Đề tài “ Khảo sát thực trạng phân loại, thu gom và các yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến hoạt động phân loại, thu gom chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2018” nhằm xác định tỷ lệ phân loại và tỷ lệ các phương tiện phân loại, thu gom và lưu chứa đúng chất thải rắn y tế để phát huy những điểm mạnh và kịp thời phát hiện những điểm yếu và từ đó đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế phù hợp, nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế.
Trang 1KHẢO SÁT THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI, THU GOM
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN, ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
PHÂN LOẠI, THU GOM CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
Trần Thị Thu Vân, Phạm Thị Phương Thùy, Lai Thị Mỹ Duyên
I TÓM TẮT
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá thực trạng phân loại, thu gom và khảo sát dụng cụ lưu chứa chất thải rắn y tế (CTRYT) tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy: thực trạng phân loại, thu gom đúng CTRYT: có 100% khoa phân loại đúng CTRYT, phân loại riêng biệt theo từng loại chất thải, 100% khoa thu gom chất thải đúng thời gian quy định và không làm rơi vãi,
rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom, có 95,2% khoa thu gom riêng chất thải thông thường và chất thải lây nhiễm, thu gom các túi chất thải theo các thùng tương ứng theo qui định Có 0% túi thu gom chất thải có biểu tượng đúng qui định
Đối với các dụng cụ phân loại, thu gom CTRYT trên xe tiêm các khoa lâm sàng:
có 93,6 % có thùng màu vàng đựng chất thải y tế và 75,6% có biểu tượng chất thải lây nhiễm đúng qui định Có 88,5% có thùng màu xanh đựng chất thải y tế thông thường
và 98,7% có biểu tượng chất thải thông thường đúng qui định Có 0% thùng màu trắng đựng chất thải tái chế, vẫn còn sử dụng chưa đồng bộ dụng cụ chứa loại chất thải này như: thùng giấy, sọt, túi,….và có 48,7% có dán biểu tượng chất thải tái chế Có 98,7%
có bảng hướng dẫn phân loại chất thải y tế trên xe tiêm, đặt ở vị trí dễ đọc, dễ nhìn thấy
Đối với các dụng cụ phân loại, thu gom CTRYT ở các khoa lâm sàng, cận lâm sàng ( trừ các dung cụ phân loại, thu gom bố trí trên xe tiêm): có dán biểu tượng theo từng loại chất thải riêng biệt, cụ thể có 92,2% có dán biểu tượng chất thải lây nhiễm, 100% có dán biểu tượng chất thải thông thường, 100% có dán biểu tượng chất thải nguy hại không lây nhiễm Tuy nhiên về màu sắc các dụng cụ chứa chất thải: có 100% thùng có màu xanh đựng chất thải thông thường, nhưng chỉ có 6,3% thùng có màu vàng đựng chất thải lây nhiễm và 0% thùng có màu đen đựng chất thải nguy hại không lây nhiễm Chưa sử dụng đúng màu sắc dụng cụ chứa chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm
Trang 2II ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực: kinh tế - xã hội khoa học – kỹ thuật, đặc biệt là phát triển về ngành y tế Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân, các cơ sở y
tế không ngừng mở rộng và tăng cường về trang thiết bị hiện đại và con người Cùng với sự phát triển mạnh mẽ đó, các cơ sở y tế thải ra môi trường lượng chất thải y tế đáng kể Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang thực hiện nhiệm vụ khám bệnh và chữa bệnh cho người dân, trung bình hàng ngày có khoảng 3.000 người khám, chữa bệnh tại bệnh viện Do đó, lương chất thải y tế phát sinh tại bệnh viện rất lớn, lượng chất thải này nếu không được phân loại, thu gom và xử lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm môi trường và sức khỏe của con người Xét tính cấp bách của vấn đề trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu với đề tài “ Khảo sát thực trạng phân loại, thu gom và các yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến hoạt động phân loại, thu gom chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2018” nhằm xác định tỷ lệ phân loại và tỷ lệ
các phương tiện phân loại, thu gom và lưu chứa đúng chất thải rắn y tế để phát huy những điểm mạnh và kịp thời phát hiện những điểm yếu và từ đó đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế phù hợp, nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế
III ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
1.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 06/2018 đến tháng 10/2018 tại các khoa
lâm sàng và cận lâm sàng Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang
1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Tất cả nhân viên các khoa lâm sàng trong thời gian khảo sát
- Tất cả nhân viên Công ty Bảo Quang tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
trong thời gian khảo sát
- Phương tiện phân loại, thu gom và lưu chứa chất thải rắn y tế tại các khoa lâm
sàng và cận lâm sàng
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nội dung và các chỉ số nghiên cứu
Trang 3- Nội dung thu thập: Phân loại, thu gom, số lượng dụng cụ lưu chứa CTRYT
2.2.2 Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin
- Phương pháp quan sát mô tả ngẫu nhiên: dựa vào bảng kiểm điều tra quá trình nhân viên thực hành phân loại, thu gom CTRYT tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng với những quan sát viên tham gia đề tài đã được tập huấn trước theo bảng kiểm cho
từng phương tiện
+ Dựa vào bảng kiểm điều tra phương tiện phân loại, thu gom và lưu chứa chất
thải rắn y tế
- Phương pháp khảo sát thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện
Khảo sát trong vòng 1 tuần và lấy kết quả trung bình
3 Xử lý số liệu
Số liệu của nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm excel 2013
IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Bảng 1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của Bệnh viện
( kg/ngày)
Số lượng (kg/GB/ngày)
3 Chất thải nguy hại không lây
2 Tỷ lệ phân loại, thu gom
Bảng 2: Tỷ lệ khoa phân loại đúng CTRYT
(%)
1 Có bảng hướng dẫn phân loại, thu gom chất
2 Chất thải lây nhiễm được phân loại đúng tại nơi
phát sinh và thời điểm phát sinh? 21/21 100%
3 Chất thải y tế thông thường được phân loại
đúng tại nơi phát sinh và thời điểm phát sinh? 21/21 100%
4 Chất thải y tế thông thường được phép tái 21/21 100%
Trang 4chế được phân loại đúng tại nơi phát sinh và thời
điểm phát sinh?
5 Chất thải nguy hại không lây nhiễm được
phân loại đúng tại nơi phát sinh và thời điểm phát
sinh?
21/21 100%
6 Chất thải lây nhiễm sắc nhọn đựng trong
Bảng 3: Tỷ lệ khoa thu gom đúng CTRYT ( Nhân viên Công ty vệ sinh phụ trách tại khoa thực hiện thu gom)
1 Thu gom chất thải đúng thời gian quy định? 21/21 100%
2 Không làm rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu
3 Chất thải y tế thông thường và chất thải lây nhiễm
4 Thu gom đúng túi chất thải vào các thùng tương
5 Túi thu gom CTRYT có biểu tượng đúng quy
3 Tỷ lệ dụng cụ phân loại, thu gom, lưu chứa CTRYT bệnh viện
Bảng 4: Tỷ lệ dụng cụ phân loại, thu gom đúng CTRYT trên xe tiêm
1 Có thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm? 73/78 93.6
2 Có biểu tượng chất thải lây nhiễm đúng quy định? 59/78 75.6
3 Có thùng màu xanh đựng chất thải y tế thông
4 Có biểu tượng chất thải thông thường đúng quy
5 Có thùng màu trắng đựng chất thải y tế thông
6 Có biểu tượng chất thải tái chế đúng quy định? 38/78 48.7
7 Có bảng hướng dẫn phân loại, thu gom chất thải y
8 Có hộp đựng vật sắc nhọn chuyên dụng? 0/78 0
Bảng 5: Tỷ lệ dụng cụ phân loại, thu gom chất thải đúng chất thải lây nhiễm tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
Trang 5STT Nội dung nghiên cứu Số lượng Tỷ lệ (%)
1 Thùng có nắp đóng, mở thuận tiện trong
3 Có biểu tượng chất thải lây nhiễm? 59/64 92.2
Bảng 6: Tỷ lệ dụng cụ phân loại, thu gom chất thải đúng chất thải lây nhiễm sắc nhọn tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
(%)
2 Dụng cụ tái sử dụng: thùng lọc thận nhân tạo? 78/83 94
3 Có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử
4 Có thành, đáy cứng, không bị xuyên thủng? 83/83 100
6 Có biểu tượng chất thải lây nhiễm sắc nhọn.? 83/83 100
Bảng 7: Tỷ lệ dụng cụ phân loại, thu gom đúng chất thải nguy hại không lây nhiễm tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
2 Có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử
Bảng 8: Tỷ lệ dụng cụ phân loại, thu gom đúng chất thải y tế thông thường tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
Trang 62 Có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử
4 Có biểu tượng chất thải thông thường? 332/332 100
Bảng 9: Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển CTRYT
- Có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng +
- Có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng +
4 Thùng thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm 08
- Có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng +
5 Thùng thu gom chất thải y tế thông thường được phép tái chế 10
- Có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng +
Bảng 10: Thực trạng lưu giữ chất thải tại khu vực lưu giữ chất thải
- Có mái che, nền đảm bảo không bị lụt + - +
- Có cửa khóa, đảm bảo không có động vật
2 Khu vực lưu giữ chất thải nguy hại không
- Có mái che, nền đảm bảo không bị lụt + - +
Trang 7- Có cửa khóa, đảm bảo không có động vật
3 Khu vực lưu giữ chất thải y tế thông thường - + +
4 Khu vực lưu giữ chất thải y tế thông thường
- Có mái che, nền đảm bảo không bị lụt + - +
- Có cửa khóa, đảm bảo không có động vật
Bảng 11: Tần suất vệ sinh thùng thu gom chất thải tập trung
Stt Nội dung khảo sát Hàng ngày Hàng tuần Hàng tháng Quy định
1 Thùng đựng chất thải lây
2 Thùng đựng chất thải
3 Thùng đựng chất thải
nguy hại không lây
nhiễm
4 Thùng đựng chất thải y
tế thông thường được
phép tái chế
V THẢO LUẬN
1 Thực trạng phát sinh CTRYT của bệnh viện
Lượng chất thải y tế phát sinh của Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang trung bình khoảng 1.468,9 kg/ngày tương ứng 1,2588 kg/GB/ngày Trong đó, lượng chất thải sinh hoạt chiếm 83,3%, chất thải rắn y tế nguy hại chiếm 16,7%
Theo nghiên cứu điều tra của Cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế năm 2009 – 2010, tổng lượng CTRYT trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có
16-30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại, lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ ngày, trong
đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày Như vậy, lượng chất thải rắn y tế trung bình của bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang ở là 1,2588 kg/giường/ ngày là ở mức cao, do phần lớn bệnh viện tiếp nhận khám và điều trị cho người bệnh ở địa phương và ở tuyến huyện chuyển đến Tuy nhiên lượng CTRYT nguy hại của bệnh viện ở mức trung bình đạt 0,2168 kg/giường/ngày
Trang 8Qua kết quả khảo sát trên cho thấy, bệnh viện đã thực hiện tốt công tác quản lý chất thải y tế, chất thải được phân loại tại nguồn và riêng biệt từng loại chất thải theo quy định Mặt khác, bệnh viện thực hiện đổi mới trong điều trị, đầu tư trang thiết bị hiện đại ( như chụp X-Quang kỹ thuật số,…) và lập quy trình mua sắm dược phẩm, vật
tư y tế hạn chế việc mua sắm hàng hóa cận date, nên hạn chế việc phát sinh chất thải y
tế nguy hại Tuy nhiên, bệnh viện vẫn còn sử dụng nhiệt kế thủy ngân, loại chất thải nguy hại không tìm được chủ xử lý chất thải nguy hại ( CTNH) trên địa bàn tỉnh
2 Thực trạng phân loại và thu gom chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh viện
Việc xác định được nguồn phát sinh CTRYT có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý chất thải y tế bệnh viện, đòi hỏi cần phải có chuyên môn, cơ cấu tổ chức, mạng lưới thành viên quản lý từ các khoa/phòng của bệnh viện và đầy đủ các phương tiện phân loại, thu gom phải đạt yêu cầu về số lượng, chất lượng, về màu sắc
và biểu tượng Bên cạnh đó, các hình thức để hướng dẫn việc phân loại chất thải y tế trong bệnh viện cũng là một yếu tố rất quan trọng như: bảng hướng dẫn phân loại chất thải y tế phải được dán tại vị trí đặt thùng đựng chất thải, các poster truyền thông có nội dung về phân loại chất thải y tế được đặt nơi dễ đọc, dễ nhìn thấy
Qua kết quả khảo sát trên cho thấy, thực trạng phân loại, thu gom đúng CTRYT tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang đạt tỷ lệ cao cụ thể : 100% khoa phân loại đúng CTRYT, phân loại riêng biệt theo từng loại chất thải và thu gom chất thải đúng thời gian quy định và không làm rơi vãi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom, có 95,2% khoa thu gom riêng chất thải thông thường và chất thải lây nhiễm, thu gom các túi chất thải theo các thùng tương ứng theo qui định Tuy nhiên, còn thu gom chung chất thải thông thường và chất thải lây nhiễm, thu gom túi chất thải thông thường vào thùng đựng chất thải tái chế, nhưng ở tỷ lệ thấp 4,8%, và tất cả các túi thu gom chất thải chưa có biểu tượng đúng quy định Do các túi thu gom chất thải của bệnh viện được công ty vệ sinh cung cấp, nên có thể công ty chưa cập nhật đầy đủ nội dung trong các quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế Hướng sắp tới, bệnh viện sẽ lập kế hoạch và triển khai hướng dẫn bổ sung quy định về quản lý chất thải y tế theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT
3 Thực trạng dụng cụ phân loại, thu gom và lưu chứa chất thải rắn y tế nguy hại của Bệnh viện
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang di dời vào cơ sở mới và hoạt động đến nay khoảng 02 năm Do cơ sở hoàn toàn mới và với diện tích lớn, số lượng phương tiện phục vụ cho công tác quản lý chất thải y tế cũng được trang bị đủ và đảm bảo về chất lượng tuy nhiên còn chưa đúng về màu sắc theo qui định
Trang 9Kết quả khao sát đối với dụng cụ phân loại, thu gom trên xe tiêm các khoa lâm sàng: có 93,6 % có thùng màu vàng đựng chất thải y tế và 75,6% có biểu tượng chất thải lây nhiễm đúng qui định Có 88,5% có thùng màu xanh đựng chất thải y tế thông thường và 98,7% có biểu tượng chất thải thông thường đúng qui định Có 0% thùng màu trắng đựng chất thải tái chế và có 48,7% có dán biểu tượng chất thải tái chế Có 98,7% có bảng hướng dẫn phân loại chất thải y tế trên xe tiêm, đặt ở vị trí dễ đọc, dễ nhìn thấy Nhưng một phần do xe tiêm có kích cỡ không lớn, nên việc trang bị đầy đủ các thùng đựng chất thải đúng quy cách cũng còn hạn chế nên dẫn đến việc sử dụng chưa thống nhất, còn sử dụng các dụng cụ như: thùng giấy, túi, để đựng chất thải y tế thông thường được phép tái chế và sử dụng sọt có lót túi để dựng chất thải y tế thông thường và chất thải lây nhiễm
Đối với dụng cụ phân loại, thu gom chất thải lây nhiễm tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng ( khảo sát đối với thùng loại 15 lít, 20 lít): có 6,3% thùng có màu vàng và
có 82,8% thùng đựng chất thải là loại đạp chân, 96,9% thùng có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng và 92,2% có biểu tượng chất thải lây nhiễm đúng quy định Điều này chứng tỏ, vẫn chưa sử dụng thống nhất về màu sắc đối với dụng cụ phân loại chất thải lây nhiễm theo qui định, sẽ dễ nhằm lẫn khi phân loại với chất thải y tế thông thường Còn đối với dụng cụ phân loại, thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm:
có 85,7% thùng có đạp chân, 100% có biểu tượng chất thải nguy hại và thùng có đóng,
mở thuận tiện trong quá trình sử dụng Tuy nhiên tất cả các dụng cụ trên không có màu đen theo qui định
Tỷ lệ dụng cụ thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn: hầu hết các khoa có phát sinh loại chất thải này đều được phân loại tại nguồn, tuy nhiên dụng cụ phân loại chất thải này chưa sử dụng loại chuyện dụng, chỉ chiếm 6% có hộp đựng chuyên dụng và có tới 94% tái sử dụng dụng cụ thùng lọc thận nhân tạo, có 0% có màu vàng, nhưng vẫn đảm bảo thùng có thành, đáy cứng, không bị xuyên thủng đạt 100%
Còn lại là dụng cụ phân loại, thu gom chất thải y tế thông thường: tất cả dụng cụ phân loại chất thải y tế thông thường là sử dụng thùng đạp chân loại 15 lít, 20 lít Có 100% là thùng đạp chân, có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng và có 100% có biểu tượng chất thải thông thường Nhưng tất cả dụng cụ này không có màu xanh đúng qui định
4 Thực trạng phương tiện thu gom, vận chuyển CTRYT
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang luôn chú trọng trang bị các phương tiện phục vụ cho công tác quản lý chất thải Nhưng các dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho công tác thu gom chất thải y tế của bệnh viện còn chưa đúng mục đích sử dụng
Trang 10Kết quả khảo sát cho thấy, về số lượng có tổng số 91 thùng thu gom chất thải y
tế thông thường đúng quy cách: có màu xanh, có biểu tượng chất thải thông thường, có nắp đóng, mở thuân tiện trong quá trình sử dụng, có 30 thùng thu gom chất thải lây nhiễm đúng quy cách: có màu vàng, có biểu tượng chất thải lây nhiễm, có nắp đóng,
mở thuận tiện trong quá trình sử dụng (trong đó Công ty Môi trường Đô thị An Giang
hỗ trợ 08 thùng đặt tại kho lưu giữ chất thải lây nhiễm) và có 08 thùng thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm đúng quy cách: có màu đen, có biểu tượng chất thải nguy hại, có nắp đóng, mở thuân tiện trong quá trình sử dụng Mặc dù đảm bảo về số lượng, nhưng vẫn còn một số thùng đựng chất thải thông thường bị vỡ, gây rò rỉ chất thải và cũng đã khắc phục ngay bằng cách vệ sinh sạch sẽ khu vực bị rò rỉ chất thải, lau khử khuẩn Thùng đựng chất thải được vệ sinh hàng ngày đối với chất thải y tế thông thường và chất thải lây nhiễm, hàng tuần đối với chất thải y tế thông thường và hàng tháng đối với chất thải nguy hại không lây nhiễm
Bên cạnh đó, bệnh viện còn thiếu xe vận chuyển chất thải, mà sử dụng các thùng đựng thu gom chất thải vừa thu gom vừa vận chuyển Do bệnh viện là tòa nhà có nhiều tầng, nên việc sử dụng xe vận chuyển gặp nhiều khó khăn, một phần do xe vận chuyển
có kích thước lớn so với thang máy vận chuyển chất thải, nên không sử dụng được Do
đó, bệnh viện sử dụng tạm thùng thu gom chất thải để vận chuyển và đang đền xuất giải pháp vận chuyển thích hợp hơn
5 Thực trạng lưu giữ, xử lý chất thải rắn y tế
- Thực trạng lưu giữ:
Chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom, phân loại và vận chuyển về khu tập trung của Bệnh viện Khu tập kết chất thải được bố riêng biệt được xây dựng đảm bảo các điều kiện theo hướng dẫn tại Điều 8, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường được lưu giữ riêng, tuy nhiên bệnh viện chưa có kho lưu giữ chất thải y tế thông thường, còn tập kết ngoài trời, nhưng vẫn đảm bảo không không rò rỉ chất thải bên ngoài môi trường, do bệnh viện chuyển giao chất thải y tế thông thường hàng ngày cho Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị An Giang thu gom
- Thực trạng xử lý:
Hàng ngày, Bệnh viện thải ra một lượng khá lớn chất thải y tế, trong đó chất thải
y tế thông thường chiếm tỉ lệ cao hơn so với chất thải y tế nguy hại Thực hiện theo tinh thần xử lý chất thải rắn y tế theo hình thức tập trung trên địa bàn tỉnh, bệnh viện chuyển giao toàn bộ số lượng chất thải y tế phát sinh tại bệnh viện cho đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển và xử lý