Sau khi được sinh ra, lợn con phải tiếp xúc với các thay đổi của môi trường, sức đề kháng chưa cao và các chức năng chưa được hoàn thiện, chính vì vậy lợn con rất dễ bị mắc các bệnh về đ
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Lớp : K45 – CNTY - N02
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2013 – 2017
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3Được sự phân công của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau thời gian thực tập 6 tháng tại trại lợn nái của ông Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ thực tập, cũng như học hỏi được nhiều kiến thức về chuyên ngành
Trong thời gian đi thực tập, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều của nhà trường, thầy cô trong khoa Chăn nuôi thú y, cùng sự chỉ bảo tận tình của các kỹ sư trong trại và chủ trại Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn đến:
Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Ban lãnh đạo, các kỹ sư, cùng các kỹ thuật và công nhân tại trại lợn nái Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
Gia đình và bạn bè đã luôn bên tôi trong thời gian tôi hoàn thành chuyên đề
Đặc biệt tôi chân thành cảm ơn tới cô giáo hướng dẫn là: GS TS Nguyễn Thị Kim Lan đã nhiệt tình giúp đỡ tôi để chuyên đề tốt nghiệp được hoàn thiện
Tôi luôn mong và chúc các thầy cô, gia đình và bạn bè mạnh khỏe, hạnh phúc và có nhiều thành công trong những lĩnh vực theo đuổi
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Trần Thi ̣ Hoài
Trang 4Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu đàn lợn của trại từ năm 2013 – 2015 5
Bảng 4.1 Lịch tiêm phòng của trại lợn nái 27
Bảng 4.2 Lịch sát trùng trại lợn nái 28
Bảng 4.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 31
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp ở lợn con tại trại Trần Văn Tuyên 32
Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp ở lợn con theo đàn 33
và cá thể 33
Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh viêm đường hô hấp theo ngày tuổi 36
Bảng 4.7 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh viêm đường hô hấp theo các tháng 38
Bảng 4.8 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh viêm đường hô hấp theo lứa đẻ của lợn mẹ 39
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh viêm đường hô hấp cho lợn con 40
Trang 5Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh theo đàn và theo cá thể 33
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp theo tuổi 36
Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp ở các tháng 38
Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp theo lứa đẻ của lợn mẹ 40
Trang 7
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1
1.2.1 Mục tiêu 1
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của trại lợn Trần Văn Tuyên 3
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở 4
2.2 Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước 5
2.2.1 Cơ sở khoa học 5
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH21 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu: 21
3.2.2 Thời gian tiến hành: 21
3.3 Nội dung thực hiện 21
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 21
Trang 83.4.2 Phương pháp theo dõi 21
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Kết quả phục vụ sản xuất 25
4.1.1 Công tác chăn nuôi 25
4.1.2 Công tác thú y 26
4.1.3 Công tác khác 30
4.2 Kết quả nghiên cứu chuyên đề 32
4.2.1 Tỷ lệ mắc b ệnh viêm đường hô hấp ở trại Trần Văn Tuyên - huyện Yên Th ủy - tỉnh Hòa Bình 32
4.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp ở lợn con theo đàn và theo cá thể 33 4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp ở lợn con theo ngày tuổi 35
4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp ở lợn con theo các tháng theo dõi 37
4.2.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp ở lợn con theo lứa đẻ của lợn mẹ 39 4.2.6 Hiệu lực của phác đồ điều trị bệnh viêm đường hô hấp cho lợn con theo mẹ 40 Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Hạn chế 42
5.3 Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 9và chất lượng, cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào và có giá trị dinh dưỡng cao cho con người Bên cạnh đó, chăn nuôi lợn còn góp phần đẩy mạnh các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đồng thời cung cấp một lượng lớn phân hữu cơ cho ngành trồng trọt và khí đốt
Trong chăn nuôi lợn, chăn nuôi lợn con luôn có vai trò rất quan trọng
và được quan tâm Sau khi được sinh ra, lợn con phải tiếp xúc với các thay đổi của môi trường, sức đề kháng chưa cao và các chức năng chưa được hoàn thiện, chính vì vậy lợn con rất dễ bị mắc các bệnh về đường hô hấp, từ đó gây ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của lợn con sau này
Để góp phần giúp trại chăn nuôi phòng và trị bệnh viêm đường hô hấp
có hiệu quả, chúng tôi đã tiến hành chuyên đề: “Theo dõi tỷ lệ mắc bệnh
viêm đường hô hấp trên đàn lợn con theo mẹ và biện pháp điều trị tại trại Trần Văn Tuyên, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp ở lợn con theo mẹ
- Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh viêm đường hô hấp ở lợn con có hiệu quả
Trang 101.2.2 Yêu cầu
- Theo dõi đúng, đầy đủ về tình hình mắc bệnh viêm đường hô hấp ở lợn con theo mẹ
- Tìm ra phác đồ điều trị hiệu quả
- Thực hành công tác thú y và công tác chăn nuôi tại cơ sở
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của trại lợn Trần Văn Tuyên
- Điều kiện tự nhiên
Trại lợn Trần Văn Tuyên nằm trên địa phận xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, bao quanh là các dãy núi đá vôi, xen giữa các dãy núi là đồi và sông suối nhỏ Có đường giao thông thuận lợi đi qua các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Phú Thọ, đường Hồ Chí Minh thuận lợi trong phát triển kinh
tế, xã hội và giao lưu hàng hóa Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa, mùa hè dài, nóng, mưa nhiều Đặc biệt do địa hình có độ dốc nhẹ
về phía đông và không có nhiều sông suối nên trên địa bàn hầu như không có
lũ lụt vào mùa mưa Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên như vậy cũng gây ra một
số khó khăn cho trại như: địa hình đồi núi đá vôi khó cho việc trồng trọt, làm quá trình vận chuyển thức ăn đến trại khó khăn, khi có dịch bệnh bùng phát khó can thiệp kịp thời
- Điều kiện cơ sở vật chất của trại
Giới thiệu sơ lược về trại
Trại lợn nái Trần Văn Tuyên là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi
CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen Pokphand Việt Nam) Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật tới Hiện nay, trang trại do ông Trần Văn Tuyên làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại
Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại
Trang 12Cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn nái Trần Văn Tuyên nằm ở khu vực đồi núi thuộc xóm Cửa Lũy, có địa hình tương đối gập ghềnh, trại lợn cách khu dân cư khoảng hơn 1
km, với diện tích là 2 ha Trong đó có:
- Đất trồng cây ăn quả
- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá
- Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải
- Đất xây dựng nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các hoạt động khác của trại
- Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1200 nái cơ bản, bao gồm: 3 chuồng đẻ, 2 chuồng nái chửa, 3 chuồng cách ly, 1 chuồng đực giống, cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Ở mỗi dãy chuồng đều có l ắp đặt hê ̣ thống điều hòa khôn g khí , tạo mát mẻ mùa hè , ấm về mùa đông ; có hệ thống lo ̣c khí phòng b ụi bẩn ; có quạt thông gió để hút mùi ; có hầm bioga xử lý chất thải và hê ̣ thống nước máy tự đô ̣ng ở mỗi dãy chuồng để cung cấp nước uống cho lợn
2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở
Trang 13- Tình hình chăn nuôi của trại
Bảng 2.1: Cơ cấu đàn lợn của trại từ năm 2013 – 2015
Năm Tổng số nái
(con)
Tổng số lợn đực (con)
Tổng số lợn con để nuôi (con)
Tổng (con)
(Nguồn: BIGPRO CPV)
Qua bảng 2.1 cho thấy số lợn nuôi ở trại qua 3 năm 2013, 2014, 2015
có xu hướng tăng lên Năm 2013 là 28.611 con, năm 2014 là 29.990 con, năm
2015 là 31.534 con, như vậy tổng số lợn năm 2014 so với năm 2013 tăng lên 4,82%, giữa năm 2016 so với năm 2015 tăng lên 5,15% Số đầu lợn lái tăng lên nhưng bên cạnh đó số lợn đực lại giảm do quá trình chọn lọc để đào thải con không đạt yêu cầu, còn số lợn con vẫn tăng lên Số lợn con năm 2016 so với năm 2014 tăng lên 8,75% Lợn con sau 21 ngày tuổi được tách mẹ và chuyển đến trại nuôi lợn con cai sữa và lợn hậu bị
2.2 Cơ sở khoa học và những kết quả nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Vai trò, chức năng sinh lý của bộ máy hô hấp
Đối với động vật thì một trong những yếu tố quyết định sự sống là có
đủ lượng oxy Theo nghiên cứu, trong mỗi một phút, cơ thể động vật cần 6 - 8ml O2 và thải ra 250 ml CO2 Để có được lượng oxy thiết yếu và thải được lượng cacbonic ra khỏi cơ thể thì cơ thể phải thực hiện động tác hô hấp
Hô hấp của cơ thể lợn được chia thành 3 quá trình:
- Hô hấp ngoài: Là quá trình trao đổi khí giữa cơ thể và môi trường,, được thực hiện ở phổi thông qua các phế nang
Trang 14- Hô hấp trong: Là quá trình sử dụng O2 của mô bào
- Quá trình vận chuyển CO2, O2 từ phổi đến mô bào và ngược lại
Động tác hô hấp được điều khiển bằng cơ chế thần kinh thể dịch và được thực hiện bởi cơ quan hô hấp Cơ quan hô hấp của lợn gồm đường dẫn khí (mũi, hầu, họng, khí quản, phế quản) và phổi
Dọc đường dẫn khí có hệ thống thần kinh và hệ thống mạch máu phân
bố dày đặc, có tác dụng sưởi ấm không khí trước khi vào đến phổi Trên niêm mạc đường hô hấp có nhiều tuyến tiết dịch nhầy để giữ bụi và dị vật có lẫn trong không khí Niêm mạc đường hô hấp cũng có lớp lông rung luôn chuyển động hướng ra ngoài, do đó có thể đẩy các dị vật hoặc bụi ra ngoài
Cơ quan thụ cảm trên niêm mạc đường hô hấp rất nhạy cảm với các thành phần lạ có trong không khí Khi xuất hiện vật lạ, cơ thể có phản xạ ho, hắt hơi, nhằm đẩy vật lạ ra ngoài, không cho xâm nhập sâu vào trong đường
hô hấp
2.2.1.2 Biểu hiện lâm sàng của hội chứng hô hấp ở lợn
Ho, khó thở là triệu chứng bệnh lý đặc thù của viêm đường hô hấp
Ho là một phản xạ tống ra ngoài những vật lạ xâm nhập và gây kích thích niêm mạc đường hô hấp như chất tiết, bụi bẩn, vi khuẩn Cung phản xạ
ho bắt đầu từ những nốt nhạy cảm trên niêm mạc qua hệ thần kinh mê tẩu đến trung khu ho ở hành tủy Kích thích hầu, khí quan, cuống lưỡi, màng phổi, niêm mạc mũi đều có thể gây ho Một số kiểu ho bệnh như:
- Ho mạnh, nhiều, vang thường do bệnh ở họng, ở khí quản, lòng khí quản, phế quản Tuy nhiên phổi ít bị tổn thương
- Ho yếu, tiếng trầm đục do tổ chức phổi bị tổn thương nặng, bị thấm ướt, tính đàn hồi giảm, màng phổi bị dính như trong bệnh viêm phổi, viêm màng phổi
- Ho ướt do viêm khí quản, viêm phổi, có nhiều niêm dịch
Trang 15- Ho có biểu hiện đau do viêm màng phổi, họng thủy thũng nặng, viêm niêm mạc đường hô hấp nặng Con vật có biểu hiện lúc ho khó chịu, cổ vươn dài, chân cào sàn chuồng,
Khó thở là một rối loạn hô hấp phức tạp với biểu hiện ra bên ngoài là thay đổi lực thở, tần số hô hấp, nhịp thở, thể thở Hậu quả là cơ thể thiếu oxy, niêm mạc tím bầm, trúng độc toan tính Có thể thấy những kiểu khó thở sau:
- Hít vào khó: Do đường hô hấp trên hẹp, luồng khí đi vào khó khăn Gia súc hít vào cổ vươn dài, vành mũi mở rộng, bốn chân dạng ra, lưng cong, ngực ưỡn Do viêm thanh quản, phế quản, phổi thủy thũng hoặc do các bộ phận bên cạnh viêm sưng chèn ép làm cho đường hô hấp trên hẹp, gia súc hít vào khó
- Thở ra khó: Do phế quản bị viêm, phổi mất tính đàn hồi Gia súc thở
ra khó khăn, bụng hóp lại, cung sườn nổi lên, lòi dom Các bệnh thường gặp: phổi khí thũng, viêm phế quản nhỏ, viêm phổi, viêm màng phổi
- Thở khó hỗn hợp: Động tác hít vào và thở ra đều khó khăn, thường do các bệnh như viêm phổi, thủy thũng phổi, sung huyết phổi, tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, u phổi, những bệnh truyền nhiễm cấp tính làm giảm diện tích hô hấp và giảm tính đàn hồi của phổi (Hồ Văn Nam và cs, 1997) [12], Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2003) [13]
Ngoài ra, tần số hô hấp tăng, gia súc thở khó đột ngột, chảy dịch mũi cũng là biểu hiện của các bệnh có liên quan tới phổi hay bệnh đường hô hấp
John Carr (1997) [11], Cù Hữu Phú và cs (2002) [17], Stan Done (2002) [19] cho biết: các hội chứng hô hấp có thể gây ra những tổn thất kinh
tế đáng kể trong ngành chăn nuôi lợn ở nhiều nước trên thế giới nói chung và
ở Việt Nam nói riêng Trong điều kiện chăn nuôi của chúng ta hiện nay, hầu như chưa có khu vực chăn nuôi tập trung nào có thể khống chế và loại trừ được hoàn toàn hội chứng hô hấp Bệnh xảy ra quanh năm, đặc biệt vào vụ hè
- thu khi điều kiện nhiệt độ và độ ẩm không khí tăng cao
Trang 16Để khống chế các bệnh về hô hấp là vấn đề gặp nhiều khó khăn Bởi những bệnh này liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau như: dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc, các yếu tố ngoại cảnh, môi trường khí hậu, các nguyên nhân
do vi khuẩn, virus, ký sinh trùng,…
Trên thực tế có nhiều nguyên nhân gây ra các bệnh hô hấp của lợn, dưới đây là một số nguyên nhân chính và các bệnh thường gặp :
* Nguyên nhân do vi khuẩn
Khi nghiên cứu các bệnh về hô hấp ở lợn, nhiều tác giả đều đưa ra nhận định rằng: Vi khuẩn là nguyên nhân chủ yếu làm rối loạn hoạt động hô hấp ở lợn “Trong số vi khuẩn gây hội chứng hô hấp ở lợn phải đề cập tới vai trò
quan trọng của các vi khuẩn Pasteurella multocida, Bordetella bronchiseptica,
Haemophilus parasuis, Actinobacillus pleuropneumoniae và Streptococcus suis” (Cù Hữu Phú, 2002) [17] Ngoài ra còn có vi khuẩn Mycoplasma làm hư
hại niêm mạc, hệ thống lông rung của đường hô hấp
- Vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết trùng ở lợn (Pijoan
C., 1992) [35], bệnh có tính chất lây lan mạnh, thường xảy ra khi điều kiện nhiệt độ, độ ẩm cao, thời tiết thay đổi đột ngột Triệu chứng của bệnh chủ yếu
là con vật sốt cao, ho, khó thở, bụng hóp lại để thở, tần số hô hấp tăng Giai đoạn sau của bệnh: xuất hiện các nốt xuất huyết, tụ huyết ở tai, bụng, phía trong đùi, có thể bị tiêu chảy Con vật có biểu hiện sốt cao, khó thở, thở thể bụng, kiệt sức Lợn chết và sắp chết vùng bụng có màu đỏ tím do trúng độc nội độc tố theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2013) [10]
Theo Trần Văn Bình (2008) [5], lợn mắc bệnh ở thể này có biểu hiện đang bình thường đột nhiên kêu rống lên rồi lăn ra chết, sau khi chết xác lợn tím bầm, sùi bọt mép Trường hợp này xảy ra khi mầm bệnh đã có sẵn ở cơ sở chăn nuôi
Trang 17- Vi khuẩn Bordetella brochiseptica gây bệnh viêm phổi, viêm teo mũi
lợn từ sau cai sữa đến 5 tháng tuổi (Nicolet J., 1992) [33] Triệu chứng của bệnh: con vật ngứa mũi, hắt hơi, chảy nước mũi Nước mũi lúc đầu lỏng, về sau trở nên đặc, có lẫn máu mủ; xoang mũi, xương của hàm trên bị teo, méo
mó, biến dạng, hàm dưới nhô ra, mõm nghiêng về một bên hoặc các vùng bị teo lại một cách đối xứng làm cho da bị nhăn lại, con vật khó lấy thức ăn Bệnh có tỷ lệ chết thấp nhưng kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của lợn (Cù Hữu Phú, 2002) [17]
- Vi khuẩn Haemophilus parasuis là nguyên nhân gây bệnh thể kín
(Glasser’s) và viêm phổi lợn trong giai đoạn từ sau 2 tuần đến 4 tháng tuổi (Nicolet J., 1992) [30] Triệu chứng chủ yếu của bệnh là con vật bị viêm các khớp như khớp gối và khớp cổ chân, liệt do viêm khớp, khó thở Ngoài ra, ở
thể viêm phổi thường thấy sự có mặt của Haemophilus parasuis trong một số bệnh khác như viêm phổi hóa mủ do vi khuẩn Streptococcus spp,
Staphylococcus spp gây ra
- Vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae gây bệnh viêm phổi màng
phổi lợn (Nicolet J., 1992) [33], Đặng Xuân Bình và cs (2007) [3] đã nghiên
cứu tình hình nhiễm Actinobacillus pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi –
màng phổi ở lợn đã rút ra kết luận như sau: lợn mắc bệnh viêm phổi đã phân
lập được vi khuẩn Actinobacillus pleuropneumoniae với tỷ lệ đạt từ
31,25-55,55%, trung bình là 37,83%
Nguyễn Xuân Bình (2005) [4] đã đưa ra cách phòng và trị bệnh viêm phổi cho lợn nái, lợn con và lợn thịt Đối với những nơi lợn chưa mắc bệnh viêm phổi thì nên tự túc về con giống Nếu mua giống từ nơi khác thì phải cách ly ít nhất trong 2 tuần để theo dõi
- Vi khuẩn Streptococcus suis gây các triệu chứng bệnh rất đa dạng, bao
gồm nhiễm trùng máu cấp tính, viêm màng não, viêm đa khớp và viêm phổi ở lợn, thường dẫn đến chết đột ngột (Đào Trọng Đạt và cs, 1996) [8]
Trang 18Lê Văn Tạo (2007) [20] cho biết vi khuẩn Streptococcus suis thường
xuyên cư trú ở niêm mạc đường hô hấp trên của lợn khỏe mạnh Mẫu bệnh
phẩm thường lấy để phân lập Streptococcus suis là dịch mũi, trong khi hạch
amidan không được sử dụng vì thường tạp nhiễm và có mặt nhiều loại vi khuẩn khác Theo Trương Quang Hải và cs (2012) [9] trong 25 chủng vi
khuẩn Streptococcus suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi mẫn cảm cao với ceftiofur (92,0%), florfenicol (88,0%), amoxicillin (88,0%) và
amikacin (72,0%) nên có thể sử dụng một trong các kháng sinh trên để điều
trị cho lợn khi mắc viêm phổi do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra.Theo Lê Văn Dương (2013) [7] thì vi khuẩn này có một vai trò quan trọng trong việc gây bệnh viêm phổi ở lợn, đặc biệt là khi lợn mắc PRRS và S suis là một trong những nguyên nhân làm cho lợn chết nhiều trong các ổ dịch PRRS tại các địa phương trên cả nước trong thời gian qua
- Vi khuẩn nguyên thủy Mycoplasma hyopneumoniae gây bệnh viêm
phổi mãn tính (còn gọi là bệnh suyễn lợn) giai đoạn từ sau cai sữa đến khi trưởng thành Ttriệu chứng bệnh chủ yếu là ho dai dẳng, đặc biệt khi gặp thời tiết nóng ẩm, nuôi nhốt chật trội (Ross, 1992) [36] Bệnh xảy ra chủ yếu ở thể mãn tính với triệu chứng ho kéo dài nhiều ngày (có thể hàng tháng, hàng năm
ở lợn nái), ho khan, ho chủ yếu vào sáng sớm và về đêm Con vật vẫn ăn uống bình thường nhưng sinh trưởng chậm
* Nguyên nhân do virus
- Nguyên nhân do virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp
Theo Stan Done (2002) [19]: Các virus gây bệnh cho lợn thường xuyên
nhất là virus gây bệnh cúm lợn (Swine Influenza) và virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine Reproductive and Respiratory
Syndrome - PRRS) Ngoài ra còn có một loại virus khác nữa là PCV2
(Porcine circo virus type 2)
Trang 19Kết quả nghiên cứu của Benfield (1992) [26], Li (2006) [34] cho thấy virus PRRS có quan hệ gần gũi về mặt sinh học, cấu trúc và di truyền với virus gây viêm động mạch truyền nhiễm ở ngựa, virus LDV ở chuột và virus SHF ở khỉ Dựa vào các đặc điểm đó mà người ta đưa 4 loại virus vào thành
một nhóm mới các Arteri virus
Đây là loại virus ARN, có vỏ bọc và cũng có khả năng sinh sản trên các
tế bào đơn nhân và tế bào đại thực bào, có khả năng đi qua nhau thai để gây bệnh cho bào thai
Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện lần đầu vào năm 1997 trên đàn lợn nhập từ Mỹ (10/51 con có huyết thanh dương tính) Kể từ đầu năm 2007 đến nay, nhiều địa phương đã xảy ra dịch trên lợn, làm chết nhiều lợn, gây thiệt hại nghiêm trọng, đặc biệt ở các trại chăn nuôi công nghiệp, tập trung Trong tháng 3/2007 dịch xuất hiện tại Hải Dương, sau đó xuất hiện tại 7 tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng gồm: Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hải Phòng Tháng 5/2007 dịch phát ra tại Quảng Nam và sau đó tiếp tục phát hiện thấy ở tỉnh Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng Kết quả xét nghiệm đã xác định nguyên nhân gây bệnh là virus PRRS
Triệu chứng lâm sàng của PRRS rất thay đổi và phụ thuộc vào các chủng virus, trạng thái miễn dịch của cơ thể cũng như điều kiện quản lý chăm sóc Theo Williamso S (2013) [24] cho biết, các triệu chứng của bệnh rất thay đổi và không đặc hiệu; trong các biện pháp đã dùng để chẩn đoán PRRS của phòng thí nghiệm của Anh (Veterinary Laboratories Agency du Royaume-Uni) trong giai đoạn 2003 - 2009, thì 4 triệu chứng thường xuyên nhất là: triệu chứng hô hấp, gầy, trạng thái chung xấu và gây chết.
Bệnh cảnh lâm sàng xuất hiện ở một số đàn chủ yếu là kết quả của sự nhiễm virus từ cá thể mắc bệnh và việc truyền virus từ nhau thai của con mẹ
Trang 20mắc bệnh sang bào thai thường xảy ra vào kỳ chửa thứ ba Triệu chứng lâm sàng của bệnh trong các nhóm lợn có thể được tóm tắt như sau:
+ Thời gian nung bệnh từ 3 - 5 ngày
+ Các dấu hiệu đầu tiên là bỏ ăn, sốt và chứng xanh da (Cyanosis) Các
triệu chứng lâm sàng tiếp theo tùy thuộc vào tuổi lợn và giai đoạn mang thai
+ Lợn nái giai đoạn cạn sữa: Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus lợn biếng ăn từ 7 - 14 ngày, chiếm từ 10 - 15% đàn; sốt 39 – 40oC, sảy thai thường vào giai đoạn cuối, chiếm từ 1 - 6%; tai chuyển màu xanh trong thời gian ngắn, chiếm 2%; đẻ non chiếm 10 - 15%; động dục giả 3 - 5 tuần sau thụ tinh; đình dục hoặc chậm động dục trở lại sau khi đẻ; ho và có dấu hiệu viêm phổi
+ Lợn nái giai đoạn đẻ và nuôi con: biếng ăn, lười uống nước, mất sữa
và viêm vú (triệu chứng điển hình), đẻ sớm khoảng 2 - 3 ngày, lợn sơ sinh da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê; đẻ ra thai gỗ chiếm 10 - 15% (thai chết trong 3
- 4 tuần cuối của thai kỳ); lợn con chết ngay sau khi sinh chiếm 30%; lợn con sinh ra yếu, tai chuyển màu xanh, khoảng dưới 5% và duy trì trong vài giờ Pha cấp tính kéo dài trong đàn tới 6 tuần, điển hình là đẻ non, tăng tỷ lệ thai chết hoặc yếu, tăng số thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi sinh, ở một vài đàn có thể tới 30% số lợn con được sinh ra Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3 - 4 sau khi xuất hiện triệu chứng Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4 - 8 tháng trước khi trở lại bình thường Ảnh hưởng lâu dài của PRRS tới việc sinh sản rất khó đánh giá, đặc biệt với những đàn tăng số lần phối giống lại hoặc sảy thai Ảnh hưởng của PRRS tới sản xuất như sau: tỷ lệ sinh giảm 10 - 15%, giảm số lượng con sống sót sau sinh, tăng lượng con chết khi sinh, lợn hậu bị có khả năng sinh sản kém, đẻ sớm, tăng tỷ
lệ sảy thai, chiếm 2 -3%, lợn mẹ bỏ ăn giai đoạn sinh con
Trang 21+ Lợn đực: sốt trong thời gian ngắn, kém ăn, hôn mê và có triệu chứng lâm sàng ở đường hô hấp Lợn đực giống mắc PRRS sẽ không còn sinh lực và tinh trùng kém chất lượng
+ Lợn con theo mẹ: hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ Nếu sống sót sẽ tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng có thể có triệu chứng khó thở và tiêu chảy Tỷ lệ chết trước khi cai sữa từ 10 - 40% Triệu chứng chủ yếu: lợn ủ rũ, gầy còm do bị đói, chân cong, thở nhanh; sưng mí mắt và kết mạc, đôi khi người ta cho đây là triệu chứng mang tính chẩn đoán đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi mắc hội chứng PRRS; lợn con đôi khi ỉa chảy, khi được điều trị bằng kháng sinh không cho thấy hiệu quả
+ Ở lợn choai, lợn thịt: lợn mắc bệnh sốt cao 40oC đến 42oC, bỏ ăn, ủ
rũ, khó thở, ho; những phần da mỏng gần tai, phần da bụng lúc đầu có màu hồng nhạt, dần dần chuyển sang màu hồng thẫm và xanh nhạt Lợn con mới sinh hầu như sẽ chết sau vài giờ; số còn sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất Lợn con có triệu chứng gầy yếu, bỏ bú, da xuất huyết phồng rộp, khó thở và tiêu chảy (Bùi Quang Anh và cs, 2008) [2]
+ Lợn vỗ béo và lợn sắp xuất chuồng: lợn ốm với triệu chứng giống
như cúm Biểu hiện viêm phổi, thường kế phát do Pasteurella multocida hoặc
Mycoplasma hyopneumoniae Thời gian ốm có thể kéo dài đến 3 tuần, tỷ lệ
chết từ 4 - 5%
Theo Nguyễn Tiến Dũng (2011) [6], bệnh tích đặc trưng nhất là viêm phổi kẽ và viêm hạch lâm ba ở cả 2 dạng (PRRS dạng cổ điển và PRRS dạng sốt cao) Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy phổi bị viêm có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bị viêm lồi ra, khô Nhiều trường hợp lợn mắc bệnh bị viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh
Trang 22- Virus gây bệnh cúm lợn (Swine influenza virus - SIV) Influenza virus
type A (H1N1) gây bệnh cúm lợn ở mọi lứa tuổi, tập trung trong giai đoạn từ
sơ sinh đến 2 tháng tuổi (Easterday và Hinshaw, 1992) [30] Virus có khả năng bám vào các lông mao phát triển từ lớp màng nhầy Virus cúm lợn là nguyên nhân quan trọng của hội chứng hô hấp ở Mỹ, châu Âu và Đông Á Bệnh cúm lợn năm 1918 do virút cúm A (H1N1) nhưng các chủng khác (cúm thường) cũng được khẳng định trong một số trường hợp gây ra rối loạn hô hấp khi có thêm vai trò của một số tác nhân do vi khuẩn kế phát trong các đàn lợn
Dạng cổ điển của bệnh gây nên ổ dịch cấp tính, với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, phổ biến là ho, chảy nước mũi và viêm kết mạc Ổ dịch xảy ra nhanh
và khỏi bệnh cũng nhanh sau 5 - 7 ngày, tỷ lệ chết thấp nếu không xảy ra nhiễm trùng kế phát Thời gian ủ bệnh chỉ 1 - 2 ngày, tỷ lệ mắc bệnh cao (100%) tỷ lệ chết thấp (1%) Sảy thai có thể xảy ra trong đàn lợn nái sinh sản
ở nửa sau thời kỳ mang thai
Trong các đàn mắc bệnh mãn tính triệu chứng có thể nhẹ hơn, cũng không phải mọi triệu chứng đều được biểu hiện Virus đôi khi phân lập được
từ những lợn không có triệu chứng bệnh hô hấp Kháng thể thụ động từ mẹ có thể bảo hộ lợn con tới 12 tuần tuổi, dẫn đến hiện tượng lợn mắc bệnh nhưng không biểu hiện lâm sàng này, các triệu chứng lâm sàng đôi khi biểu hiện khi lợn đã được 12 - 24 tháng tuổi
Virus lây lan qua tiếp xúc trực tiếp, qua bụi khí hoặc những hạt nước nhỏ Nó không tồn tại lâu trong môi trường Virus dễ bị vô hoạt nhưng tồn tại lâu trong điều kiện lạnh Chim có thể mang trùng
Qua mổ khám thấy những vùng tụ huyết có ranh giới ở thùy đỉnh, thùy tim và có thể ở các thùy khác của phổi Chất nhầy và dịch rỉ viêm thấy ở phế quản Chẩn đoán lâm sàng các ổ dịch cổ điển được đơn giản hóa nhờ đặc tính lây lan nhanh của bệnh đường hô hấp Bệnh mãn tính khó xác định hơn Hiệu
Trang 23giá kháng thể tăng lên trong các mẫu huyết thanh cần được xem là nghi ngờ Phản ứng HI thường được sử dụng, nhưng các phản ứng ELISA có vai trò quan trọng để xác định bệnh
- Rối loạn hô hấp do Coronavirus (Porcine Respiratory Corona virus)
Corona virus gây rối loạn hô hấp của lợn có thể được xác định bằng
một số phản ứng huyết thanh học từ các trường hợp nghi ngờ Virus có thể gây viêm phổi biểu hiện: sốt, ho, mệt mỏi và chết Tuy nhiên, bệnh cũng có thể xuất hiện ở dạng cận lâm sàng
* Nguyên nhân do ký sinh trùng
Theo Corwin và cs (1992) [28], một trong những nguyên nhân gây
bệnh ở đường hô hấp là do giun phổi lợn Metastrongylus gây bệnh khi ký sinh
ở khí quản và nhánh phế quản của lợn Triệu chứng: lợn bệnh gầy còm, suy dinh dưỡng, hiện tượng ho rõ nhất vào sáng sớm và buổi tối Giai đoạn đầu con vật vẫn ăn uống bình thường nhưng gầy dần, giai đoạn sau ăn ít, khó thở
và chết
Corwin và cs (1992) [28] cho biết, ấu trùng giun đũa lợn Ascaris suum
gây ra trong giai đoạn di hành qua phổi Triệu chứng bệnh không điển hình, thỉnh thoảng lợn ho, lợn bệnh gầy còm, lông xơ cứng và chậm lớn
* Nguyên nhân do điều kiện ngoại cảnh
Theo Vũ Đình Vượng (2004) [23], nhiệt độ, độ ẩm cao, nồng độ khí độc trong chuồng nuôi (H2S, NH3, CO2 ) tăng cao, thức ăn khô ở dạng bột Các yếu tố này sẽ tác động trực tiếp lên niêm mạc đường hô hấp gây phản ứng tiết dịch Dịch tiết ra nhiều là môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn sẵn
có trong đường hô hấp trên sinh trưởng, phát triển Khi sức đề kháng của con vật giảm sút, các vi khuẩn này sẽ nhân lên nhanh chóng, tăng lên cả về số lượng và độc lực để gây bệnh
Ngoài ra, mật độ nuôi đông, nền chuồng gồ ghề, tình trạng stress, yếu
tố vệ sinh không đảm bảo, lợn con sau cai sữa hoặc chuyển đàn nhưng điều
Trang 24kiện chăm sóc nuôi dưỡng kém đều dẫn tới làm tăng tỷ lệ hội chứng rối loạn
hô hấp và viêm phổi ở đàn lợn
Do đó, muốn giảm hội chứng hô hấp, ngoài việc nâng cao sức đề kháng cho lợn, hạn chế sự có mặt của mầm bệnh trong khu vực chuồng nuôi, cần phải đồng thời hạn chế tối đa các tác động xấu do điều kiện ngoại cảnh gây nên
2.2.1.3 Nguyên tắc phòn trị chung cho bệnh viêm dường hô hấp ở lợn
- Nguyên tắc phòng bệnh
Để công tác phòng bệnh đạt hiệu quả cao, cần thực hiện các biện pháp sau:
Phòng bệnh khi chưa có dịch
- Phòng bệnh bằng chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý
Chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc hợp lý cho đàn lợn, đảm bảo khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng, nhằm nâng cao sức đề kháng của chúng đối với dịch bệnhlà những biện pháp quan trọng để phòng bệnh viêm đường hô hấp ở lợn
Thường xuyên theo dõi đàn lợn, kịp thời phát hiện lợn có biểu hiện bệnh để cách ly điều trị kịp thời, tránh lây lan
Quản lý chặt chẽ việc ghép chuyển đàn, thực hiện nguyên tắc “ cùng vào, cùng ra”
- Phòng bệnh bằng công tác vệ sinh thú y:
Hằng ngày thực hiện vệ sinh chuồng trại, môi trường xung quanh, vệ sinh thức ăn, nước uống; Chuồng trại luôn khô ráo sạch sẽ thoáng mát vào mùa hè, kín gió và ấm vào mùa đông; Bảo đảm nồng độ các khí độc như C02, NH3, H2S…ở mức an toàn
Định kỳ tiêu độc, khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi, phát quang khu vực quanh chuồng trại
Trang 25- Phòng bệnh bằng vaccine: Hiện nay, các nhà khoa học vẫn tiếp tục nghiên cứu để chế tạo vaccine đạt hiệu quả cao Các loại vaccine vô hoạt, vaccin nhược độc, vaccine thế hệ mới là kết quả nghiên cứu quan trọng phục
Phải phát hiện bệnh sớm và kịp thời điều trị:
Cần cách ly lợn bệnh và theo dõi chặt chẽ hiện tượng ho, khó thở của con vật bị bệnh, xác định nguyên nhân gây bệnh để đưa ra phác đồ điều trị kịp thời, tránh để con vật bị nặng hơn
Điều trị căn nguyên kết hợp với điều trị triệu chứng:
Việc điều trị có thể dùng nhiều liệu pháp điều trị khác nhau để đạt được mục đích loại trừ căn nguyên gây bệnh Việc dùng kháng sinh là không thể tránh khỏi, tuy nhiên khi dùng phải cân nhắc kỹ bởi có nhiều kháng sinh trên
lý thuyết có tác dụng rất tốt với mầm bệnh đường hô hấp nhưng khi thử kháng sinh đồ trên thực tế điều trị hiện nay các kháng sinh này đã bị các vi khuẩn đường hô hấp kháng lại Cho nên việc lựa chọn kháng sinh điều trị cần phải kiểm tra qua thử kháng sinh đồ và kiểm nghiệm qua thực tế điều trị để đạt
Trang 26hiệu quả điều trị cao Ngoài ra, phải tuân thủ theo đúng nguyên tắc sử dụng kháng sinh Vấn đề điều trị triệu chứng phải tiến hành đồng thời và thường xuyên cho tới khi con vật khỏi bệnh, dùng thuốc có tác dụng long đờm, giãn phế quản, cắt cơn ho giúp cho quá trình lưu thông khí được tốt, mặt khác dùng thuốc có tác dụng kháng viêm, giảm đau hạ sốt tránh quá trình viêm lan rộng để bệnh bớt trầm trọng Ngoài ra, cần bổ sung thêm vitamin trong quá trình điều trị để tăng sức đề kháng của cơ thể giúp nhanh chóng phục hồi đường hô hấp bị tổn thương
Điều trị bệnh phải kết hợp với hộ lý chăm sóc:
Nuôi dưỡng tốt để hạn chế mức thấp nhất tác động của bệnh nguyên, giúp cho lợn nâng cao sức đề kháng, chống lại các yếu tố bất lợi
Ngăn ngừa bệnh kế phát:
Khi lợn mắc bệnh, sức đề kháng giảm rất dễ mắc các bệnh kế phát, đặc biệt là tiêu chảy Vì vậy, ngoài việc điều trị cần phải ngăn ngừa bệnh kế phát Một khi lợn con bị mắc bệnh và bị bệnh kế phát hay ghép bệnh sẽ làm cho bệnh càng trầm trọng hơn, khả năng điều trị khỏi rất thấp, đôi khi chết do bệnh kế phát nhiều hơn
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
- Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Buttenschon (1991) [27] cho rằng: viêm phổi do P multocida gây ra thường có liên quan đến bệnh viêm cầu thận do P multocida Hai bệnh này có
liên quan đến nhau là do quá trình vi khuẩn phát tán từ những bệnh tích ở phổi đến các cơ quan khác
Bệnh do vi khuẩn P.muitocida gây ra thường ở 2 thể chủ yếu là nhiễm trùng máu - xuất huyết (Haemorrhagic septicaemia - HS) và viêm phổi Ở lợn
bệnh cũng được gọi là nhiễm trùng máu - xuất huyết (De Alwis, 1992) [29]
Trang 27KielsteinP (1996) [32] và nhiều tác giả khác cho rằng, vi khuẩn P
multocida là một trong những tác nhân chính gây bệnh viêm phổi ở lợn
Trong đó chủ yếu là do P multocida type A gây ra và một phần nhỏ là P
multocida type D
Tại Triều Tiên, trong 80 chủng P multocida phân lập từ 450 phổi lợn
bệnh có 96,3% thuộc type A; 3,9% thuộc type D (Ahn và Kim, 1994) [25]
Li V.Y.Y (2006) [34] nghiên cứu thấy vi khuẩn có thể từ lợn mẹ truyền cho lợn con qua đường hô hấp và từ lợn con này sẽ truyền cho các lợn con khác khi tách nhập đàn khác nhau khi cai sữa
Theo Katri Levonen (2000) [31], việc chẩn đoán M hyopneumoniae có
thể dựa trên phương pháp chẩn đoán truyền thống là: phát hiện những biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm phổi và kiểm tra những tổn thương sau khi giết mổ
- Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, các bệnh về đường hô hấp ở lợn đã được nhiều tác giả nghiên cứu, tìm hiểu về nguyên nhân và biện pháp phòng trị
Theo Đỗ Ngọc Thúy và cs (2009) [22], khi xác định serotype trong 211
chủng S suis phân lập được từ lợn tại các tỉnh miền Bắc - Việt Nam cho biết:
số chủng thuộc serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 14/211 chủng (6,6%); serotype
9 có 10/211 chủng (4,7%); các serotype 9, 31, 32 có 7/211 chủng (3,3%); các serotype 7, 17, 21 có tỷ lệ tương đương là 1,4%; serotype 8 chiếm 0,9%
Theo nghiên cứu của Phạm Sĩ Lăng và cs (2002) [14],[15],[16], bệnh
suyễn lợn (Swine enzootic pneumonia) có những tên gọi khác nhau như: viêm
phổi truyền nhiễm, viêm phế quản phổi, là một bệnh truyền nhiễm thường ở
thể á cấp tính, cấp tính và lưu hành ở một địa phương, do Mycoplasma
hyopneumoniae gây ra và đặc điểm là một chứng viêm phế quản phổi tiến
triển chậm Ngoài ra có nhiều loại vi trùng kế phát như: Hemophilus suis,
Pasteurella septica, Streptococcus, Staphylococcus, Salmonella,
Trang 28Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [21] cho biết về đặc điểm hình thái, đặc điểm nuôi cấy, tính chất sinh hóa, cấu trúc kháng nguyên, các enzym, tính gây bệnh, triệu chứng lâm sàng, bệnh tích chuẩn đoán, phòng trị bệnh do
Streptococcus suis, Pasteurella multocida gây ra
Theo Cù Hữu Phú và cs (2002) [17], (2004) [18]: Khi gây bệnh thực
nghiệm trên chuột bạch và lợn đã kết luận vi khuẩn Actinobacillus
pleuropneumoniae và vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được có độc
lực cao đối với chuột bạch và lợn, đồng thời khẳng định vi khuẩn là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh đường hô hấp ở lợn Tác giả đã sử dụng
kết quả này làm cơ sở cho việc lựa chọn chủng để chế autovaccine phòng
bệnh đường hô hấp cho lợn do các vi khuẩn nêu trên gây ra Mặt khác, tác giả
còn cho biết vi khuẩn mẫn cảm cao với các loại kháng sinh rifampicin,
ceftazidin, ciprofloxacin và khuyến cáo nên sử dụng các loại kháng sinh này
để điều trị cho lợn mắc bệnh viêm đường hô hấp
Tiêu Quang An và Nguyễn Hữu Nam (2011)[1] khi xác định một số vi khuẩn kế phát gây chết lợn trong vùng dịch PRRS ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên năm 2010 đã cho thấy: lợn mắc PRRS thường kế phát bệnh do các
nhóm vi khuẩn đường hô hấp và đường ruột như A.pleuropneumoniae,
P.multocida, S.suis, E.coli, Salmonella sp, Clostridium perfringens Kết quả
phân lập được vi khuẩn A pleuropneumoniae với tỷ lệ cao nhất 63,33% và thấp nhất là P multocida 10% Các tác giả nhận định các nhóm vi khuẩn kế
phát trên đã làm cho dịch PRRS trầm trọng và phức tạp hơn