Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nằm viện tại Khoa Hồi sức BVĐKTT An Giang thông qua chỉ số Body Mass Index (BMI); và đánh giá mối tương quan giữa SDD và kết quả điều trị, từ đó có thể giúp các bác sĩ điều trị tốt hơn.
Trang 1KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA
HỒI SỨC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG TÂM AN AGIANG
Trần Thị Đào, Nguyễn Văn Tuấn, Trần Thị Bé Thì
Tóm tắt
Cơ Sở: Suy dinh dưỡng và thừa cân đều ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của mọi người nói
chung và bệnh nhân nói riêng Suy dinh dưỡng làm kéo dài thời gian nằm viện, giảm sức đề kháng và tăng nguy cơ mắc các biến chứng Vì vậy việc tầm soát, đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nằm viện tại Khoa Hồi sức BVĐKTT An Giang thông qua chỉ số Body Mass Index (BMI); và đánh giá mối tương quan giữa SDD và kết quả điều trị, từ đó có thể giúp các bác sĩ điều trị tốt hơn
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 410 bệnh nhân đang
điều trị nội trú tại khoa Hồi sức tích cực, đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng chỉ số BMI và sử dụng kết quả lâm sàng và cận lâm sang để tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ
Kết quả: Đánh giá theo BMI tỷ lệ bệnh nhân bị suy dinh dưỡng là 36,6% Một số yếu tố nguy
cơ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân bao gồm: tuổi cao (mẫu tuổi ≥ 60 có nguy cơ dinh dưỡng cao hơn so với mẫu tuổi < 60 (p<0,001), có nhiều bệnh đồng mắc thì có nguy cơ suy dinh dưỡng và
tỷ lệ tử vong cao
Kết luận: Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ dinh dưỡng tại khoa Hồi sức là 36,6% Bệnh nhân lớn
tuổi, có nhiều bệnh đồng mắc có nguy cơ suy dinh dưỡng và tỷ lệ tử vong cao hơn những bệnh không có suy dinh dưỡng Cần tiến hành sàng lọc dinh dưỡng cho tất cả bệnh nhân nhập viện, chú ý những bệnh nhân có nguy cơ cao để có kế hoạch chăm sóc hợp lý
Abstracts
Background: Undernutrition and overnutrition affect human health in general and the health
of patients in particular Malnutrition prolongs hospital stay, reduces resistance and increases the risk of complications Therefore, screening and evaluating the nutrition status of patients is important in the treatment process
Objectives: 1 To screen and assess the nutritional status of in patients at the ICU An Giang
Hospital; 2 To find out some factors related to the patient’s nutritional status
Method: A cross-sectional study was carried out on 410 patients Body Mass Index (BMI) was
used for assessing nutritional status and clinical and paraclinical signs was used to understand some of the risk factors
Results: Assessment of nutritional status by using BMI showed that 36,6% of inpatients was
undernutrition Some risk factors for undernutrition of inpatients were old age (≥ 60 group was higher than <60 (p <0.001); The patients had comorbidities will increase undernutrition and mortality rate
Conclusions: Undernutrition rate in ICU was 36,6% The older, comorbidities patients were
increase undernutrition and mortality rate All inpatients should be screened for nutritional status for better treatment
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay mặc dù có nhiều tiến bộ về các kiến thức y học nhưng vấn đề dinh dưỡng trong lâm sàng vẫn chưa được quan tâm đúng mức Không chỉ suy dinh dưỡng phổ biến, mà béo phì
và các bệnh liên quan với béo phì cũng tăng nhanh và không được chú ý trên các bệnh nhân điều trị nội trú Suy dinh dưỡng làm tăng thời gian nằm viện, giảm sức đề kháng của cơ thể và tăng nguy cơ mắc các biến chứng Vì vậy cần phải xác định sớm nguy cơ suy dinh dưỡng trên bệnh nhân để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng giúp cải thiện hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ biến chứng và giảm chi phí điều trị [2] Để có được cơ sở khoa học và đưa ra những kiến nghị nhằm
Trang 2dinh dưỡng của bệnh nhân nằm viện tại Khoa Hồi sức Bệnh viện Đa khoa Trung An Giang ”
với hai mục tiêu:
1 Tầm soát, đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực 2.Tìm hiểu một số yếu tố liên quan với tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực thời gian từ tháng 02/2019 đến 09/2019 Nghiên cứu được tiến hành trên 410 bệnh nhân
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang Khảo sát tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân; Đánh giá mối tương quan giữa SDD và kết quả điều trị
- Tiêu chuẩn phân loại dinh dưỡng: suy dinh dưỡng, bình thường và thừa cân béo phì
- Xử lý số liệu: phần mềm SPSS 22.0 Sử dụng các test thống kê mô tả và test χ2để xác định các yếu tố liên quan Giá trị p<0,05 được chọn để tìm ra mức ý nghĩa thống kê
3 KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Có tất cả 410 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, tuổi trung bình là 66,84 thấp nhất là 24 tuổi cao và nhất là 104 tuổi Tỷ lệ nữ/nam 47,2%
Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Số ngày điều trị 4,73 ± 3,4 01 20
Tỷ lệ nữ/nam 47,2%
3.2 Tình trạng dinh dưỡng của mẫu nghiên cứu
Biểu đồ 1 Tình trạng dinh dưỡng của mẫu nghiên
SDD Bình thường
Thừa cân
Báo phì
36,6%
38,6%
16,1%
9%
Tình trạng dinh dưỡng
Trang 33.3 Các bệnh lý của mẫu NC
Bảng 2: Các bệnh lý của mẫu NC
Nhận xét: Đứng đầu là mẫu hô hấp kế đến là tim mạch tiêu hóa, TBMMN…
3.4 Các yếu tố liên quan đến kết cục điều trị
Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến kết cục điều trị
Nhận xét: Bệnh nhân lớn tuổi và SDD có tỷ lệ tử vong cao hơn có ý nghĩa thống kê
4 BÀN LUẬN
Qua nghiên cứu 410 bệnh nhân đang điều trị tại khoa Hồi sức theo phương pháp BMI cho kết quả tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) là 36,6% Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Estela Iraci Rabito và cộng sự ở Brazin với tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng là 29,3% [10], kết quả của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Seung Wan Ryu và c.s (2010) trên 80 bệnh nhân đã phẫu thuật ung thư dạ dày 6 tháng, kết quả cho thấy có 43% bệnh nhân có nguy cơ dinh dưỡng [13] Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Phạm Thu Hương trên bệnh nhân nhập viện khoa nội tiết và tiêu hóa tại Bệnh viện Bạch Mai là 56% [2] Kết quả cao hơn so với nghiên cứu của Phùng Trọng Nghị và cs trên 414 bệnh nhân ung thư vào điều trị lần đầu tại Trung tâm Ung bướu và Y học Hạt nhân - Bệnh viện Quân y 103 năm 2014 (25,6%) [5] Mẫu tuổi ≥ 60 có nguy cơ dinh dưỡng cao gấp 1,9 lần so với mẫu tuổi < 60, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,005) Kết quả này giống với nghiên cứu của M Leon Saiz tại một bệnh viện ở Tây Ban Nha [4] Người già có những thay đổi về chức phận cấu trúc cơ thể như khối cơ bắp giảm, khối xương giảm, nhu cầu năng lượng giảm, thị lực giảm, khả năng nhận thức thay đổi, do đó người già có nguy cơ mắc nhiều bệnh hơn, đó là lý do dẫn đến người già có TTDD kém hơn người trẻ, tương đương với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Huy tại bệnh viện Đa khoa Điện Biện năm 2012 [3]
4 KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 410 bệnh nhân nhập khoa Hồi sức, tỷ lệ bệnh nhân suy dinh dưỡng theo BMI là 36,6% Với những bệnh nhân tuổi ≥ 60, có các bệnh mạn tính đi kèm thường gia tăng tỷ
lệ SDD và tỷ lệ tử vong tại khoa Hồi sức
5 KIẾN NGHỊ
- Bệnh nhân nhập viện cần có tầm soát, đánh giá tình trạng dinh dưỡng sớm để đưa ra những can thiệp dinh dưỡng phù hợp
- Tăng cường công tác hỗ trợ, tư vấn về dinh dưỡng cho bệnh nhân đang điều trị nội trú, đặc biệt là những bệnh nhân có nguy cơ cao như người từ 60 tuổi trở lên, có nhiều bệnh mạn tính đi kèm
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tô Thị Hải (2014), “Nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đang điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Tiền Hải năm 2014”, Hội nghị khoa học Dinh dưỡng lâm sàng, Bộ Y tế
2 Phạm Thu Hương và c.s (2006), “Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nhập viện khoa tiêu hóa và nội tiết tại bệnh viện
Bạch Mai”, Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, số 3+4, 2006
3 Nguyễn Đỗ Huy và c.s (2012), “Thực trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2012”,
Tạp chí Y học thực hành(874) Số 6/2013, tr3-6
4 M Leon Saiz et al (2011), Tỷ lệ suy dinh dưỡng trong bệnh viện của bệnh nhân tiểu đường: phân tích phụ của nghiên cứu
PREDyCES ®, Hội Dinh dưỡng và Chuyển hóa lâm sàng Châu Âu
5 Phùng Trọng Nghị, 2014, Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư tại Trung tâm Ung bướu và y học hạt
nhân Bệnh viện Quân y 103, Báo cáo Hội nghị khoa học Điều Dưỡng Bệnh viện Quân Y 103.
6 Sức khỏe đời sống (2017), Ăn chay: thầy thuốc khuyên gì, Website: Báo sức khỏe đời sống , cập nhật ngày 7/08/2017, truy cập ngày 28/09/2017, tại trang web http://suckhoedoisong.vn/an-chay-thay-thuoc-khuyengi-n134884.html
7 Đoàn Duy Tân (2016), Tình trạng dinh dưỡng trước
mổ và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân Khoa Ngoại tiêu hóa bệnh viện Nguyễn Tri Phương năm 2016, Báo cáo tại cuộc
thi sinh viên NCKH Eureka.
8 Trường Đại học Y Hà Nội (2012), Giáo trình Thực hành dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
9 Viện Dinh dưỡng (2012), Báo cáo tóm tắt tổng điều tra dinh dưỡng 2009 – 2010.
10 Estela Iraci Rabito et al (2017), Nutritional Risk Screening 2002, Short Nutritional Assessment Questionnaire, Malnutrition Screening Tool, and Malnutrition Universal Screening Tool Are Good Predictors of Nutrition Risk in an
Emergency Service, Nutrition in Clinical Practice, 32(4), pp 526 – 532.
11 Gariballa (2009), Effects of smoking on nutrition status and response to dietary supplements during acute illness, Nutrin,
Clin Pract, 24(1), 84 – 90
12 J.M Bauer et al (2005), Comparison of the Mini Nutritional Assessment, Subjective Global Assessment, and Nutritional Risk Screening (NRS2002) for nutritional screening and assessment in geriatric hospital patients, 38 (5), pp 322 – 327.
13 Seung Wan Ryu et al (2010), “Comparison of different nutritional assessments in detecting malnutrition among gastric
cancer patients”, World Journal of Gasreoenterology, pp 3310-3317.