1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp năng cao chất lượng dạy học theo chủ đề từ hán việt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp 7 trường THCS nga phú, nga sơn, thanh hóa

17 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 146 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính những học sinh – thế hệ tương lai của đất nước khi đã hiểu giá trị của lớp từ Hán Việt sẽ sử dụng vốn từ này phù hợp với văn cảnh, đạt hiệu quả cao trong giao tiếp và tạo

Trang 1

MỤC LỤC

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến 3 2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

2 4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 11

2.4.2 Đối với phong trào giáo dục nhà trường 12

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Được hiểu là

THCS: Trung học cơ sở

GV: Giáo viên

HS: Học sinh

SGK: Sách giáo khoa

1 MỞ ĐẦU

Trang 2

1.1 Lí do chọn đề tài:

Trong Tiếng Việt có một lớp từ ngữ gốc Hán khá phong phú về mặt số lượng, có giá trị nhiều mặt thường được gọi dưới cái tên chung là từ Hán Việt

Thực tế cho thấy: Từ Hán Việt đã góp phần rất tích cực làm cho Tiếng Việt thêm giàu có, tinh tế, chuẩn xác, uyển chuyển, có thể đáp ứng mọi yêu cầu

do cuộc sống hiện đại đặt ra

Để có được vốn từ Hán Việt phong phú như ngày nay phải kể đến quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Việt Hán kéo dài ít nhất hai thiên niên kỉ trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt – với sự tài trí thông minh của bao nhiêu thế hệ đi trước đã động viên và phát huy mạnh mẽ nhằm bảo tồn và phát triển ngôn ngữ dân tộc Trong hoàn cảnh mới, quá trình này vẫn tiếp diễn Chúng ta cần biết chủ động định hướng để phát huy tính tích cực của từ Hán Việt Một trong những cách thức đó chính là việc dạy và học từ Hán Việt trong trường sao cho đúng hướng, có hiệu quả Chính những học sinh – thế hệ tương lai của đất nước khi đã hiểu giá trị của lớp từ Hán Việt sẽ sử dụng vốn từ này phù hợp với văn cảnh, đạt hiệu quả cao trong giao tiếp và tạo lập văn bản Do vậy, trong đề tài này, tôi đề cập đến một số định hướng dạy học từ Hán Việt ở trường THCS với mong muốn góp phần cho việc dạy từ Hán Việt đạt hiệu quả cao

Mặt khác, không phải người Việt nào cũng có một vốn hiểu biết đầy đủ về

từ Hán Việt và trong chương trình học Ngữ văn cấp THCS, việc học từ Hán Việt còn chưa thực sự hiệu quả Một phần do người học chưa nhận thấy vai trò quan trọng của từ Hán Việt trong đời sống, phần còn do người dạy chưa tìm thấy cách dạy học vốn từ này sao cho dễ tiếp nhận, có hệ thống và phương pháp

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, SGK, tham khảo, chuyên luận bàn về

từ Việt gốc Hán trên nhiều khía cạnh khác nhau, cung cấp tri thức, phương pháp, thao tác cần thiết để hiểu và sử dụng đúng vốn từ này Song, hiện tại chưa có tài liệu nghiên cứu nào bàn sâu về việc dạy mở rộng từ Hán Việt thông qua dạy học

một tác phẩm văn học cụ thể ở cấp học THCS Vì vậy, tôi chọn đề tài “ Giải

pháp nâng cao chất lượng dạy học theo chủ đề Từ Hán Việt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp 7 trường THCS Nga Phú, Nga Sơn, Thanh Hóa”

hướng đến việc học sinh hiểu sâu hơn về tác phẩm và sử dụng có hiệu quả từ Hán Việt trong thực tế

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Trang 3

Đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học theo chủ đề Từ Hán Việt

nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp 7 trường THCS Nga Phú, Nga Sơn, Thanh Hóa” hướng đến đích làm cho học sinh hiểu được nghĩa và cách

dùng một số từ Hán Việt dẫn ra trong văn bản đã học, qua đó trau dồi cho học sinh ý thức thường xuyên rèn luyện về học nghĩa và cách dùng các từ Hán Việt khác Qua đây, tôi mong muốn đem đến cho bạn bè đồng nghiệp một cái nhìn

khái quát nhất về từ Hán Việt, hiểu được từ Hán Việt cặn kẽ hơn sẽ có điều kiện hiểu các tác phẩm có sử dụng từ Hán Việt tốt hơn

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu việc giải nghĩa rõ từ Hán Việt trong các văn bản đã học theo chủ đề Từ Hán Việt (Ngữ văn 7) để hiểu rõ tác phẩm hơn Từ

đó mở rộng từ Hán Việt có liên quan để tăng cường năng lực sử dụng từ Hán Việt của học sinh trong thực tế

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Đọc kĩ tác phẩm trong

SGK, tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến đề tài, soạn bài giảng theo phương pháp và kế hoạch đã đề ra

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát giờ dạy của giáo viên để thấy

được tính hiệu quả của giờ dạy khi có mở rộng từ liên quan

- Phương pháp thống kê phân loại: Giáo viên tiến hành thống kê phân loại kết

quả khảo sát qua thực nghiệm và lớp đối chứng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp kết quả khảo sát tiết dạy

ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận sáng kiến kinh nghiệm:

Lí luận dạy học đã chỉ ra rằng: Trong quá trình học tập, người học sinh cần không ngừng lĩnh hội những kiến thức do giáo viên cung cấp, mà quan trọng hơn các em còn phải tự khám phá ra những tri thức mới, kĩ năng mới từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau Song, việc kiếm tìm cái mới của học sinh không phải là một hoạt động hoàn toàn độc lập, sáng tạo như các nhà khoa học khi thực hiện nghiên cứu một đề tài nào đó Hoạt động của các em phải được thực hiện với vai trò cố vấn, tổ chức, điều khiển thường xuyên của giáo viên Do vậy, trong nhiều năm trở lại đây việc cố gắng tìm ra một giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất

Trang 4

lượng giáo dục nói chung, vừa tạo hứng thú cho học sinh nói riêng là vấn đề cần thiết đặt ra cho mỗi giáo viên Hiện nay, có nhiều biện pháp hữu hiệu đem lại hiệu quả cao như: Cải cách SGK, đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích cực, chủ động của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong xu thế mới hiện nay

Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng rất cần thiết đối với môn ngữ văn Đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong Nghị quyết Trung

ương khóa VIII và được cụ thể hóa ở Luật giáo dục “Phương pháp giáo dục phổ

thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.

Với xu thế chung đó, “Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học theo chủ

đề Từ Hán Việt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp 7 trường THCS Nga

Phú, Nga Sơn, Thanh Hóa” mà tôi lựa chọn cũng là một hình thức nhằm phát

huy tính tích cực, chủ động của học sinh Mặt khác với phương pháp này tôi muốn xóa bỏ việc học các văn bản trung đại một cách qua loa, hiểu từ Hán Việt chưa cặn kẽ, dẫn tới việc hiểu sai lệch ý nghĩa văn bản Các em sẽ có điều kiện được học kĩ hơn về các từ Hán Việt trong văn bản, được mở rộng thêm các từ có liên quan Từ đó mới hiểu đúng được nội dung của văn bản và còn có thể sử dụng từ Hán Việt một cách thành thạo hơn, làm phong phú thêm vốn ngôn ngữ cho bản thân

“Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học theo chủ đề Từ Hán Việt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp 7 trường THCS Nga Phú, Nga Sơn, Thanh

Hóa” một mặt vừa chú trọng phát huy tính tích cực cao, tính chủ thể của người

học, mặt khác lại chú trọng đến kĩ năng ứng dụng vốn từ đã được học vào trong giao tiếp hoặc sử dụng và tạo lập văn bản…Từ Hán Việt vốn là một phần rất quan trọng trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc và khi sử dụng đúng, phù hợp nó sẽ mang lại hiệu quả giao tiếp rất tốt

2.2 Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thuận lợi:

* Về phía giáo viên:

Trang 5

- Hiện nay phương pháp dạy học phát huy vai trò chủ động, tích cực của học sinh là một phương pháp dạy học mới rất phù hợp với xu thế chung của thời đại, được cộng đồng ủng hộ, được phụ huynh và các em học sinh tán thành Và

từ việc học các văn bản theo chủ đề Từ Hán Việt là một hình thức thông qua các

từ ngữ Hán Việt xuất hiện trong bài mà giúp các em có thể mở rộng từ Hán Việt bằng cách liên hệ đến các từ ngữ Hán Việt có liên quan Từ đó, nội dung bài học cũng được khắc sâu hơn, các em sẽ biết cách chọn và sử dụng đúng và hay các

từ Hán Việt

- Hệ thống cơ sở vật chất của nhà trường đã được đầu tư đầy đủ hơn, có máy chiếu đa năng – được sử dụng trong các trường hợp trình chiếu hệ thống các từ Hán Việt có liên quan (mở rộng vốn từ cho các em) mà không mất thời gian chép số lượng các từ này lên bảng

* Về phía học sinh:

- Khi chủ trương đưa ra “Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học theo

chủ đề Từ Hán Việt nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp 7 trường THCS

Nga Phú, Nga Sơn, Thanh Hóa” tôi nhận thấy có thể giúp các em có điều kiện

thể hiện năng lực liên tưởng, vốn hiểu biết của cá nhân về vốn từ Hán Việt vốn

đã rất phong phú Vậy nên các em sẽ hào hứng nhiệt tình hơn trong khi học, khắc phục được lối truyền thụ tri thức thụ động, máy móc, một chiều trước kia

- Đa số học sinh của trường THCS Nga Phú thiên về các môn học khối tự nhiên, tư duy của các em tương đối mạch lạc, cách tiếp thu kiến thức thường rất chủ động Khi học Ngữ văn các em cũng dễ nhận thấy bản thân vẫn có thể tư duy phong phú, liên tưởng thoải mái để kiếm tìm vốn từ Hán Việt có liên quan Giờ học nhờ đó cũng sôi nổi hơn nhiều, tránh sự sáo mòn theo lối dạy đọc – chép trước kia

2.2.2 Khó khăn:

Tri thức về từ Hán Việt được giảng dạy trực tiếp trong hai tiết, không còn tiết học mở rộng vốn từ hán Việt như sách Tiếng Việt các lớp ở bậc tiểu học Tuy từ Hán Việt không còn được dạy nhiều như ở cấp Tiểu họấy là từ ngữ Hán Việt trong các văn bản lại xuất hiện với số lượng lớn và tần số cao Điều này làm hạn chế khả năng nhận diện và sử dụng từ Hán Việt của học sinh trong việc rèn luyện ngôn ngữ, trong tiếp cận và tạo lập văn bản cũng như trong việc giao tiếp hằng ngày

Trang 6

Như vậy trách nhiệm đặt ra cho người giáo viên Ngữ văn là phải luôn chú giải nghĩa của từ Hán Việt khó hiểu hay dễ gây hiểu nhầm xuất hiện trong các văn bản cho học sinh đòi hỏi giáo viên phải hệ thống được các từ có liên quan

đến từ Hán Việt xuất hiện trong văn bản “Sông núi nước Nam ”,“Phò giá về

kinh”, … Mặt khác, giáo viên còn phải giải nghĩa các từ một cách cơ bản nhất,

giúp học sinh có thể hình dung được sự phong phú, đa dạng của từ Hán Việt khi được sử dụng là phg trong nhiều trường hợp khác nhau Việc làm này đòi hỏi người giáo viên phải tư duy, tìm tòi và có vốn từ Hán Việt phong phú

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải giải quyết vấn đề:

Trong quá trình học các văn bản có sử dụng từ Hán Việt, học sinh chưa thực sự cảm thấy hiểu được các từ Hán Việt xuất hiện trong các văn bản đó Và khi đề cập đến việc mở rộng vốn từ Hán Việt cho các em dựa trên việc đưa ra các từ Hán Việt có liên quan sẽ lại càng xa lạ với các em hơn Xuất phát từ thực

tế đó tôi đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu và qua quá trình thực tế giảng dạy tôi đã có sử dụng thí điểm qua dạy học theo chủ đề từ Hán Việt có liên quan tới

hai văn bản Sông núi nước Nam và Phò giá về kinh để mở rộng vốn từ cho các

em Hơn nữa, chính khi các em hiểu cặn kẽ các từ Hán Việt trong văn bản, các

em sẽ hiểu văn bản sâu sắc hơn Và khi có được vốn từ Hán Việt đã được mở rộng, các em sẽ sử dụng từ Hán Việt đúng, hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao hơn

Trước khi vào bài, tôi tạo sự hứng thú cho các em bằng cách cho các em chọn sử dụng từ đúng với ý nghĩa sau đây (chọn một trong hai từ: bàng quan và

bàng quang): Tự coi mình là người ngoài cuộc, coi là không dính líu đến mình.

HS có thể trả lời đúng hoặc sai Nếu đúng, yêu cầu học sinh nói rõ hơn về các trường hợp từ này được sử dụng Nếu sai, giáo viên định hướng cho học sinh cách hiểu đúng  Đặt vấn đề: Hiểu đúng từ Hán Việt rất quan trọng, tránh sử dụng từ sai lệch, gây sự hiểu nhầm và buồn cười…

Tôi tiến hành mở rộng vốn từ Hán Việt cho học sinh bằng cách: Bản thân tôi tìm hiểu một số phương hướng dạy học từ Hán Việt, sau đó xây dựng kế hoạch dạy học theo chủ đề từ Hán Việt Giải pháp này được tôi tiến hành cụ thể như sau:

2.3.1 Phương án “học ít, biết nhiều”: Dạy các yếu tố Hán – Việt

Trong Tiếng Việt có khoảng hơn ba ngàn yếu tố Hán Việt không hoạt động tự do nhưng mỗi yếu tố có thể kết hợp với nhiều yếu tố khác nhau nên đã

Trang 7

tạo ra một số lượng rất lớn các từ ngữ Hán – Việt Do vậy, về mặt lí thuyết, chỉ cần nắm được một số lượng yếu tố nhất định và quan hệ cấu tạo giữa các yếu tố

đó là có thể nắm được một số lượng từ ngữ Hán – Việt gấp bội Chính vì vậy có

người gọi đây là phương pháp tiết kiệm, “học ít, biết nhiều” Ví dụ, từ yếu tố hải

có nghĩa là “biển”, ít nhất chúng ta cũng tìm thấy có hai mươi từ ngữ được cấu

tạo có yếu tố hải đứng trước: hải âu, hải cảng, hải chiến, hải dương, hải đảo,

hải đăng, hải đồ, hải hà, hải lí, hải lục không quân, hải lưu, hải ngoại, hải phận, hải quân, hải sản, hải tần, hải triều, hải yến và các từ cấu tạo có yếu tố hải đứng

sau, như lãnh hải, hàng hải, duyên hải v.v…

Với phương pháp này, ta có thể dẫn ra các từ Hán Việt cùng chứa yếu tố

đó để học sinh có thể nắm chắc nghĩa yếu tố một cách hệ thống và có điều kiện biết thêm từ Mặt khác cũng cần chú ý thêm, do hiện tượng đồng âm giữa các yếu tố Hán Việt là rất nhiều, cho nên, khi dạy yếu tố này cần kết hợp phân biệt với các yếu tố đồng âm khác để học sinh đỡ nhầm lẫn

Ví dụ: Xếp các từ có tiếng chí sau đây vào hai nhóm trong bảng theo nhóm của các từ có chung một ý nghĩa: chí phải, ý chí, chí lí,, chí thân, chí khí, chí tình, chí hướng, chí công, quyết chí.

Chí có nghĩa là rất, hết sức (biểu

thị mức độ cao nhất) Vd: Chí phải

Chí có nghĩa là ý muốn bền bỉ

theo đuổi một mục đích tốt đẹp. Vd: Ý chí

Hai yếu tố chí trong bài tập trên đồng âm với nhau, ta có thể dẫn thêm các

từ mà chí có nghĩa “rất, hết sức” như: chí công vô tư, chí cốt, chí hiếu, chí thiết,

chí tôn, chí tử; các từ mà chí có nghĩa “ý muốn bền bỉ theo đuổi một mục đích

tốt đẹp” như chí hướng, chí nguyện, chí thú, chí sĩ Ngoài ra cũng có thể đưa thêm từ có yếu tố chí đồng âm khác, có nghĩa là “ghi”, như báo chí, mộ chí, tạp

chí v.v…

Dạy yếu tố Hán - Việt theo cách đặt yếu tố trong quan hệ đồng âm, như

trường hợp chí ở trên sẽ giúp học sinh vừa biết được nhiều yếu tố vừa nắm chính

xác nghiã các yếu tố đó Ngoài cách dạy như thế, ta có thể dạy yếu tố Hán – Việt theo hai cách sau:

- Trước hết, nêu nghĩa yếu tố, sau đó đưa ra một số từ ngữ có chứa yếu tố được dùng với nghĩa như vậy Cách làm tương tự như với yếu tố

Trang 8

- Đưa ra một loạt từ ngữ có chứa yếu tố cần dạy, sau đó gợi ý cho học sinh, từ nghĩa các từ ngữ đó, căn cứ vào điểm chung mà luận ra nghĩa yếu tố đó

Ví dụ, dạy yếu tố gia, từ các từ gia bảo, gia cảnh, gia cầm, gia chánh, gia đình,

giáo, gia phong, gia sản, gia tài, gia súc v.v học sinh có thể tự rút ra được

nghĩa của từ gia là “nhà” Kiến thức nhờ đó được học sinh tiếp thu một cách chủ

động, hứng thú hơn

2.3.2 Phương án “học ít, hiểu kĩ’”: Dạy nghĩa từng từ và cách sử dụng

Cơ sở của phương pháp dạy từ ngữ Hán Việt là dạy nghĩa từng từ và cách

sử dụng là ở chỗ, khi sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cũng như khi lĩnh hội nghĩa của câu nói, mọi người đều lấy từ làm đơn vị cơ sở Mặt khác, về cấu tạo, tuy từ có thể được cấu tạo từ các yếu tố liên kết với nhau nhưng nghĩa của từ lại không phải là một phép cộng đơn giản nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên nó Do vậy, không phải với bất kì từ nào, học sinh nắm được nghĩa yếu tố là có thể hiểu

được từ Ví dụ: hiểu được du là chơi, kích là đánh, nhưng lại không thể suy ra du

kích là đánh chơi; biết mẫu là mẹ, tử là con mà vẫn không hiểu được mẫu số, tử

số là gì, nếu các em chưa học toán phân số Xuất phát từ các lí do đó nên nhiều

người chủ trương dạy từ Hán Việt, bên cạnh dạy yếu tố thì phải xem dạy từ là chính Dạy cho học sinh nắm nghĩa từng từ và biết cách sử dụng chính xác từ

đó Muốn học sinh nắm chắc được nghĩa của từ và biết cách sử dụng chính xác

từ đó Muốn học sinh nắm chắc được nghĩa của từ thì cần phải so sánh với từ đồng âm, từ gần âm, gần nghĩa và các từ đồng nghĩa với nó

2.3.3 Dạy yếu tố và từ Hán Việt theo chủ đề - cùng trường nghĩa

Đây là phương pháp dạy từ Hán Việt giúp cho học sinh có thể liên tưởng tới các từ có điểm đồng nhất nào đó về nghĩa, làm cho học sinh nắm được từ có tính hệ thống, biết lựa chọn từ ngữ, biết huy động vốn từ để tạo lập văn bản có tính liên kết về nội dung, cùng thể hiện chủ đề Chúng ta thường thấy hình thức dạy học từ Hán Việt theo trường nghĩa như sau:

Đưa ra một tập hợp các từ có một điểm chung về nghĩa để dạy từ (các từ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, hoặc các từ gọi tên sự vật, hoạt động, tính chất có liên quan với nhau…, thuộc về một trường nghĩa)

Ví dụ : Tìm trong mẩu chuyện vui dưới đây những từ ngữ chỉ người, sự

vật, sự việc liên quan đến bảo vệ trật tự, an ninh, trong số đó những từ nào là

từ Hán Việt?

Trang 9

Hai bệnh nhân nằm chung một phòng làm quen với nhau.

Một anh nói: “Tôi là cảnh sát giữ trật tự trong trận bóng chiều qua Trọng tài bắt tệ quá Bọn hu-li-gân quậy phá quá chừng, khiến tôi phải vào đây Thế còn anh, tại sao anh lại bị thương nặng như thế?”

Anh kia băng bó khắp người, thều thào trả lời: “Tôi bị bọn càn quấy hành hung Vì chính tôi là trọng tài trận bóng chiều qua!”

(Theo TRUYỆN VUI NƯỚC NGOÀI)

Mỗi một giải pháp có những ưu điểm riêng của nó Song, điều rất quan trọng để quá trình học đạt hiệu quả cao là cần phát huy được tính tích cực chủ động của bản thân người học Học sinh cần chủ động tìm tòi, chịu khó suy nghĩ

2.3.4 Ứng dụng dạy học theo chủ đề “Từ Hán Việt”

Chủ đề về từ Hán Việt được bản thân xây dựng trong kế hoạch giáo dục gồm 4 tiết, trong đó:

- Hai tiết dạy văn bản: Sông núi nước Nam, Phò giá về kinh

- Một tiết dạy từ Hán Việt (Đơn vị cấu tạo từ Hán Việt, từ ghép hán Việt,

cách sử dụng từ Hán Việt)

- Một tiết dành cho Luyện tập

Cách thức tổ chức dạy chủ đề “Từ Hán Việt”

Với nội dung này, giáo viên thường gặp lúng túng; nội dung bài học khô khan, số lượng các yếu tố đưa dạy quá nhiều, trong khi đó lại không có phương pháp dạy cụ thể để hướng dẫn cho giáo viên Điều lưu ý đầu tiên, là soạn và dạy các yếu tố Hán - Việt, giáo viên không nên coi nội dung từng bài học là bất biến mà cứng nhắc tuân theo nguyên xi

Trái lại, cần có sự năng động, sáng tạo, biết cách điều chỉnh, bố trí lại tiết dạy để giờ học từ ngữ Hán - Việt sinh động và đa dạng, tránh lặp đi lặp lại một cách đơn điệu, gây cảm giác nặng nề nhàm chán cho học sinh

Cần bố trí lại nội dung bài dạy các yếu tố Hán - Việt theo chủ đề dựa trên

cơ sở thực tế là những bài học này đơn thuần chỉ là một sự liệt kê các yếu tố và nghĩa của chúng từ đầu đến cuối danh sách Do vậy, giáo viên có thể xáo trộn trật tự các yếu tố được sắp xếp trong từng bài rồi cơ cấu lại, xếp lại các yếu tố Hán - Việt đó theo những mối quan hệ, hệ thống hay quan hệ liên tưởng khác nhau trên cơ sở chủ đề đã xây dựng Dạy tri thức và kĩ năng về từ Hán Việt tuân

thủ theo qua điểm dạy học tích hợp dọc và tích hợp ngang (kết hợp với dạy văn

bản)

Trang 10

Đó là, khi dạy lý thuyết từ ngữ, cần phải chú ý đến tính hệ thống, nếu trình bày kiến thức về từ ngữ để dạy cho học sinh một cách có hệ thống sẽ giúp nội dung học tập được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu và dễ ghi nhớ hơn

Phương pháp dạy các yếu tố HánViệt có yếu tố thuần Việt đồng nghĩa được tiến hành như sau: Dùng hai bộ quân bài có màu sắc khác nhau, một ghi yếu tố Hán Việt, một ghi yếu tố thuần Việt đồng nghĩa tương ứng

Ngoài ra, có thể nêu tên người, tên đất trong làng, trong tỉnh ; những sự tích lịch sử; giai thoại về học chữ nho, làm câu đối, như nguồn cứ liệu bổ sung, giúp việc xây dựng những tiết học về yếu tố Hán - Việt sống động, đa dạng và có hiệu quả cao.Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học cần giúp học sinh có các kĩ năng sau:

* Kĩ năng nhận diện

Qua hai văn bản giáo viên có thể giúp học sinh nhận diện một số mặt biểu hiện của từ Hán Việt cụ thể là:

- Về mặt câú tạo: theo đặc điểm cấu tạo danh từ tiếng Hán yếu tố phụ đặt trước yếu tố chính, ngược với trật tự cấu tạo từ Tiếng Việt

Ví dụ: Từ sơn hà được hiểu là: sông núi

- Về phương diện ngữ cảm: các từ Hán Việt thường có sắc thái trang trọng, tao nhã

* Kĩ năng giải thích từ ngữ

Có thể nhận thấy hai văn bản Sông núi nước Nam( Nam quốc sơn hà), Phò

giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) xuất hiện khá nhiều các từ Hán Việt Tôi

cho HS đọc, tìm hiểu bố cục, nội dung từng phần của văn bản Trong quá trình

đó tôi sẽ đan xen việc giải thích, mở rộng vốn từ Hán Việt cho các em Đây là bài học chính khóa được thực hiện 2 tiết Tôi nhận thấy hoàn toàn có thể đan xen nội dung trên một cách phù hợp, mở rộng vốn hiểu biết về từ ngữ cho các em Ngoài ra, vốn từ mở rộng còn lại có thể được triển khai trong các tiết học bồi dưỡng cho các em

- Về nhan đề tác phẩm: Nam quốc sơn hà, Tụng giá hoàn kinh sư

Để HS có thể định hình được ý nghĩa của tác phẩm thì ngay từ ban đầu việc giải thích nhan đề từ Hán Việt có ý nghĩa vô cùng quan trọng

+ Nhan đề chữ Hán: Nam quốc sơn hà, dịch Tiếng Việt: Sông núi nước Nam Giải nghĩa: nam: phương Nam, quốc: nước, sơn: núi, hà: sông

Ngày đăng: 27/05/2021, 09:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w