1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ngành luật hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật việt nam​

110 43 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu các quy định pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay, nhằm giúp các ngân hàng thương mại hiểu hơn các quy định của pháp luật, thực hiện và tuân thủ đúng, từ đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG DIỆU LINH

HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG DIỆU LINH

HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Thu Thủy

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hoàng Diệu Linh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 6

1.1 Rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 6

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm của rủi ro phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 6

1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá độ rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 8

1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 13

1.2 Pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 19

1.2.1 Sự cần thiết phải hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 19

1.2.2 Các chủ thể thực hiện hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 24

1.2.3 Các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 33

2.1 Thực trạng pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 33

2.1.1 Tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 33

2.1.2 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 50

2.1.3 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro 69

2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 79

2.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay 79

2.2.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hoạt động cho vay 81

2.2.3 Hoàn thiện pháp luật về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro 87

2.2.4 Các giải pháp khác để hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 94

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nguyên nghĩa

1 CIC Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ an toàn vốn CAR tại một số ngân hàng cuối

tháng 6/2019

37

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các quan hệ kinh doanh, thương mại giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường hiện nay Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính kết nối chủ thể dư vốn và chủ thể thiếu vốn với nhau Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: cho vay, bảo lãnh ngân hàng, chiết khấu, cung ứng các dịch vụ thông qua tài khoản, cho thuê tài chính, bao thanh toán,… Tuy nhiên, trong các hoạt động tín dụng này, hoạt động cho vay là hoạt động mang tính truyền thống và đem lại lợi nhuận chủ yếu của các ngân hàng thương mại Trong mọi hoạt động kinh doanh, rủi ro và lợi nhuận luôn là hai yếu tố song hành với nhau, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, và hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng không là một ngoại lệ [44, tr.16] Thời gian vừa qua, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều khách hàng lâm vào tình trạng khó khăn, Ngân hàng nhà nước ra một loạt chính sách hỗ trợ cho khách hàng vay vốn như cơ cấu hời hạn trả nợ, giảm lãi suất vay ngân hàng, hoạt động cho vay của ngân hàng gần như đóng băng, nhiều khoản nợ đã chuyển nợ xấu Do

đó, phát triển kinh doanh và hạn chế rủi ro là đòi hỏi cấp thiết và quan trọng đối với ngân hàng thương mại trong thời điểm hiện tại, chỉ khi hạn chế được rủi ro ngân hàng thương mại mới thực sự phát triển và kinh doanh có hiệu quả, tạo sự ổn định cho nền kinh tế Việc nghiên cứu các quy định pháp luật

về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay, nhằm giúp các ngân hàng thương mại hiểu hơn các quy định của pháp luật, thực hiện và tuân thủ đúng, từ đó áp dụng đối với ngân hàng thương mại của mình, hạn chế tối đa các rủi ro xảy ra, đồng thời cũng chỉ ra được các vướng mắc, các quy định chưa thực sự hợp lý

Trang 10

nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao tính an toàn và linh hoạt trong hoạt động kinh doanh hiện nay

Nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động cho vay và hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay theo pháp luật Việt Nam sẽ giúp ngân hàng thương mại nâng cao được năng lực quản lý rủi ro của mình và góp phần hoàn thiện pháp luật về hạn chế rủi ro đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển kinh tế Vì vậy,

tôi đã chọn đề tài "Hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam" làm đề tài luận văn tốt nghiệp

thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về vấn đề “Hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam”, đã có một số công trình nghiên cứu

tiêu biểu như:

Bài báo: “Giải pháp pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại”, Nguyễn Thị Mai Hoa, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 16/2011

Luận văn thạc sĩ: “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các các ngân hàng thương mại ở Việt Nam”, Đinh Thị Thùy

Nga, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010

Sách chuyên khảo: “Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam và một số nước trên thế giới”, Chủ biên Lê Thị Thu Thủy, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016…

Mỗi nhà nghiên cứu có các cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này do xuất phát điểm, góc độ nghiên cứu khác nhau Các bài viết và nghiên cứu về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại đa số tồn tại dưới dạng các bài báo, nghiên cứu, bình luận trên các tạp chí chuyên

Trang 11

ngành hoặc tại một số công trình chuyên khảo, luận văn thạc sĩ của các tác giả Khó tìm được một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này dưới góc độ pháp luật của các nhà nghiên cứu Việt Nam hoặc nếu có thì các công trình nghiên cứu này cũng đã sử dụng những số liệu trước đây, dẫn chứng những quy định pháp luật đến nay đã hết hiệu lực, không có ví dụ minh chứng trong phân tích thực trạng pháp luật về hạn chế rủi ro Vì vậy có thể thấy, việc

nghiên cứu đề tài: "Hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam" vẫn mang tính cần thiết trong bối

cảnh cho vay vẫn luôn là hoạt động rất quan trọng, không thể thiếu với các NHTM hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu

Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay, rủi ro trong hoạt động cho vay, tìm ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về hạn chế rủi ro

trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về rủi ro và hạn chế rủi ro trong hoạt

động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, pháp luật về vấn đề này

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay tại Việt Nam, trên cơ sở đó tìm ra những bất cập, hạn chế của pháp luật

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam

4 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các các ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam là một đề tài không mới nhưng vẫn đang thu hút

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Qua quá trình nghiên cứu những vấn

Trang 12

đề lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, luận văn đã đưa ra những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về tỷ lệ đảm bảo an toàn, các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản và các quy định pháp luật về phân loại nợ và trích lập DPRR Công trình nghiên cứu có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên khi nghiên cứu về đề tài này

5 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro và hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay

của các NHTM, các quy định của pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam và thực tiễn thực thi các quy

định này

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu nghiên cứu các quy định của

pháp luật Việt Nam về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, thực tiễn áp dụng tại một số ngân hàng cụ thể là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), ngân hàng Đầu tư

và phát triển (BIDV), ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) và một số ngân hàng thương mại khác Luận văn đi sâu vào phân tích, đánh giá 3 biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại ở Việt Nam cụ thể là tuân thủ các quy định về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn, bảo đảm tiền vay bằng tài sản, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro để làm rõ các nội dung và các vấn đề đặt ra từ đề tài nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu và nhiệm vụ nghiên

cứu đã nêu trên, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp phân tích pháp luật, tổng

hợp, so sánh pháp luật

Trang 13

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và sự điều chỉnh của pháp luật

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại và giải pháp thực hiện

Trang 14

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT

1.1 Rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của rủi ro phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Theo quy định pháp luật Việt Nam, Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 01/VBHN-NHNN ngày 31/3/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro

và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín

dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”

Vậy rủi ro trong hoạt động cho vay là rủi ro về sự tổn thất tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp xuất phát từ người cho vay không thực hiện nghĩa vụ trả

nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán

Rủi ro đối với hoạt động cho vay là một loại rủi ro tín dụng bao gồm các loại sau:

- Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi do giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ

Trang 15

- Rủi do danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung [23, tr.15]

1.1.1.2 Đặc điểm của rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Một là, rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM phát sinh dựa trên cơ

sở không thực hiện đúng hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa TCTD (bên cho vay) và khách hàng (bên vay vốn)

Hai là, rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM là một loại rủi ro tín

dụng vì cho vay là một hình thức cấp tín dụng của NHTM Cho vay là hoạt động phổ biến và chủ yếu của NHTM, trong quá trình thực hiện hoạt động này nguy cơ phát sinh rủi ro luôn tiềm ẩn, bởi lẽ việc trả nợ phụ thuộc vào khách hàng vay

Ba là, rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM được chia thành các

cấp độ khác nhau theo mức độ rủi ro như sau:

- Rủi ro không thu được lãi đúng hạn xảy ra khi người vay không trả được lãi đúng hạn

- Rủi ro không thu được vốn đúng hạn khi hợp đồng tín dụng đến hạn

- Rủi ro không thu được đủ lãi

- Rủi ro không thu được đủ vốn đã cho vay

- Rủi ro không thu hồi được cả gốc và lãi khi đến hạn theo hợp đồng tín dụng [44, tr.31]

Bốn là, rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM thường dẫn đến nợ xấu,

gây ảnh hưởng không nhỏ đến cả hệ thống ngân hàng Khi ngân hàng không thu hồi được nợ, điều này sẽ ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng, ngân hàng có thể lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, bị người gửi tiền rút tiền đồng loạt, có thể dẫn đến phá sản ngân hàng Một ngân hàng phá sản có thể kéo theo sự phá sản của các ngân hàng khác (phản ứng dây chuyền)

Trang 16

Năm là, rủi ro luôn tiềm ẩn trong hoạt động cho vay của NHTM do

NHTM rất khó kiểm soát được việc sử dụng vốn vay của khách hàng, vì vậy trong hoạt động cho vay, NHTM phải chủ động áp dụng các biện pháp xác định và định lượng rủi ro, quản lý và kiểm soát rủi ro

1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá độ rủi ro trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài mong đợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tuy không thể loại bỏ được hoàn toàn nhưng ta có thể nghiên cứu để nhận biết nó, từ đó có thể đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro, giảm thiểu mức độ thiệt hại đến mức thấp nhất Muốn dự đoán được rủi

ro chính xác nhất thì ngân hàng phải đo lường được rủi ro Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu mà ngân hàng nào cũng áp dụng vì nó có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý kinh doanh

Chỉ tiêu đánh giá độ rủi ro trong hoạt động cho vay là cơ sở để ngân hàng xây dựng chính sách cho vay hợp lý, chính sách lãi suất phù hợp với từng thời kỳ, xây dựng hệ thống phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay cho từng loại tài sản có và cho từng loại hình vay

Chỉ tiêu đánh giá độ rủi ro trong hoạt động cho vay được chia thành các nhóm sau:

a Các chỉ tiêu trực tiếp:

Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng nợ:

Tỷ lệ nợ quá hạn (%) =

- Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi

đã quá hạn Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao thì rủi ro càng lớn vì với những khoản nợ không thu hồi được sẽ ảnh hưởng đến quá trình khai thác và

sử dụng vốn của ngân hàng, phá vỡ kế hoạch kinh doanh và đặc biệt nó làm

Trang 17

ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các NHTM Nợ quá hạn xuất hiện làm chậm quá trình tuần hoàn vốn của ngân hàng, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm lợi nhuận, giảm hiệu quả kinh doanh, giảm uy tín của ngân hàng

- Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao làm tăng chi phí của ngân hàng Với một khoản tín dụng gặp rủi ro ngân hàng phải thêm một khoản chi phí giám sát khoản vay, chi phí xử lý tài sản bảo đảm, chi phí pháp lý,… do đó làm tăng chi phí thực tế của ngân hàng Trong khi không có nguồn thu từ khoản vay này thì ngân hàng vẫn tiếp tục trả lãi cho nguồn vốn vay từ khách hàng [36, tr.18]

Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ:

- Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5 Tỷ lệ nợ xấu cũng là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM [36, tr.18] Nếu tỷ lệ này cao thì rủi ro tín dụng cao vì đây là những khách hàng có dấu hiệu khó khăn

về mặt tài chính nên khó trả nợ cho ngân hàng Theo Khoản 9, Điều 3, Thông

sẽ không đủ để bù đắp phần tổn thất đó và việc nâng cao tiềm lực tài chính đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn là vấn đề khó khăn cho các ngân hàng

- Các khoản tín dụng có vấn đề là những khoản vay chưa hết hạn, chưa được xem xét là nợ quá hạn nhưng trong quá trình theo dõi ngân hàng phát hiện thấy có những dấu hiệu không trả được nợ Vì thế, ngoài các chỉ tiêu định lượng cơ bản nêu trên, người ta còn sử dụng chỉ tiêu định tính là các khoản tín dụng có vấn đề

Trang 18

- Theo quy định tại Điều 12 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: Nhóm 1 là 0%, nhóm 2 là 5%, nhóm 3 là 20%, nhóm 4 là 50%, nhóm 5 là 100%

- Dự phòng cụ thể: Là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra

- Dự phòng chung: NHTM thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng các giá trị khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 Tỷ lệ này ngày càng cao chứng tỏ rủi ro càng cao vì dự phòng trích lập nhiều sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng dẫn đến giảm lợi nhuận thậm chí làm cho ngân hàng bị thua lỗ

- Số tiền trích lập dự phòng bản chất làm tăng chi phí của ngân hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng Tuy nhiên trong hoạt động của NHTM thì việc trích lập DPRR là cần thiết nhằm đảm bảo an toàn hệ thống

và được thực hiện theo quý theo quy định tại Điều 8 Thông tư số NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro

02/2013/TT-Nếu tỷ lệ trích lập dự phòng chung trên tổng dư nợ vay tại thời điểm trích lập và/hoặc tổng số tiền trích lập DPRR cụ thể càng lớn thì cho thấy dư

nợ vay của ngân hàng có mức độ rủi ro cao và ngược lại [36, tr.19]

Trang 19

- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: Là những khoản cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng

- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: Là những khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và mang lại thu nhập vừa phải cho ngân hàng Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng

- Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: Là những khoản cho vay có mức độ rủi ro thấp nhưng mang lại thu nhập không cao cho ngân hàng Đây cũng là những khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của ngân hàng [23, tr.20]

Trang 20

b Các chỉ tiêu gián tiếp

Quy mô tín dụng

Quy mô tín dụng không phải là tiêu chí phản ánh trực tiếp rủi ro tín dụng nhưng nếu quy mô tín dụng tăng quá nhanh, không tương ứng với khả năng kiểm soát của ngân hàng thì lúc đó quy mô tín dụng sẽ phản ánh rủi ro tín dụng Quy mô tín dụng thể hiện rõ qua các tiêu chí: dư nợ trên tổng tài sản, dư

nợ bình quân trên số lượng cán bộ tín dụng, số lượng khách hàng trên số lượng cán bộ tín dụng, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng so với tốc độ tăng trưởng kinh tế

Nếu NHTM mở rộng quy mô tín dụng theo hướng nới lỏng hoạt đồng cho vay sẽ dẫn đến rủi ro là khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay,… điều này gây rủi ro cho NHTM

Cơ cấu tín dụng

Cơ cấu tín dụng phản ánh mức độ tập trung tín dụng trong một ngành nghề, lĩnh vực, loại tiền,… do đó, tuy không phản ánh trực tiếp mức độ rủi ro nhưng nếu cơ cấu tín dụng quá thiên về những lĩnh vực mạo hiểm sẽ phản ánh rủi ro tín dụng tiềm năng Cơ cấu tín dụng chia theo các nhóm sau: Cơ cấu tín dụng theo ngành, cơ cấu tín dụng theo loại hình, cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay, cơ cấu tín dụng theo loại tiền tệ, cơ cấu tín dụng theo tài sản bảo đảm

Các chỉ tiêu về lợi nhuận

- Tốc độ tăng trưởng thu nhập thuần từ hoạt động cho vay phản ánh thu nhập thuần năm sau tăng hoặc giảm bao nhiêu phần trăm so với năm trước đó Tốc độ tăng trưởng thu nhập thuần từ hoạt động cho vay cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh loại đó của ngân hàng được mở rộng hoặc loại hoạt động kinh doanh của ngân hàng đạt được hiệu quả hơn và ngược lại

- Tỷ trọng thu nhập thuần từ hoạt động cho vay cho biết hoạt động cho vay đóng góp tỷ lệ bao nhiêu vào tổng thu nhập thuần Tỷ trọng này cho biết

Trang 21

hoạt động thế mạnh, đem lại thu nhập lớn cho ngân hàng để từ đó ngân hàng xác định rõ ràng hơn chiến lược hoạt động, phát huy các lĩnh vực thế mạnh để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân gây nên rủi ro có thể xuất phát từ yếu tố thị trường Rủi ro

do môi trường kinh tế không ổn định Các rủi ro này thường được biết đến do

sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới, do lạm phát hoặc do các yếu tố khách quan như chịu ảnh hưởng của thị trường biến động, các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính của các nước trong khu vực và trên thế giới, do thiên tai, dịch bệnh… làm cho các NHTM gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hồi nợ đúng hạn Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công,… vốn rất bị ảnh hưởng, gặp rủi ro bởi thời tiết và giá cả thế giới nên

dễ bị tổn thất khi thị trường thế giới biến động xấu Có thể nói, những thay đổi này tác động trực tiếp đến người vay vốn Có những khách hàng vay thích ứng được hoặc khắc phục, vượt qua được khó khăn, phải chịu tổn thất nhưng vẫn có khả năng trả nợ gốc, lãi đúng thời hạn cam kết Tuy nhiên, nếu tác động là tiêu cực và tổn thất nặng nề, khả năng trả nợ của khách hàng vay sẽ bị suy giảm và phát sinh rủi ro trong hoạt động cho vay Đặc biệt hiện nay, ảnh hưởng của dịch COVID-19 từ sau Tết Nguyên Đán đến nay đã làm cho nhiều khách hàng bị thiệt hại nặng nề, thậm chí nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản Theo NHNN, tổng dư nợ bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 theo thống kê sơ bộ từ các tổ chức tín dụng ước tính lên tới khoảng 900 ngàn

tỷ đồng [20] Đại dịch COVID-19 bùng phát làm hàng hóa bị ách tắc, sản xuất

Trang 22

kinh doanh đình trệ, hàng xuất đi không bán được hoặc nếu có đầu ra thì lại thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào do các thị trường nhập khẩu nguyên vật liệu đều dừng hoạt động Như vậy, có thể thấy, với việc nền kinh tế rơi vào tình trạng đình trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn thì doanh nghiệp là những đối tượng sẽ gặp khó khăn đầu tiên, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho các ngân hàng Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng doanh nghiệp tạm dừng kinh doanh và chờ giải thể tăng vọt so với cùng kỳ năm ngoái, dẫn đến khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn và từ đó gia tăng tỷ lệ nợ quá hạn, gia tăng nợ xấu Nhiều ngành như nông, lâm nghiệp và thủy sản, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ lưu trú, ăn uống, thực phẩm, đồ uống, vận tải, dệt may, da giầy, điện tử, điện lạnh, dầu khí, du lịch, giáo dục, cùng các doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu và nguồn nguyên liệu nhập khẩu chính từ Trung Quốc… đều là những nhóm chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh Những doanh nghiệp trong các lĩnh vực này chiếm lượng khá lớn trong số các khách hàng của các ngân hàng, do đó, nguy cơ gia tăng nợ xấu là khó tránh khỏi

Ngoài ra, ảnh hưởng mang tính dây chuyền của rủi ro tất yếu trong quá trình hội nhập quốc tế cũng góp phần làm cho môi trường kinh doanh trong nước không ổn định Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút

Trang 23

1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan

- Nguyên nhân từ phía khách hàng

Có thể nói, rủi ro trong cho vay phát sinh phần lớn cũng do chính khách hàng vay vốn

Thứ nhất, do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết

Do tâm lý “chây ỳ” của khách hàng vay, không muốn trả nợ cho ngân hàng,

cố tình vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Nhiều khách hàng sẵn sàng mạo hiểm khi vay vốn với dự tính thu được lợi nhuận cao, để đạt được mục đích, khách hàng vay tìm mọi cách để ứng phó với ngân hàng như cung cấp hồ sơ, thông tin, phương án sử dụng vốn sai lệch, mua chuộc cán bộ thẩm định… Nhiều khách hàng vay hoạt động kinh doanh có lãi nhưng vẫn chây ỳ, không trả nợ cho ngân hàng như cam kết với hy vọng có thể chiếm dụng phần vốn vay hoặc tạm thời chiếm dụng phần vốn vay này để sử dụng vào mục đích khác

Thứ hai, do khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết Đó là các nguyên nhân tác động ngoài ý chí của khách hàng do thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi của chính sách kinh tế, điều chỉnh của quy hoạch ngành, vùng hay do biến động của thị trường trong và ngoài nước Ở trường hợp này, rủi ro cũng có thể xuất phát từ trình độ yếu kém của khách hàng vay trong dự báo các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh, quản trị công ty, làm cho công ty kinh doanh thua

lỗ Trong quá trình lập hồ sơ vay vốn, đa số khách hàng đều chứng minh được tính khả thi và phương án sử dụng vốn vay hoặc chứng minh được tài chính tốt Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vốn vay, do nhiều nguyên nhân khác nhau khách hàng không trả được nợ Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến rủi ro trong hoạt động cho vay của các NHTM

Trang 24

- Nguyên nhân từ phía Ngân hàng thương mại

+ Xuất phát từ yếu kém trong việc xây dựng, thực hiện chiến lược kinh doanh của NHTM và từ sự yếu kém của chất lượng cán bộ thẩm định tín dụng Các NHTM thường xây dựng chính sách, chiến lược kinh doanh nhằm định hướng và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng trên toàn hệ thống Việc xây dựng các chính sách, chiến lược kinh doanh rất cần thiết và hữu ích đối với việc tăng trưởng tín dụng cũng như kiểm soát, quản lý rủi ro tín dụng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các chi nhánh cho vay có thể không thực hiện đúng các chính sách này vì mục tiêu tăng trưởng, mục tiêu lợi nhuận… Đây chính là nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt động cho vay của các NHTM Bên cạnh đó, trong hoàn cảnh nền kinh tế có nhiều biến động, các chính sách, chiến lược kinh doanh không thường xuyên cập nhật, thay đổi phù hợp với thị trường sẽ trở nên lạc hậu và có thể dẫn đến rủi ro trong hoạt động cho vay

+ Do ngân hàng lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN đó là việc kiểm tra nội bộ nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của cán

bộ kiểm tra, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Trước đây công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng phần lớn chỉ tồn tại trên hình thức Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như một biện pháp giúp ngân hàng phát triển kinh doanh

+ Do sự hạn chế về năng lực nghiệp vụ và đạo đức của cán bộ tín dụng Cán bộ tín dụng là cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng, ngân hàng quyết định cho vay dựa trên các tài liệu, hồ sơ và tờ trình thầm định của cán bộ tín dụng, vì vậy trình độ nghiệp vụ và đạo đức của cán bộ tín dụng có quan hệ chặt chẽ với khả năng xảy ra rủi ro Một số cán bộ tín dụng bị tha hóa, thông đồng với khách hàng để mưu lợi cá nhân, không thẩm định đầy đủ các dự án của khách hàng khi cho vay, dẫn đến tình trạng dự án không có tính khả thi

Trang 25

trên thực tế, không có khả năng thu hồi vốn để trả nợ cho ngân hàng Một số

vụ án kinh tế lớn xảy ra có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, định giá tài sản bảo đảm cao hơn nhiều lần so với giá trị trên thực tế để vay tiền ngân hàng

+ Do ngân hàng buông lỏng quản lý và giám sát nguồn vốn sau khi cho vay Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra sau khi cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý, giám sát một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi, quản lý khoản vay

là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của CBTD nói riêng và ngân hàng nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này Điều này một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin

mà NHTM yêu cầu

+ Do sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực

sự hiệu quả Ngân hàng huy động vốn để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động cho vay là không thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Nếu thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không riêng một ngân hàng nào

- Nguyên nhân từ phía Nhà nước

Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động cho vay cũng có thể từ phía nhà nước, do môi trường pháp lý chưa thuận lợi, do thay đổi cơ chế chính sách làm cho các doanh nghiệp vay vốn gặp phải khó khăn về tài chính Các rủi ro này xuất phát từ sự kém hiệu quả trong hoạt động của cơ quan pháp luật cấp trung ương và địa phương Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, Quốc

Trang 26

hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, luật và các văn bản dù đã có nhưng việc triển khai vào hoạt động ngân hàng vô cùng chậm

chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập

Một nguyên nhân quan trọng gây nên rủi ro trong cho vay phải nhắc đến

là hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của ngân hàng trung ương đối với các NHTM chưa cao Hiện nay, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng ngày càng được chú trọng ở nhiều nước trên thế giới thông qua việc áp dụng các biện pháp theo tiêu chuẩn Basel II, Basel III Đây là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững của hệ thống ngân hàng, góp phần đảm bảo an ninh tài chính quốc gia

và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội Thanh tra hoạt động của các ngân hàng là việc làm hết sức quan trọng nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật và tạo sự bình đẳng, phát triển bền vững cho thị trường tiền tệ Theo đó, hoạt động này tập trung vào một số nội dung cơ bản như:

- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, quy định khác của pháp luật có liên quan, việc thực hiện các quy định trong giấy phép

do Ngân hàng Nhà nước cấp;

- Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của đối tượng thanh tra ngân hàng; xem xét, đánh giá các rủi ro tiềm ẩn, chất lượng và hiệu quả hệ thống quản trị, điều hành, hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm trị rủi ro của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

- Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước

về tiền tệ và ngân hàng; Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật

Trang 27

Tuy nhiên, bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống tại một số nước chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng Ví dụ tại Việt Nam, năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh

và công nghệ mới thanh tra ngân hàng chưa theo kịp sự phát triển của hệ thống ngân hàng Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát chậm đổi mới, khả năng kiểm soát thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng chủ yếu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn, cảnh cáo phòng ngừa rủi ro và vi phạm Những vi phạm pháp luật trong hoạt động cho vay của các NHTM, những sai phạm trong hoạt động cho vay có nguy cơ

đe dọa sự an toàn của cả hệ thống ngân hàng có thể đã được kiểm soát và ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý kịp thời

Hay như với hệ thống thông tin quản lý tại Việt Nam hiện nay còn bất cập, chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh nghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN hoạt động từ lâu và đã đạt được nhưng kết quả rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng sẽ làm gia tăng nguy cơ nợ xấu cho

Trang 28

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tác động rất lớn đối với hệ thống ngân hàng Các ngân hàng thương mại cũng đứng trước cơ hội

và thách thức lớn Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản của các NHTM, đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng Có thể nói, sự thành công của mỗi hoạt động kinh doanh luôn bị đe dọa bởi những rủi ro nhất định Phát triển hoạt động kinh doanh và hạn chế rủi ro là yêu cầu cấp thiết quan trọng đối với ngân hàng, chỉ khi hạn chế được rủi ro ngân hàng mới thực sự phát triển và tạo sự ổn định cho nền kinh tế Việc thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro là nhân tố quan trọng quyết định tính sống còn của hoạt động kinh doanh ngân hàng và nền kinh tế Trong đó hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu và mang lại nhiều lợi nhuận nhất vì vậy việc thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng góp phần đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng và đảm bảo an toàn cho toàn bộ hệ thống [44, tr.39]

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền

Tiền gửi là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kỳ NHTM nào Tiền gửi là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng, nguồn vốn này có tính ổn định khá cao

Kết quả tính toán và phân tích cho thấy, về cơ bản nguồn vốn huy động

từ tiền gửi của khách hàng đảm bảo cân đối việc sử dụng vốn của các NHTM

Cụ thể: Tỷ lệ dư nợ cho vay khách hàng (trước dự phòng) trên tiền gửi khách hàng trung bình của các NHTM là 91,3%, hay nói cách khác, tỷ lệ tiền gửi khách hàng trên dư nợ khách hàng trung bình của các NHTM là 110% Kết quả này cho thấy, vai trò quan trọng của nguồn tiền gửi từ khách hàng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay của các NHTM nói riêng Tóm lại, vốn huy động trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn

Trang 29

trong tổng nguồn vốn của NHTM Các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn này [37]

Chính vì vậy, trách nhiệm của các NHTM là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, tránh tình trạng rút tiền đồng loạt, nguy cơ dẫn đến sự phá sản của ngân hàng Phần lớn các ngân hàng đều dự tính trước các rủi ro có thể xảy ra, chủ động kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ tiền gửi của khách hàng Tuy nhiên, có những rủi ro trong hoạt động cho vay bất khả kháng, nằm ngoài kiểm soát của các NHTM Nếu một khoản tiền cho vay nào bị thất thoát, không thu hồi được thì trước tiên, các NHTM phải sử dụng nguồn vốn của mình trả cho người gửi tiền Trong trường hợp không đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì các NHTM sẽ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản Do

đó sự an toàn là một vấn đề cần xem xét trước tiên đối với mọi khoản vay Trong số các biện pháp hạn chế rủi ro thì bảo đảm tiền vay là một trong các biện pháp đóng vai trò gián tiếp bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền

- Bảo vệ sự an toàn và ổn định hệ thống ngân hàng

NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đều có nhiệm vụ đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động một cách có hiệu quả, an toàn và ổn định Nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó, dù chỉ ở một ngân hàng và chỉ ở một mức nào đó cũng

sẽ đe dọa đến tính an toàn và ổn định của toàn hệ thống Vì thế mà NHNN đều quy định mọi NHTM phải tuân thủ quá trình phân tích rủi ro trước khi cho vay Các biện pháp bảo đảm tiền vay, các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong kinh doanh tín dụng là vấn đề vô cùng quan trọng trong hoạt động của các NHTM, vì đây chính là các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro khi NHTM cho khách hàng vay vốn Việc xử lý TSBĐ tiền vay không phải là mục tiêu của các bên trong quan hệ cho vay song trong điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay thì đây có lẽ là biện pháp hiệu quả nhất để bảo toàn vốn vay của các NHTM [44, tr 41-42]

Trang 30

Những năm gần đây, toàn ngành ngân hàng đã tích cực triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về

cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn liền với xử lý nợ xấu Qua đó, hệ thống các NHTM có nhiều chuyển biến tích cực và hoạt động an toàn, hiệu quả hơn, kỷ cương, kỷ luật trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng được nâng cao Từ đó, góp phần ổn định tiền tệ, tài chính, kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thanh tra, giám sát ngành ngân hàng đã phát huy vai trò tích cực tham mưu ban lãnh đạo NHNN và phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương trong công tác phòng, chống, ngăn ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tiền tệ, ngân hàng, góp phần đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động ngân hàng

Tuy nhiên, qua thực tiễn công tác quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng, hoạt động thanh tra giám sát và kết quả xét xử các vụ án kinh tế, dân sự, hình sự liên quan lĩnh vực ngân hàng, NHNN và một số cơ quan chức năng đã tổng kết, chỉ ra một số vi phạm đã làm ảnh hưởng đến niềm tin công chúng

Cụ thể như: Vi phạm quy định về cấp tín dụng, cơ cấu nợ, phân loại nợ

và trích lập dự phòng; Vi phạm về huy động vốn và gửi tiền; Vi phạm về quản trị điều hành, kiểm tra, kiểm soát nội bộ; Vi phạm quy định về tỷ lệ, giới hạn

an toàn; Vi phạm quy định về hạch toán kế toán, quản lý tài chính

NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng và đều có nhiệm vụ đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động một cách có hiệu quả, an toàn và ổn định Nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó, dù chỉ ở một ngân hàng và chỉ ở một mức nào đó cũng sẽ đe dọa đến tính an toàn và ổn định của toàn hệ thống Vì thế mà NHNN đều quy định mọi NHTM phải tuân thủ quá trình phân tích rủi ro trước khi cho vay

Trang 31

Việc áp dụng các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của các NHTM là vô cùng cần thiết để đảm bảo an ninh, an toàn và sự phát triển

ổn định của hệ thống ngân hàng trong thời gian tới

- Thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ dân sự, kinh tế phát triển rất đa dạng và phong phú Trong các quan hệ này, mỗi bên đều có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ là vấn đề mấu chốt trong quan hệ hợp đồng, trong việc đảm bảo hiệu quả và mục đích của hợp đồng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên Việc các chủ thể được tạo điều kiện lựa chọn các quan hệ mà họ tham gia, cách thức và nội dung các quan hệ nghĩa vụ hoàn toàn không loại trừ trách nhiệm khi các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình

Trên thực tế, không phải bao giờ khi có vi phạm nghĩa vụ thì các bên bị

vi phạm cũng yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết Mặt khác, các biện pháp cưỡng chế không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả Như vậy, khi không có các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng, đặc biệt khi nghĩa vụ không được bảo đảm bằng tài sản thì người có nghĩa vụ rất dễ lẩn tránh việc thực hiện nghĩa vụ, việc đảm bảo quyền lợi của người có quyền là không thể [44, tr.43]

Đối với các khách hàng vay có TSBĐ, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ, NHTM sẽ gửi các thông báo yêu cầu khách hàng vay phải hoàn thành nghĩa

vụ đúng thời hạn bởi những hậu quả bất lợi sẽ xảy ra đối với khách hàng trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ (như phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay, …) Trong hoạt động cho vay của các NHTM, các quy định về các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng, trong đó quy định về bảo đảm tiền vay nhằm bảo đảm an toàn đối với các khoản vay, là cơ sở để ngân hàng bảo toàn

và phát triển vốn trong hoạt động tín dụng của mình

Trang 32

1.2.2 Các chủ thể thực hiện hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

- Chủ thế thứ nhất là Nhà nước

Các biện pháp hạn chế rủi ro trong cho vay ngân hàng cũng được Nhà nước quy định đối với các NHTM, được thể hiện trong các quy định pháp luật của Nhà nước Đó là các quy định về đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn trong cho vay ngân hàng, về giới hạn cấp tín dụng của ngân hàng, về việc phân loại nợ

và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, về các hoạt động mua bán nợ của các NHTM mang tính bắt buộc, về hoạt động thanhh tra, giám sát các NHTM nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay ngân hàng

Pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình NHTM thực hiện các biện pháp để phòng ngừa, khắc phục hậu quả trong trường hợp NHTM không thu hồi được vốn vay đúng thời hạn Các biện pháp do luật định hoặc do nhà nước bắt buộc các NHTM đều phải tuân thủ trong hoạt động cho vay

- Thứ hai, ngân hàng thương mại cho vay

Các biện pháp hạn chế rủi ro nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của NHTM trong việc quản lý rủi ro Rủi ro trong hoạt động cho vay là vấn đề thường trực của các NHTM Bất cứ một sự cố nào đó xảy ra đối với một ngân hàng đều ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng đó và có thể gây phản ứng dây chuyền đối với cả hệ thống ngân hàng quốc gia và thậm chí ảnh hưởng tới các ngân hàng trong khu vực và trên toàn thế giới, vì vậy đòi hỏi các NHTM phải nắm bắt được thách thức đối với hoạt động ngân hàng, nhận diện rủi ro và áp dụng các biện pháp, công cụ hợp lý, kịp thời để kiểm soát rủi ro, khống chế, quản lý rủi ro nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những tác động tiêu cực của các thách thức trên Các biện pháp rủi ro có vai trò cảnh bảo sớm rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM, từ đó NHTM chủ động xây dựng các phương

án để quản lý rủi ro

Trang 33

NHTM phải tuân thủ các biện pháp hạn chế rủi ro bắt buộc như các tỷ lệ

an toàn vốn trong hoạt động tín dụng, giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng, các trường hợp cấm cho vay, hạn chế cho vay, tỷ lệ tối đa nợ xấu, thực hiện các quy định về kiểm toán, kiểm soát nội bộ cũng như trích lập và xử lý

dự phòng rủi ro tín dụng, các quy định về kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng Điều này nhằm mục đích đảm bảo hiệu quả của hoạt động cho vay nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung, từ đó giúp các NHTM đảm bảo được khả năng thanh toán, giữ được uy tín và thương hiệu

- Thứ ba, khách hàng vay vốn

Khách hàng vay vốn cũng là một chủ thể quan trọng có thể giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay Việc khách hàng vay vốn tự chủ động có các biện pháp của riêng mình áp dụng trước, trong và sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết sẽ hạn chế rủi ro cho chính bản thân khách hàng, một bên trong quan hệ vay vốn

Tóm lại, các biện pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM được áp dụng từ nhiều phía, không chỉ bản thân NHTM mà còn từ phía nhà nước, phía khách hàng và bị tác động bởi môi trường hoạt động của khách hàng, đặc biệt môi trường kinh tế và pháp luật Tuy nhiên, để hạn chế rủi ro tín dụng hiệu quả, các NHTM đóng vai trò quan trọng nhất, đưa

ra các biện pháp hợp lý để đảm bảo hoạt động vừa hiệu quả vừa an toàn, các yếu tố thuộc về phía nhà nước, khách hàng hay môi trường kinh doanh chỉ đóng vai trò hỗ trợ NHTM trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro trong cho vay nói riêng

1.2.3 Các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

Cho vay là hoạt động chính và mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, đồng thời hoạt động này cũng mang lại nguy cơ rủi ro cao nhất Vì vậy,

Trang 34

rủi ro và các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay là điều quan tâm chủ yếu của các nhà quản trị ngân hàng cũng như Nhà nước Việc hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay không chỉ xuất phát từ phía các NHTM mà còn cần sự hỗ trợ lớn của các cơ quan chức năng trong khi thực hiện nhiệm vụ quản lý kinh tế, tài chính, tiền tệ Nhà nước một mặt thông qua các quy định pháp luật về các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM gồm các biện pháp: tỷ lệ an toàn, cấm cho vay hoặc hạn chế cho vay, phân loại nợ và trích lập dự phòng, bảo đảm tiền vay và các biện pháp khác Mặt khác Nhà nước còn thành lập các cơ quan chức năng để kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định pháp luật về hạn chế rủi ro của các NHTM cũng như cung cấp thông tin giúp NHTM có thể xây dựng các biện pháp hợp lý để hạn chế rủi ro trong hoạt động của mình Các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM thường chi tiết hóa trong quy chế hoạt động cũng như điều lệ hoạt động của các NHTM Các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho cho vay bao gồm:

Thứ nhất, tuân thủ các quy định về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Ngân hàng thương mại

Các quy định về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của NHTM bảo gồm tổng thể các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, giới hạn cho vay, tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ cấp tín dụng Đây là một trong những biện pháp hạn chế rủi ro có ý nghĩa rất quan trọng không những bảo đảm an toàn trong hoạt động của từng NHTM mà còn góp phần bảo đảm an toàn hệ thống thanh toán, nâng cao sức cạnh tranh của các NHTM trong nước, góp phần phát triển kinh tế xã hội

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức độ đủ vốn của NHTM trên cơ

sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của NHTM Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp một và vốn

Trang 35

cấp hai so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng Tỷ lệ này không những được dùng để xác định khả năng tài chính của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn mà còn là thước đo dùng để bảo vệ người gửi tiền trước những rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định và hiệu quả của hệ thống tài chính Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng gồm tỷ

lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất Theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN ngày 15/11/2019 của NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định các NHTM phải duy trì tỷ lệ vốn tối thiểu là 9% Quy định này của NHNN là hoàn toàn phù hợp với quy định chung của các nước trên thế giới Thực hiện quy định này của NHNN, các NHTM hiện nay bằng nhiều cách đã và đang nâng cao năng lực về vốn của mình thông qua việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu để tăng vốn điều lệ của ngân hàng mình qua đó đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của Nhà nước

Giới hạn cho vay được hiểu là mức cho vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà NHTM và khách hàng thỏa thuận trong một thời hạn nhất định Theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Luật các Tổ chức tín dụng số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 về giới hạn cấp tín dụng thì tổng mức dư

nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của NHTM, tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan không được vượt quá 25% vốn tự có của NHTM Quy định về giới hạn cho vay thường được các ngân hàng cụ thể hóa trong quy chế cho vay của từng ngân hàng và đó là một biện pháp hạn chế và phân tán rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM, tránh trường hợp NHTM chỉ tập trung cho một số khách hàng vay hoặc cho nhóm khách hàng có liên quan vay quá nhiều Điều này có thể gây mất an toàn cho ngân hàng nếu các khách hàng này không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán quy định trong Hợp đồng tín dụng

Trang 36

Tỷ lệ khả năng chi trả là một trong những tỷ lệ an toàn được nhiều nước trên thế giới sử dụng, tỷ lệ trên cho biết khả năng thanh toán của tài sản có đối với khoản nợ khi đến hạn là thời điểm cực kỳ quan trọng đối với bất kỳ ngân hàng nào Xuất phát từ tính chất quan trọng của việc đảm bảo khả năng thanh toán của các NHTM nên pháp luật yêu cầu các NHTM phải duy trì tỷ lệ dự trữ thanh khoản tối thiểu 10% giữa tổng tài sản có tính thanh khoản cao và tổng nợ phải trả Đồng thời yêu cầu các NHTM phải có một bộ phận chuyên trách để theo dõi quản lý khả năng chi trả hàng và xây dựng mô hình đánh giá

và thử nghiệm khả năng chi trả của mỗi ngân hàng

Tỷ lệ cấp tín dụng là một trong những tỷ lệ an toàn cho biết mối quan hệ giữa tổng các khoản cho vay và tổng tiền gửi mà ngân hàng huy động được

Tỷ lệ được sử dụng như một công cụ cung cấp thông tin về sự tăng trưởng tín dụng cho vay của NHTM Một sự gia tăng của tỷ lệ này ở mức tương đối cao cho thấy nguy cơ ngân hàng có ít biện pháp bảo vệ mình trước nguy cơ rút tiền gửi đột ngột Vì vậy việc quy định tỷ lệ cấp tín dụng một cách hợp lý cho các NHTM là điều kiện hết sức cần thiết trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam khi mà các NHTM đang cung ứng cho khách hàng các sản phẩm “tiền gửi có kỳ hạn, được rút gốc trước hạn, hưởng lãi suất cao” để cạnh tranh thu hút tiền gửi nên độ ổn định của các nguồn vốn tiền gửi nói chung và tiền gửi có kỳ hạn nói riêng được đánh giá là thấp

Thứ hai, cấm cho vay hoặc hạn chế cho vay

Để đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay, pháp luật quy định các cá nhân có liên quan đến quá trình cho vay hoặc những người có trách nhiệm chính trong hoạt động quản trị của NHTM không được ngân hàng cho vay hoặc hạn chế cho vay, quy định này hoàn toàn hợp lý và có cơ sở bởi nếu các đối tượng trên được vay vốn họ sẽ có quyền tạo ra áp lực đối với người thẩm định hồ sơ cho vay vốn vì lợi ích riêng và có thể tạo ra các giao dịch tư lợi

Trang 37

làm ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của ngân hàng, gây ra rủi ro tín dụng Bên cạnh quy định về đối tượng cấm cho vay hoặc hạn chế cho vay, tùy vào từng trường hợp cụ thể khi tiến hành xét duyệt các dự án vay vốn, ngân hàng cũng hạn chế cho vay đối với một số lĩnh vực đầu tư nhất định mà ngân hàng đánh giá có nguy cơ rủi ro cao và khả năng rủi ro đối với khách hàng là điều khó tránh khỏi

Thứ ba, sử dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay

Đảm bảo tiền vay là một trong những công cụ quan trọng để hạn chế rủi

ro trong hoạt động cho vay Các biện pháp bảo đảm tiền vay hữu hiệu chính là

sử dụng tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba Trong trường hợp khách hàng không hoàn trả được vốn vay và lãi, ngân hàng có thể bán tài sản bảo đảm bù đắp cho các tổn thất của mình do món vay gây nên

Thứ tư, phân loại nợ và trích lập dự phòng

Khách hàng là người sử dụng sản phẩm của ngân hàng và quyết định thành công trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Để hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay, ngân hàng lựa chọn những khách hàng vay có triển vọng tốt

ra khỏi những khách hàng vay có tiềm ẩn xấu Ngân hàng sàng lọc khách hàng bằng cách tập hợp các thông tin tin cậy về khách hàng hay bên có nghĩa vụ thanh toán nợ Trên cơ sở các thông tin thu thập được tiến hành tính điểm tín dụng, đánh giá xếp loại khách hàng có triển vọng tốt hay xấu để quyết định việc cấp tín dụng Để hạn chế rủi ro sau khi ngân hàng đã thực hiện việc giải ngân cho khách hàng theo hợp đồng tín dụng, NHTM phải tiến hành theo dõi việc sử dụng khoản vay của khách hàng trên cơ sở đó để tiến hành phân loại những khoản nợ vào những nhóm nhất định và có thể đưa ra những biện pháp hợp lý để tiến hành quản lý và thu hồi các khoản nợ đã cho vay

Quỹ dự phòng là nguồn bù đắp tổn thất cho ngân hàng khi gặp rủi ro Vì thế, việc lập quỹ dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện pháp quan

Trang 38

trọng để tăng khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng, giúp ngân hàng có thể

ổn định và phát triển được hoạt động kinh doanh trong trường hợp rủi ro xảy

ra Quỹ dự phòng rủi ro không phải là một biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay mà chỉ có ý nghĩa góp phần khắc phục hậu quả rủi ro Mỗi NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro đúng và đủ theo quy định pháp luật vì lợi ích của ngân hàng và sự ổn định chung của nền kinh tế

Ngoài các biện pháp nêu trên, để hạn chế rủi ro trong hoạt động của mình, NHTM đã thành lập một bộ phận kiểm soát và kiểm toán nội bộ Bộ phận có chức năng nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định, quy chế, quy trình nghiệp vụ của các bộ phận chức năng khác trong hệ thống

Hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng Một hệ thống kiểm soát nội bộ đủ mạnh và hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy việc tuân thủ quy trình và các chính sách ngân hàng thông qua đó có thể cảnh báo sớm về rủi ro và đưa các biện pháp xử lý kịp thời

Tuy nhiên, việc hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM không chỉ đòi hỏi xuất phát từ phía mỗi ngân hàng mà còn cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

Ngoài ra, việc đào tạo cán bộ tín dụng, cán bộ kiểm tra, kiểm soát nâng cao trình độ nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc là biện pháp hiệu quả nhất để góp phần hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay Cán

bộ tín dụng là người trực tiếp thực hiện các quy định về nghiệp vụ cấp tín dụng, để hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay việc quan trọng là hạn chế rủi

ro ngay từ những hoạt động đầu tiên như tiếp nhận, thẩm định hồ sơ khách hàng đến hoạt động kiểm tra định kỳ quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng Cán bộ tín dụng bên cạnh có nghiệp vụ giỏi thì cần có đạo đức nghề nghiệp Rủi ro về đạo đức là một loại rủi ro nguy hiểm, có thể dẫn đến các rủi

Trang 39

ro khác trong hoạt động ngân hàng Rủi ro về đạo đức là rủi ro khi cán bộ ngân hàng vì lợi ích cá nhân mà làm trái các quy định, điều kiện cho vay trong quá trình tiếp nhận, thẩm định và xử lý hồ sơ gây thiệt hại cho NHTM Rủi ro trong hoạt động cho vay cũng có thể phát sinh từ khả năng đánh giá không chính xác về năng lực tài chính, sự khả thi trong phương án sử dụng vốn, giá trị tài sản bảo đảm, tư cách khách hàng vay và thiếu chú ý trong quá trình sử dụng vốn vay Đối với cán bộ kiểm tra, kiểm soát nội bộ phải nâng cao nghiệp vụ tín dụng, quy định pháp luật về nghiệp vụ để giám sát, tìm ra những thiếu sót, sai phạm của những hồ sơ cũ hay thậm chí trong những quy định về quy trình, điều kiện cho vay để góp ý, chỉ đạo sửa đổi quy định hay chỉ ra những lỗi sai trong hồ sơ Từ đó, những bộ hồ sơ sau sẽ được hoàn thiện, khắc phục những lỗi sai trong quy trình để nâng cao sự hoàn thiện trong quy trình cho vay của NHTM Từ những phân tích trên nhận thấy công tác đào tạo, nâng cao trình độ và tinh thần trách nhiệm trong công việc cho cán

bộ ngân hàng càng trở nên quan trọng, là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM Việc tuyên truyền pháp luật và các biện pháp hạn chế rủi ro của ngân hàng cũng cần phải được phổ biến, triển khai thường xuyên để hạn chế những rủi ro trong hoạt động cho vay trong tương lai

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Lợi nhuận và rủi ro là hai vấn đề luôn song hành với nhau, lợi nhuận càng lớn thì rủi ro càng cao, đó là một nguyên tắc luôn đúng với hoạt động của mọi chủ thể kinh doanh, trong đó có NHTM Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản của ngân hàng, đem lại nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, vấn đề mà các ngân hàng thương mại đang phải đối mặt là rủi ro tín dụng Rủi ro trong hoạt động cho vay của một ngân hàng xảy

ra ở một mức độ khác nhau: tổn thất về tài chính, ngân hàng bị giảm lợi nhuận không thu hồi được lãi cho vay, nghiêm trọng nhất khi ngân hàng không thu hồi được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy, các nhà quản lý ngân hàng nên cẩn trọng và tỉnh táo trước khi quyết định cho vay Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần được nghiên cứu đưa ra phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng, chỉ khi hạn chế được rủi ro NHTM mới thực sự phát triển và tạo sự ổn định cho nền kinh tế

Ngày đăng: 27/05/2021, 08:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w