1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh đặc điểm kiến trúc và hệ thống bài trí tượng thờ trong chùa tháp ba miền bắc trung nam

46 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Đặc Điểm Kiến Trúc Và Hệ Thống Bài Trí Tượng Thờ Trong Chùa Tháp Ba Miền Bắc- Trung- Nam
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Nghiệp Vụ Hướng Dẫn Du Lịch
Thể loại bài điều kiện môn học
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 290,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lúc văn hóa Hán thâm nhập bằng bạo lực, thì từ đầu Công nguyên cùng với sự giao lưu kinh tế với Ấn Độ, nhân dân ta tiếp nhận sự thâm nhập của hòa bình của đạo Phật, lấy Phật giáo làm ngọn cờ và vũ khí đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng...Chùa Tháp là kiến trúc Phật giáo, song Phật giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam ta trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm đô hộ, đã gắn liền với làng xóm, nên Chùa cũng mang tính dân gian của người lao động.

Trang 1

BÀI ĐIỀU KIỆN

MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH

“So sánh đặc điểm kiến trúc và hệ thống bài trí tượng thờ

trong chùa tháp ba miền Bắc- Trung- Nam”

I/ So sánh kiến trúc chùa, tháp 3 miền Bắc-Trung-Nam

Trong lúc văn hóa Hán thâm nhập bằng bạo lực, thì từ đầu Côngnguyên cùng với sự giao lưu kinh tế với Ấn Độ, nhân dân ta tiếp nhận sựthâm nhập của hòa bình của đạo Phật, lấy Phật giáo làm ngọn cờ và vũ khíđấu tranh cho sự nghiệp giải phóng Chùa Tháp là kiến trúc Phật giáo, songPhật giáo ngay từ khi du nhập vào Việt Nam ta trong hoàn cảnh đất nước bịngoại xâm đô hộ, đã gắn liền với làng xóm, nên Chùa cũng mang tính dângian của người lao động Ngay trong giai đoạn thịnh hành nhất ở thời Lý,bên cạnh đại danh Lam diễu hành cung đã không ngăn cấm người bình dân,

đã có những tiểu danh Lam, những am và Chùa làng Chùa làng từ cuối thờiTrần ngày càng phát triển, là một cụm trong tổng thể xóm làng, của dânlàng, và cả khi có sự bảo trợ của quí tộc vẫn là trung tâm văn hóa của địaphương

Nhìn chung kiến trúc Chùa Tháp là sự tổng hòa của kiến trúc vật nơimôi trường, có các loại nhà cửa quan hệ hữu cơ với hồ ao, sân, vườn đủ loạicây cao thấp, tất cả được quây lại bằng hàng rào hoặc tường xây để giữnguyên tắc khép kín Nguyên tắc này còn được đặc biệt coi trọng ở nhiềuChùa có “điện Thánh” thâm nghiêm kín đáo Thậm chí cả khi “điện Phật” từthời Mạc về sau dù hình đồ chữ “Công” hay “nội công ngoại quốc”, và cả

Trang 2

“nội tam ngoại công” thì cũng biệt lập với bên ngoài, tạo ra một thế giới Tôngiáo, một “đất Phật” để ai cũng thấy được thăm cảnh riêng Nhưng ngaytrong sự khép kín lại có nguyên lý mở, trước hết là sự hòa quyện của nhàcửa với vườn cây và ao hồ, thực và hư, huyễn ảo, nhân quy mô lên Từngkiến trúc cụ thể có kết cấu riêng, song không ngăn tách ra bằng tường xây,không tạo ranh giới dứt khoát, mọi dòng chảy của du khách, cả của ánh sángđều không bị ngắt quãng, vào trong nhà rồi vẫn thấy ngoài trời, lúc nào cũnggần gũi thiên nhiên

Cái tổng thể và cả cái kết cấu bộ khung gỗ của Chùa cũng hoàn toàncùng quan niệm với ở nhà dân, nếu không phải là kiến trúc dân gian (rõ nhất

là các đại danh Lam thời Lý ), thì cũng là những kiến trúc mang tính dângian

Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo Tuy nhiên, một sốchùa Việt Nam ngoài thờ Phật còn thờ thần (Chùa Thầy ở Hà Tây và ChùaLáng ở Hà Nội thờ Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tông), thờ tam giáo (Phật –Lão – Khổng), thờ Trúc Lâm Tam tổ v.v

Để chỉ chùa thờ Phật, trong tiếng Việt còn có từ "chiền" (chữ Nôm: 廛hoặc 纏) Một số người cho rằng từ "chiền" có thể có gốc từ cetiya của tiếng Pali hay caitya của tiếng Phạn, cả hai dùng để chỉ điện thờ Phật.

Theo câu tục ngữ Việt Nam "đất vua, chùa làng", các ngôi chùa đa số

là thuộc về cộng đồng làng xã Xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đạiđối với làng quê Việt Nam Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởiquan niệm phong thủy "Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt.Đất tốt là nơi bên trái trống không, hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc Núi hổ

Trang 3

(hay tay hổ) ở bên phải phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoasen, tràng phướn, long báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái Đó

là đất dương cơ ái hổ (nền dương có tay hổ) vậy Nước thì nên chảy quanhsang trái Nếu đảo ky, thì mạch nước lại vào ở phía trước Trước mặt cóminh đường hay không có đều được cả Phía sau không nên có núi áp kề, thế

là đất tốt

Các Chùa Việt Nam thường được xây dựng bằng các thứ vật liệu quenthuộc như tre, tranh cho đến gỗ, gạch, ngói Nhưng người ta thường dànhcho chùa những vật liệu tốt nhất có thể được Vật liệu cũng như tiền bạcdùng cho việc xây dựng chùa thường được quyên góp trong mọi tầng lớpdân cư, gọi là của "công đức" Người ta tin là sẽ được hưởng phúc khi đemcúng vật liệu hay tiền bạc cho việc xây dựng chùa Trên những cột gỗ limkhông bị mối mọt, một số chùa khắc rõ tên người đóng góp Ngoài ra các tênnày cũng được ghi ở các bàn thờ bằng đá hoặc trên các đồ sành, sứ như báthương, bình hoa, chân đèn trong một danh sách dài

Ngày bắt đầu xây dựng chùa cũng như ngày khánh thành đều là nhữngthời điểm có ý nghĩa trong đời sống nhân dân làng quê Việt Nam Thường

có những nghi lễ đặc biệt trong những ngày này

Chùa Việt Nam thường không phải là một công trình mà là một quầnthể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau.Tùy theo cách bố trí những ngôi nhà này mà người ta chia thành những kiểuchùa khác nhau Tên các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo cácchữ Hán có dạng gần với mặt bằng kiến trúc chùa Phật giáo muốn tuyêntruyền phải có giáo đường, ở giai đoạn đầu có thể chỉ là những am miếu thờPhật Đầu thế kỷ III, Khương Tăng Hội gọi những kiến trúc Phật giáo ở ta là

Trang 4

“Miếu đường” hoặc “Tông miếu”, gợi lên những điện thờ tổ tiên theo tínngưỡng nguyên thủy mà người Việt rất mực coi trọng; cho đến thế kỷ V, VI,thư tịch cho biết trên đất Giao Châu đã có tới hai mươi Chùa Tháp Từ cuốithế kỷ VI, với sự phát triển của dòng Tì Ni Đà Lưu Chi, Phật giáo do dunghợp các tín ngưỡng dân gian để đi sâu vào quần chúng, và do đó Chùa Thápphải được xây dựng khá nhiều Nhưng cũng do nó hội nhập đủ thứ thần linhbản địa, mà cho đến hết thời Bắc thuộc, Chùa Tháp vẫn chưa có được mộtmẫu hình chuẩn, còn tự phát tùy theo tập tục địa phương Những ngôi Chùadựng trong suốt thời Bắc thuộc, cho đến nay không để lại dấu vết gì ngoàinhững ghi chép vắn tắt của thư tịch

Trải qua giai đoạn đầu của thời kỳ tự chủ ở thế kỷ X, trong bước quá

độ xây dựng đất nước, các sư Tăng đã là những trí thức tiêu biểu, phục vụđắc lực cho chính quyền trung ương tập quyền, đặc biệt đã chuẩn bị tích cựccho việc thành lập nhà Lý Và nhà Lý đã tạo mọi thuận lợi cho Phật giáo trởthành quốc giáo

Nhưng Phật giáo đời Lý với ba dòng Thiền là Quán Bích, Tì Ni ĐaLưu Chi và Thảo Đường có khuynh hướng tu hành và đối tượng phát triểnkhác nhau, cũng tất yếu dẫn đến các hình thức điện thờ Phật khác nhau.Theo sử gia Lê Văn Hưu, trong nước “chỗ nào cũng có Chùa”, hay như Nhothần Lê Quát ở bia Chùa Thiệu Phúc thì “chỗ nào có người ở tất có Chùa thờPhật” Và cụ thể hơn như bia Chùa Linh Xứng: “Hễ có cảnh đẹp núi non thìkhông nơi nào không xây dựng Chùa chiền” Xây dựng ở nơi thắng cảnh nênChùa Tháp thời Lý phần lớn là những danh Lam Nhà Lý dựa vào số tự điền

và canh phu, chia các Chùa đẹp ra làm ba loại là đại danh Lam, trung danhLam và tiểu danh Lam

Trang 5

Trong kiến trúc Chùa Tháp thì càng ngược về nguồn, Tháp càng đóngvai trò chính, là cái đền Phật giáo Từ khi Phật giáo mới vào ta, nơi hành đạocủa các sư Tăng chính là Tháp Thời Lý xây rất nhiều Tháp, chỉ kể nhữngTháp được ghi lại cũng đã gần được 20, trong một số để lại phế tích đều làTháp lớn Phật tích, Tường Long, Chương Sơn, Long Đội … khảo cổ học đãđào được nền lõi Tháp Tường Long cạnh 8m và nền Tháp Chương Sơn cạnhhơn 19m, tất cả đều bình diện vuông Gạch xây Tháp Phật tích có in hìnhnhững cây Tháp giống nhau đều chín tầng, có chiều cao gấp 5 cạnh chân.Các Tháp thời Trần còn lại có chiều cao gấp 4 cạnh chân Nếu Tháp thời Lý

có cùng tỉ lệ trên thì phải cao khoảng 30, 40m (Tháp Phật tích, Tháp TườngLong) đến 70, 80m (Tháp Bảo Thiên, Tháp Chương Sơn) biểu hiện khí thếvươn lên của cả dân tộc, phù hợp với hình tượng trong thơ văn và số liệutrong sử sách Những cây Tháp thời Lý thường xây trên lưng chừng hoặcnhững đỉnh núi không cao mấy đột khởi giữa đồng bằng là thắng cảnh tựnhiên, lấy núi vững chãi làm nền để tôn vẻ bề thế nguy nga của mình

Những cây Tháp ấy là kiến trúc chính của toàn cảnh Chùa và chínhthức là điện thờ Phật, trong lòng Tháp có đặt tượng Phật Các Phật tử tiếnhành nghi lễ quanh tượng Phật, có thể ở ngay trong lòng Tháp hoặc chungquanh Tháp Riêng Tháp Chùa Bảo Thiên với tên Đại Thắng Tư Thiên thì cơbản là đài chiến thắng, tuy ở Chùa và 4 cửa Tháp có 4 đôi tượng KimCương, nhưng trong tượng đền Tháp lại có tượng người tiên, chim muông,giường ghế, chén bát bằng đá

Tháp Lý với bình diện vuông được bắt nguồn từ các Tu viện Phật giáo

Ấn Độ vốn là kiến trúc trải rộng được biến thành kiến trúc cao tầng bìnhdiện vuông hình Tháp, trong có tượng Phật, là nơi thờ Bình diện vuông củaTháp, theo tư duy Việt cổ quan niệm trái đất vuông, được bốn phương neo

Trang 6

giữ Những cây Tháp cao ấy không trơ trụi, lại hòa với hành lang, giải vũ ởhai bên, với những tòa nhà ở phía sau, và cây cối …tạo thành một cảnh quantổng thể có cả chiều cao và bề rộng, vừa thiêng liêng vừa ấm cúng

Phong phú hơn Tháp cả về số lượng và kiến thức phải là Chùa Dựavào thực địa và thư tịch có thể chia Chùa thời Lý thành 4 loại có bố cục khácnhau Trước hết là kiểu Chùa đựng trên một cây cột, phát triển theo kiến trúcTháp, tiêu biểu là Chùa Một Cột, tuy của hoàng gia nhưng đã đi lên từ kiếntruyền thống mà gần đây còn thấy trong dân gian là cây hương đặt trên đầucọc, hay trên trụ gạch, toàn thể là bông sen nghệ thuật khổng lồ

Loại thứ hai là những loại Chùa vừa cầu Phật để cầu trúc hoàng giavừa là hành cung để vua nghỉ ngơi khi du ngoạn quanh vùng Loại Chùa nàythường được vua đến thăm và để di bút, có quy mô lớn, ngoài Tháp còn cónhiều kiến trúc Phật bề thế

Loại Chùa thứ ba không có Tháp, cũng không phải là hành cung, quy

mô có kém một chút nhưng còn rất lớn, phát triển theo chiều sâu và nângcao dần, hai bên cân đối, khu điện thờ bố cục gần giống mặt bằng của Tháp.Ngoài ra, còn những Chùa nhỏ lẫn trong thôn xóm, lúc đầu chỉ có thể là cái

am, là nơi tu dưỡng của nhà Sư, sau đó được mở mang nhưng cơ bản là đẹptrong khuôn khổ gọn nhỏ Nhìn chung các Chùa thời Lý có quy mô lớn,nhưng Phật điện nhỏ, tượng thờ còn ít, thường chỉ có một pho tượng Phậtứng với một chiếc bệ chỉ đủ chỗ cho một pho tượng, trong cách thờ có sựtương đồng với cả khu vực Đông Nam Á

Từ thời Trần, Phật giáo còn để lại một số Phật điện và Tháp khánguyên vẹn Ở giai đoạn đầu, các Thiền gia nổi tiếng tập trung ở các tầng

Trang 7

lớp trên, nên Chùa Tháp thường được xây dựng dưới sự chỉ đạo trực tiếp củaNhà nước, như Chùa Phổ Minh

Đến cuối đời Trần, do sự phân hóa xã hội mạnh, Chùa làng phát triểncòn để lại một số điện thờ và nhiều bệ thờ bằng đá Do quan niệm “vô chấp”nên Chùa là nơi đàm đạo Phật pháp của chư Tăng và Phật tử, có khi thờ Phật

mà không cần đến pho tượng nào Chùa không gắn với hình Phật mà khôngcần đến cả tượng Phật nên ngày nay chưa tìm được pho tượng Phật nào.Chùa không gắn với hành cung nữa mà thuần túy là nơi tu hành Một sốChùa có Tháp, nhưng Tháp không còn là kiến trúc trung tâm nữa, xây ởngay sân trước, vẫn nhiều tầng, cao khoảng trên dưới 15m, lòng hẹp không

đủ sức làm một Phật điện, nên phải có một điện thờ Phật ở phía sau

Các Chùa làng như Chùa Thái Lạc và Chùa Bối Khê còn giữ đượcđiện Phật xây trên nền cao, mỗi cạnh trên dưới 10m tạo một nền đế gầnvuông, bên trên dựng một kiến trúc một gian hai chái, trên mái với các đaocong như bông hoa Bộ chung gỗ chủ yếu gồm hai vì kết cấu theo lối chồnggiường ở hai bên giá chiêng đặc tạo ra nhiều điện để trang trí Do điện Phật

ở trên nền cao, không có tường vách, bên trong thoáng sáng, nên các hìnhchạm trang trí trau chuốt và ở trên cao vẫn rõ ràng

Ở một số Chùa làng, trong điện Phật còn giữ được điện thờ bằng đádài suốt chiều rộng gian giữa Chùa 3m và cao rộng hơn 1m, được người xưagọi là “Phật bàn” hay “Phật thạch bàn” tức bàn đá thờ Phật như một nhang

án, không có dấu vết tượng đặt trên, và cũng chưa phát hiện được pho tượngPhật nào Có thể dân gian đã thờ tranh Phật hay chữ “Phật” chăng?

Trang 8

Sang thời Lê sơ, Phật giáo bị Nhà nước hạn chế, Chùa mới khôngđược xây, Chùa cũ hỏng bỏ hoặc phải dồn nhiều Chùa làm một Ở một vàilàng quê đã tìm được bia đá liên quan đến việc trùng tu Chùa Tuy nhiên sốlượng rất ít và dấu tích vật chất của kiến trúc cũng không có gì chắc chắn

Qua sự khủng hoảng của Nho giáo ở đầu thế kỷ XVI, triều Mạc ra đời

đã nhanh chóng ổn định xã hội, phát triển kinh tế cả nông nghiệp, tiểu thủcông và thương nghiệp Sự cởi mở về tư tưởng kết hợp với sự ổn định vềkinh tế đã làm cho Phật giáo được phục hồi Cùng với sự bảo trợ của lớp quýtộc mới, nhân dân các làng xã đã sửa chữa và dựng mới nhiều Chùa CácChùa làng thời Mạc về cơ bản vẫn theo hình mẫu Chùa làng cuối thời Trầnnhất là về kiến trúc Tuy nhiên, nếu như các Chùa từ thế kỷ XV trở về trước,trên điện Phật rất ít tượng, thì từ thời Mạc do cách thờ Phật theo lối “Thếgian trụ trì Phật pháp” đòi hỏi phải có hình ảnh cụ thể về thế giới nhà Phật,nên điện Phật đã khá đông đúc cả về số lượng và chủng loại mà tùy từngChùa đã tìm thấy bộ ba tượng Tam Thế, một số tượng Quan Âm Nam Hải,

có cả tượng Thích Ca sơ sinh, thậm chí cả các thần Mây, Mưa, Sấm, Chớpthành bộ Tứ pháp cũng được Phật hóa… nhưng nói chung vẫn là nhữngnhân vật Phật thoại và thần thoại Do đó, điện Phật vẫn là tòa Tam Bảonhưng được mở rộng hơn về hai bên để rõ hình chữ nhật Điện Phật đông vuithì đồng thời cũng bình dân hơn, và Chùa làng thực sự là trung tâm văn hóacủa làng xã

Phân loại theo cấu trúc

Trang 9

Chùa chữ Đinh

Chùa chữ Đinh (丁), có nhà chính điện hay còn gọi là thượng điện, là

nhà đặt các bàn thờ Phật, được nối thẳng góc với nhà bái đường hay nhà tiền đường ở phía trước.

Chùa chữ Công

Chùa chữ Công (工) là chùa có nhà chính điện và nhà bái đường song

song với nhau và được nối với nhau bằng một ngôi nhà gọi là nhà thiêu hương, nơi sư làm lễ Có nơi gọi gian nhà nối nhà bái đường với Phật điện này là ống muống.

Chùa chữ Tam

Chùa chữ Tam (三) là kiểu chùa có ba nếp nhà song song với nhau,thường được gọi là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng Chùa Kim Liên ở

Hà Nội, chùa Tây Phương ở Hà Tây có dạng bố cục như thế này

Chùa kiểu Nội công ngoại quốc

Vào thế kỷ XVII, do chiến tranh Trịnh Nguyễn kéo dài, nhân dân bịđộng viên cả người và của không đủ sức dựng Chùa riêng cho làng nữa, tầnglớp quý tộc không tin ở thực tại nữa tìm đến cầu cứu cửa Phật, và đã xuấttiền của cho việc mở mang cảnh Chùa Đồng thời Phật giáo Trung Hoa vớiphái Lâm Tế và Tào Động cũng thừa cơ du nhập vào ta Trong Chùa ngoàicác loại tượng như ở thời Mạc, giờ đây có thêm bộ ba tượng Di Đà, tam tônVăn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Tuyết Sơn …thuộc thế giới Phật thoái,

và cả tượng các cao Tăng đã trụ trì tại Chùa, các vị Phật tử góp nhiều tiềncủa cho Chùa … tức những người thực đã có những việc thực tiễn ích cho

Trang 10

Chùa Ngoài ra, một số cao Tăng có công khai sáng Chùa, được truyềnthuyết với nhiều phép nhiệm mầu, giờ đây được trở thành “Đức Thánh” linhthiêng được dành nơi thâm nghiêm và trang trọng nhất của Chùa để thờ DoPhật điện đông đúc, điện Phật một nếp nhà chữ nhật không đủ sức chứa nữa,lại càng không có chỗ hành lễ, nên khu vục thờ của Chùa ngoài điện Phậtchuyển sang chữ “Công”, còn có thêm nhà Tổ nữa, và đặc biệt một số Chùa

có cả điện Thánh, ngoài ra còn có hành lang giải vũ ở hai bên để chuẩn bịcho các dịp hội Chùa hàng năm Mặt bằng kiến trúc Chùa kiểu “Nội côngngoại quốc” ra đời, có nghĩa là vừa phát triển ngang, phát triển dọc lại baoquanh nữa, lại còn ở rải rác vườn Chùa có các Tháp mộ Sư nữa

Chùa kiểu Nội công ngoại quốc là kiểu chùa có hai hành lang dài nối liền nhà tiền đường ở phía trước với nhà hậu đường (có thể là nhà tổ hay

nhà tăng) ở phía sau làm thành một khung hình chữ nhật bao quanh lấy nhàthiêu hương, nhà thượng điện hay các công trình kiến trúc khác ở giữa Bốcục mặt bằng chùa có dạng phía trong hình chữ Công (工), còn phía ngoài

có khung bao quanh như chữ khẩu (囗) hay như ở chữ Quốc (国)

Đây là các dạng bố cục của các công trình kiến trúc chính Ngoài ra,

trong chùa còn có những ngôi nhà khác như nhà tổ, là nơi thờ các vị sư từng trụ trì ở chùa nay đã tịch, hoặc nhà tăng, nơi ở của các nhà sư và một số kiến

trúc khác như gác chuông, tháp và tam quan

Chùa kiểu chữ Công ( 工)

Trang 11

Kiểu chùa này là phổ biến hơn cả Tuy nhiên có một số ngoại lệ, tiêubiểu là chùa Một Cột ở Hà Nội có hình dáng một bông sen nở trên mặt nước,hay ngôi chùa mới được xây cất như chùa Vĩnh Nghiêm có hai tầng ở Thànhphố Hồ Chí Minh mang trong mình cả những nét truyền thống Phật giáo và

cả những thành tựu của kiến trúc Nhưng những ngoại lệ như vậy khôngnhiều

1 Kiến trúc tổng thể ngôi chùa Miền Bắc

Kiến trúc chùa được xây dựng và phát triển khá đa dạng qua các thời

kỳ lịch sử khác nhau và không gian khác nhau, ở các phong cách kiến trúcđịa phương

Tam quan

Tam quan là bộ phận không thể thiếu trong thành phần chùa ViệtNam, là cổng vào chùa, thường là một ngôi nhà với ba cửa vào Có nhiềuchùa có hai tam quan, một tam quan nội và một tam quan ngoại Tầng trêncủa Tam quan có thể dùng làm gác chuông

Sân chùa

Qua Tam quan là đến sân chùa Sân của nhiều chùa thường được bàyđặt các chậu cảnh, hòn non bộ với mục đích làm tăng thêm cảnh sắc thiênnhiên cho ngôi chùa Diện tích của sân chùa phụ thuộc vào những điều kiện

và đặc điểm riêng của từng chùa Trong sân chùa, đôi khi có các ngọn thápđược xây dựng ở đây như ở chùa Dâu, chùa Thiên Mụ

Trang 12

Bái đường

Từ dưới sân chùa, lớp kiến trúc đầu tiên của ngôi chùa là nhà báiđường (hay còn gọi là tiền đường, nhà thiêu hương) Để đi được đến đâythường phải đi lên một số bậc thềm Ở nhà bái đường có thể đặt một sốtượng, bia đá ghi sự tích của ngôi chùa, có thể đặt cả chuông, khánh nếu nhưngoài cửa Tam quan không xây gác chuông Giữa bái đường là hương án,nơi thắp hương chính Thông thường người đến lễ chùa thắp hương ở đây

Số gian của bái đường tùy thuộc vào qui mô của chùa, nhỏ nhất là 3 gian,thông thường là 5 gian

Chính điện

Qua nhà bái đường là chính điện Giữa bái đường và chính điện cómột khoảng trống không rộng lắm, để cho ánh sáng tự nhiên chiếu sáng Nhàchính điện là phần quan trọng nhất của ngôi chùa vì nơi đây bày những photượng Phật chủ yếu của điện thờ Phật ở Việt Nam

Trang 13

Trong thực tế, chùa có nhiều biến thể khác nhau Ở một số chùa, phía

sau điện thờ Phật còn có điện thờ Thần, đó là loại chùa tiền Phật hậu Thần

phổ biến ở miền Bắc Việt Nam Có chùa có gác chuông ở phía trước, cóchùa có gác chuông ở phía sau, có chùa gác chuông ở ngay trên cửa Tamquan, có chùa gác chuông lại ở trên nhà tổ Một số chùa có ngôi tháp lớn ởtrước mặt, như chùa Dâu ở tỉnh Bắc Ninh, chùa Phổ Minh ở tỉnh Nam Định,nhưng một số chùa khác lại đặt các tháp ở hai bên chùa hay có vườn thápriêng như chùa Trấn Quốc ở Hà Nội, chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh, Chùa Bổ

Tử, tượng Bát Bộ Kim cương Ðến nay, chúng ta đúc được bức tượng phậtđồng nặng 100 tấn nguyên khối tại Bái Ðính Ninh Bình, có thể xây dựngnhững Thiền viện Trúc Lâm ở Ðà Lạt, Yên Tử (Quảng Ninh), Tây Thiên

Trang 14

(Vĩnh Phúc), Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế) là nhờ đã tiếp thụ được nhữngtinh hoa nghệ thuật của cha ông

Vẻ đẹp kiến trúc và mỹ thuật điêu khắc ở các ngôi chùa Việt Nam đãtạo nên sức hấp dẫn khách thập phương ở trong nước và quốc tế, đóng gópcho sự phát triển du lịch nước nhà, giới thiệu với các nước trên thế giới nétđộc đáo của văn hóa Việt Nam Trách nhiệm của mỗi người chúng ta là phảigiữ gìn những di sản văn hóa đó, càng giữ nguyên trạng càng tốt, nhất là khitrùng tu tôn tạo Kiến trúc và điêu khắc ở mỗi ngôi chùa được bảo tồn và giữnguyên trạng càng tôn thêm vẻ đẹp cổ kính đầy bản sắc của các ngôi chùaViệt Nam

Một số chùa nổi tiếng

Chùa Một Cột

Chuà có kiến trúc rất độc đáo với tòa đài dựng trên một cột đá giữa cái

hồ vuông Chùa hình vuông mỗi chiều 3 m, mái cong dựng trên cột đá hìnhtrụ Cột có đường kính 1,2 m, cao 4 m, chưa kể phần chìm dưới đất Tầngtrên là hệ thống những thanh gỗ tạo thành bộ khung sườn vững chãi đỡ chongôi đài dựng bên trên như một đóa hoa sen vươn thẳng lên khu hồ có lancan bằng gạch bao quanh Từ bờ ngoài có cầu thang bằng gạch dẫn lên Phậtđài Trên cửa Phật đài có biển đề "Liên hoa đài" ghi nhớ sự tích nằm mộngcủa vua Lý dẫn đến việc xây chùa Tương truyền năm 1049, vua Lý TháiTông chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, vua cũng được dắtlên đó Khi vua tỉnh giấc đem việc ấy kể lại, sư Thiền Tuệ khuyên vua dựngchùa Theo bia chùa Ðọi (Hà Nam) thì quy mô Liên hoa đài thời Lý to hơnngày nay nhiều: Cây cột đá giữa hồ Linh Chiểu có đóa hoa sen nghìn cánh

Trang 15

trên dựng tòa điện mầu xanh, trong điện đặt tượng Quan Âm Vòng quanh

hồ là dãy hành lang Bên cạnh là ao Bích Trì, mỗi bên đều bắc cầu vồng điqua Phía sân trước cầu, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly

Chùa Bút Tháp

Chùa ở Bắc Ninh vì có ngọn tháp hình cây bút nên có tên gọi như vậy.Chùa xây từ thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278), khi hòa thượng HuyềnQuang đến tu Ông là một nhà sư giỏi, đỗ tiến sĩ và là một trong ba vị tổ củagiáo phái Trúc Lâm Ông cho xây ngọn tháp cao chín tầng, trang trí hình hoasen Nghệ thuật trang trí theo phong cách đời Lý - Trần Các bức trang tríchạm nổi trên đá ở cầu đá, ở lan can thượng điện Chùa là danh thắng từ lâu

đã được xếp hạng

Chùa Keo ở Thái Bình

Năm 1067, vua Lý Thánh Tông đến lễ chùa, ban tiền tu sửa ChùaKeo thờ Phật, tòa Thánh thờ vị sư tổ của chùa là Không Lộ thiền sư Kiếntrúc của chùa được bố trí từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Ngoàicùng là tam quan ngoại, đi vòng theo hồ hình chữ nhật vào tam quan nội,tiếp đó là khu chùa chính, bố trí theo kiểu "nội công ngoại quốc" Ðặc biệtgác chuông ba tầng của chùa Keo là nơi tập trung cao độ của nghệ thuật điêukhắc gỗ tinh xảo của thời Hậu Lê Nói đến chùa Keo Thái Bình, người tanhớ ngay đến gác chuông cũng như nói đến chùa Cổ Lễ Nam Ðịnh, người tanhớ ngay đến tháp Cửu phẩm liên hoa cao 12 tầng có kiến trúc độc đáo hiếm

có trong hệ thống các tháp Việt Nam

Trang 16

2 Kiến trúc tổng thể chùa tháp miền Trung

Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông của Đại Việt nhận lờimời du ngoạn vào Chiêm Thành, được Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lạitrong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng Khi ra về, Trần Nhân Tông cóhứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã cóchính thất là hoàng hậu Tapasi, người Java (Nam Dương ngày nay) Năm

1306, Jaya Sinhavarman III dâng hai châu Ô và châu Lý (khu vực từ QuảngBình đến Quảng Nam) cho nhà Trần của Đại Việt làm của hồi môn để đượckết hôn với Huyền Trân công chúa Huyền Trân về Chiêm Thành, đượcphong làm hoàng hậu Paramecvari Một năm sau đó, khi hoàng hậu ngườiĐại Việt vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5 năm 1307, quốcvương Chế Mân qua đời Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung

vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân đem về

Chiêm Thành coi sự việc này là quốc nhục và các vị vua Chiêm kếtiếp đã từng dùng vũ lực, vào các năm 1311, 1312,1317-1318, 1326 và 1353,nhằm yêu cầu Đại Việt trao trả cho vương quốc này hai châu Ô Lý nhưngkhông thành công

Do có nguồn gốc từ đất nước Chiêm Thành, nên vùng đất này bị ảnhhưởng của văn hóa Chăm khá sau sắc Điều này dẫn đến kiến trúc chùa thápcũng mang đậm vẻ Chăm pa Và tháp Chăm chính là đặc trưng cho đền tháp

ở miền Trung.Tháp Chàm là những đền miếu cổ, thuộc kiến trúc tôn giáo tínngưỡng của dân tộc Chàm (còn gọi là dân tộc Chăm, sinh sống ở miền NamTrung Bộ Việt Nam ngày nay Tháp Chàm là một khối kiến trúc xây dựngbằng gạch nung màu đỏ sẫm lấy từ đất địa phương, phía trên mở rộng vàthon vút hình bông hoa Mặt bằng tháp đa số là hình vuông có không gian

Trang 17

bên trong chật hẹp thường có cửa duy nhất mở về hướng Đông (hướng mặttrời mọc) Trần được cấu tạo vòm cuốn, trong lòng tháp đặt một bệ thờ thầnbằng đá Nghệ thuật chạm khắc, đẽo gọt công phu hình hoa lá, chim muông,

vũ nữ, thần thánh thể hiện trên mặt tường ngoài của tháp Trên các bứctường không thấy mạch vữa liên kết, song các viên gạch lại liên kết với nhaurất rắn chắc, bền vững tới hàng chục thế kỷ

Lịch sử xây dựng các đền tháp Champa kéo dài từ cuối thế kỷ thứ 7đến đầu thế kỷ 17 Trong khoảng thời gian này, những người Champa xưa

đã để lại một số lượng lớn các công trình kiến trúc đền tháp, thành luỹ, cáctác phẩm điêu khắc Hiện tại có trên hai mươi cụm di tích kiến trúc đền tháp

và rất nhiều phế tích kiến trúc Các di tích này có giá trị đặc sắc, mang tínhtoàn cầu, xứng đáng nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Mộttrong những sự quan tâm ấy là việc tổ chức UNESCO đã công nhận Mỹ Sơn

là di sản văn hoá thế giới cũng chính là việc đánh giá cao thành quả nghiêncứu về kiến trúc Champa nói chung

Theo tiếng Chăm, các đến tháp Champa này được gọi là kalan, nghĩa

là "lăng" Các lăng này được các đời vua Chăm xây dựng để thờ cúng các vịthần Các vị thần được thờ phượng có thể là các vị thần Ấn Độ giáo tiêu biểunhư Siva (thần hủy diệt), Ganesha (phúc thần đầu người mình voi) hoặcđấy còn có thể là các vị Phật Điều này tùy thuộc vào lòng tin và kính mộcủa mỗi vì vua ở các triều đại khác nhau Ở thánh địa Mỹ Sơn hiện nay phầnlớn là công trình kiến trúc tôn giáo thờ các vị thần thuộc Ấn Độ giáo và Bà

la môn giáo Nhưng ở thánh địa Đồng Dương (thuộc địa phận huyện ThăngBình, tỉnh Quảng Nam) đây là kinh đô Phật giáo lớn nhất của Champa

Trang 18

Trong lĩnh vực văn hoá vật thể thì nghệ thuật Champa cổ và nghệthuật Việt cổ có nhiều nét tương đồng Nhìn chung thì nghệ thuật Champa

có trước nghệ thuật Việt và đã đạt đỉnh cao ngay khi nghệ thuật Việt độc lậpchưa ra đời

Xét về mặt kiến trúc: các tháp Champa hầu hết ở trên những đồi caohoặc núi thấp, được xây dựng thành từng cụm, hướng Đông nhìn ra biển đóndương khí thì chùa, tháp Việt Nam thời Lý, thời Trần cũng thường xây dựngtrên gò, đồi và sườn núi, tạo nên cả một quần thể, hướng Nam hoặc Namchếch Đông, đón dương khí Tháp Việt Nam cũng vươn cao với nhiều tầngnhư tháp Champa và có bình diện vuông gần với các phương Đông, Tây,Nam, Bắc Tháp Champa cũng như tháp Lý - Trần về cơ bản cũng xây bằnggạch hoặc phụ thêm một số thành phần bằng đá Có điều, tháp Champa đượcđục trực tiếp trên gạch sau khi xây, còn ở tháp Lý - Trần thì hình trang tríđược in, khắc trực tiếp trên gạch, rồi sau đó mới mang nung, xây đến đâu là

có hình trang trí cho chỗ đó rồi

Phổ biến và cũng hấp dẫn nhất trong nghệ thuật Champa là các apsara,

đa số thuộc đỉnh cao của điêu khắc Champa thuộc thế kỷ thứ 10 Các nhânvật kết hợp người với chim hoặc với thú đều có cả trong nghệ thuật Champa

và nghệ thuật Việt

Các phong cách kiến trúc Champa

Phong cách nghệ thuật các tháp Chăm, là hệ thống các phong cách

xây dựng các ngôi tháp Chăm của Chăm Pa trong các thời kỳ liên tiếp

nhau từ thế kỷ 7 đến thể kỷ 17 ở miền Trung Việt Nam hiện nay Được nhà

Trang 19

nghệ thuật học nổi tiếng người Pháp Philippe Stern sắp xếp trật tự và niên

đại và phong cách các tháp Chăm như sau:

Phong cách cổ

Hay còn có tên là phong cách Mỹ Sơn E1, có niên đại ở thế kỷ 7 - thế

kỷ 8, phong cách thời kỳ này phản ánh ảnh hưởng từ bên ngoài của văn hóatiền Angkor và cả nghệ thuật Dvaravati và miền Nam Ấn độ

Tiêu biểu cho phong cách Mỹ Sơn E 1 là ở bệ thờ bên trong tháp làmbằng đá cát kết có hình dạng linga tượng trưng cho ngọn núi là nhà của thầnSi-va, xung quanh có chạm các tu sĩ đang tu luyện trong rừng núi hay hangđộng, với các hình dạng như đang chơi các loại nhạc cụ khác nhau, đanggiáo hóa cho các loài vật và cả đang thư giãn Một công trình tiêu biểu nữa

là phù điêu ở trên lối vào chính chạm khắc buổi bình minh thời đại theo thầnthoại Ấn Độ

Các tháp theo phong cách cổ: tháp Mỹ Sơn E1 (đã đổ nát), tháp Mắm(không còn), tháp Phú Hài, tháp Damrei (di tích Chăm ở Campuchia)

Phong cách Hoà Lai và phong cách Đồng Dương (thế kỷ thứ 9)

Những ngôi đền tháp theo hai phong cách này có những hàng cột ốp

và những cửa vòm khoẻ khoắn Những băng trang trí cho công trình có rấtnhiều họa tiết Yếu tố tiêu biểu nhất cho phong cách Hoà Lai (nửa đầu thế kỷthứ 9) là các vòm cửa nhiều mũi tròn trùm lên các cửa thật, cửa giả và cáckhám Các cột ở khung cửa hình bát giác bằng sa thạch được trang trí bằngmột đường các hình lá uốn cong Khoảng giữa hai cột trụ ốp có trang trí hìnhthực vật Ở bên dưới các cột trụ ốp là các hình kiến trúc thu nhỏ trong đó có

Trang 20

hình người đắp nổi Tất cả tạo cho các tháp Hoà Lai một vẻ đẹp trang trọng

và tươi mát Còn ở phong cách Đồng Dương (nửa sau thế kỷ thứ 9) thì cáctrang trí cây lá được biến thành những hình hoa hướng ra ngoài Cái nhậnthức cổ điển của nét lượn và tỷ lệ ở phong cách Hoà Lai đã bị biến mất vàcác tháp Đồng Dương trở nên mạnh mẽ hơn

Phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ thứ 10)

Phong cách này thể hiện đầy đủ nhất, trọn vẹn nhất là ở ngôi tháp MỹSơn A1 Những cột ốp trên mặt tường đứng thành đôi một Đứng giữa haicột ốp là các bức tượng người Các vòm cửa có hình dáng phức tạp nhưngkhông chạm khắc gì Bộ diềm kép, các hình đá trang trí góc được khoétthủng Thân chính của tháp được xây dựng có hình dáng cao vút lên và cáctầng thu nhỏ dần lại Những đặc trưng của phong cách Hoà Lai và ĐồngDương không còn thấy ở các tháp thuộc phong cách Mỹ Sơn A1

Phong cách Bình Định (thế kỷ 11-13)

Sau hàng loạt những biến động về chính trị từ đầu thế kỷ 11, trungtâm chính trị của Champa được chuyển vào Bình Định và từ đó, phong cáchnghệ thuật tháp Champa mới đã xuất hiện: phong cách Bình Định Nếu nhưngôn ngữ nghệ thuật chính của các tháp Champa thuộc phong cách trước làthành phần kiến trúc đều đi vào đường nét thì ở phong cách này đó lại làmảng khối: vòm cửa thu lại và vút lên thành hình mũi giáo, các tháp nhỏ trêncác tầng cuộn lại thành các khối đậm, khỏe, các trụ ốp thu vào thành mộtkhối phẳng, mặt tường có các gân sống

Phong cách muộn

Trang 21

Có niên đại từ đầu thế kỷ 14 đến cuối thế kỷ 17, gồm các tháp: tháp

Po Klaung Garai, tháp Po Rome, tháp Yang Prong, tháp Yang Mun (đã đổnát)

Đặc trưng của các ngôi tháp Champa

Mọi ngôi tháp đều được xây bằng gạch hoặc chủ yếu bằng gạch Gạch cómàu đỏ hồng, đỏ sẫm, được nung trước với độ xốp cao, được xây không cómạch vữa và có thể có điêu khắc trực tiếp trên gạch

Có chiều cao lớn hơn vài ba lần so với chiều ngang thân tháp Tỷ lệ cácphần của tháp có tính nhân bản, nghĩa là nó được xuất phát từ con người Tháp có phần ngọn được thu nhỏ dần hoặc giật cấp

Các trang trí kiến trúc, điêu khắc có tính nhịp điệu, tính lặp lại và đồngdạng, đăng đối

Đa phần các tháp có cửa quay ra hướng Đông, các phía còn lại là cửa giả,được bố trí đăng đối với cửa chính

Trong tháp theo nguyên mẫu có thờ thần Siva, biểu trưng là bộ ngẫu tượng

Yoni và Linga được làm bằng sa thạch

Tháp thường được đặt tại các vị trí thoáng, gò đồi cao, không gần chỗngười dân sinh sống

Các công đoạn xây dựng tháp

Trang 22

Giá trị của kiến trúc đền tháp Champa

 Các đền tháp Champa phản ánh đầy đủ và chân thực hoàn cảnh vănhoá Champa từ những giai đoạn đầu tiếp thu những ảnh hưởng củavăn hóa Ấn Độ cho đến những giai đoạn thích nghi, tiếp biến và trỗidậy mạnh mẽ tính bản địa và sự giao lưu thường xuyên về mặt vănhóa bên cạnh các mặt kinh tế - chính trị với các dân tộc liền kề

 Giá trị nghệ thuật của các hình trang trí ngoài việc giúp cho các đềntháp đẹp hơn, còn có ý nghĩa văn hóa đặc biệt, giúp cho việc nghiêncứu sâu hơn về niên đại, phong cách và chức năng của các đền tháp

Ghi chú

Liễu Cốc

xã Hương Xuân, huyện

Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

-thế kỷXIII

2 Nhóm tháp Mỹ

Khánh

xã Phú Diên, Huyện PhúVang, tỉnh Thừa Thiên - Huế

thế kỷXIII - IX

Bằng An

làng Bằng An, xã Vĩnh Diện,huyện Điện Bàn, tỉnh QuảngNam

Trang 23

5 Nhóm tháp

Chiên Đàn

làng Chiên Đàn, xã Tam An,thành phố Tam Kỳ, tỉnhQuảng Nam

Phước Lộc

xã Nhơn Thành, huyện AnNhơn, tỉnh Bình Định

thế kỷXIII

Bánh Ít

thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp,huyện Tuy Phước, tỉnh BìnhĐịnh

Hưng Thạnh

thành phố Quy Nhơn, tỉnhBình Định

thế kỷXII

Nhạn

thành phố Tuy Hòa, tỉnh PhúYên

thế kỷXII

Ngày đăng: 27/05/2021, 08:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ts Trần Hồng Liên, Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ, NXB Khoa học Xã Hội Hà Nội, 2004 (tr29,37,32,48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam Bộ
Tác giả: Ts Trần Hồng Liên
Nhà XB: NXB Khoa học Xã Hội Hà Nội
Năm: 2004
2. Hà Văn Tấn – Nguyễn Văn Cự, Chùa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Cự
5. Đặng Đức Siêu, Sổ tay văn hoá Việt Nam, Nhà Xuất Bản Lao Động 6. Lịch sử chùa Khmer Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Đức Siêu, "Sổ tay văn hoá Việt Nam", Nhà Xuất Bản Lao Động "6
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Lao Động "6." Lịch sử chùa Khmer
3. Ðình chùa, lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam - Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 1998 Khác
4. Những ngôi chùa ở TP Hồ Chí Minh - Nxb TP Hồ Chí Minh 1993 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w