Sơn…Và ở HST này có nhiều loại chim quý như công, trĩ, diều hâu, hồng hoàng, gà lôi…

Ngày đăng: 27/05/2021, 09:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w