1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại an toàn khu huyện định hóa tỉnh thái nguyên

91 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 765,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được Luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện khoa Kinh tế & phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm, của các thầy cô giáo,

Trang 1

HOÀNG THỊ THANH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH VÀ

DỊCH VỤ TẠI AN TOÀN KHU HUYỆN ĐỊNH HÓA

TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ YẾN

THÁI NGUYÊN, NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Yến Các số liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

HOÀNG THỊ THANH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được Luận văn này, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện khoa Kinh tế & phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm, của các thầy cô giáo, của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Định Hóa, các phòng, ban, ngành, đoàn thể của huyện, các xã, thị trấn, các đơn vị quản lý di tích, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng nghiệp

Trước hết, tác giả xin trân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Yến, người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian tác giả thực hiện luận văn

Xin cảm ơn Huyện ủy Định Hóa, Thường trực Hội đồng nhân dân huyện Định Hóa, Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa, Chi cục Thống kế huyện Định Hóa, Ban quản lý di tích ATK Định Hóa, các phòng, ban, ngành, đoàn thể của huyện, các xã, thị trấn, các đơn, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ đã giúp

đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả khai thác nguồn số liệu, tư liệu là cơ

sở quan trọng để tác giả hoàn thành luận văn của mình

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận văn, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong được

sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn để có thể hoàn thiện thêm Luận văn cũng như nâng cao năng lực nghiên cứu của tác giả

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Học viên

HOÀNG THỊ THANH

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa của đề tài 4

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Khái niệm về du lịch và kinh tế du lịch 5

1.1.2 Nội dung của phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ 10

1.1.3 Vai trò của kinh tế du lịch và dịch vụ 11

1.1.4 Tác động của phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ đối với nền kinh tế 13

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan 25

1.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK Định Hóa 27

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của An toàn khu huyện Định Hóa 29

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 31

Trang 6

2.1.3 Lịch sử hình thành và phát triển ATK huyện Định Hóa 35

2.1.4 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại An toàn khu huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên để phát triển du lịch và dịch vụ 36

2.2 Nội dung nghiên cứu 37

2.3 Phương pháp nghiên cứu 37

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 37

2.3.2 Phương pháp xử lý thông tin 39

2.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 39

2.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1.Thực trang phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa 41

3.1.1 Thực trạng các sản phẩm du lịch- dịch vụ tại ATK Định Hóa 41

3.1.2 Thực trạng số lượng khách du lịch đến An toàn khu huyện Định Hóa 46

3.1.3 Thực trạng phân kỳ khách du lịch đến với An toàn khu huyện Định Hóa 48

3.1.4 Mục đích của khách du lịch đến với An toàn khu Định Hóa 49

3.1.5 Nhu cầu lưu trú và sử dụng dịch vụ lưu trú của khách du lịch đến ATK Định Hóa 51

3.1.6 Chi tiêu của khách du lịch đến ATK huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên 54

3.1.7 Nguồn nhân lực phục vụ khách du lịch tại ATK huyện Định Hóa 56

3.1.8 Nguồn vốn đầu tư cho phát triển du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa 58

3.2 Kết quả và hiệu quả kinh tế của hoạt động phát triển du lịch và dịch vụ tại ATK Định Hóa 59

3.2.1 Doanh thu từ kinh tế du lịch và dịch vụ của ATK huyện Định Hóa 59

3.2.2 Thu nhập của lao động từ hoạt động du lịch và dịch vụ 61

3.2.3 Kết quả và hiệu quả kinh tế từ du lịch và dịch vụ của ATK huyện Định Hóa 62

Trang 7

3.3 Giải pháp phát triển du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa giai

đoạn 2020 - 2025 tầm nhìn đến 2030 63

3.3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 63

3.3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch và dịch vụ tại huyện Định Hóa 65

KẾT LUẬN 75

KIẾN NGHỊ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 8

NQ/TW Nghị quyết/Trung ương

QĐ-TTg Quyết định - Thủ tướng chính phủ

QĐ-UBND Quyết định - Ủy ban nhân dân

UBND Ủy ban nhân dân

UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization

(Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa thế giới) UNWTO World Tourism Organnization (Tổ chức du lịch thế giới)

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Bảng

Bảng 2.1 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Định Hóagiai

đoạn 2016 -2018 (theo giá so sánh) 32 Bảng 2.2 Dân số huyện Định Hóa phân theo giới tính, thành thị,nông

thôn giai đoạn 2016 - 2018 34 Bảng 3.1 Mục đích của khách du lịch đến ATK đến Định Hóa 50 Bảng 3.2 Nhu cầu lưu trú và sử dụng dịch vụ lưu trú của khách du

lịch đến ATK Định Hóa 51 Bảng 3.3 Cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn huyện năm 2018 53 Bảng 3.4 Hiện trạng cơ sở kinh doanh du lịch và dịch vụ ăn uống

trên địa bàn ATK huyện Định Hóa năm 2018 55 Bảng 3.5 Trình độ nguồn nhân lực du lịch tại Khu di tíchlịch sử -

sinh thái ATK huyện Định Hóa 57 Bảng 3.6 Vốn đầu tư cho du lịch tại ATK huyện Định Hóagiai đoạn

2016 - 2018 58 Bảng 3.7 Doanh thu hoạt động du lịch của ATK huyện Định Hóa 60 Bảng 3.8 Thu nhập của người lao động từ hoạt động du lịch và dịch

vụ tại ATK huyện Định Hóa giai đoạn 2016 - 2018 61 Bảng 3.9 Kết quả và hiệu quả kinh tế từ du lịch và dịch vụcủa ATK

Định Hóa tính bình quân trên hộ 62

Biểu đồ

Biểu đồ 3.1 Lượng khách du lịch đến ATK huyện Định Hóagiai đoạn

2016 - 2018 47 Biểu đồ 3.2 Phân kỳ khách du lịch đến ATK Định Hóa 48 Biểu đồ 3.3 Mức chi tiêu của khách du lịch đến ATK huyện Định Hóa 54

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Hoàng Thị Thanh

Tên luận văn: Phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại An toàn khu huyện

Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”

Ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số 8.62.01.15

1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn “Phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại An toàn khu huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên” nghiên cứu với mục tiêu:

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập tài liệu thứ cấp và sơ cấp Điều tra các khách du lịch, các cơ sở lưu trú tại ATK huyện Định Hóa

Phương pháp phân tích số liệu: Phương pháp so sánh, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp chuyên gia chuyên khảo

3 Kết quả nghiên cứu

Trong nghiên cứu này tôi tập trung phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên và đưa ra một số đề xuất nhằm phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

Trong giai đoạn 2016 - 2018 lượng khách du lịch đến với ATK Định Hóa có tốc độ phát triển bình quân là 103,28% chủ yếu là khách du lịch trong nước đến từ tháng 2 đến tháng 4 để tham dự các lễ hội đặc sắc của ATK huyện Định Hóa Mục đích khác đến với ATK huyện Định Hóa là đến thăm

Trang 11

di tích lịch sử cách mạng khoảng hơn 32% và tham gia lễ hội hơn 18% Khách du lịch nước ngoài đến với ATK huyện Định Hóa đến hơn 28% là để thăm quan tìm hiểu văn hóa tại ATK Với số lượng khách du lịch và với hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch và dịch vụ là 35 cơ sở và 302 phòng với 685 giường thì những đông khách vào mùa lễ hội ATK huyện Định Hóa vẫn không thể đáp ứng đủ nhu cầu của khác du lịch Trong phát triển du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa thì tận dụng được nguồn lực lao động địa phương, lao động tại công đồng là chủ yếu Trong giai đoạn 2016 - 2018 thu nhập của người lao động từ các hoạt động dịch vụ tăng từ 15,53 triệu đồng/năm năm 2016 đến 21,46 triệu đồng/năm năm 2018 chiếm tỷ lệ từ 57,54% tổng thu nhập đến 58,73% tổng thu nhập của hộ đây là một trong những nguồn thu nhập khá ổn định của hộ dân khi làm du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa

Trên cơ sở thực trạng đó luận văn đã đưa ra đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế du lịch như: (1) Xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch và dịch vụ, (2) Phát triển nguồn nhân lực, (3) Đa dạng hóa sản phẩm du lịch và phát triển sản phẩm du lịch và dịch vụ đặc thù, (4) Nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch và dịch vụ hiện có (5) Liên kết với các điểm du lịch phụ cận (6) Tổ chức, quản lý hoạt động du lịch và dịch vụ, (7) Xúc tiến và quảng bá nhằm mở rộng thị trường du lịch và dịch

vụ Các giải pháp này nhằm phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa một cách bền vững

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, trên thế giới, du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia Du lịch nội địa cũng tăng trưởng ở hầu hết các nước và hoạt động du lịch đã trải rộng về địa lý, vươn tới hầu hết tất cả các quốc gia trên toàn cầu Du lịch phát triển kéo theo hệ thống dịch vụ phục vụ

du lịch cũng phát triển theo như các dịch vụ về vận tải hành khách, dịch vụ nhà nghỉ, khách sạn, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí

Ở Việt Nam, du lịch đã và đang được trú trọng và phát triển và được xem là một ngành công nghiệp non trẻ và đầy tiềm năng, hứa hẹn nhiều cơ hội phát triển hơn nữa trong tương lai Mười lăm năm qua, ngành Du lịch đã

có bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, rất đáng khích

lệ Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/năm, khách du lịch nội địa đạt 11,8%/năm Năm 2016, số lượng khách du lịch quốc tế đạt 10 triệu lượt người, tăng hơn 4,3 lần so với năm 2001; khách du lịch nội địa đạt 62 triệu lượt người, tăng 5,3 lần so với năm 2001; đóng góp trực tiếp ước đạt

6,8% GDP, cả gián tiếp và lan tỏa đạt 14% GDP (Báo nhân dân điện tử ngày 17/01/2017) Hạ tầng du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch ngày càng phát triển Loại hình sản phẩm, dịch vụ du lịch ngày càng phong phú và

đa dạng Chất lượng và tính chuyên nghiệp từng bước được nâng cao Lực lượng doanh nghiệp du lịch lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, tạo được một số thương hiệu có uy tín ở trong nước và quốc tế Bước đầu hình thành một số địa bàn và khu du lịch trọng điểm

Xác định kinh tế du lịch và dịch vụ là ngành kinh tế chủ lực trong giai đoạn tiếp theo, kinh tế du lịch tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Định Hóa là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên có sự cộng cư của 13 dân tộc, trong đó chủ yếu là 6 dân tộc (Tày, Nùng, Dao, Kinh,

Trang 13

Sán Chí, Hoa, …) Nhắc đến Định Hóa là nhắc đến ATK - an toàn khu thời kỳ kháng chiến chống Pháp Nói đến Định Hóa là nói đến một huyện có tới 128

di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Nhân dân các dân tộc trong huyện vốn có truyền thống cách mạng còn bảo lưu, gìn giữ được nhiều giá trị văn hóa bản địa như văn hóa nhà sàn; các điệu hát Ví, Then, Lượn, Sli, Páo dung; nghề thủ công truyền thống; lễ hội Lồng Tồng, lễ hội chùa Hang; nghệ thuật múa rối cạn của đồng bào Tày… Trong 24/24 đơn vị hành chính của huyện đều có di tích lịch sử văn hóa, xã nhiều nhất có 25 di tích, xã ít nhất là

1 di tích Chính vì có tiềm năng và lợi thế đó mà loại hình Du lịch và dịch vụ trở thành một thế mạnh của huyện Định Hóa nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung Bản sắc văn hóa đặc sắc của cộng đồng dân cư nơi đây luôn là những bí ẩn mà khách du lịch muốn tìm hiểu như phong tục tập quán, lễ hội, làng nghề Tất cả những điều đó là cơ sở tạo nên nhiều sản phẩm du lịch độc đáo hấp dẫn du khách Chính vì vậy trong Chiến lược phát triển du lịch của vùng trung du miền núi phía Bắc giai đoạn 2010 - 2020 tầm nhìn 2030đã xác định du lịch và dịch vụ là sản phẩm đặc thù của vùng Cùng với đó, mục tiêu tổng quát trong Đề án phát triển du lịch Thái Nguyên giai đoạn 2009 - 2015, tầm nhìn đến 2020 đã chỉ rõ: “Khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch sinh thái, du lịch và dịch vụ - lịch sử, phấn đấu đến 2020 đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh và tỉnh Thái Nguyên trở thành trung tâm du lịch vùng Việt Bắc” (Sở văn hóa thể thao, du lịch Thái Nguyên, 2009)

So với thế mạnh trên thì việc phát triển du lịch và dịch vụ hiện hay là chưa tương xứng, còn nhiều vấn đề làm cho du lịch và dịch vụ của huyện Định Hóa nói riêng và của tỉnh Thái Nguyên nói chung chưa “cất cánh” Sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa mang tính đặc trưng của địa phương, chưa tạo được tính cạnh tranh trên thị trường, vì vậy chưa thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của du khách, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa được nghiên cứu thấu đáo, chưa được đầu tư phát triển nên chưa thu hút khách du lịch trong và ngoài nước

Trang 14

Căn cứ vào thực trạng và tính cấp bách của vấn đề, tôi đã lựa chọn đề

tài “Phát triển kinh tế Du lịch và dịch vụ tại An toàn khu huyện Định Hóa,

tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, thực tiễn về

các hoạt động phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ thuộc các lĩnh vực như sử dụng sản phẩm văn hóa du lịch, lượng khách, nguồn nhân lực, tại An toàn khu huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên

- Về thời gian:

Số liệu thứ cấp: Được thu thập trong 3 năm, từ 2016-2018;

- Số liệu sơ cấp: Được thu thập trong năm 2019

Các phân tích, đánh giá để đưa ra thực trạng phát triển kinh tế du lịch

và dịch vụ của huyện Đinh Hóa giai đoạn 2016 - 2018 Từ đó, đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Đinh Hóa giai đoạn

2020 - 2025 tầm nhìn đến 2030

- Về không gian: Trên địa bàn khu ATK huyện Định Hóa nhằm nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ

Trang 15

4 Ý nghĩa của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn

về phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa thông qua các sản phẩm du lịch và dịch vụ

- Đề xuất và kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế du lịch

và dịch vụ một cách khoa học và có tính chất quy hoạch hơn, bền vững hơn, giúp cho huyện có những cái nhìn tổng thể hơn và có những định hướng, những quyết sách để kinh tế du lịch và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trong cao trong nền kinh tế của huyện, về lâu dài trở thành ngành kinh tế chủ yếu của huyện Định Hóa

Trang 16

Như vậy, du lịch là sự di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng Đồng thời, du lịch cũng là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên với mục đích phục hồi sức khỏe và nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh Hay nói cách khác, du lịch

là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,

nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

1.1.1.2 Khái niệm về kinh tế du lịch

Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm

vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác, và nó được định nghĩa như sau: Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế

có tính đặc thù, mang tính dịch vụ và thường được xem như ngành công nghiệp không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước; có chức

Trang 17

năng, nhiệm vụ tổ chức, khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước nhằm thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước; tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch

Như vậy, chúng ta thấy được kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế đặc biệt vì du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội Cũng như các ngành kinh tế khác, kinh tế dịch vụ cũng bị tác động và chi phối bởi các quy luật của thị trường và sự quản lý thống nhất của nhà nước để phát triển một cách bền vững (Nguyễn Văn Bình, 2005),

1.1.1.3 Khái niệm dịch vụ và kinh tế dịch vụ

C Mác cho rằng: "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển" Với định nghĩa như vậy, C Mác đã chỉ ra

nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh Khi kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau: từ kinh tế học đến văn hóa học, luật học, từ hành chính học đến khoa học quản lý Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch

vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau, đồng thời cách hiểu về nghĩa rộng và nghĩa hẹp cũng khác nhau.(Nguyễn Thị Bích Ngọc, 2015)

Theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật (Luật giá, 2013)

Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công

Trang 18

Trong kinh tế học: Dịch vụ là một loại hình kinh tế và được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch

vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ

Trong phạm vi đề tài này, dịch vụ được xem là một lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân bao hàm tất cả những hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống dân cư Theo nghĩa này, hoạt động dịch vụ bao hàm cả hoạt động thương mại và được xem xét với tư cách một ngành kinh tế thực hiện quá trình lưu thông trao đổi hàng hóa và thực hiện các công việc phục vụ tiêu dùng của sản xuất và dân cư trên thị trường

* Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ

- Tính không mất đi sau khi đã cung ứng

- Tính vô hình hay phi vật chất

- Tính không thể phân chia

- Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng

- Tính không lưu giữ được

- Hàm lượng trí thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn

- Dịch vụ rất nhạy cảm đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ (Trần Thùy Anh, 2011)

1.1.1.4 Khái niệm Du lịch văn hóa

Hiện nay, trên thế giới và trong nước có rất nhiều khái niệm khác nhau

về du lịch và dịch vụ, cụ thể như sau:

“Du lịch và dịch vụ là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa -kinh tế - xã hội” (Trần Thùy Anh, 2011)

Trang 19

Tổ chức Du lịch thế giới cũng đưa ra khái niệm khác về du lịch và dịch

vụ “Du lịch và dịch vụ bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện về văn hóa khác nhau, thăm các đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”

Khoản 20, Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam, 2009, quy định:

“Du lịch và dịch vụ là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”(Luật du lịch, 2009)

1.1.1.5 Khái niệm về phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ

- Phát triển là một quá trình làm thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội

- Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hay gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một giai đoạn hay một thời kỳ nhất định

- Phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một chuyển biến của nền kinh tế, từ trạng thái thấp lên trạng thái cao Theo đó phát triển kinh

tế du lịch là thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu của khách tại điểm đến, nâng cao hiệu quả kinh doanh của du lịch, tạo nhiều việc làm cho cộng đồng dân cư tại địa phương và phát triển một các bền vững, sản phẩm du lịch không phải là một hoạt động riêng rẽ mà là một quá trình gắn kết với nhau của nhiều sản phẩm hàng hóa do nhiều chủ thể tại điểm đến cung cấp cho khách du lịch Phát triển kinh tế du lịch là một nội dung trong phát triển kinh tế xã hội: Là quá trình nâng cao điều kiện về vật chất và tinh thần của con người qua việc tạo ra các sản phẩm du lịch chất lượng cao đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch

Trang 20

- Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, theo Adam Smith “Dịch vụ

là nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề, công iệc của họ tàn lụi đúng lúc

nó được sản xuất ra” tức là sản phẩm của dịch vụ là được sản xuất và tiêu thu đồng thời Còn theo C Mác “ Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi hành hóa phát triển mạnh đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chay liên tục để thỏa nhu cầu ngày càng cao của con người”, như vậy với sự phát triển ngày càng cao nền kinh tế hoàng hóa thì kinh tế dịch vụ phát triển theo để đáp ứng sự phát triển chung của nền kinh tế và nhu cầu của con người (Nguyễn Phạm Hùng 2012)

- Phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH - HĐH: Là xây dựng nước

ta thành một nước công nghiệp có sơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh Quá trình này đặc biệt quan tâm đến vùng nông thôn, quá trình CNH- HĐH nông thôn là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phân công lao động

và ngành nghề, đa dạng hóa kinh tế nông thôn theo hướng ngày càng nâng cao tỷ trọng của các hoạt động kinh tế để không ngừng phát triển kinh tế và nâng cao mọi mặt đời sống của cộng đồng dân cư nông thôn, góp phần bảo vệ môi trường

và phát triển bền vững

- Phát triển bền vững: Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 định nghĩa “Phát triển bền vững là phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu tương lai ”

- Phát triển kinh tế nông thôn là thay đổi tăng mức sống của người dân, phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài, đề ra những mục tiêu cho sự tiến bộ của nông

thôn (Nguyễn Văn Bình, 2005)

Trang 21

1.1.2 Nội dung của phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ

Du lịch, kể từ khi nó hình thành đã có sự gắn kết chặt chẽ với văn hóa, bởi văn hóa giữa các vùng miền, các khu vực là không giống nhau và luôn chứa đựng những điều bất ngờ, luôn khơi gợi sự tò mò, hấp dẫn du khách Họ đi du lịch để thỏa mãn nhu cầu khám phá những giá trị dịch vụ văn hóa mới, khác lạ với cái họ đang có, là cách mà mỗi người mở rộng không gian văn hóa cho bản thân mình Cái mới, khác lạ đó chính là bản sắc văn hóa của mỗi tộc người (ẩm thực, lễ hội, trang phục, kiến trúc…), là cảnh quan thiên nhiên thơ mộng cùng những điều kiện tự nhiên hấp dẫn (rừng núi, sông hồ, nắng mưa), là những di tích, thắng cảnh gắn liền với lịch sử của từng dân tộc…Nội dung của phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ bao gồm: (Nguyễn Phạm Hùng, 2012)

Đổi mới nhận thức, tư duy về phát triển du lịch và dịch vụ: Nhận thức

rõ du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao và nội dung văn hóa sâu sắc; có khả năng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển, đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh

tế, văn hóa, xã hội, chính trị, đối ngoại và an ninh, quốc phòng

Cơ cấu lại ngành du lịch và dịch vụ bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại và phát triển bền vững theo quy luật của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Hoàn thiện cơ cấu ngành du lịch, bảo đảm phát triển đồng bộ trong tổng thể phát triển của nền kinh tế quốc dân Rà soát, điều chỉnh chiến lược và quy hoạch phát triển du lịch theo hướng tập trung nguồn lực xây dựng các khu vực động lực phát triển du lịch

Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch và dịch vụ Dành nguồn lực thích hợp từ ngân sách nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, nhất là tại các địa bàn trọng điểm, động lực; nâng cao khả năng kết nối giao thông tới các khu, điểm du lịch, kiểm soát chất lượng dịch vụ và đảm bảo an toàn giao thông cho khách du lịch Đầu tư các điểm dừng, nghỉ trên các tuyến du lịch đường bộ

Trang 22

Phát triển nguồn nhân lực du lịch và dịch vụ Nhà nước có chính sách thu hút đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực du lịch; tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo du lịch cả về cơ sở vật chất kỹ thuật, nội dung, chương trình

và đội ngũ giáo viên Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực phát triển nguồn nhân lực du lịch và dịch vụ (Nguyễn Văn Bình, 2005)

Qua những chuyến du lịch, trình độ hiểu biết về các giá trị văn hóa của con người được nâng cao Đi du lịch là cơ hội để du khách có thể sở hữu những sản phẩm mang thương hiệu riêng của từng vùng miền, tộc người, đó

có thể là sản phẩm thủ công hay món ăn truyền thống… Như vậy, một địa phương muốn phát triển du lịch thì điều kiện tiên quyết là phải có những sản phẩm văn hóa khác lạ, độc đáo và hấp dẫn Văn hóa càng có sự khác biệt, có bản sắc riêng bao nhiêu thì càng có khả năng thu hút khách du lịch bấy nhiêu

1.1.3 Vai trò của kinh tế du lịch và dịch vụ

Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch

đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển Mạng lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Các lợi ích kinh

tế mang lại từ du lịch là điều không thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối với các sản phẩm của du lịch Nhu cầu của du khách bên cạnh việc tiêu dùng các hàng hoá thông thường còn có những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi, vãn cảnh, chữa bệnh, nghỉ ngơi, thư giãn… (Dương Văn Sáu,2010),

Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác là tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù

mà không thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch này với giá cả của sản

Trang 23

phẩm du lịch kia một cách tuỳ tiện được Sự tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh vực phân phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế Khi một khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lên đáng kể Xuất phát từ nhu cầu này của du khách mà ngành kinh tế du lịch không ngừng mở rộng hoạt động của mình thông qua mối quan hệ liên ngành trong nền kinh tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong nền kinh

tế quốc dân Hơn nữa, các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn Do đó nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng sáng tạo cải tiến, phát triển các loại hàng hoá Để làm được điều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu tư trang thiết

bị hiện đại, tuyển chọn và sử dụng công nhân có tay nghề cao đáp ứng được nhu cầu của du khách (Nguyễn Văn Bình, 2005)

Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán cân thu chi của đất nước Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước có địa điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ của đất nước đó Ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều người đi du lịch

ở nước ngoài Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hoá, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa…

Một lợi ích khác mà ngành du lịch đem lại là góp phần giải quyết vấn

đề việc làm Bởi các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần một lượng lớn lao động Du lịch đã tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động, giải quyết các vấn đề xã hội

Trang 24

Du lịch Việt Nam trong thời gian qua cũng đã đóng góp rất nhiều cho

sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước Tốc độ tăng trưởng hơn 14%/năm gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế (Dương Văn Sáu, 2009)

1.1.4 Tác động của phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ đối với nền kinh tế

1.1.4.1 Về mặt kinh tế

Du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất ra đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kĩ thuật…) làm tăng tổng sản phẩm quốc nội

Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng Bên cạnh đó, du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khỏe cho nhân dân lao động và do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động xã hội Ngoài ra du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch quốc tế được hiệu quả hơn

Khu vực du lịch đã mang lại cơ hội to lớn cho các quốc gia trong quá trình chuyển đổi từ một nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp chuyển sang một nền kinh tế dựa vào dịch vụ Du lịch làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch, tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân và phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng:

Hoạt động du lịch phát triển, tạo nguồn ngân sách cho các địa phương

từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý trực tiếp của địa phương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp du lịch kinh doanh trên địa bàn Ở các địa phương có làng nghề truyền thống, họ tận dụng thế mạnh của mình để phát triển kinh tế bằng việc giới thiệu bán các sản phẩm thủ công Không chỉ bán cho các du khách đến thăm quan mà đây còn là cơ hội tăng thu nhập địa phương bằng hình thức xuất khẩu (Nguyễn Thị Kim Loan, 2012)

Trang 25

* Du lịch phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo:

Trước hết, đây là hoạt động kinh doanh cần nhiều sự hỗ trợ liên ngành Nhiều khu vực khác cũng được hưởng lợi thông qua hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch, như xây dựng, in ấn và xuất bản, sản xuất, bảo hiểm, vận tải, lưu trú, bán lẻ, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tài chính

Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa: Như đã nói ở trên, du lịch giúp củng cố và phát triển quan hệ quốc tế, do

đó đã mở rộng thị trường, tăng thêm bạn hàng đối với các ngành tham gia vào hoạt động xuất khẩu Việc loại hình du lịch công vụ ngày càng phát triển góp phần đem về cho đất nước các khoản đầu tư, hợp đồng liên kết kinh doanh,…

* Tận dụng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh

tế khác:

Hoạt động du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ của một số ngành sản xuất, do đó phát triển du lịch sẽ mở mang và hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế của đất nước Bên cạnh đó còn tận dụng nguồn lực, điều kiện vật chất kỹ thuật để bổ sung cho nhu cầu cần thiết nhưng chưa được đáp ứng của ngành Ở những vùng phát triển du lịch, do nhu cầu đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi vui chơi, thông tin liên lạc, vận chuyển nên mạng lưới giao thông, cầu cống, điện nước được hoàn thiện phục vụ nhu cầu

du lịch ngày càng tăng (Nguyễn Thị Kim Loan, 2012)

1.1.4.2 Về mặt xã hội

* Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân địa phương:

Du lịch với tính chất là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, du lịch phát triển sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho lao động nông thôn mà không cần phải đào tạo công phu, từ đó góp phần từng bước nâng cao tích lũy và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hiện nay tỷ lệ hộ kinh tế làm dịch vụ trong nông thôn mới chỉ chiếm 11,2% Tiếp tục khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải

Trang 26

quyết hàng loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phát triển nông thôn văn minh, hiện đại phù hợp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Du lịch là một ngành kinh tế không chỉ mang lại việc làm cho nhiều phụ nữ mà còn mang lại nhiều cơ hội to lớn vì sự tiến bộ của phụ nữ

* Du lịch làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước có nền kinh tế phát triển:

Hiện nay tốc độ đô thị hóa tại các nước phát triển là rất lớn Do công nghiệp là thế mạnh, là ngành kinh tế đem lại hiệu quả cao nhất cho đất nước nên việc xây dựng các khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng hiện đại cho phù hợp với sự phát triển đó là điều tất yếu Bên cạnh những điểm tích cực, quá trình

đô thị hóa đã đem lại nhiều hậu quả cho xã hội Dân cư tập trung đông đúc tại các thành phố lớn gây ra sự quá tải còn ở các vùng quê, miến núi lại không đủ lực lượng lao động tham gia sản xuất Chính vì thế mà gây ra sự mất cân đối giữa các vùng kinh tế Nhưng khi du lịch đã được sự quan tâm phát triển của địa phương thì sự tập trung dân cư không đồng đều được giảm hẳn Do tài nguyên du lịch thường tập trung ở những vùng đồng quê hay miền núi, vì vậy

để khai thác nguồn và phát triển hiệu quả cần đầu tư về mọi mặt: giao thông, thông tin liên lạc, văn hóa, xã hội… Du lịch phát triển làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội các vùng miền

* Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả

Không chỉ quảng cáo hàng hóa nội địa ra nước ngoài thông qua các du khách mà du lịch còn là phương thức hiệu quả nhất, mang hình ảnh đất nước, con người, truyền thống, văn hóa Việt Nam giới triệu với bạn bè năm châu Đến Với Việt Nam, du khách được làm quen với các mặt hàng công nghiệp, thủ công nghiệp nổi tiếng như gốm sứ, dệt thổ cẩm, dệt lụa… Như vậy, du lịch đã góp phần đánh thức và bảo tồn các ngành nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền (Nguyễn Thị Kim Loan, 2012)

Trang 27

* Du lịch làm tăng tầm hiểu biết chung về văn hóa - xã hội

Du lịch nội địa và quốc tế đến nay là một trong những phương tiện hàng đầu để trao đổi văn hoá, tạo cơ hội cho mỗi con người được trải nghiệm

Du lịch ngày càng được thừa nhận rộng rãi là một động lực tích cực cho việc bảo vệ di sản thiên nhiên văn hoá Du lịch có thể nắm bắt các đặc trưng về kinh tế của di sản và sử dụng chúng vào việc bảo vệ bằng cách gây quỹ, giáo dục cộng đồng và tác động đến chính sách Đây là một bộ phận chủ yếu của nhiều nền kinh tế quốc gia và khu vực và có thể là một nhân tố quan trọng trong phát triển, khi được quản lý hữu hiệu

Thương mại hoá các di sản văn hoá Du lịch là sự tìm kiếm của khánh

du lịch đối với cái đẹp của các giá trị vật chất và tinh thần Hoạt động du lịch phải thật sự đạt tới mục tiêu bền vững Tác dụng tích cực của du lịch đối với môi trường thường gắn với công tác bảo tồn

Du lịch cũng tác động trở lại văn hóa thông qua việc xây dựng và cải tạo môi trường văn hóa, xã hội, làm cho môi trường này khởi sắc, tươi mới, làm cho các hoạt động văn hóa năng động và linh hoạt hơn trong cơ chế thị trường Hoạt động du lịch góp phần khơi dậy các tiềm năng văn hóa giàu có

và phong phú đang còn ẩn chứa khắp nơi trên đất nước ta, “đánh thức nàng tiên ngủ trong rừng” để cả xã hội chiêm ngưỡng, thưởng thức cái đẹp, không

để cái đẹp ấy bị che phủ, mai một và lãng quên (Trần Thúy Anh)

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ

1.1.5.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch và dịch vụ

Hiểu theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch được xem là toàn bộ cơ sở hạ tầng, phương tiện, vật chất và kỹ thuật tham gia vào hoạt động du lịch Bao gồm cả cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch như nhà hàng, khách sạn, hệ thống điện nước vệ sinh phục vụ tại điểm du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác có liên quan (mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện, nước của vùng…) Hiểu theo

Trang 28

nghĩa hẹp thì cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch là toàn bộ những cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật được các nhà làm du lịch đầu tư xây dựng để phục vụ cho hoạt động du lịch như nhà hàng, khách sạn, đường giao thông nội bộ trong khu/điểm du lịch, công trình điện nước tại khu/điểm du lịch, các khu vui chơi giải trí, phương tiện giao thông và các công trình bổ trợ khác gắn liền với hoạt động du lịch Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch và dịch vụ là toàn bộ những cơ sở vật chất kỹ thuật tại điểm du lịch và dịch vụ và cơ sở hạ tầng của ngành nghề khác tham gia vào hoạt động du lịch và dịch vụ như: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, các công trình cung cấp điện nước, cơ sở phục vụ ăn uống, cơ sở lưu trú, các cửa hàng, khu giải trí/thể thao, cơ sở y tế, trạm xăng dầu, nhà ga, bến cảng, bãi đỗ xe… phục vụ trực tiếp cho du khách đến tham quan tìm hiểu du lịch và dịch vụ Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch

và dịch vụ góp phần quyết định đến chất lượng dịch vụ và hiệu quả của điểm đến du lịch và dịch vụ (Nguyễn Văn Chiến (2006),

1.1.5.2 Nhân lực du lịch và dịch vụ

Nguồn nhân lực được hiểu là tất cả người lao động làm việc trong một tổ chức, bao gồm trí lực và thể lực Như vậy, nguồn nhân lực trong du lịch là toàn bộ đội ngũ nhân viên làm việc có liên quan đến lĩnh vực du lịch Bao gồm cả nguồn nhân lực thường xuyên và nguồn nhân lực không thường xuyên như: nhân viên quản lý nhà nước về du lịch, quản lý trong các doanh nghiệp du lịch, hướng dẫn viên du lịch, nhân viên y tế, nhân viên ngân hàng, nhân viên hàng không… và tất cả những người lao động khác

có liên quan đến hoạt động du lịch Nhìn theo hướng chuyên biệt thì nhân lực du lịch chính là đội ngũ nhân viên làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch, các khu/điểm du lịch… Do vậy, nguồn nhân lực trong du lịch và dịch vụ là toàn bộ những người lao động trực tiếp và gián tiếp làm việc có liên quan đến hoạt động du lịch và dịch

vụ, bao gồm đội ngũ quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp và kinh doanh du lịch và dịch vụ Lực lượng này quyết định hiệu quả kinh doanh và

Trang 29

sự tồn tại của du lịch và dịch vụ Như vậy, muốn phát triển du lịch và dịch

vụ bền vững cần phải có đội ngũ nhân lực giỏi chuyên môn nghiệp vụ, am tường văn hóa, đủ khả năng đảm nhiệm vai trò truyền tải hình ảnh về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam cho du khách

1.1.5.3 Thị trường du lịch và dịch vụ

Thành phần du khách của du lịch chủ yếu là những người sống ở thành thị, ở những vùng phát triển, người nước ngoài, họ muốn tìm về nguồn cội, về các di tích lịch sử, lễ hội… của dân tộc nào đó và đặc biệt là những làng bản ở vùng quê xa xôi, tìm sự yên tĩnh và thư thái sau chuỗi ngày bận rộn Những người đi du lịch và dịch vụ thường là những người có trình độ học vấn, những người thích phiêu lưu khám phá họ muốn tìm hiểu kiến thức mới lạ Khách du lịch không ngoại trừ trường hợp là những nhà nghiên cứu, đối tượng này họ có thu nhập ổn định, có khả năng thanh toán, quyết định tiêu dùng nhanh và có nhu cầu dịch vụ tốt Du lịch và dịch vụ thường nhằm vào đối tượng khách là trung niên trở lên Họ là những người

có tầm hiểu biết khá rộng, có nhu cầu khám phá, nghiên cứu, mở rộng sự hiểu biết Một đối tượng du khách nữa đó là độ tuổi thanh niên và thanh thiếu niên đây là độ tuổi học sinh sinh viên với mong muốn nghiên cứu học tập, chỉ riêng với lễ hội đối tượng khách được mở rộng hơn rất nhiều Như vậy, thị trường du lịch và dịch vụ được hiểu là một kiểu thị trường du lịch đáp ứng và thỏa mãn yếu tố văn hóa của du khách Đây chính là nơi diễn ra

sự trao đổi, mua bán giữa người mua là khách du lịch có nhu cầu thỏa mãn

về sản phẩm văn hóa và người bán là những nhà cung cấp dịch vụ có liên quan đến du lịch và dịch vụ trong một thời gian và không gian xác định Thị trường du lịch và dịch vụ chịu sự tác động chung của thị trường du lịch

về yếu tố địa lý, yếu tố cung cầu; về tính chất hoạt động và thành phần sản phẩm Đồng thời, thị trường du lịch và dịch vụ đảm nhiệm các chức năng như: chức năng thực hiện, chức năng thừa nhận, chức năng thông tin và chức năng điều tiết (Trần Thúy Anh, 2011)

Trang 30

1.1.5.4 Tổ chức, quản lý du lịch và dịch vụ

Đó là trình độ phối hợp các dịch vụ riêng lẻ thành các sản phẩm du lịch

và dịch vụ hoàn chỉnh và tạo điều kiện dễ dàng trong việc mua sản phẩm của khách hàng Hay nói một cách khác, đó chính là sự tổ chức, điều hành của từng đơn vị kinh doanh lữ hành, đồng thời cũng là mối quan hệ giữa các đơn

vị kinh doanh lữ hành với nhau và giữa các đơn vị kinh doanh lữ hành với các đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch và dịch vụ Ngoài ra, trình độ tổ chức quản lý Nhà nước về du lịch và dịch vụ còn thể hiện ở việc xây dựng và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, tổ chức tuyên truyền quảng cáo, thanh tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có kinh doanh du lịch và dịch vụ…

Đó cũng là sự hình thành và tổ chức hoạt động du lịch và dịch vụ giữa các điểm du lịch và các mạng lưới tổ chức du lịch được thể hiện trong quy hoạch Công tác tổ chức, quản lý du lịch và dịch vụ cũng đồng nghĩa với công tác tổ chức quản lý, phát huy và bảo tồn các di sản văn hóa Đây là điều kiện quan trọng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững để phát triển du lịch và dịch vụ

Tổ chức quản lý Nhà nước về du lịch và dịch vụ hiện nay đang là vấn đề được lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo ngành và các doanh nghiệp quan tâm Việc quản

lý phải được cụ thể hóa trong công tác quy hoạch, ban hành các quy chế, các chính sách phát triển du lịch và dịch vụ phù hợp với điều kiện phát triển kinh

tế - xã hội ở từng địa phương (Nguyễn Văn Bình, 2005),

1.1.5.5 Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá

Trong ngành du lịch, xúc tiến là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch Như vậy, công tác xúc tiến trong du lịch góp phần quan trọng trong việc giới thiệu hình ảnh sản phẩm du lịch đến với du khách trong và ngoài nước, đồng thời nó cũng mang lại hiệu quả thiết thực cho ngành du lịch Trên cơ sở đó, có thể hiểu xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá trong du lịch và dịch vụ là tranh thủ mọi cơ hội để có thể quảng bá hình ảnh du lịch và dịch vụ đến với thị trường du lịch trong và ngoài nước Việc giới thiệu các hoạt động và sản phẩm du lịch và dịch vụ này

Trang 31

nhằm mục đích để du khách có thể chiêm ngưỡng, đánh giá, nghiên cứu, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy du lịch và dịch vụ phát triển và mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất cho ngành du lịch nói chung.(Trần Thúy Anh, 2011)

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại một số địa phương

1.2.1.1 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại Việt Nam

Việt Nam có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú Trong những năm gần đây du lịch Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ cả về chất và lượng Đặc biệt là phát triển du lịch và dịch vụ là hướng đi là xu thế của các nước đang phát triển loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy phải được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Ở Việt Nam, nhiều hoạt động du lịch và dịch vụ được tổ chức dựa trên những đặc điểm của vùng miền Năm Du lịch quốc gia được tổ chức luân phiên hàng năm ở các tỉnh/thành trên cả nước, Hội nghị quốc tế “Du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững”, chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” từ lần thứ I (2009)đến lần lần thứ VI (2014) được tổ chức lần lượt ở 6 tỉnh Việt Bắc, Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận), Chương trình Du lịch về nguồn kết hợp giữa 3 tỉnh Yên Bái, Lào Cai và Phú Thọ đây là những hoạt động của du lịch và dịch vụ, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước

Việt Nam với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại mang một nét văn hóa độc đáo, nên văn hóa Việt Nam đa sắc màu đó cũng chính là một tài nguyên

du lịch và dịch vụ hết sức độc đáo Đánh giá được đây là tiềm năng những năm gần đây các công ty du lịch, chính quyền địa phương, ngành du lịch Việt Nam đã có các chương trình du lịch, hướng phát triển du lịch hết sức tạo bạo cho mình, bằng chứng đó là đã xây dựng được rất nhiều các bản du lịch cộng

Trang 32

đồng đậm đà bản sắc dân tộc như bản Lác, bản Văn (Mai Châu - Hòa Bình),

Tả Phìn (Lào Cai)…, xây dựng các tour du lịch thu hút khách đến với các di tích lịch sử như Điện Biên Phủ, khu di tích ATK Định Hóa,… khôi phục được các lễ hội truyền thống, các làng nghề đã bị mai một…

Tuy nhiên, từ hơn 20 năm phát triển du lịch, Việt Nam chỉ chú trọng khai thác thiên nhiên và thiếu định hướng chiến lược phát triển, đầu tư một cách bài bản cho du lịch, và kém xa các nước khác trong khu vực và vẫn chưa

có được một sân khấu, nhà hát biểu diễn nghệ thuật dân tộc nào độc đáo để giới thiệu đến du khách quốc tế, để đa dạng hóa sản phẩm du lịch Đồng thời hoạt động du lịch và dịch vụ của nước ta từ nhiều năm nay, cũng đang bị báo động về nạn "chặt chém", các chương trình bị “loãng”, bắt nạt du khách, cơ sở

hạ tầng, chất lượng dịch vụ, quản lý kém, ô nhiễm môi trường tại các điểm du lịch, nhiều di tích không được bảo quản đúng mức, gây hư hỏng nghiêm trọng hay bị sửa lại khác so với lúc ban đầu… tạo ấn tượng xấu với du khách Vì những yếu kém như vậy nên ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch và dịch vụ nói riêng thường chỉ chú trọng khai thác quá mức các tài nguyên du lịch nhân văn như một điểm mạnh, nhưng việc "xã hội hóa" các di tích (cho phép các công ty đầu tư khai thác và bán vé vào cửa) và các công ty này lại không quan tâm bảo trì đúng mức, do đó cảnh quan đang bị xuống cấp hay phá hủy nhanh chóng (Tổng cục du lịch Việt Nam, 2018)

1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ của huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại, Quảng Trị là tiền đồ của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa và là điểm đầu của chiến trường miền Nam - Thần đồng Tổ quốc Trong hệ thống dày đặc các di tích lịch sử tại vùng đất lửa, có thể nói đến huyện Gio Linh - nơi có Thành cổ Quảng Trị Đây là một điểm đến tiêu biểu, có vai trò quan trọng trong hành trình du lịch xứ Quảng nói riêng và du lịch miền Trung nói chung Bởi nơi đây đã ghi lại dấu ấn ác liệt của mùa hè đỏ lửa năm 1972, với sự chiến đấu anh dũng trong suốt 81 ngày

Trang 33

đêm của các chiến sĩ cách mạng Những hồi ức ấy mãi sống trong lòng người dân cả nước, đặc biệt là quân và dân Quảng Trị Sau ngày giải phóng đất nước, với những giá trị lịch sử cách mạng của mình, Thành cổ Quảng Trị được Nhà nước quan tâm, trở thành di tích cấp Quốc gia và các nét văn hóa độc đáo khác của Quảng Trị đã trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc của tỉnh

Như vậy, có thể thấy Quảng Trị nói chung và huyện Gio Linh nói riêng

có tiềm năng rất lớn về di tích lịch sử, văn hóa, biểu hiện bằng sự phong phú về chủng loại, đa dạng về loại hình, giàu có về nội dung và tiềm ẩn diễn trình văn hóa - lịch sử của một vùng đất đã trải qua nhiều biến động Dù không có lợi thế

về khí hậu như các địa phương khác nhưng bằng những tiềm năng của mình, du lịch Gio Linh đang ngày càng phát triển, tạo ra được những sản phẩm độc đáo, hấp dẫn Một trong những sản phẩm đó là chương trình du lịch hoài niệm - một sản phẩm mang thương hiệu không chỉ của huyện Gio Linh mà còn là trên phạm vi toàn tỉnh Quảng Trị, thu hút đông đảo đối tượng khách tham quan Cùng với sự phát triển của chương trình du lịch hoài niệm về chiến trường xưa

và đồng đội, Thành cổ Quảng Trị đang là điểm đến được nhiều người quan tâm, là một điểm nhấn trong Tour DZM, mang những giá trị lịch sử vô cùng lớn lao Thành cổ Quảng Trị là khu di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu nhất trong hàng trăm di tích về chiến tranh cách mạng ở tỉnh Quảng Trị

Trong mỗi con người, tìm hiểu về quá khứ, nhận thức lịch sử là một nhu cầu tất yếu bởi “nhận thức đúng bài học lịch sử sẽ giúp hiểu biết sâu sắc

và nhận thức thực tại tốt hơn Điều nay giúp ta ứng phó tốt với mọi thay đổi trong tương lai” Thế nên, việc phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng trên địa bàn huyện Gio Linh là yếu tố để thu hút khách tham quan du lịch và cũng là phát huy tính độc đáo của du lịch Quảng Trị - du lịch thăm lại chiến trường xưa, tham quan di tích chiến tranh có một đặc điểm không một địa phương nào trên hành lang kinh tế Đông Tây có được Việc khai thác, phát triển du lịch hoài niệm tại Thành cổ Quảng Trị là một yêu cầu tất yếu, khai

Trang 34

thác giá trị di tích lịch sử cách mạng đóng góp cho sự phát triển chung của toàn tỉnh Để đạt được hiệu quả du lịch cao, huyện Gio Linh đã có sự phối hợp linh hoạt giữa các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền như UBND huyện với Phòng Văn hóa - Thông tin huyện, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Quảng Trị, Ban quản lý Khu di tích và các công ty du lịch trên địa bàn

Như vậy, có thể thấy ngoài những điểm khác biệt mang tính đặc trưng thì Di tích Thành cổ Quảng Trị có những nét tương đồng với hệ thống di tích lịch sử của huyện Định Hóa Dựa vào bài học phát triển du lịch ở Thành cổ Quảng Trị huyện Định Hóa có thể học hỏi kinh nghiệm về việc xác định sản phẩm du lịch đặc thù du lịch hoài niệm và kinh nghiệm

về sự liên kết giữa các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý với công ty du lịch nhằm khai thác có hiệu quả di tích lịch sử trong phát triển du lịch tại địa phương (UBND huyện Gio Linh)

1.2.1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ của thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

Trong lịch sử hiện đại, Điện Biên được nhắc đến như một chiến thắng

vĩ đại của một đất nước thuộc địa nhỏ bé ở Đông Nam Á chống lại đội quân hùng mạnh của cường quốc phương Tây Thành phố Điện Biên được biết đến với trận Điện Biên Phủ năm 1954, giữa quân đội Việt Minh (do tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy) và quân đội Pháp (do tướng Christian de Castries chỉ huy) Cuộc chiến mang ý nghĩa rất lớn trong việc kết thúc vai trò của người Pháp ở bán đảo Đông Dương, và đưa tới việc kí kết hiệp định chia Việt Nam

ra thành 2 miền: Bắc và Nam Trận Điện Biên Phủ được nhắc đến như một chiến thắng vĩ đại nhất của các nước Đông Nam Á chống lại một cường quốc phương Tây Bằng cách huy động sức người một cách tối đa và với lực lượng hậu cần đông đảo của mình, Việt Minh đã làm nên một trong những chiến thắng quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh của Việt Nam

Trang 35

Quần thể di tích lịch sử Điện Biên Phủ được chính thức xếp hạng di tích lịch sử quốc gia ngày 28 tháng 4 năm 1962 Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ được xây dựng nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (2004) Hiện nay chạy dọc thung lũng Mường Thanh, nơi diễn ra cuộc đọ sức lịch sử năm xưa là đại lộ 279, con phố chính và lớn nhất thành phố Điện Biên Phủ Mảnh đất này đã trở thành biểu tượng cho hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ, là thiên anh hùng ca về tinh thần quyết chiến, quyết thắng, là niềm tin của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới, làm nức lòng bạn bè khắp năm châu Với vai trò là một “chiến thắng lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vĩ đại, Điện Biên Phủ đã tạo ra một ấn tượng sâu đậm, đặc trưng đối với du khách

Ngoài các di tích lịch sử nói trên, thành phố Điện Biên Phủ còn là địa bàn

cư trú của nhiều dân tộc thiểu số Mỗi dân tộc ở đây có những luật tục quy định riêng về đồ dùng trong gia đình, vị trí ăn/nghỉ trong nhà, kiêng kị của gia đình/bản làng… Đây chính là những “quy ước chung” để răn dạy con cái, gắn kết các thành viên trong gia đình nhưng đồng thời cũng phản ánh tính cộng đồng cao Những chuẩn mực nghi lễ, ứng xử đẹp của dân tộc được người Điện Biên gìn giữ từ đời này sang đời khác Có thể coi đây như nguồn tài nguyên quý giá

để phát triển du lịch phong tục nói riêng và du lịch và dịch vụ nói chung

Một trong những kinh nghiệm của thành phố Điện Biên Phủ để phát triển du lịch và dịch vụ nói riêng và phát triển du lịch nói chung là thường xuyên có sự tương tác đối với các phương tiện truyền thông đại chúng (báo, tạp chí, truyền hình, sách, phim) cả trong và ngoài nước Có thể kể đến hàng chục bộ phim (cả điện ảnh và tư liệu) đã khai thác và quay phim

về điểm đến này Trong đó có một số bộ phim do các nhà sản xuất nước ngoài thực hiện như “Điện Biên Phủ - Cuộc chiến giữa hổ và voi” (2004) của đạo diễn Daniel Roussel, hay “Việt Nam trên đường thắng lợi” của đạo diễn Nga Roman Carmen, “Ngày D ở Điện Biên Phủ” của đạo diễn

Trang 36

Georges Guillot Ngoài ra, còn có các bộ phim Việt Nam như “Hoa ban đỏ”, “Ký ức Điện Biên”, “Đường lên Điện Biên”… Những bộ phim này đã được công chiếu rộng rãi, góp phần giúp cho hình ảnh của Điện Biên ngày càng trở nên phổ biến với đại chúng nói chung và với khách du lịch nói riêng (UBND thành phố Điện Biên Phủ)

Một kinh nghiệm phát triển du lịch và dịch vụ thành công khác của thành phố Điện Biên Phủ chính là việc đầu tư xây dựng điểm nhấn thu hút

du khách Với tính chất định hướng cho du khách về một sự hiểu biết chung cho toàn bộ điểm đến, điểm nhấn thu hút đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc quản lý thương hiệu, đặc biệt trong lĩnh vực nhận diện thương hiệu điểm đến

Như vậy, mặc dù quy mô phát triển du lịch và dịch vụ của thành phố Điện Biên Phủ và của huyện Định Hóa (Thái Nguyên) là khác nhau nhưng dựa trên đặc điểm tài nguyên du lịch giữa 2 địa phương này, chúng ta thấy hoạt động du lịch và dịch vụ của Định Hóa có thể học tập những bài học kinh nghiệm sau của thành phố Điện Biên Phủ: xây dựng điểm nhấn thu hút, đầu tư

cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phát triển hình thức du lịch bản làng dân tộc, bảo tồn và phát huy giá trị di tích/di sản, xúc tiến du lịch và dịch vụ

1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan

Phát triển du lịch gắn với dịch vụ đặc biệt là du lịch và dịch vụ là chủ

đề đã được nghiên cứu rất nhiều tại các hội thảo Đây cũng là vấn đề được nhiều tác giả quan tâm:

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2008) đã thực hiện luận văn thạc sỹ chuyên ngành lịch sử với đề tài “An toàn khu Định Hóa trong căn

cứ địa kháng chiến Việt Bắc” Luận văn đã tập trung nhìn nhận và đánh giá về vai trò của Định Hóa trong không gian lịch sử của căn cứ địa Việt Bắc Bên cạnh đó, luận văn cũng chỉ ra rằng: để Khu Di tích lịch sử ATK Định Hoá

Trang 37

thực sự trở thành một Khu Di tích đặc biệt quan trọng, xứng đáng với vị thế của nó trong lịch sử cách mạng dân tộc, thu hút đông đảo đồng bào cả nước

và bạn bè quốc tế tới tham quan du lịch thì bên cạnh việc đầu tư tôn tạo các di tích với quy mô lớn, cần có sự đầu tư chiều sâu theo mô hình "Cụm di tích lịch sử -du lịch - văn hoá" Tuy nhiên, công trình khoa học này chỉ dừng lại ở mức độ đề xuất chứ chưa đưa ra được những kết quả phân tích và giải pháp cụ thể có liên quan đến phát triển du lịch và dịch vụ ở Định Hóa

Năm 2011, Tổng cục du lịch ban hành Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, trong đó ATK huyện Định Hóa(Thái Nguyên) được định hướng phát triển thành khu du lịch quốc gia Đặc biệt, tháng 9/2012, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thái Nguyên đã tổ chức hội thảo khoa học về Đề tài “Lễ hội lịch sử cách mạng ATK Định Hóa, Thái Nguyên” Tại buổi Hội thảo, các nhà nghiên cứu chuyên ngành đã cho ý kiến với 3 chuyên đề khoa học: giá trị lịch sử khu di tích lịch sử cách mạng ATK huyện Định Hóa - Thái Nguyên; giáo dục truyền thống cách mạng qua nguồn

tư liệu lịch sử địa phương ở ATK huyện Định Hóa - Thái Nguyên; cơ sở lý luận và thực tiễn của tổ chức lễ hội lịch sử cách mạng

Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh ở ATK Việt Bắc - Thái Nguyên cần gắn với phát triển du lịch Đó là chủ đề của Hội thảo khoa học do Ban quản lý Khu di tích lịch sử - sinh thái ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên và Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức từ ngày 12-13/5/2014 tại xã Phú Đình, huyện Định Hóa Đa số các ý kiến tham luận tại hội thảo đều cho rằng phải có lộ trình bảo tồn một cách khoa học, bền vững, gắn kết với du lịch, sớm hoàn thành quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch

sử ATK huyện Định Hóa cùng với ATK Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) và ATK Chợ Đồn (Bắc Kạn), tạo cơ sở để mời gọi các doanh nghiệp

Trang 38

đầu tư phát triển, khai thác triệt để tiềm năng du lịch sẵn có tại các địa phương Nhằm phát huy giá trị di tích có hiệu quả, Thái Nguyên cũng cần hình thành các tour, tuyến du lịch khoa học, sinh động để níu chân du khách khi đến ATK huyện Định Hóa bằng các sản phẩm du lịch lợi thế như cảnh quan, sản vật, ẩm thực địa phương; đồng thời xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tốt, có đủ kiến thức, kỹ năng phục vụ du khách

Tháng 10/2014, Ban tổ chức Chương trình du lịch “Qua những miền di sản Việt Bắc” lần thứ VI năm 2014 đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề

"Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch vùng Việt Bắc" Hội thảo khoa học đã thu hút hơn 30 báo cáo, tham luận, ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lý về du lịch, các doanh nghiệp du lịch để chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn sau 5 năm thực hiện chương trình “Qua những miền di sản Việt Bắc” xung quanh các vấn đề về bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản văn hóa và vấn đề liên kết phát triển du lịch

Những công trình nghiên cứu trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập tới vấn đề du lịch Định Hóa Ngoài ra còn có một số bài báo, tạp chí, thông tin khoa học cũng nghiên cứu các vấn đề đề tài quan tâm Song cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu riêng và trình bày một cách hệ thống về phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK Định Hóa Đây cũng là khoảng trống để tác giả làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn

1.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ tại ATK Định Hóa

Thông qua thực trạng phát triển kinh tế du lịch của Việt Nam và bài học kinh nghiệm trong việc phát triển kinh tế du lịch và dịch vụ của một số địa phương trên cả nước Bài học kinh nghiệm được rút ra cho sự phát triển của du lịch và dịch vụ tại ATK huyện Định Hóa như sau:

Trang 39

Có quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của huyện trong thời gian dài hạn

để tránh phát triển du lịch không bền vững, phát triển du lịch và dịch vụ nóng

Tuyên truyền về nhiệm vụ phát triển du lịch của huyện đến các cấp ủy, chính quyền và nhân dân trên địa bàn huyện để nhân dân hiểu rõ việc phát triển du lịch là sinh kế bền vững trong phát triển kinh tế của huyện

Đẩy mạnh hợp tác với các cơ quan báo chí, làm tốt công tác tuyên truyền quảng bá, hoạt động du lịch ở ATK huyện Định Hóa đến khách du lịch

để khách du lịch hiểu rõ du lịch và dịch vụ tại đây

Chú trọng công tác xúc tiến, tuyên truyền du lịch và không ngừng cải tiến nhằm thu hút khách đến với ATK huyện Định Hóa ngày một đông hơn

Trang 40

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của An toàn khu huyện Định Hóa

* Vị trí địa lí

An toàn khu Định Hóa (ATK Định Hóa) là một khu di tích rộng lớn nằm ở tỉnh Thái Nguyên Khu di tích này đã được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt quan trọng của Việt Nam Đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam đã sống và làm việc từ 20/5/1947

- 1954 để lãnh đạo cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp

An toàn khu Trung ương Định Hoá nằm ở trung tâm căn cứ địa Việt Bắc, nơi có địa thế hiểm trở "tiến có thể đánh, lui có thể giữ", có đầy đủ yếu

tố địa lợi, nhân hoà, đã trở thành địa bàn hoạt động an toàn của các cơ quan đầu não kháng chiến Khu căn cứ này đặt tại huyện Định Hóa nằm ở cực bắc tỉnh Thái Nguyên

* Địa hình

ATK huyện Định Hóa được biết đến là một miền đồi núi hiểm trở có địa thế chiến lược về quân sự Do tính chất địa hình huyện Định Hóa chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam nên tạo ra diện mạo địa hình của vùng lãnh thổ này chủ yếu là địa hình vùng núi cao, đồi và núi đá đan xen nhau Nhìn chung, toàn huyện có địa hình khá phức tạp, phần lớn diện tích trên lãnh thổ huyện là vùng núi cao, có độ dốc lớn, địa hình hiểm trở bị chia cắt mạnh Những vùng đất tương đối bằng phẳng thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ, phân tán dọc theo các khe, ven sông, suối hoặc thung lũng vùng núi đá vôi Sự phân bố địa hình trên lãnh thổ cùng với quá trình sản xuất

đã hình thành 3 tiểu vùng sinh thái: tiểu vùng núi cao, tiểu vùng thung lũng lòng chảo Chợ Chu và tiểu vùng đồi thoải

Ngày đăng: 27/05/2021, 09:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w