Với những quan ngại về kinh tế và y tế trên toàn cầu đang gia tăng, nền kinh tế Việt Nam dự kiến sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, mặc dù cho đến nay cuộc khủng hoảng y tế do đại dịch COVID 19 gây ra vẫn được kiểm soát, chỉ có 240 trường hợp nhiễm bệnh và không ai bị tử vong đến đầu tháng 4. Các lĩnh vực hợp tác tiềm năng giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới có thể bao gồm (i) giám sát tài chính và vĩ mô; (ii) thực hiện các biện pháp an sinh xã hội; và (iii) những cải cách cần thực hiện để tối ưu hóa sự phục hồi của nền kinh tế.
Trang 10 4 / 2 0 2 0
BÁO CÁO CẬP NHẬT CHÍNH SÁCH #3 VỀ
COVID-19
Việt Nam: Những trở lực lớn hơn gây ra nhiều thách thức mới cho Chính phủ
Trang 2COVID-19 là một cú sốc khổng lồ, tàn phá xã hội và nền kinh tế trên toàn thế giới thường theo những cách gia tăng lẫn nhau Hầu hết các quốc gia
đều đang rơi vào suy thoái và dự kiến
sẽ chưa thể phục hồi trước cuối Quý 3 năm 2020, nhưng sự phục hồi hy vọng
sẽ gia tăng mạnh mẽ trong suốt năm
2021 Những bất ổn lớn đến mức cả hậu quả về y tế và tài chính của dịch bệnh trên toàn cầu đều đang rất khó dự đoán
Trên toàn thế giới, các nhà kinh tế liên tục điều chỉnh những dự báo kinh tế của mình để phản ánh chính xác hơn tác động tiêu cực đang gia tăng của đại dịch trên toàn cầu, và Nhóm Ngân hàng Thế
abc
giới (NHTG) đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động này bằng những tư vấn
kỹ thuật và hỗ trợ tài chính vô cùng cần thiết
Trong bối cảnh đó, các dự báo kinh tế cho Việt Nam đã được điều chỉnh giảm đáng kể Sự bùng phát của dịch
COVID-19 cho đến nay đã được ngăn chặn tại Việt Nam thông qua việc kết hợp các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát thông minh Tăng trưởng GDP dự kiến chỉ đạt 3,0% vào năm 2020, vẫn tích cực so với khu vực và quốc tế nhưng đây là tốc độ tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 1986 Dự báo mới của
abc
Với những quan ngại về kinh tế và y tế trên toàn cầu đang gia tăng, nền kinh tế Việt Nam dự kiến sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, mặc dù cho đến nay cuộc khủng hoảng y tế do đại dịch COVID 19 gây ra vẫn được kiểm soát, chỉ có 240 trường hợp nhiễm bệnh và không ai bị tử vong đến đầu tháng 4
Dự báo tăng trưởng GDP của Ngân hàng Thế giới cho Việt Nam đã giảm một nửa so với trước khủng hoảng, dự kiến chỉ ở mức 3,0% vào năm 2020
Thu ngân sách và kim ngạch xuất khẩu dự kiến đều sẽ giảm, làm thâm hụt ngân sách khoảng 5 tỷ USD, do đó sẽ cần phải có các khoản vay mới
Biện pháp ứng phó về tài chính của Chính phủ, trong đó kết hợp hỗ trợ về thuế
và an sinh xã hội, dự kiến sẽ làm giảm nhẹ tác động kinh tế ngắn hạn liên quan đến đại dịch COVID 19, nhưng những thách thức chính sẽ là làm sao để triển khai nhanh chóng và hiệu quả các biện pháp trên và chuẩn bị cho sự phục hồi
dự kiến của nền kinh tế khi cuộc khủng hoảng y tế đã được ngăn chặn
Nới lỏng chính sách tiền tệ và tín dụng dễ dàng tạo ra nguồn vốn đệm mà các doanh nghiệp bị ảnh hưởng mong chờ, nhưng cần giám sát chặt chẽ khi các ngân hàng ngày càng phải đối mặt với suy thoái kinh tế, ảnh hưởng đến chất lượng tài sản, nợ phải trả và khả năng sinh lời theo thời gian
Các lĩnh vực hợp tác tiềm năng giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới có thể bao gồm (i) giám sát tài chính và vĩ mô; (ii) thực hiện các biện pháp
an sinh xã hội; và (iii) những cải cách cần thực hiện để tối ưu hóa sự phục hồi của nền kinh tế
Những thông điệp chính
Những trở lực lớn hơn gây ra nhiều thách thức mới cho Chính phủ
1 Báo cáo này do Jacques Morisset soạn thảo với các ý kiến góp ý của Alwaleed Alatabani, Nguyễn Nguyệt Nga, Đinh Tuấn Việt, Obert Pimhidzai, Steffi Stallmeister, Đỗ Việt Dũng, và Nguyễn Việt Anh; và dưới sự hướng dẫn của Ousmane Dione, Deepak Mishra và Rinku Murgai.
1
1 Những trở lực ngày càng lớn sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng và yêu cầu huy động thêm vốn
Trang 3của các địa phương cũng đang bị ảnh hưởng bởi các biện pháp hạn chế hơn đối với việc di chuyển của người dân ảnh hưởng đến các doanh nghiệp và hộ gia đình, làm giảm tiêu dùng trong nước, đặc biệt từ khi Thủ tướng tuyên bố Tình trạng khẩn cấp vào cuối tháng 3
Kết quả của Quý 1 vừa được công bố
đã xác nhận tốc độ tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế Việt Nam Mặc dù
dịch bệnh mới được báo cáo ở Trung Quốc vào giữa tháng 1 và Việt Nam bắt đầu thực hiện các biện pháp hạn chế vào đầu tháng 2, tốc độ tăng trưởng GDP của Quý 1 chỉ ở mức 3,8% - mức tăng thấp nhất kể từ năm 2009 Trong khi một số lĩnh vực hoạt động tương đối tốt (như sản xuất và xây dựng), ngành dịch vụ bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt
là hoạt động du lịch và vận tải Tốc độ tăng trưởng của thương mại bán lẻ (phản ánh mức tiêu dùng của các hộ gia
abc
51,6 trong tháng 2 xuống 31,4 vào tháng
3 - mức giảm lớn nhất kể từ khi dữ liệu
so sánh được biên soạn lần đầu tiên vào tháng 7 năm 1998 NHTG dự báo tăng trưởng của các khu vực đang phát triển giảm xuống 0,9% vào năm 2020, thấp hơn so với dự báo 4,1% trong báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu (GEP) công
bố trong tháng 1, với sự sụt giảm ở tất
cả các khu vực trên thế giới, ngoại trừ Đông và Nam Á Sự suy thoái toàn cầu này sẽ làm giảm mạnh nhu cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế trong giai đoạn này Nó cũng có thể phá vỡ chuỗi giá trị toàn cầu trong các ngành công nghiệp như hàng điện tử và dệt may, những lĩnh vực chiếm khoảng 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Ngành du lịch “đứng yên”, do không có du khách nước ngoài nào được phép đến và các biện pháp hạn chế chặt chẽ trong việc đi lại trong nước và quốc tế Đồng thời, nền kinh tế
abc
chúng tôi thấp hơn tốc độ tăng trưởng
dự kiến 4,9% trong báo cáo Cập nhật Kinh tế Đông Á-Thái Bình Dương mới được công bố gần đây Chúng tôi vẫn hy vọng nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi tương đối nhanh chóng và sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP là 6,8% vào năm 2021
Kịch bản này giả định cuộc khủng hoảng
y tế toàn cầu sẽ bắt đầu giảm dần vào tháng 6 - tháng 7 năm 2020, sau đó nhu cầu trên thị trường quốc tế của các đối tác thương mại chính của Việt Nam sẽ phục hồi dần dần
2
Lý do khiến tốc độ tăng trưởng bị điều chỉnh giảm là những trở lực ngày càng lớn hơn ở cả nền kinh tế trong nước và trên toàn cầu Đến nay đã có
thể dự báo trước là nền kinh tế toàn cầu
sẽ rơi vào suy thoái vào năm 2020 Kết quả điều tra của Tổ chức Conference Board vào ngày 25 tháng 3 ước tính GDP của Mỹ vào năm 2020 sẽ sụt giảm
từ 1,6% đến 6%, với tỷ lệ dự báo cao là nền kinh tế sẽ nhanh chóng chuyển sang kịch bản tồi tệ hơn Chỉ số Quản trị sản xuất PMI của khu vực đồng Euro giảm từ
Bảng 1: Tóm tắt các chỉ tiêu kinh tế chính, giai đoạn 2018-2022
2 Ngân hàng Thế giới, East Asian Economic Update: East Asia and Pacific in the Time of COVID-19, 31/03, 2020
3 https://www.conference-board.org/data/usforecast.cfm
2
3
Nguồn: Dự báo của Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Thế giới
* Theo thống kê GFS của IMF.
Trang 4đình) gần như không thay đổi (tăng 1,5% theo giá thực) so với mức tăng 9,3% trong Quý 1 năm 2019 Tổng đầu
tư cũng giảm nhẹ do đầu tư tư nhân (bao gồm cả FDI) thấp hơn mặc dù được
bù đắp một phần nhờ tăng đầu tư công
Xuất khẩu ròng, sau khi đạt kết quả tốt trong tháng 1 và tháng 2, lại đột ngột giảm trong tháng 3, chủ yếu do thu nhập
từ du lịch và vận tải giảm (trên 30%)
Tương tự, số vốn FDI đã cam kết giảm gần 21% trong Quý 1 so với cùng kỳ năm trước
Tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn sẽ
đi kèm với giảm thu ngân sách và thu
từ xuất khẩu Về xuất nhập khẩu, cán
cân thanh toán sẽ bị ảnh hưởng do xuất khẩu (ròng) thấp hơn trong một số dịch
vụ nhất định, đi kèm với sự sụt giảm của kiều hối cũng như dòng vốn FDI Do đó, thặng dư tài khoản vãng lai có khả năng giảm khoảng 5% GDP, từ mức 4,5% năm
2019 xuống còn 0,1% vào năm 2020 (bảng 1) Tuy nhiên, tác động mang tính
hệ quả đến cán cân thanh toán không nhiều với sự suy giảm nhỏ trong dự trữ ngoại hối vào năm 2020, ở mức 78 tỷ USD, cho thấy nguồn vốn đệm mạnh mẽ giúp chống lại áp lực ngày càng tăng đối với nguồn thu từ xuất khẩu của Việt Nam
Nỗ lực củng cố tài khóa của Chính phủ sẽ tạm thời bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng do COVID 19 gây ra
aabc
Để giảm thiểu những cú sốc lớn về kinh tế và y tế đối với nền kinh tế, Chính phủ đã thực hiện một loạt các biện pháp Trong điều kiện khủng
hoảng, các chỉ số tổng hợp về y tế, kinh
tế và tài chính nhanh chóng chuyển từ giai đoạn tiền khủng hoảng bình thường lên mức đỉnh của các khó khăn, và sau
đó bắt đầu suy giảm trước khi trở lại bình thường (không cần phải khớp với mức bình thường trước khủng hoảng)
Điều quan trọng đối với các nhà hoạch
abc
định chính sách là đỉnh của nửa chu kỳ
và khoảng thời gian trước khi đạt đỉnh
Khủng hoảng càng sâu (đỉnh của nửa chu kỳ càng cao), nó càng gây tổn thất nhiều hơn trong dài hạn Rõ ràng trong trường hợp y tế, làm phẳng đường cong đại dịch có ý nghĩa rất quan trọng vì giúp cứu được mạng sống Vì lý do này, Chính phủ đã tập trung nỗ lực ban đầu vào việc kiểm soát khía cạnh y tế của cuộc khủng hoảng bằng cách tăng cường kiểm tra và kiểm soát việc di chuyển
abc
4 Mặc dù dữ liệu tài chính vào Quý 1 năm 2020 vẫn chưa đầy đủ, nhưng kết quả ban đầu cho thấy thu ngân sách rất tích cực trong tháng 1 và tháng 2, nhưng đã giảm đáng kể trong tháng 3 do các hoạt động trong nước suy giảm và kim ngạch nhập khẩu giảm.
5 P Dudine và J T Jalles, How Buoyant is the Tax System? New Evidence from a Large Heterogeneous Panel, Báo cáo của IMF, WP/17/4, 2017.
3
Thâm hụt ngân sách chung dự kiến sẽ tăng từ 4,4% trong năm 2019 lên khoảng 5,8% GDP vào năm 2020, chủ yếu là do nguồn thu thuế thấp hơn vì các hoạt động kinh tế dự kiến sẽ suy giảm Trên
cơ sở ngoại suy từ một nghiên cứu gần đây của IMF đối với một lượng lớn các quốc gia, chúng tôi ước tính sẽ có sự suy giảm đáng kể trong các hoạt động kinh tế do một cú sốc như đại dịch hiện nay có khả năng làm giảm nguồn thu thuế xuống hai lần - có nghĩa là mức giảm 3,5% trong tăng trưởng GDP có thể dẫn đến giảm 7% nguồn thu thuế hoặc tương đương với khoảng 1,2% GDP Mức thu ngân sách giảm này cần được tính cộng thêm với chi phí liên quan đến gói hỗ trợ tài chính mà các cơ quan chức năng đang xem xét Chúng tôi hy vọng Chính phủ sẽ quay trở lại chính sách tài khóa thận trọng sau hậu quả của cuộc khủng hoảng toàn cầu, nhờ đó thâm hụt ngân sách nói chung sẽ giảm xuống lần lượt 4,7% và 4,0% GDP vào năm 2021
và 2022
Thâm hụt dự kiến gia tăng sẽ làm ngân sách bị thiếu khoảng 5 tỷ USD vào năm 2020 So với các dự báo trước
khủng hoảng, Chính phủ sẽ cần đảm bảo
có thêm 1,8% GDP cho nguồn vốn đầu
tư mới, làm nợ công tăng từ 54,1% lên 55,8% GDP trong các năm 2019 và 2020
Vì Chính phủ sẽ tiếp tục củng cố tài khóa vào năm 2021, quỹ đạo nợ sẽ được duy trì bền vững trong trung hạn
Gói hỗ trợ tài chính: những gì chúng ta biết đến nay
4,5
Trang 5Theo thời gian, các biện pháp phòng ngừa ngày càng mạnh đã được thực hiện, từ việc đóng cửa trường học vào đầu tháng 2 đến việc Thủ tướng tuyên
bố Tình trạng khẩn cấp vào cuối tháng
3 Hiện nay, gần như tất cả các chuyến bay chở khách từ nước ngoài đã bị hủy
và việc di chuyển trong nước bị hạn chế nghiêm trọng Do đã hành động sớm (bao gồm cả truy tìm lịch sử dịch tễ) và thực hiện các biện pháp trên phạm vi rộng, Việt Nam đã được quốc tế công nhận về mức độ phù hợp của các biện pháp ứng phó, nhờ đó đã có ít các trường hợp nhiễm bệnh (khoảng 240 ca bệnh vào ngày 4/4) và không có trường hợp tử vong nào được báo cáo
Cần tránh một cuộc suy thoái kinh tế sâu và kéo dài đến một mức có thể được vì nó có thể gây thiệt hại lâu dài Chu kỳ kinh tế thường xuyên xuất
hiện, ngay cả trong nền kinh tế thị trường Nếu đỉnh của chu kỳ không quá cao, mọi thứ sẽ trở lại bình thường khi nền kinh tế trở lại xu hướng dài hạn
Nhưng suy thoái sâu và kéo dài hơn có khả năng làm xói mòn vốn nhân lực và suy yếu các thể chế Như đã phân tích trong bản cập nhật báo cáo chính sách trước đây của chúng tôi, điều quan trọng
là Chính phủ phải thực hiện theo một chiến lược có trình tự để hỗ trợ hầu hết các doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng trong thời gian ngắn và chuẩn bị
đủ sớm để tái khởi động nền kinh tế khi cuộc khủng hoảng y tế chấm dứt, hy vọng trong vài tháng tới Các biện pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ của chương trình đầu tư công và cải cách cơ cấu hiện nay để sử dụng có hiệu quả nhất các công nghệ kỹ thuật số cũng như tăng cường khả năng chống chịu và sẵn sàng ứng phó của hệ thống y tế cho các đại dịch trong tương lai có thể giúp đẩy nhanh tốc độ phục hồi
Cho đến nay, Chính phủ đã chuẩn bị một loạt các biện pháp tài khóa để giảm thiểu tác động đối với hầu hết doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng - bước đầu tiên trong một kế
abc
hoạch ứng phó kinh tế toàn diện Như
được trình bày trong Phụ lục (Bảng A2), đại dịch COVID 19 có thể ảnh hưởng đến phúc lợi của người dân thông qua
ba kênh khác nhau: (i) các biện pháp phòng ngừa và chữa bệnh; (ii) các biện pháp hạn chế di chuyển; và (iii) các biện pháp gây rối thương mại Tác động mang tính hệ quả của các kênh này có thể là bao gồm cả giảm sản lượng và tăng giá Các chuyên gia của Nhóm NHTG đã trao đổi với các cơ quan chức năng về nội dung và quy mô của gói hỗ trợ tài chính mà sẽ giúp giảm thiểu tác động của các kênh này Tuy nhiên, đánh giá của chúng tôi dựa trên thông tin được thu thập vào đầu tháng 4, biết rằng các biện pháp chính sách để ứng phó với dịch bệnh sẽ thay đổi nhanh chóng nhằm điều chỉnh theo những điều kiện thường xuyên thay đổi
Các biện pháp giảm thiểu ban đầu tập trung vào hai loại công cụ: giãn thời gian nộp thuế và bảo hiểm xã hội, và
hỗ trợ tài chính trực tiếp cho người lao động và các hộ gia đình dễ bị tổn thương (xem chi tiết trong Bảng A3 và A4 của Phụ lục) Những công cụ này rất
phù hợp với thông lệ quốc tế vì chúng nhằm mục đích giảm bớt khó khăn về dòng tiền cho hầu hết các doanh nghiệp
và người dân bị ảnh hưởng Như được phân tích ở phần dưới, chúng tôi đánh giá sơ bộ là gói hỗ trợ đang được đề xuất này đầy tham vọng vì bao phủ hầu hết các công ty có đăng ký chính thức hoạt động tại Việt Nam bằng việc hoãn thời gian nộp thuế và sử dụng các chương trình an sinh xã hội hiện có để chuyển thêm tiền mặt cho khoảng 26 triệu người dễ bị tổn thương và các doanh nghiệp hộ gia đình Chương trình
hỗ trợ này cũng nằm trong khả năng chi trả của ngân sách với chi phí ước tính khoảng 1% GDP, vẫn nằm trong giới hạn của khung tài khoá đã phân tích ở phần trên Tuy nhiên, cần thực hiện một số thay đổi để bao phủ khu vực không chính thức nhiều hơn Một thách thức lớn sẽ là xác định các doanh nghiệp và người lao động trong khu vực không
abcd
4
6 Ngân hàng Thế giới: Việt Nam: Các chính sách tiềm năng ứng phó với dịch COVID-19, ngày 4 tháng 3 năm 2020.
6
Trang 6có của mình, nhưng, như được phân tích ở phần sau, cần sẵn sàng điều chỉnh các biện pháp ứng phó trên cơ sở những điều kiện thay đổi trong tương lai
Phần lớn chi phí tài chính của chương trình tại Việt Nam sẽ được gắn với các biện pháp hỗ trợ tài chính trực tiếp cho các doanh nghiệp và người dân dễ bị tổn thương (xem Bảng A3 trong Phụ lục) Tổng chi phí ước tính
khoảng 61,4 nghìn tỷ đồng hoặc gần 1%
GDP Khoảng 3/4 số tiền này sẽ được phân bổ trực tiếp từ ngân sách nhà nước (và dự trữ tích lũy của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp), phần còn lại được tài trợ kết hợp giữa giãn thời gian nộp tiền bảo hiểm xã hội và cho vay đối với các
hộ gia đình bị ảnh hưởng Trách nhiệm ngân sách giữa chính quyền trung ương
và địa phương đã được xác định theo một nhóm các nguyên tắc, trong đó chủ yếu phụ thuộc vào năng lực tài chính của mỗi địa phương
Chi phí tài chính liên quan đến các biện pháp hỗ trợ về thuế (xem chi tiết trong Bảng A4) không nhiều, mặc dù Kho bạc Nhà nước có thể phải đối mặt với những thách thức về thanh khoản trong ngắn hạn Vì hầu hết các giải
pháp là hoãn nộp thuế trong vài tháng tới, cơ quan quản lý thuế sẽ thu hồi nguồn thu thuế này trước cuối năm nay
Trong những điều kiện này, chi phí tài chính chỉ đơn giản là chậm nộp thuế, có thể ước tính lên đến khoảng 3,6 nghìn tỷ đồng (190 triệu USD) với giả định tỷ lệ chiết khấu là 3,6% (là lãi suất đối với trái phiếu Kho bạc hiện nay) Tuy nhiên,
do quy mô của số thuế được nộp chậm lớn, Chính phủ có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu thanh khoản trong ngắn hạn, lên đến khoảng 241,8 nghìn
tỷ đồng (10,3 tỷ USD) Cần bù đắp số tiền thiếu hụt tạm thời này bằng quỹ dự phòng ngân sách hàng năm (tương đương khoảng 5% ngân sách nhà nước)
và cũng rất có thể được bổ sung bằng nguồn vốn vay ngắn hạn
chính thức và chuyển tiền cho họ khi mà hầu hết đều không có tài khoản ngân hàng và bị hạn chế di chuyển
Gói hỗ trợ tương đối lớn nhưng nằm trong khả năng chi trả của ngân sách
Khi thiết kế các biện pháp ứng phó, các chính phủ đều phải đối mặt với
sự đánh đổi giữa việc giúp đỡ các nhóm bị ảnh hưởng nhất và tôn trọng các quy tắc tài khoá hiện hành Chúng
tôi tin rằng Chính phủ Việt Nam đã tìm thấy sự cân bằng phù hợp khi đưa ra nhóm các biện pháp được đề xuất ước tính có chi phí khoảng 1% GDP Chi phí này sẽ góp phần làm tăng thâm hụt ngân sách nhưng nằm trong khả năng chi trả khi sử dụng kết hợp phân bổ ngân sách
dự phòng và nguồn vốn từ ngân sách của cả trung ương và địa phương với huy động thêm vốn vay Điều quan trọng nhất từ nghiên cứu các nguồn thông tin đáng tin cậy về đại dịch năm 1918 cho thấy các vùng có can thiệp sớm hơn và với quyết tâm cao hơn đã có sự gia tăng tương đối trong hoạt động kinh tế thực sau khi đại dịch lắng xuống Đại dịch có chi phí lớn, nhưng “các can thiệp phi dược phẩm có thể dẫn đến cả kết quả kinh tế tốt hơn và tỷ lệ tử vong thấp hơn”
Quy mô của gói hỗ trợ tài chính của Chính phủ Việt Nam thấp so với các nước Đông Á và các nước đang phát triển khác Quy mô này nằm trong phạm
vi của gói tài chính được áp dụng gần đây tại Indonesia (0,8% GDP), Miến Điện (1%) cũng như Argentina (1%) và cao hơn so với các gói được áp dụng ở Nam Phi (0,2%) và Nhật Bản (0,1%)
Tuy nhiên, gói tài chính này thấp hơn so với các báo cáo của Philippines (1,7%)
và Thái Lan (3%) và thấp hơn nhiều so với các gói được công bố ở Brazil (hơn 2% GDP) và còn xa mới bằng những gói được áp dụng gần đây tại các quốc gia OCED như Hoa Kỳ và Úc (gần 10%
GDP) Chính phủ đã cân đối những biện pháp ứng phó ban đầu của mình với quy
mô của cú sốc và dư địa tài khoá hiện
abc
5
7 Correa, Sergio, S Luck, E Verner 2020 “Pandemics Depress the Economy, Public Health Interventions Do Not: Evidence from the 1918 Flu” MIT and The Federal Reserve Board https://papers.ssrn.com/sol3/Papers.cfm?abstract_id=3561560
7
Trang 7Phạm vi bao phủ rộng cho dù còn nhiều khó khăn đối với khu vực không chính thức
Gói hỗ trợ tài chính đáng được đề xuất đầy tham vọng vì sẽ bao phủ hầu hết các doanh nghiệp chính thức hoạt động tại Việt Nam và một số lượng lớn các nhóm dễ bị tổn thương Dự
kiến chương trình tài chính này sẽ hỗ trợ trực tiếp cho 26 triệu người hoặc gần 30% dân số đất nước Các biện pháp bao gồm hoãn thời gian kê khai và nộp thuế và cắt giảm tiền bảo hiểm xã hội của người lao động chính thức và người sử dụng lao động Chương trình này còn cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp cho các doanh nghiệp và chi trả một phần tiền lương trực tiếp cho người lao động với mục tiêu hạn chế sa thải lao động dài hạn Để mở rộng phạm
vi bao phủ đến các nhóm dễ bị tổn thương và người lao động không chính thức, hỗ trợ tài chính trực tiếp sẽ được cung cấp trong khoảng thời gian ba tháng
Theo định nghĩa, tất cả các biện pháp liên quan đến thuế đều hướng đến các doanh nghiệp và những người phải trả nghĩa vụ tài chính Các biện
pháp cứu trợ này sẽ được cung cấp cho hầu hết các lĩnh vực hoạt động, nhưng lĩnh vực ngoại lệ đáng chú ý là viễn thông và xây dựng (Xem bảng A4) Đối tượng nộp thuế đủ điều kiện sẽ được hưởng lợi từ việc kết hợp cả giảm thuế tạm thời về thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TNCN và các nghĩa vụ chi trả nhỏ hơn khác như tiền thuê đất Mặc dù số tiền đóng bảo hiểm xã hội không phải là thuế, việc giãn thời gian nộp cũng sẽ làm giảm bớt áp lực lên dòng tiền của người thụ hưởng Biện pháp này cũng
sẽ giảm chi phí lao động chính thức và
vì vậy, hy vọng, giảm động cơ khiến người sử dụng lao động sa thải lao động Nhìn chung, các biện pháp này sẽ làm giảm số tiền nộp thuế lên đến 210.000 tỷ đồng, tạm thời giảm bớt khó khăn về dòng tiền cho hầu hết các
abcde
doanh nghiệp ở trong nước Về lâu dài,
do các doanh nghiệp sẽ phải trả số tiền
nợ này vào cuối thời gian ân hạn, ước tính họ sẽ có thể tiết kiệm khoảng 15.000 tỷ đồng (nếu phải đi vay số tiền này với lãi suất cho vay là 12%)
Ngoài biện pháp giãn thời gian nộp thuế và bảo hiểm xã hội, Chính phủ còn thiết kế các biện pháp an sinh xã hội bằng việc sử dụng (i) hỗ trợ đặc biệt (bao gồm hỗ trợ tiền lương) cho những doanh nghiệp đăng ký giữ lại người lao động; (ii) bổ sung hỗ trợ tài chính cho những người thụ hưởng của các chương trình xã hội hiện nay;
và (iii) phụ cấp hàng tháng cho người lao động không chính thức Những
biện pháp ứng phó này của Chính phủ rất phù hợp với biện pháp mà hầu hết các quốc gia đã sử dụng để giảm thiểu tác động ngắn hạn của COVID 19 đối với phần lớn các nhóm bị ảnh hưởng (Hình 1) Các biện pháp này được mô tả ngắn gọn dưới đây
6
Hình 1: Tổng hợp các chương trình và giải pháp thích ứng về an sinh xã hội để ứng phó với dịch COVID-19 trên toàn cầu (n=418), đến đầu
tháng 4 năm 2020
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Doanh nghiệp đăng ký sẽ nhận được
hỗ trợ tài chính đặc biệt để giữ chân người lao động Các biện pháp được
đề xuất bao gồm thanh toán một phần tiền lương cho người lao động bị nghỉ việc tạm thời, hoãn đóng tiền bảo hiểm
xã hội, đào tạo và cho vay ưu đãi đối với người lao động (các biện pháp số 7-10
abc
Trang 8trong bảng A3) Theo Chính phủ, kết hợp các biện pháp này dự kiến sẽ hỗ trợ được khoảng 4-5 triệu người thụ hưởng hoặc dưới 10% lực lượng lao động vì hầu hết người lao động không có hợp đồng hoặc đang tự làm chủ Tổng số tiền hỗ trợ tài chính cho mỗi lao động (tương đương khoảng 1,7 triệu đồng (hoặc 80 USD) mỗi tháng cũng tương đối thấp vì chỉ bằng 40% mức lương trung bình trong lĩnh vực sản xuất Giữ chân người lao động, ngay cả trên cơ sở bán thời gian, sẽ không chỉ giúp duy trì thu nhập của họ trong thời gian khủng hoảng mà còn giúp tăng tốc độ tái kích hoạt sản xuất khi nhu cầu tăng trở lại
Ngoài các doanh nghiệp và người lao động chính thức, khoảng 16,7 triệu người dễ bị tổn thương sẽ nhận được
hỗ trợ tài chính trực tiếp thông qua
việc tham gia các chương trình an sinh
xã hội hiện nay bằng cách cung cấp các lợi ích bổ sung trên cơ sở tạm thời Đề xuất này sẽ cung cấp hỗ trợ cho các hộ gia đình nghèo, cận nghèo, các đối tượng chính sách và người có công với cách mạng Hầu hết trong số này hiện đang là người thụ hưởng của các chương trình hỗ trợ khác nhau Hàng tháng, mỗi hộ nghèo sẽ được trợ cấp 1 triệu đồng (43 USD), hộ cận nghèo 500.000 đồng (21 USD), còn các đối tượng chính sách và người có công với
a
cách mạng sẽ nhận 500.000 đồng (21 USD) Khoảng 760.000 doanh nghiệp hộ gia đình đã đăng ký kinh doanh (có doanh thu hàng năm dưới 100 triệu đồng) sẽ nhận được tiền hỗ trợ hàng tháng 500.000 đồng (21,5 USD) Những khoản hỗ trợ này sẽ được cung cấp trong ít nhất ba tháng (đến tháng 6)
Trong một nỗ lực có chủ ý để mở rộng phạm vi bao phủ đến khu vực không chính thức, Chính phủ còn đưa vào khoản hỗ trợ trực tiếp hàng tháng cho 5 triệu người lao động không đăng ký trong ít nhất ba tháng Số tiền
hỗ trợ hàng tháng cho mỗi người sẽ là 1,2 triệu đồng (51 USD) Giải pháp này rất cần thiết vì số lượng người lao động không chính thức cao trong những lĩnh vực dễ bị tổn thương nhất do dịch COVID19 như du lịch, vận tải và thương mại bán lẻ (xem Bảng 2) Nhiều người trong số những người lao động không chính thức này cũng khó có thể nhận được hỗ trợ qua các chương trình hiện nay như được đề cập ở trên vì cơ sở dữ liệu về những đối tượng này chưa hoàn chỉnh Tuy nhiên, vẫn chưa rõ Chính phủ
đã tính toán số lượng người thụ hưởng khoảng 5 triệu người như thế nào vì các tiêu chí rõ ràng về điều kiện tham gia vẫn chưa được cung cấp Con số này cũng khó có thể bao gồm tất cả những người lao động không chính thức bị ảnh
a
7
8 This figure does not include the benefits associated to training and SI deferrals.
9 We assume that the median size of household is 4.6 members.
Bảng 2: Thị trường lao động Việt Nam, năm 2018 (%)
8
9
Nguồn: Ước tính của chuyên gia NHTG
Trang 9hưởng bởi cuộc khủng hoảng COVID 19.
Ví dụ, khó khăn trong ngành khách sạn
có thể khiến 90% lực lượng lao động trong lĩnh vực này có thể bị thất nghiệp tạm thời, có thể lên tới 3,7 triệu người lao động không chính thức Nếu một nửa lực lượng lao động không chính thức trong lĩnh vực hậu cần và thương mại bán lẻ bị sa thải, tổng số lao động bị ảnh hưởng sẽ tăng thêm 7 triệu người
Ngoài quy mô của những người thụ hưởng trong khu vực không chính thức, mối quan tâm lớn nhất của chúng tôi là làm thế nào để thực hiện biện pháp này, như nội dung phân tích dưới đây
Có một mối quan ngại chung là chương trình của Chính phủ có thể bỏ qua một vài nhóm dễ bị tổn thương.
Trong số đó có những người cao tuổi có thể không thuộc bất kỳ nhóm đối tượng hưởng lợi nào do các cơ quan chức năng xác định (ước tính sơ bộ chiếm khoảng một nửa tổng số dân số trên 65 tuổi) Những người già không chỉ có thu nhập thấp hoặc không có thu nhập, mà
họ còn có rủi ro vô cùng lớn với đại dịch COVID 19 Năm 2019, số người từ 65 tuổi trở lên ở Việt Nam ước tính vào khoảng 11 triệu Một số ngành nghề cụ thể (như công ty lữ hành, lái xe taxi,…)
sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn những nghề khác, do đó có thể được quan tâm đặc biệt Ví dụ, tại Singapore, mỗi tháng các tài xế taxi và tài xế xe thuê tư nhân sẽ nhận được khoản thanh toán cứu trợ là
300 đô la Singapore (210 USD) mỗi xe cho đến cuối tháng 9
Việc thực hiện sẽ đặc biệt khó khăn đối với khu vực phi chính thức
Chính phủ đặt mục tiêu giảm thiểu chi phí giao dịch khi thực hiện các chương trình hỗ trợ Tất cả các biện
pháp hỗ trợ về thuế tương đối dễ thực hiện vì cơ quan quản lý thuế đã quen với chính sách hoãn, giảm thuế Tương
tự, việc chi trả tiền hỗ trợ trực tiếp cho một số nhóm đối tượng sẽ được thực
abc
hiện thông qua các chương trình hiện
có, mà đã chứng minh tương đối hiệu quả thông qua mạng lưới các cơ quan nhà nước trong vài năm qua Tuy nhiên, cần quan tâm đặc biệt đến việc theo dõi
và đánh giá để giảm rủi ro chậm trễ và thất thoát trong quá trình thực hiện những chương trình này trong những trường hợp đặc biệt vì các giao dịch thường được làm thủ công và khó có thể tuân theo yêu cầu giãn cách xã hội trong thời kỳ đại dịch
Thách thức chính sẽ là chuyển tiền hỗ trợ cho hàng triệu người lao động không chính thức, trong đó có cả những người bán hàng rong và nông dân nhỏ, đó là những người hiện chưa đăng ký trong bất kỳ chương trình hiện có nào Các cơ quan chức
năng đang phải đối mặt với một vấn đề kép đó là, thứ nhất, xác định/đăng ký họ
và thứ hai là chuyển tiền cho họ Nhiều quốc gia có thể dựa vào hệ thống căn cước công dân toàn diện và sử dụng thanh toán số thông qua điện thoại di động Thật không may, Việt Nam đang đi sau trong cả hai lĩnh vực này Chính phủ sẽ phải tìm giải pháp thay thế, trong
đó có việc sử dụng những cơ sở dữ liệu hiện có như cơ sở dữ liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐ, TB &
XH), Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXHVN) và cơ sở dữ liệu căn cước công dân cũng như các nhà khai thác mạng di động như hiện đang thử nghiệm
ở các quốc gia khác Cũng có thể đẩy nhanh việc mở rộng các chương trình thí điểm sử dụng thanh toán qua điện thoại
di động Như được thực hiện gần đây tại Indonesia, Thái Lan, Philippines và Argentina, có thể triển khai các chương trình đăng ký qua mạng tự nguyện, thông qua đó người lao động không chính thức có thể tự đăng ký Sau đó, các cơ quan chức năng phải kiểm tra xem những người đã đăng ký có phải chưa được đưa vào cơ sở dữ liệu khác của cơ quan quản lý thuế, bảo hiểm xã hội hay các hộ gia đình đã đăng ký kinh
a
8
10 Mặc dù Việt Nam đã xây dựng nhiều chương trình xã hội hiệu quả để hỗ trợ những người nghèo cùng cực, nhưng có rất ít chương trình trợ giúp dành cho các nhóm dễ bị tổn thương khác, ví dụ như những người lao động thành thị không chính thức chịu tác động lớn nhất của COVID 19 Do đó, rất khó để mở rộng những chương trình hiện có để tiếp cận các đối tượng này.
11 Trong gói hỗ trợ thứ hai, chính phủ Thái Lan đã chi trả hàng tháng 5.000 bạt (152 USD) trong ba tháng cho khoảng 9 triệu lao động không được Quỹ An sinh Xã hội chi trả Để làm được việc này, cần đăng ký nhanh chóng cho hàng triệu người lao động không chính thức, thông qua một ứng dụng ngân hàng và tận dụng hệ thống căn cước công dân quốc gia mạnh mẽ của Thái Lan.
10
11
Trang 10doanh hay không để tránh hỗ trợ trùng.
Kết quả của quá trình sàng lọc này tại Philippines cho thấy 2/3 trong số 18 triệu người nộp đơn trực tuyến đã được
tự động loại bỏ thông qua kiểm tra trên
cơ sở dữ liệu của chính phủ
Một thách thức chung đối với các chương trình hiện có và chương trình mới là thực hiện chi trả kịp thời cho người thụ hưởng khi mọi người không thể tự do di chuyển vì các biện pháp ngăn chặn dịch Vì chỉ có 1/3 dân
số Việt Nam có tài khoản ngân hàng, hệ thống ngân hàng không phải là một giải pháp thực tế hoặc chỉ có thể được coi là một giải pháp chưa hoàn chỉnh Hiện nay, hầu hết các giao dịch bao gồm thanh toán thủ công bằng tiền mặt vừa không minh bạch, vừa không hiệu quả,
và không tuân theo nguyên tắc cách ly
xã hội trong đại dịch Do số lượng người thụ hưởng dự kiến rất lớn (khoảng 15 triệu người), điều quan trọng là phải tránh tắc nghẽn trong các ngân hàng và
cơ quan nhà nước như kinh nghiệm gần đây trên đường phố Argentina khi hàng ngàn người hưu trí và công dân đến nhận phúc lợi của chính phủ xếp hàng dài bên ngoài để nhận được tiền chi trả
abcs
hàng tháng Những hàng người xếp hàng dài nhấn mạnh một số khó khăn do đại dịch coronavirus gây ra ở các quốc gia mà dưới một nửa dân số có tài khoản ngân hàng và vẫn chưa thể thực hiện được thanh toán điện tử qua điện thoại di động
Do có nhiều khó khăn để chi trả tiền
hỗ trợ hàng tháng cho những người thụ hưởng mới trong hoàn cảnh hiện tại, một số chính phủ đã chọn cách giảm hóa đơn tiện ích cho những khách hàng thu nhập thấp Ví dụ,
Malaysia hiện đang giảm 15-50% hóa đơn tiền điện cho các hộ gia đình, tùy thuộc vào mức tiêu thụ Chính phủ Indonesia đã công bố hỗ trợ hoàn toàn tiền điện cho các hộ gia đình sử dụng điện áp 450 Volt Ampe (VA) và hỗ trợ 50% cho những người sử dụng điện áp 900VA từ tháng 4 đến tháng 6 Trong trường hợp của Việt Nam, việc hỗ trợ qua hóa đơn tiền điện của các hộ nghèo
có thể không hiệu quả vì tiền điện chỉ chiếm một phần nhỏ trong chi phí hàng tháng (trung bình chỉ 2%) Tuy nhiên, có thể xem xét biện pháp như vậy đối với hóa đơn điện thoại di động, vốn chiếm một phần lớn hơn trong chi phí của họ
Trái ngược với cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2009, tình trạng hỗn loạn hiện nay không có nguyên nhân
là dư thừa vốn trong khu vực tài chính Đại dịch toàn cầu đã ảnh hưởng
đến nền kinh tế thực, từ cả hai phía cung và cầu, và các chính sách tài chính được coi là một phần của giải pháp chứ không phải là gốc rễ của các vấn đề hiện nay Ở hầu hết các quốc gia, kể cả Việt Nam, Ngân hàng Trung ương đã nới lỏng các chính sách tiền tệ và tín dụng
để giải cứu doanh nghiệp và hộ gia đình
bị ảnh hưởng Tuy nhiên, lĩnh vực tài chính không tránh khỏi cuộc khủng hoảng COVID 19 hiện nay vì sự suy giảm hiệu quả kinh doanh và tiêu dùng
a
của hộ gia đình cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến ngành ngân hàng và thị trường vốn
Tính đến nay, dư nợ tín dụng cho nền kinh tế hiện là khoảng 8.251 nghìn tỷ đồng (350 tỷ USD), trong đó 54% dành cho các doanh nghiệp Kể từ khi dịch
COVID-19 bùng phát, dư nợ ở hầu hết các lĩnh vực đều giảm, trong đó đáng kể nhất là dịch vụ, thương mại, du lịch và vận tải Trong 3 tháng đầu năm, dư nợ tín dụng cho nền kinh tế chỉ tăng 0,68%, mức tăng trưởng thấp nhất trong 5 năm qua Tốc độ tăng trưởng tín dụng ở nhiều ngân hàng thương mại đứng yên hoặc giảm do nhu cầu tín dụng thấp từ
cả hai phân khúc cho vay doanh nghiệp
a
9
Trọng tâm đặc biệt: Tác động của COVID-19 trong lĩnh vực tài chính
12 https://www.reuters.com/article/us-health-coronavirus-argentina/ridiculous-block-long-lines-at-banks-greet-argentine-pensioners-at-high-risk-for-coronavirus-idUSKBN21L2Y6
12