1. Trang chủ
  2. » Đề thi

Cong doan trong viec nang cao y thuc chinh tri cua giaicap cong nhan o nuoc ta hien nay

114 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công đoàn trong việc nâng cao ý thức chính trị của giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay
Trường học Trường Đại Học XYZ
Chuyên ngành Công đoàn
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 87,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

C¸c gi¶i ph¸p ®Ó ph¸t huy vai trß cña C«ng ®oµn trong viÖc n©ng cao ý thøc chÝnh trÞ cña giai cÊp c«ng nh©n nªu trªn lµ mét chØnh thÓ thèng nhÊt, cã quan hÖ biÖn chøng víi nhau.. v¬n lªn[r]

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn củaGCCN, của ngời lao động Công đoàn có vai trò quan trọng trong việc tậphợp, đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng GCCN Vai trò này của Công

đoàn Việt Nam đã đợc Hiến pháp Nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và Luật Công đoàn khẳng định

Từ khi ra đời, qua các chặng đờng lịch sử gian khổ và vinh quangcủa đất nớc, Công đoàn Việt Nam đã trởng thành nhanh chóng, thể hiện rõvai trò của mình, đặc biệt trong việc tuyên truyền giáo dục, giác ngộ ý thứcchính trị cho GCCN, để GCCN thấy rõ và từng bớc hoàn thành SMLS củamình Công đoàn Việt Nam đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi của cáchmạng nớc ta, đã xứng đáng với niềm tin của Đảng, là chỗ dựa vững chắccủa Nhà nớc và là trờng học CNCS của GCCN

Ngày nay, thế giới đang có những biến đổi lớn lao và đầy phức tạp.Cách mạng khoa học và công nghệ có bớc tiến nhảy vọt thúc đẩy mọi mặt

đời sống xã hội Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trìnhphát triển lực lợng sản xuất Toàn cầu hóa là xu thế khách quan, lôi cuốnngày càng nhiều nớc tham gia Trong khi đó thì CNXH ở Liên Xô và Đông

Âu sụp đổ, CNTB hiện đại lại đang nắm u thế về nhiều mặt Thế giới đangchứa đựng nhiều mâu thuẫn vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa cóhợp tác vừa có đấu tranh Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tụcdiễn ra gay gắt Những vấn đề toàn cầu đang đặt ra trách nhiệm nặng nề chonhân loại: bảo vệ môi trờng, hạn chế sự bùng nổ dân số, đẩy lùi dịch bệnhhiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế

Đất nớc sau nhiều năm đổi mới đã có những thành tựu to lớn và rấtquan trọng làm cho thế và lực của chúng ta lớn mạnh lên nhiều Thế nhng,

Trang 2

vẫn còn nhiều yếu kém và khuyết điểm: kinh tế phát triển cha vững chắc,một số vấn đề văn hóa - xã hội bức xúc cha đợc giải quyết, cơ chế và chínhsách không đồng bộ, tham nhũng, suy thoái về t tởng, chính trị, đạo đức, lốisống ở một số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng

Đất nớc vẫn phải đối mặt với bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng chỉ ra là: tụthậu xa hơn về kinh tế, chệch hớng XHCN, tham nhũng và quan liêu, "diễnbiến hòa bình"

Tất cả những vấn đề trên của quốc tế và dân tộc đã tác động trựctiếp theo hớng cả tích cực lẫn tiêu cực đến t tởng, nhận thức của công nhânnớc ta Đảng ta, trong Nghị quyết Trung ơng 7 (khóa VII) đã lu ý có "một

bộ phận công nhân cha nhận thức đợc vai trò và nhiệm vụ của giai cấpmình, thiếu tính tiền phong cách mạng" [6, tr 68] Vì vậy, sự nghiệp CNH,HĐH đất nớc, nh Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh, đang đòi hỏi GCCNViệt Nam - lực lợng đi đầu trong sự nghiệp ấy, phải đợc " coi trọng pháttriển về số lợng và chất lợng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình

độ học vấn và nghề nghiệp " [9, tr 124]

Công đoàn Việt Nam với t cách là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớncủa GCCN đã góp phần to lớn vào xây dựng GCCN nớc ta phát triển toàndiện Công đoàn Việt Nam thực sự đã là hình ảnh đẹp đẽ, là niềm tin yêu và

hy vọng của GCCN Việt Nam Tuy thế, trớc yêu cầu mới của sự nghiệpcách mạng nớc ta, hoạt động của Công đoàn, trong đó có nhiệm vụ nângcao ý thức chính trị của GCCN, còn nhiều bất cập

Vì vậy, đề tài " Cụng đoàn trong việc nõng cao ý thức chớnh trị của giai cấp cụng nhõn ở nước ta hiện nay " mang tính cấp bách và thiết

thực

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trớc yêu cầu của thực tiễn xây dựng GCCN vững mạnh về mọi mặt,xứng đáng là lực lợng đi đầu trong công cuộc đổi mới đất nớc theo định h-

Trang 3

ớng XHCN, xuất phát từ tầm quan trọng của việc nâng cao vai trò của Công

đoàn để đáp ứng đòi hỏi của thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đấtnớc, nhiều nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam đã tập trung nghiên cứu vềGCCN và Công đoàn Có thể liệt kê một số tác giả, tác phẩm mới đợc công bố

những năm gần đây nh: "Giai cấp công nhân Việt Nam mấy vấn đề lý luận

và thực tiễn " của Bùi Đình Bôn, Nxb Lao động, 4-1996; "Một số vấn đề về giai cấp công nhân và lao động Việt Nam" của Văn Tạo, Nxb Chính trị

quốc gia, 4-1997; "Đảng Cộng sản Việt Nam với giai cấp công nhân và Công

đoàn Việt Nam", Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam - Ban T tởng - văn

hóa, Nxb Lao động, Hà Nội, 2000; "Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam

trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc", Tổng Liên đoàn Lao

động Việt Nam - Viện Công nhân và Công đoàn, Nxb Lao động, Hà Nội,1999

Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu về GCCN và lao động trên

các tạp chí, các báo nh: "Giai cấp công nhân phát huy truyền thống vẻ vang

đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc" của Lê Khả

Phiêu, Báo Nhân Dân, 1998, ngày 6 tháng 11; "Xây dựng giai cấp công

nhân Việt Nam đáp ứng yêu cầu mới của lịch sử" của Nguyễn Viết Vợng,

Báo Nhân Dân, 1998, ngày 1 tháng 11; "Vấn đề xây dựng giai cấp công

nhân vững mạnh trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của nớc ta" của

Hoàng Chí Bảo, Tạp chí Khoa học Chính trị, 1998, số 1; "Giai cấp công

nhân Việt Nam tự nhận thức về giai cấp mình trong thời đại mới" của Văn

Tạo, Tạp chí Lao động và Công đoàn, tháng 1 năm 2000; "Công đoàn Việt

Nam với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng" của Cù Thị Hậu, Tạp

chí Cộng sản, tháng 4 năm 2000; "Mấy suy nghĩ về công tác đào tạo, quy

hoạch cán bộ Công đoàn hiện nay" của Lê Phan Ngọc Rỉ, Tạp chí Lao

động và Công đoàn, ngày 2 tháng 8 năm 1999

Các công trình và bài viết nêu trên phần lớn tập trung phân tích vàkhẳng định những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về SMLS của

Trang 4

GCCN, đồng thời đặt nó trong những điều kiện lịch sử cụ thể Về Công

đoàn, các công trình, bài viết đó cũng chỉ đề cập đến mối quan hệ giữa

Đảng và Công đoàn, những giải pháp để nâng cao vai trò của Công đoàn nói

chung Vấn đề "Công đoàn trong việc nâng cao ý thức chính trị của giai

cấp công nhân" cha trình bày một cách cơ bản và có hệ thống trong bất kỳ

một công trình khoa học nào, nếu có chỉ đợc trình bày lớt qua, đề cập đến

một biểu hiện nào đó của vấn đề Vì vậy, đề tài "Công đoàn trong việc nâng

cao ý thức chính trị của giai cấp công nhân ở nớc ta hiện nay" không trùng

lặp với các công trình, bài viết đã đợc công bố

Trong đề tài này, tác giả đã kế thừa có chọn lọc các kết quả củanhững công trình có trớc, tiếp tục bổ sung, phát triển hơn nữa, góp phần làmsáng tỏ vấn đề Tác giả cũng hy vọng rằng có thể vận dụng đợc những kếtquả nghiên cứu vào hoạt động thực tiễn để tổ chức Công đoàn đạt đợc hiệuquả tốt hơn trong việc nâng cao ý thức chính trị cho GCCN để GCCN xứng

đáng là giai cấp lãnh đạo quá trình CNH, HĐN đất nớc

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn

Một là: Làm rõ khái niệm "ý thức chính trị", những biểu hiện của ý

thức chính trị của GCCN Việt Nam và sự cần thiết phải nâng cao ý thứcchính trị của GCCN trong giai đoạn hiện nay

Trang 5

Hai là: Phân tích vai trò quan trọng của Công đoàn trong việc nâng

cao ý thức chính trị của GCCN Việt Nam Qua đó, đánh giá đúng nhữngthành tựu và hạn chế của việc thực hiện vai trò này trong thời gian vừa qua

Ba là: Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Công

đoàn trong việc nâng cao ý thức chính trị của GCCN nớc ta để GCCN thực

sự trở thành giai cấp tiên tiến của xã hội, là giai cấp đi đầu trong sự nghiệpCNH, HĐN của đất nớc, thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn bàn đến vai trò của Công đoàn Việt Nam, nhng chủ yếu ởcác hoạt động tác động đến ý thức chính trị của GCCN Cũng nh vậy, luậnvăn đề cập đến GCCN Việt Nam, nhng tập trung chính vào các biểu hiệncủa ý thức chính trị của giai cấp này

Bối cảnh thực tiễn của các vấn đề đợc nêu ở luận văn chỉ chủ yếugiới hạn trong giai đoạn đổi mới đất nớc hiện nay

5 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩaMác - Lênin, phơng pháp kết hợp lôgic và lịch sử, phơng pháp phân tích vàtổng hợp, phơng pháp so sánh và điều tra xã hội học trong việc nghiên cứu

để thực hiện đợc nhiệm vụ và đạt đợc mục đích mà luận văn đề ra

6 Những đóng góp mới của luận văn

Quan niệm về ý thức chính trị của GCCN thông qua việc chỉ ranhững biểu hiện cơ bản của nó trong điều kiện hiện nay ở nớc ta

Trình bày một cách có hệ thống những giải pháp để Công đoàn pháthuy vai trò quan trọng của mình trong việc nâng cao ý thức chính trị choGCCN nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới

Trang 6

7 KÕt cÊu cña luËn v¨n

Ngoµi phÇn Më ®Çu, KÕt luËn, Danh môc c¸c tµi liÖu tham kh¶o,

luËn v¨n gåm 3 ch¬ng, 7 tiÕt

Trang 7

Chơng 1

ý thức chính trị và sự cần thiết phải nâng cao

ý thức chính trị cho giai cấp công nhân nớc ta

1.1 ý thức chính trị

1.1.1 Quan niệm về ý thức chính trị

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, toàn bộ đời sống xã hộichia thành hai lĩnh vực lớn: vật chất và tinh thần Đó là tồn tại xã hội và ýthức xã hội

ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội Nó bao gồm tìnhcảm, tập quán, truyền thống, quan điểm, t tởng, lý luận.v.v Tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội,phụ thuộc vào tồn tại xã hội Tồn tại xã hội nh thế nào, ý thức xã hội nh thế

ấy Khi tồn tại xã hội biến đổi, thì những t tởng và lý luận xã hội, nhữngquan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn học, nghệthuật sớm muộn cũng biến đổi theo Tuy nhiên, ý thức xã hội cũng có tính

độc lập tơng đối, nó có những t tởng tiến bộ, vợt trớc so với tồn tại xã hội và

nó có tác động trở lại đối với tồn tại xã hội

ý thức xã hội đợc thể hiện dới nhiều hình thái cụ thể nh chính trị,pháp quyền, đạo đức, triết học, nghệ thuật, tôn giáo,khoa học Mỗi hìnhthái ý thức xã hội phản ánh một đối tợng nhất định, một phạm vi nhất địnhcủa tồn tại xã hội nhng giữa chúng có mối liên hệ với nhau ở mỗi thời đại,tùy theo những hoàn cảnh lịch sử xã hội cụ thể mà thờng có những hình thái

ý thức nào đó nổi lên hàng đầu, ở chúng biểu hiện tập trung ý thức của thời

đại đó và tác động mạnh đến các hình thái ý thức khác Tuy nhiên, trongtính tổng thể của ý thức xã hội, thì ý thức chính trị có tầm quan trọng Nóquyết định đến xu hớng và bản chất của các hình thái ý thức xã hội khác.Vậy, ý thức chính trị là gì?

Trang 8

Để hiểu ý thức chính trị, cần bắt đầu từ việc nghiên cứu khái niệmchính trị và ý thức Chính trị theo nguyên nghĩa của nó, là những công việcnhà nớc hay công việc xã hội liên quan với Nhà nớc, là phạm vi hoạt độnggắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạtnhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nớc.

Theo Lênin, cái quan trọng nhất trong chính trị là "Tổ chức chínhquyền nhà nớc", chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các cộng đồngxã hội về vấn đề nhà nớc; là sự tham gia của nhân dân vào các công việcnhà nớc; là tổng hợp những phơng hớng, những mục tiêu đợc quy định bởilợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạt động thực tiễn của cácgiai cấp, các đảng phái, các Nhà nớc để thực hiện đờng lối đã đợc lựa chọnnhằm đạt đợc những mục tiêu đã đặt ra

ý thức là sự phản ánh thế giới xung quanh vào bộ não của con ngời,

là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Sự phản ánh ý thức là hình

ảnh chủ quan vì nó không có tính vật chất, nó là hình ảnh tinh thần, nó cảibiến cái vật chất đợc di truyền vào trong bộ não của con ngời thành cái tinhthần ở đây không phải sự phản ánh tùy tiện, xuyên tạc hiện thực kháchquan và cũng không phải là sự phản ánh thụ động giản đơn mà là sự phản

ánh sáng tạo hiện thực khách quan

Từ khái niệm về chính trị và ý thức, có thể nhận thấy rằng ý thứcchính trị chính là sự hiểu biết, sự quan tâm đến những vấn đề chính trị Cụthể hơn, ý thức chính trị là sự phản ánh các quan hệ kinh tế - xã hội, phản

ánh những lợi ích cơ bản và địa vị của các giai cấp và mối quan hệ giữa cácgiai cấp đó trong việc giành hoặc duy trì quyền điều hành nhà nớc TheoLênin, ý thức chính trị bao gồm:

"Những mối quan hệ giữa tất cả các giai cấp, các tầng lớp với Nhànớc và Chính phủ, lĩnh vực những mối quan hệ giữa tất cả các giai cấp vớinhau" 21, tr 101

Trang 9

ý thức chính trị rất phong phú nhng cái cốt lõi của nó là những hiểubiết, những nhận thức của một giai cấp về địa vị lịch sử, về đờng lối, chiếnlợc, sách lợc, những nhiệm vụ của giai cấp mình trong sự phát triển của lịchsử.

Theo Lênin, chính trị là tham gia vào các công việc của Nhà nớc,các định hớng của Nhà nớc, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt

động của nhà nớc Vì thế, ý thức chính trị còn là sự nhận thức về Nhà nớc,

về mục tiêu, nhiệm vụ cũng nh con đờng, lực lợng xã hội để thể hiện mụctiêu, nhiệm vụ của Nhà nớc đó và sự tham gia của chủ thể vào hoạt độngcủa Nhà nớc đó

Nhà nớc bao giờ cũng là Nhà nớc của một giai cấp nhất định, bị chiphối trực tiếp của một đảng phái nào đó Bên cạnh những đảng phái cầmquyền là nhiều đảng phái khác nữa (cả đảng đối lập và đảng không đối lập)

đại biểu cho hệ t tởng, cho lợi ích của các giai cấp trong xã hội Mọi quan hệgiữa các đảng phái ấy là chính trị Vì thế ý thức chính trị đồng thời với việcnhìn nhận Nhà nớc, là thái độ đối với hoạt động của các đảng phái

Trung tâm của đời sống chính trị là quyền lực chính trị Quyền lựcchính trị là quyền lực của một giai cấp hay của liên minh giai cấp, tập đoànxã hội, nó nói lên khả năng của một giai cấp thực hiện lợi ích của mình:

"Quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của mộtgiai cấp để trấn áp một giai cấp khác" 29, tr 628 Quyền lực chính trị nóilên thực chất hoạt động chính trị của mọi giai cấp, mọi đảng phái trong xãhội có giai cấp Giai cấp nào, nhóm xã hội nào cũng muốn nắm, muốn chiphối quyền lực chính trị Vì nắm đợc quyền lực chính trị là nắm đợc công

cụ cơ bản, trọng yếu để giải quyết quan hệ lợi ích với các giai cấp khác,nhóm xã hội khác theo hớng có lợi cho giai cấp mình, nhóm mình Do đó, ýthức chính trị còn thể hiện ở sự nhận thức đợc nhu cầu, lợi ích chính trị, haynói cách khác, là sự nhận thức về quyền lực chính trị Đối với mỗi công dân

Trang 10

nói chung thì nhu cầu và lợi ích chính trị thể hiện ở sự nhận thức đợc quyền

và nghĩa vụ công dân

Chính trị xuất hiện khi xã hội phân chia thành giai cấp và mâu thuẫngiữa các giai cấp trở nên gay gắt không thể điều hòa đợc Trong xã hội cógiai cấp, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kết cấu giai cấp nhất

định, trong đó có những giai cấp cơ bản, những giai cấp không cơ bản vànhững tầng lớp xã hội Vì vậy, ý thức chính trị còn thể hiện ở quan điểmgiải quyết mối quan hệ giữa các lợi ích chính trị mà các giai cấp, tầng lớpxã hội đó đang theo đuổi; ở sự liên minh giai cấp, đấu tranh và hợp tác giữacác giai cấp, tầng lớp vì những yêu cầu nhất định

Chính trị thực chất là quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhómxã hội, các quốc gia dân tộc Trong đó, trớc hết và cơ bản là lợi ích kinh tế.Lênin đã cho rằng: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế" Điều đó

có nghĩa là sự hình thành, tồn tại và phát triển của chính trị là trên cơ sởnhững đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế, của thực trạng kinh tế,của sự liên hệ những lợi ích kinh tế cơ bản của các giai cấp, tầng lớp khácnhau Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội thông qua hoạt động chính trị củacác tổ chức chính trị của mình để phản ánh trực tiếp vị trí, lợi ích cơ bản củagiai cấp, tầng lớp mình Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế nên ýthức chính trị cũng gắn trực tiếp với vấn đề kinh tế ý thức chính trị thuộckiến trúc thợng tầng của cơ sở kinh tế xác định, thuộc ý thức xã hội bị quyết

định bởi tồn tại xã hội Tuy nhiên, chính trị và ý thức chính trị không phải làhậu quả tiêu cực của kinh tế mà có sự tác động trở lại đối với kinh tế Nếu

nh không có một đờng lối chính trị đúng đắn thì một giai cấp nhất định nào

đó không thể giữ vững đợc sự thống nhất chính trị của mình và do đó, cũngkhông thể hoàn thành đợc nhiệm vụ kinh tế

ý thức chính trị là một hình thái ý thức xã hội nên nó cũng có haicấp độ chính Đó là cấp độ thực tiễn - đời thờng và cấp độ t tởng - lý luận

Trang 11

ý thức chính trị thực tiễn - đời thờng là biểu hiện của các dạng tâm

lý, cảm xúc, mơ ớc nảy sinh tự phát từ trong hoạt động thực tiễn, kinhnghiệm, xã hội của con ngời, từ môi trờng xung quanh và từ ảnh hởng chínhtrị trực tiếp nào đó ý thức chính trị thực tiễn - đời thờng cha có tính hệthống, không có tầm nhìn lịch sử rộng lớn, không có công thức lý luận,phạm trù triết học Nhng điều đó cũng không có nghĩa là nó tầm thờng, ítgiá trị, mà ngợc lại, nó có nội dung rất phong phú, bao hàm đợc nhiều mặtcủa đời sống chính trị, và ở một mức độ nào đó nó đã phản ánh đợc bảnchất của các vấn đề chính trị So với cấp độ t tởng - lý luận thì ý thức chínhtrị ở cấp độ thực tiễn - đời thờng có điểm mạnh ở chỗ nó gần hơn với hiệnthực trực tiếp của đời sống chính trị, do đó nó có thể phản ánh đầy đủ, toànvẹn hơn những chi tiết của đời sống chính trị Vì vậy, ý thức chính trị thựctiễn - đời thờng là kho tàng để ý thức chính trị có tính lý luận tìm kiếm vàkhái quát thành nội dung của mình

ở cấp độ thứ hai - cấp độ t tởng - lý luận, ý thức chính trị đợc biểuhiện là những t tởng, quan điểm chính trị đã đợc hệ thống hóa thành mộtchỉnh thể mang tính hợp lý, tính khoa học, phản ánh đợc mối liên hệ bảnchất, tất yếu, phổ biến của các hiện tợng trong đời sống chính trị, đợc diễntả dới dạng các khái niệm khoa học và đỉnh cao là các học thuyết chính trị -

hệ t tởng chính trị Hệ t tởng - chính trị là hệ thống những quan điểm t tởngthể hiện lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định, đợc cụ thể hóa trong c-

ơng lĩnh chính trị, trong đờng lối chiến lợc và sách lợc của chính đảng vàluật pháp, chính sách của Nhà nớc Hệ t tởng chính trị không tách rời tổchức và cơ quan chính trị, thông qua các tổ chức và cơ quan đó mà một giaicấp nhất định tiến hành cuộc đấu tranh cho lợi ích giai cấp

Hệ t tởng chính trị của giai cấp nắm chính quyền có vai trò rất to lớntrong đời sống xã hội Nó tác động trở lại cơ sở kinh tế thông qua các tổchức nhà nớc, biểu hiện ở chỗ nó thông qua quyền lực nhà nớc để bảo vệ vàphát triển nền tảng kinh tế mà giai cấp cầm quyền là ngời đại diện cho quan

Trang 12

hệ sản xuất chiếm địa vị thống trị trong xã hội đó Hệ t tởng chính trị còngiữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội nói chung Thôngqua tổ chức nhà nớc sẽ xác lập vị trí chi phối của hệ t tởng - chính trị củagiai cấp cầm quyền trong văn hóa, nếp sống và mọi lĩnh vực tinh thần của

đời sống xã hội Bằng cách đó giai cấp cầm quyền hy vọng hình thành đợc

sự thống nhất về chính trị, t tởng, tinh thần trong xã hội mà hệ t tởng chínhtrị của nó đứng ở vị trí trung tâm, mang tính chi phối

Các hình thái ý thức xã hội đều chịu sự chi phối của ý thức chính trị,phục tùng đờng lối chính trị của giai cấp cầm quyền Hệ t tởng - chính trịcủa một giai cấp có thể là tiến bộ, cách mạng nhng cũng có thể là lạc hậu,phản cách mạng Điều đó tùy thuộc vào vai trò lịch sử của giai cấp đó quyết

định Khi giai cấp đó còn là giai cấp tiến bộ, cách mạng, tiêu biểu cho tiếntrình lịch sử thì hệ t tởng - chính trị của nó là tiến bộ, phản ánh đúng hiệnthực của đời sống chính trị và có tác động tích cực đến sự phát triển của xãhội Khi giai cấp đó trở thành lạc hậu, không còn vai trò lịch sử thì hệ t tởngcủa nó là phản khoa học, phản ánh xuyên tạc, sai lầm các hiện thực trong

đời sống chính trị và nó sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội

ý thức chính trị thực tiễn - đời thờng và ý thức chính trị có tính lýluận có quan hệ biện chứng với nhau vì chúng đều là sự phản ánh hiện thực

đời sống chính trị ý thức chính trị thực tiễn - đời thờng, biểu hiện dới dạngtâm lý, tình cảm giai cấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu hệ t t-ởng chính trị của giai cấp, ngợc lại hệ t tởng chính trị của giai cấp lại củng

cố, định hớng cho sự phát triển tâm lý, tình cảm giai cấp Vì mối quan hệ

đó mà trong hoạt động thực tiễn giáo dục ý thức chính trị cho mỗi cá nhân,cộng đồng cần khuyến khích, nuôi dỡng, giáo dục cả ý thức chính trị thựctiễn - đời thờng và cả ý thức chính trị có tính lý luận

Nh vậy, phân loại theo trình độ phát triển của ý thức chính trị thì cóhai cấp độ: Cấp độ thực tiễn - đời thờng và cấp độ t tởng - lý luận Ngoài ra

ý thức chính trị còn đợc phân theo chủ thể Theo cách này ý thức chính trị

Trang 13

gồm ý thức chính trị cộng đồng (xã hội, nhóm xã hội, giai cấp, tầng lớpv,v ) và ý thức chính trị cá nhân.

ý thức chính trị cộng đồng là ý thức chính trị nảy sinh từ nhu cầu,lợi ích chính trị của cả cộng đồng xã hội hoặc của một nhóm xã hội, mộtgiai cấp, một tầng lớp nào đó trong cộng đồng Đó là chuẩn mực giá trịchung về nhu cầu, lợi ích chính trị đợc cả cộng đồng chấp nhận

ý thức chính trị cá nhân là sự đánh giá, thái độ, sự hiểu biết củatừng cá nhân về những vấn đề hiện thực của đời sống chính trị Vì vậy, ýthức chính trị cá nhân rất đa dạng, phong phú và mang đậm màu sắc chủquan Một vấn đề hiện thực của đời sống chính trị có thể đợc nhìn nhận dớinhững lăng kính khác nhau Cho nên, trong thực tiễn giáo dục ý thức chínhtrị cho mỗi cá nhân cần khuyến khích tính tích cực sáng tạo đồng thời phải

có sự định hớng để tránh những nhận thức không đúng dẫn đến những hậuquả tiêu cực

ý thức chính trị cộng đồng và ý thức chính trị cá nhân có quan hệchặt chẽ với nhau ý thức chính trị cộng đồng cũng là ý thức chính trịcủa một xã hội, của một nhóm ngời, một tập đoàn ngời Vì vậy nó chỉ tồntại, phát triển, thể hiện thông qua ý thức chính trị của mỗi cá nhân Tấtnhiên, ý thức chính trị cộng đồng không phải là phép cộng giản đơn củacác ý thức chính trị cá nhân mà nó là chất mới đ ợc kết tinh từ những tinhhoa của các ý thức chính trị cá nhân, nó đợc cả cộng đồng chấp nhận.Ngợc lại, mỗi cá nhân là một phần tử đơn nhất tạo thành cộng đồng xãhội, đợc hình thành và phát triển trong quan hệ xã hội, mỗi cá nhân đềusống trong một xã hội cụ thể, một giai cấp cụ thể nên ý thức chính trị củacá nhân đều mang nội dung nào đó của ý thức chính trị cộng đồng, đều bịchi phối, bị định hớng bởi ý thức chính trị cộng đồng Tất nhiên, ý thứcchính trị cộng đồng ảnh hởng đến ý thức chính trị cá nhân không nhnhau Mỗi cá nhân có hoàn cảnh kinh tế, nghề nghiệp, môi trờng giáo

Trang 14

dục, kinh nghiệm sống v,v riêng nên lĩnh hội, tiếp thu ý thức chính trịcộng đồng và ảnh hởng đến ý thức chính trị cộng đồng cũng khác nhau.Những cá nhân có tài năng, có trách nhiệm với cộng đồng sẽ có trình độgiác ngộ chính trị cao và có tác động tích cực đến ý thức chính trị cộng

đồng, những cá nhân thoái hóa, biến chất, không giác ngộ đợc ý thứcchính trị cộng đồng sẽ tác động tiêu cực đến ý thức chính trị cộng đồng,thậm chí ý thức chính trị cá nhân có thể mâu thuẫn đi đến đối lập với ýthức chính trị cộng đồng mà họ xuất thân Từ mối quan hệ giữa ý thứcchính trị cộng đồng và ý thức chính trị cá nhân cho thấy có thể biết đ ợc ýthức chính trị của cộng đồng nào đó thông qua việc tìm hiểu một cáchtổng hợp ý thức chính trị của từng thành viên trong cộng đồng và ng ợclại

Việc phân loại ý thức chính trị theo chủ thể đã chỉ rõ nhóm xã hộinào, tầng lớp nào, giai cấp nào trong xã hội cũng có ý thức chính trị Trongxã hội có nhiều nhóm xã hội, nhiều tầng lớp, nhiều giai cấp Mỗi giai cấp,tầng lớp, nhóm xã hội có điều kiện sinh hoạt vật chất riêng, có địa vị và lợiích khác nhau, do đó sẽ có nhiều loại ý thức chính trị khác nhau (có thể đốilập có thể không) nhng không phải ý thức chính trị của nhóm xã hội, tầnglớp, giai cấp nào cũng đã vơn tới có đợc tầm lý luận, hơn nữa có hệ t tởngchính trị Chỉ có những giai cấp có khả năng đại biểu cho một phơng thứcsản xuất mới, và do đó hình thái kinh tế - xã hội mới, mới có thể hình thành

t tởng chính trị một cách có hệ thống, có tính lý luận, tính khoa học dớidạng học thuyết Và tất nhiên, khi ấy, hệ t tởng chính trị của giai cấp này sẽtrở thành thống trị trong xã hội và ảnh hởng lớn đến sự phát triển của hìnhthái kinh tế - xã hội Tuy nhiên, để có đợc điều đó, trớc hết giai cấp nàyphải có những nhà khoa học để khái quát những t tởng chính trị rời rạc, đờithờng, kinh nghiệm, mang tính tự phát thành lý luận, thành hệ thống, thànhhọc thuyết Sau đó, phải có những nhà hoạt động lý luận chính trị để pháttriển và phổ biến tuyên truyền học thuyết vào giai cấp và xã hội nói chung

Trang 15

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, hệ t tởng chính trị thống trịtrong xã hội bao giờ cũng là hệ t tởng chính trị của giai cấp thống trị vềkinh tế - giai cấp nắm chính quyền ý thức chính trị của các giai cấp bịtrị khác, thờng chịu ảnh hởng hệ t tởng chính trị (ý thức chính trị) củagiai cấp thống trị Tuy nhiên, sự ảnh hởng này chỉ là tơng đối Cùng vớicuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực kinh tế, cuộc đấu tranh giai cấp trênlĩnh vực t tởng cũng diễn ra quyết liệt giữa giai cấp thống trị và giai cấp

bị trị và làm cho hệ t tởng chính trị của giai cấp thống trị bị suy yếu

Trong xã hội không có đối kháng giai cấp - xã hội XHCN, hệ t tởngchính trị của GCCN giữ vị trí thống trị Nhng hệ t tởng chính trị của GCCN

là tiến bộ, cách mạng, nó phản ánh đợc những nhu cầu, lợi ích chính trị cơbản của toàn thể nhân dân lao động nên có vai trò chủ đạo, định hớng đúng

đắn cho ý thức chính trị của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội nhằmmục đích giải quyết tốt những quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớptrong quá trình xây dựng CNXH

Để nghiên cứu ý thức chính trị của một xã hội, một giai cấp, mộttầng lớp, một nhóm xã hội, một cá nhân nào đó cần phải thông qua nhữngquan hệ lớn phản ánh đời sống chính trị Đó là nhận thức về vị trí và vai tròcủa giai cấp mình đối với sự phát triển của xã hội; là thái độ đối với các bộphận cơ bản trong hệ thống chính trị (nhà nớc, đảng phái v,v ); là sự nhìnnhận những nội dung chính trị quan trọng (chế độ, chính thể, đờng lối,chính sách v,v phát triển đất nớc); thái độ đối với các giai cấp, tầng lớp cơbản trong xã hội (bạn đồng minh, kẻ thù) v,v Tùy theo đối tợng tìm hiểu

mà các quan hệ chủ yếu thể hiện ý thức chính trị nêu trên đợc cụ thể hóa vàsắp xếp với những vị trí khác nhau

Vận dụng những vấn đề đã phân tích ở trên để nghiên cứu ý thứcchính trị của GCCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa rất quantrọng, GCCN Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng, nếu không có một

Trang 16

trình độ giác ngộ chính trị nhất định, sẽ không thể hoàn thành đợc sứ mệnh

đó của mình

1.1.2 Biểu hiện ý thức chính trị của GCCN nớc ta

GCCN Việt Nam ra đời vào những năm đầu của thế kỷ XX Tuy ra

đời muộn, nhng do đợc sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấutranh kiên cờng bất khuất chống ngoại xâm, có mối liên hệ mật thiết vớinông dân và các tầng lớp lao động khác trong xã hội và đặc biệt do sớm tiếpthu đợc ánh sáng khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin - hệ ttởng của GCCN quốc tế, nên GCCN nớc ta đã nhanh chóng đảm đơng đợcvai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam Từ khi ra đời cho đến nay, GCCNViệt Nam thông qua Đảng tiền phong của mình đã lãnh đạo nhân dân giành

đợc đợc chính quyền, đem lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc và bớc đầuxây dựng đợc một xã hội mới, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Cóthành quả đó, một phần quan trọng là do GCCN có đợc một trình độ giácngộ chính trị cao Đó là một lòng yêu nớc nồng nàn, ý chí đấu tranh kiên c-ờng bất khuất, là thái độ rõ ràng, dứt khoát đối với thực dân phong kiến, là

sự nhận thức đợc tầm quan trọng của bộ tham mu chiến đấu của mình

-Đảng cộng sản, của kim chỉ nam cho hành động của mình - chủ nghĩa Mác

- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, là sự nhận thức đợc mối quan hệ giữa lợi íchgiai cấp và lợi ích dân tộc, sự nhận thức đợc tầm quan trọng của liên minhvới các giai tầng trong xã hội

Ngày nay, trớc tình hình thế giới và trong nớc có nhiều biến động,

để hoàn thành SMLS của mình, GCCN phải không ngừng nâng cao ý thứcchính trị Tuy nhiên, trong điều kiện mới thì ý thức chính trị của GCCNcũng có những biểu hiện mới Hiện nay, ý thức chính trị của GCCN nớc ta

đợc nhận thấy thông qua những biểu hiện chính sau đây:

Biểu hiện thứ nhất là sự giác ngộ về giai cấp.

Trang 17

Giác ngộ về giai cấp (ý thức về giai cấp) là sự nhận thức về chínhbản thân mình trong mối quan hệ với các giai cấp, tầng lớp khác và với tiếntrình phát triển chung của xã hội Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta,giác ngộ về giai cấp là yếu tố hàng đầu của ý thức chính trị của GCCN Ng-

ời công nhân có hay cha có sự giác ngộ giai cấp, có sự giác ngộ giai cấp caohay thấp lại đợc biểu hiện ở hai vấn đề là:

- Ngời công nhân hiểu về giai cấp mình ra sao? Có SMLS (vai trò)

nh thế nào? Tại sao lại có SMLS ấy? Điều kiện để có thể thực hiện đợc sứmệnh này?

Ngời công nhân cha có sự giác ngộ giai cấp khi không hiểu đợchoặc hiểu sai lệch về những vấn đề nêu trên

Có ý thức chính trị hay ý thức giai cấp khi ngời công nhân biết đợcnhững ý khái quát rằng: GCCN là giai cấp của những ngời lao động trongcông nghiệp hiện đại, tạo ra phần lớn sản phẩm vật chất cho xã hội, cóSMLS là xóa bỏ chế độ TBCN, chế độ ngời áp bức bóc lột ngời, xây dựngchế độ XHCN tiến lên CNCS Sở dĩ GCCN có SMLS ấy là vì GCCN có vaitrò quan trọng trong kinh tế và các mặt phát triển khác của xã hội, có tinhthần cách mạng triệt để, có ý thức tổ chức kỷ luật, có lý luận cách mạng,khoa học dẫn đờng - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh

Để hoàn thành SMLS của mình, GCCN phải có một trình độ giác ngộ chínhtrị nhất định, phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phải xây dựng đợckhối liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Có ý thức chính trị cao, hay ý thức giai cấp cao, khi ngời công nhânnắm đợc những vấn đề nêu trên một cách đầy đủ, có tính lý luận nhất định,

đồng thời liên hệ đợc với thực tiễn và nhất là có niềm tin vào vai trò lịch sửcủa giai cấp mình, tích cực chống lại những quan điểm xuyên tạc, phủ nhậnSMLS ấy

Trang 18

- Ngời công nhân nhận thức nh thế nào về học thuyết Mác - Lênin

Có ý thức chính trị cao là công nhân nhận thức một cách sâu sắchơn những vấn đề nêu trên Về học thuyết Mác - Lênin, ngời công nhân cònhiểu đợc đó là một học thuyết hoàn chỉnh gồm ba bộ phận hợp thành là triếthọc, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học và là vũ khí sắc bén đểnhận thức và cải tạo thế giới Về t tởng Hồ Chí Minh, ngời công nhân có ýthức chính trị cao, không những chỉ hiểu đó là sự phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin trong điều kiện Việt Nam, mà còn biết đợc những nội dung cơ bảntrong t tởng Hồ Chí Minh nh về con đờng cách mạng Việt Nam, về dân tộc

và cách mạng giải phóng dân tộc, về Đảng Cộng sản Từ đó, đặt niềm tintuyệt đối vào chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, có thái độ kiênquyết đấu tranh với những quan điểm sai trái trong việc nhìn nhận, đánh giáchủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh

Biểu hiện thứ hai về ý thức chính trị của GCCN là sự nhận thức về các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Hệ thống chính trị là một phạm trù dùng để chỉ một chỉnh thể các

đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội tồn tại trong khuôn khổ của pháp

Trang 19

luật với một Nhà nớc thuộc giai cấp cầm quyền để tác động vào các quátrình kinh tế - xã hội nhằm duy trì và phát triển chế độ xã hội nhất định nào

đó Vì vậy, sự nhận thức về các tổ chức trong hệ thống chính trị của GCCNnớc ta chính là hiểu biết về Đảng Cộng sản Việt Nam, về Nhà nớc Cộng hòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam, và về các tổ chức chính trị - xã hội, mà trớc hết

là về tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp mình là tổ chức Công đoàn ViệtNam

- Đối với Đảng:

ý thức chính trị kém khi ngời công nhân không có hiểu biết nhất

định về Đảng, xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng, thờ ơ với những hoạt

động của Đảng, không có ý thức phấn đấu để đợc đứng trong hàng ngũ của

Đảng

Ngời công nhân có ý thức chính trị khi nhận thức đợc rằng ĐảngCộng sản Việt Nam là đội tiên phong của GCCN Việt Nam, đại biểu trungthành cho lợi ích của GCCN, nhân dân lao động và của cả dân tộc, vừa là bộphận hợp thành vừa là lực lợng lãnh đạo hệ thống chính trị XHCN Ngờicông nhân thấy đợc tầm quan trọng của vai trò lãnh đạo của Đảng đối với

sự nghiệp đổi mới đất nớc theo định hớng XHCN Ngời công nhân quantâm đến hoạt động của Đảng mà cụ thể là hoạt động của các tổ chức cơ sở

Đảng trong các đơn vị của mình

Ngời công nhân có ý thức chính trị cao, ngoài những hiểu biếttrên,còn phải hiểu đợc mục đích của Đảng là xây dựng nớc Việt Nam độclập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, thực hiện thành côngCNXH và cuối cùng là CNCS; hệ t tởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin

và t tởng Hồ Chí Minh; Đảng là một tổ chức chặt chẽ thống nhất ý chí vàhành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiệntập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình Đặc biệt, ng-

ời công nhân có ý thức chính trị cao phải tuyệt đối tin tởng vào sự lãnh đạocủa Đảng, có ý thức phấn đấu để trở thành đảng viên, xác định động cơ vào

Trang 20

Đảng đúng đắn, có thái độ đúng mức trớc những thiếu sót của Đảng, tíchcực tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, thờng xuyên theo dõi các Đại hộicũng nh các Hội nghị Trung ơng của Đảng

- Đối với Nhà nớc:

Ngời công nhân có ý thức chính trị là nhận thức đợc rằng Nhà nớc

ta là nhà nớc của dân, do dân, vì dân; là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí,quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trớc nhândân, quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội dới sự lãnh đạo của

Đảng cộng sản

Ngời công nhân có ý thức chính trị cao, khi nói đến Nhà nớc, cònphân biệt đợc sự khác nhau về bản chất giữa Nhà nớc XHCN và Nhà nớc tsản Nhà nớc XHCN mang bản chất công nhân, không ngừng mở rộng dânchủ cho nhân dân lao động, còn Nhà nớc t sản là công cụ áp bức và bóc lộtcủa giai cấp t sản đối với nhân dân lao động, nhất là đối với GCCN Từ đó,ngời công nhân có ý thức và trách nhiệm đối với lá phiếu của mình trongviệc chọn lựa những đại biểu xứng đáng vào tổ chức Nhà nớc của mình

Đặc biệt, ngời công nhân có ý thức chính trị cao, còn có thái độ đúng mức

đối với những yếu kém trong hoạt động của bộ máy nhà nớc nh tình trạngtham nhũng, lãng phí, quan liêu Từ đó, có tinh thần đấu tranh chống cáctiêu cực đó để xây dựng một Nhà nớc trong sạch, vững mạnh, một Nhà nớcthực sự của dân, do dân, vì dân, thực hiện đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt

là liên minh công - nông - trí thức dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản ViệtNam

- Đối với Công đoàn:

Trang 21

động khác; tham gia quản lý nhà nớc, quản lý xã hội; tham gia kiểm tra,giám sát hoạt động của cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế nhằm thiết thựcbảo vệ lợi ích trớc mắt và lợi ích lâu dài của công nhân, viên chức, lao

động, của tập thể, của Nhà nớc một cách căn bản, từ gốc và có hiệu quả;giáo dục công nhân, viên chức và những ngời lao động khác nhận thức đầy

đủ về lợi ích cá nhân gắn với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, giáo dục kỷ luậtlao động, giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật, tuyên truyền, giáo dục côngnhân, viên chức, lao động vững tin vào đờng lối chính sách của Đảng, sựnghiệp đổi mới của đất nớc

Ngời công nhân có ý thức chính trị cao, bên cạnh việc nhận thức

đ-ợc những vấn đề trên, còn phải thấy rằng Công đoàn là một thành viên quantrọng trong hệ thống chính trị XHCN, là sợi dây nối liền Đảng với quầnchúng, là ngời cộng tác đắc lực của Nhà nớc; Công đoàn hoạt động dới sựlãnh đạo của Đảng cộng sản; ngời công nhân phải có ý thức tham gia hoạt

động của tổ chức Công đoàn và có ý thức trong việc xây dựng tổ chức Công

Đối với những nội dung của sự nghiệp đổi mới, ngời công nhân có ý

thức chính trị khi nhận thức đợc rằng sự nghiệp đổi mới của chúng ta có nộidung rất rộng lớn, đổi mới toàn diện mà trớc hết là đổi mới t duy trong sựlãnh đạo của Đảng, qua đó mà có sự đổi mới về kinh tế và những mặt kháccủa sự phát triển đất nớc nói chung và của các địa phơng, các ngành, các

Trang 22

cấp, các tổ chức nói riêng Ngời công nhân có ý thức chính trị còn thểhiện ở sự yên tâm, tin tởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, tin vào sựlãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nớc tiếp tục đa sự nghiệp nàytiến lên với những thành tựu to lớn và vững chắc hơn nữa.

Ngời công nhân có ý thức chính trị cao khi niềm tin này có đợc trêncơ sở nhận thức khoa học về tính tất yếu của sự nghiệp đổi mới, về truyềnthống dân tộc và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, về sự lãnh đạo tài tình của

Đảng ta suốt hơn 70 năm qua Ngời công nhân có ý thức chính trị cao cònthấy rõ sự nghiệp đổi mới là một quá trình phấn đấu lâu dài, đầy khó khăn,nhng nhất định sẽ thành công

Ngời công nhân nếu không có hiểu biết về sự nghiệp đổi mới, khôngtin tởng vào sự nghiệp đổi mới, hoặc coi sự nghiệp đổi mới là của Đảng, củaNhà nớc chứ không phải của chính bản thân mình, đơn vị mình thì đó lànhững biểu hiện kém về ý thức chính trị

Có ý thức chính trị khi công nhân ý thức đợc trách nhiệm của mình

đối với sự nghiệp đổi mới, từ đó có những đóng góp nhất định cho sựnghiệp đổi mới, mà trớc hết là ý thức đối với những hoạt động đổi mới của

đơn vị mình

Biểu hiện thứ t về ý thức chính trị của GCCN là sự nhận thức về quyền lợi và nghĩa vụ chính trị của mình.

Ngời công nhân có ý thức chính trị là nhận thức đợc và tuân thủnhững quyền và nghĩa vụ cơ bản của mình đợc ghi trong Hiến pháp, phápluật của Nhà nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam; đồng thời hiểu biết và tuânthủ những quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể trong quy chế của ngành, địa phơng,

đơn vị mình đề ra

Có ý thức chính trị cao khi ngời công nhân không những hiểu đợcnhững quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của mình mà còn đấu tranh để đạt đợc

Trang 23

những lợi ích chính đáng và tự giác trong việc thực hiện những nghĩa vụ của mình.

Biểu hiện thứ năm về ý thức chính trị là thái độ của ngời công nhân

đối với bạn đồng minh và ngời sử dụng lao động trong đó có giới chủ.

Đối với bạn đồng minh, có ý thức chính trị khi ngời công nhân nhậnthức đợc rằng cần phải liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức

để tạo thành một lực lợng cách mạng đông đảo, mới có thể xây dựng thànhcông xã hội mới

Có ý thức chính trị cao khi ngời công nhân, không những hiểu đợctính tất yếu của liên minh trong đấu tranh giành chính quyền cũng nh trongxây dựng xã hội mới, mà còn nắm đợc nội dung của liên minh công - nông -trí thức, liên minh trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Đặcbiệt, ngời công nhân có ý thức chính trị cao còn phải vận dụng đợc những

đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc về vấn đề này để tham gia xâydựng kế hoạch hoạt động của đơn vị mình nhằm xác lập trực tiếp mối quan

hệ giữa công nhân trong đơn vị mình với nông dân và tầng lớp trí thức, từ

đó làm cơ sở để xây dựng liên minh công - nông - trí thức trên phạm vi toànxã hội

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta hiện nay, GCCN khôngcòn ở vào địa vị bị áp bức bóc lột nữa, mà đã trở thành giai cấp thống trị vềchính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội

cũ, xây dựng xã hội mới GCCN cùng toàn thể nhân dân lao động trở thànhngời làm chủ xã hội, làm chủ những t liệu sản xuất cơ bản Tuy nhiên trongthời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế nớc ta vẫn tồn tại nhiều thành phầntrong đó có cả những thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa, nên vẫn có một bộphận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp t nhân Những công nhânnày vừa tham gia làm chủ cùng toàn bộ GCCN và nhân dân lao động, vừalàm thuê xét về mặt cá nhân Điều này lý giải vì sao khi xem xét biểu hiện ý

Trang 24

thức chính trị của GCCN trong giai đoạn hiện nay lại xét cả thái độ củaGCCN đối với giới chủ Giới chủ ở đây là muốn nói đến những ngời tổchức, quản lý sản xuất trong các doanh nghiệp ngoài thành phần kinh tế nhànớc và tập thể, còn ngời sử dụng lao động ở đây là nói đến ngời tổ chức,quản lý sản xuất trong những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà n-

ớc và tập thể

Về vấn đề này, ngời công nhân có ý thức chính trị khi thái độ đốivới ngời sử dụng lao động trong đó có giới chủ, phải trên cơ sở quy địnhcủa pháp luật, đặc biệt là Bộ luật Lao động Hiểu đợc những điều khoản cơbản trong Bộ luật Lao động là ngời công nhân đã hiểu đợc những quyền lợi

và nghĩa vụ lao động của mình Từ đấy có cơ sở để xây dựng mối quan hệlao động hài hòa và ổn định cùng nhau hợp tác vì sự phát triển của đơn vị và

do đó của đất nớc nói chung

Ngời công nhân có ý thức chính trị cao là hiểu đợc bản chất của mốiquan hệ giữa mình và ngời sử dụng lao động, đặc biệt là với giới chủ Phảithấy rằng sự hợp tác với giới chủ là cần thiết nhng phải vừa hợp tác vừa đấutranh trên cơ sở thấu tình, đạt lý Ngời công nhân có ý thức chính trị caophải có lập trờng kiên định, vững vàng trớc mọi cám dỗ của lợi ích vật chấttầm thờng, có thái độ rõ ràng, dứt khoát với những việc làm sai trái của giớichủ, không vì lợi ích trớc mắt của mình mà đánh mất đi danh dự, nhânphẩm, mà phản bội lợi ích của giai cấp và của toàn thể nhân dân lao động.Hơn nữa, ngời công nhân có ý thức chính trị cao phải động viên mọi ngờithực hiện tốt các qui định của pháp luật, đồng thời đấu tranh không khoannhợng đối với những biểu hiện vi phạm mối quan hệ giữa ngời lao động vàngời sử dụng lao động trong đó có giới chủ, trên cơ sở tuân thủ pháp luậtnhằm kết hợp hài hòa các lợi ích

Từ những phân tích trên, có thể thấy sự biểu hiện ý thức chính trịcủa GCCN rất đa dạng, phong phú Các biểu hiện có quan hệ chặt chẽ với

Trang 25

nhau, thúc đẩy và ảnh hởng lẫn nhau Từ những biểu hiện đó, chúng ta cóthể xem xét, đánh giá trình độ ý thức chính trị hay trình độ giác ngộ giaicấp của một ngời công nhân cụ thể hoặc của cả GCCN.

Việc nghiên cứu biểu hiện ý thức chính trị của GCCN có ý nghĩathực tiễn rất quan trọng Qua đấy có thể thấy ý thức chính trị sẽ quyết định

đến các hoạt động chính trị (là những hoạt động nhằm phản ánh những mốiquan hệ cực kỳ quan trọng, liên quan đến sự tồn vong của cả một giai cấp,một dân tộc, một quốc gia, trên tất cả các mặt của đời sống của xã hội cógiai cấp, mà vấn đề trung tâm của nó là vấn đề giành, giữ và duy trì quyềnlực nhà nớc) vì vậy, ý thức chính trị cao hay thấp sẽ dẫn đến những hành

động chính trị đúng hay sai, từ đó quyết định đến việc đạt hay không đạt

đ-ợc lợi ích chính trị Cho nên, phải luôn luôn chú ý đến việc nâng cao ý thứcchính trị cho GCCN

1.2 Sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị của

GCCN nớc ta

Sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị của GCCN nớc ta đợc

quy định từ nhiều lý do Trớc hết, xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác

-Lênin về sự chuyển biến của phong trào đấu tranh của GCCN từ tự phát sang tự giác GCCN là "con đẻ" của nền đại công nghiệp Sự ra đời của

GCCN gắn liền với nền sản xuất đại công nghiệp và GCCN chỉ trở thànhmột giai cấp ổn định khi sản xuất đại công nghiệp đã thay thế về cơ bản nềnsản xuất thủ công Trong chế độ TBCN, GCCN hoàn toàn không có t liệusản xuất, phải bán sức lao động cho nhà t bản, họ là giai cấp bị phụ thuộc,

bị áp bức bóc lột và có lợi ích đối lập trực tiếp với giai cấp t sản Vì vậy,ngay từ khi mới ra đời, GCCN đã bắt đầu đấu tranh chống giai cấp t sản

Những cuộc đấu tranh đó dần phát triển từ thấp đến cao nhng đềutrong vòng tự phát mà thôi Ngay vào những năm giữa thế kỷ XIX, ở nhiềuphong trào đấu tranh của công nhân Châu Âu diễn ra khá sâu rộng cũng

Trang 26

vậy Phân tích cuộc cách mạng tháng 2 năm 1848 ở Pháp, Mác đánh giá: "ởPháp cuộc đấu tranh chống t bản, dới hình thức hiện đại phát triển của nó,

đã tới điểm bùng nổ của nó, tức là cuộc đấu tranh giữa công nhân làm thuêtrong công nghiệp với nhà t sản công nghiệp, đang còn là một hiện tợng cụcbộ" 28, tr 30 và theo Mác, một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bạicủa cuộc cách mạng này là do "công nhân không có lãnh tụ, không có kếhoạch hành động chung" 28, tr 45 Hay phong trào công nhân Mỹ, thời kỳ

đầu, cũng đợc Ăngghen nhận xét rằng: mới nhen nhóm lên, mới chỉ baogồm một loạt những chấn động vô ý thức, và hình nh là rời rạc của cái giaicấp mà do sự tiêu diệt chế độ nô lệ đối với ngời da đen và sự phát triểnnhanh chóng của công nghiệp nên đã trở thành tầng lớp thấp kém nhất củaxã hội Mỹ

Vì vậy, phải đa ý thức giai cấp, ý thức XHCN vào phong trào côngnhân, làm cho những cuộc đấu tranh của GCCN chuyển từ đấu tranh tự phátlên đấu tranh tự giác Lênin đã nói: "Nếu công nhân không tự giải phóngmình thì chẳng ai giải phóng cho họ cả Nhng chỉ có bản năng thôi thìchẳng đi đợc xa" và Ngời cũng khẳng định: chỉ khi nào giai cấp vô sản vànhững ngời nông dân nghèo tỏ ra có đầy đủ tinh thần tự giác, gắn bó với lýtởng của mình, có tinh thần hy sinh bền bỉ, thì khi đó, thắng lợi của cáchmạng XHCN mới đợc đảm bảo, cho nên" phải nâng bản năng đó lên thành

ý thức" 22, tr 491 Do đó, phải giáo dục, nâng cao ý thức giai cấp vô sảncho GCCN, để ngời công nhân hiểu rằng họ tiến hành đấu tranh không phảichỉ để bảo vệ lợi ích riêng của mình mà là đấu tranh để bảo vệ lợi ích chotoàn bộ GCCN và nhân dân lao động đối lập với lợi ích của cả giai cấp tsản

Dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, đấu tranh của GCCN mang tính

tự giác và trớc hết là tiến tới mục tiêu chính trị: giành chính quyền Nhnggiành đợc chính quyền thì mới hoàn thành đợc một nửa SMLS của mình, b-

ớc tiếp theo, GCCN phải sử dụng chính quyền đó để cải tạo xã hội cũ và

Trang 27

xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN Nhiệm vụ này khó khăn, phức tạp, lâudài hơn nhiệm vụ trớc rất nhiều Vì vậy, để hoàn thành SMLS của mình,GCCN phải không ngừng đợc nâng cao trình độ mọi mặt, trong đó có ý thứcchính trị Nh vậy, việc giáo dục ý thức giai cấp chân chính cho GCCNkhông chỉ cần thiết, bức xúc ở những nớc GCCN cha giành đợc chính quyền

mà còn ở cả những nớc đã giành đợc chính quyền

Hai là, sự cần thiết phải nâng cao ý thức chính trị cho GCCN không

chỉ xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự chuyển biến củaphong trào đấu tranh của GCCN từ tự phát sang tự giác, không chỉ xuất phát

từ SMLS của GCCN mà còn xuất phát từ vai trò định hớng của ý thức chính

trị đối với các hoạt động khác của GCCN

Có ý thức chính trị chân chính GCCN sẽ có định hớng đúng đối vớihành vi của mình Trong đời sống xã hội có rất nhiều mặt hoạt động nh hoạt

động lao động sản xuất, hoạt động khoa học, hoạt động văn hóa nghệ thuật,hoạt động thể thao, hoạt động tâm linh, hoạt động tình cảm trong các quan

hệ giao tiếp đối nhân, xử thế ở mỗi ngời công nhân thì những hoạt động

đó đều nhằm đạt đợc những mục đích nhất định, nhằm thỏa mãn một nhucầu nào đó của mình Những hoạt động này đều đợc định hớng, chi phối bởi

ý thức chính trị của chính bản thân ngời công nhân ý thức chính trị của

ng-ời công nhân sẽ quyết định nhiều đến đức tin, phẩm chất đạo đức, phơngthức hành vi của công nhân Có ý thức chính trị thì những hành vi của ng-

ời công nhân mang tính tự giác chứ không phải là những hành vi tự phát, nó

đảm bảo tính đúng đắn, tránh đợc đến mức tối đa những sai lầm trong mọihoạt động của ngời công nhân Chẳng hạn, khi ngời công nhân nhận thức

đúng về sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo thì sẽ lao

động hăng say hơn với tinh thần trách nhiệm cao nhằm đóng góp một phầnnhỏ bé của mình vào sự nghiệp đổi mới của đất nớc Hoặc, khi ngời côngnhân đã thấm nhuần thế giới quan duy vật và phơng pháp biện chứng của

Trang 28

chủ nghĩa Mác - Lênin, thì nếu có nhu cầu tâm linh nh lễ bái, thờ cúng,cũng chỉ giúp họ sống thiện hơn, chứ không thể dẫn họ đến chủ nghĩa duytâm.

ý thức chính trị có vai trò rất quan trọng đối với việc định hớng

đúng với hành vi của con ngời Vì thế phải thờng xuyên giáo dục, nâng cao

ý thức chính trị cho GCCN, phải coi giáo dục chính trị - t tởng là linh hồncủa giáo dục phẩm chất

Ba là, ngoài những yếu tố trên, thì sự cần thiết phải nâng cao ý thức

chính trị cho GCCN còn bắt nguồn từ chính thực trạng ý thức chính trị của

Nhìn chung, ý thức chính trị của GCCN nớc ta còn thấp so với vị trí

và vai trò quan trọng của mình, và so với đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đấtnớc, nhất là trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đấtnớc

Phần lớn công nhân nhận thức đợc rằng mình là lực lợng chủ yếusản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Nhng cũng không ít công nhân lạikhông thấy đợc vị trí, vai trò lịch sử của giai cấp mình, không thấy đợcGCCN là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là giai cấp có vai trò quan trọng nhất

đối với sự phát triển của xã hội Theo điều tra của Ban chỉ đạo tổng kếtNghị quyết Trung ơng 8B,năm 1995, ở thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ có10% công nhân đợc hỏi nhận mình là thuộc giai cấp lãnh đạo Điều đó cho

Trang 29

thấy ý thức về giai cấp của GCCN nói chung, nhất là công nhân trong cácdoanh nghiệp t nhân, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hiện nay rấtthấp Thực trạng này đã đợc Đảng ta đánh giá: "Một bộ phận công nhân chanhận thức đợc vai trò và nhiệm vụ của giai cấp mình, thiếu tính tiên phongcách mạng Không ít cán bộ, đảng viên thoái hóa, quan liêu, tham nhũng,

xa hoa, lãng phí, xa rời bản chất giai cấp công nhân" [6, tr 68]

Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế nớc ta từ cơ chế kế hoạch hóa tậptrung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc đã

đặt công nhân trớc những khó khăn, thử thách gay gắt về việc làm, đờisống, thu nhập Vì vậy công nhân chủ yếu quan tâm đến việc làm, thu nhập,

ít quan tâm đến hoạt động chính trị xã hội, không thiết tha với việc học tậpnâng cao trình độ chính trị Theo báo cáo của Viện Công nhân và Công

đoàn, đến năm 1999, số công nhân cha học lớp chính trị nào là 43,59%; họclớp chính trị sơ cấp là 27,54%; lớp chính trị trung cấp là 5,94%; cử nhânchính trị là 0,66% [54, tr 16] Đây là con số đáng lo ngại vì kết quả điều tratrên là ở 4 ngành cơ bản trong nền kinh tế xã hội: công nghiệp, xây dựng,giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn và mới chỉ điều tratrong những doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nớc Điều này, mộtmặt phản ánh sự buông lỏng trong công tác giáo dục chính trị t tởng, mặtkhác biểu hiện sự thiếu tự giác trong học tập nâng cao trình độ chính trị củacông nhân, biểu hiện việc rèn luyện chính trị t tởng cha trở thành nhu cầuthờng xuyên của công nhân Theo kết quả điều tra tình hình công nhân tại

Trang 30

các doanh nghiệp nhà nớc ở Hà Nội, đến tháng 4 năm 2001 của Viện Chủnghĩa xã hội khoa học thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thì

số công nhân, lao động thờng xuyên đọc báo Nhân dân chỉ là 23,1%, sốthỉnh thoảng đọc là 67,2%; đối với báo Lao động con số tơng ứng là 45,1%

và 55,4% Còn đối với các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam vàcác Hội nghị Trung ơng số công nhân lao động thờng xuyên đọc chỉ là22,1%, thỉnh thoảng đọc là 67,7% và cha đọc là 5,6% [16, tr 2] Chính vìvậy mà sự hiểu biết của GCCN về chủ nghĩa Mác - Lênin, về t tởng Hồ ChíMinh, về con đờng cách mạng Việt Nam chỉ ở mức khái quát, hiểu mộtcách chung chung Thậm chí một bộ phận công nhân, dới nhiều hình thứccòn hoài nghi vào hệ t tởng, vào con đờng cách mạng mà chúng ta đã lựachọn

Đáng chú ý hơn là do không thấy đợc vai trò lịch sử của mình nênmột bộ phận công nhân không những không có ý thức trong việc học tậpnâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị mà còn không có

ý thức trong việc rèn luyện đạo đức Trớc những biến động của tình hình thếgiới, trong nớc, trớc sự chống phá của các thế lực thù địch và trớc nhữngkhó khăn về việc làm, đời sống , một bộ phận công nhân đã không giữ đợclập trờng vững vàng, không giữ đợc bản chất giai cấp của giai cấp mình Họsống buông thả, không ít ngời đã phạm vào tệ nạn xã hội (cờ bạc, rợu chè,mại dâm, nghiện ma túy) Theo báo cáo hoạt động quý I - 2001 của Tổng liên

đoàn lao động Việt Nam, chỉ mới kiểm tra ở 10 đơn vị thuộc ngành Côngnghiệp, đã có 110 công nhân, lao động mắc nghiện; ngành Bu điện có hơn

100 ngời; ngành Than trên 300 ngời và đặc biệt là ngành Giao thông vận tải

có 6000 công nhân, lao động mắc nghiện Kết quả khảo sát tại các Trungtâm cai nghiện thì có đến 30% đối tợng là công nhân viên chức lao động.Trong số những ngời tham gia vào việc mua dâm thì cán bộ, viên chức vàcông nhân lao động chiếm tới 70 - 80% Những tệ nạn đó đã ảnh hởng đến

Trang 31

sức khỏe, đến nhân phẩm của ngời công nhân, gây ảnh hởng đến sản xuất

và an ninh trật tự xã hội

Nhìn chung, công nhân đánh giá rất cao vai trò lãnh đạo của Đảngtrong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và cả trong sự nghiệp đổi mới đấtnớc hiện nay Tuy nhiên, ở một số tổ chức cơ sở Đảng, do trình độ kiếnthức, năng lực lãnh đạo của cán bộ đảng còn hạn chế, do sự thiếu gơng mẫucủa một bộ phận đảng viên trong học tập, trong công tác, trong rèn luyện

đạo đức, lối sống đã làm cho công nhân mất niềm tin Họ cho rằng Đảngchỉ tồn tại hình thức còn thực tế chính quyền nắm hết mọi quyền lực Khi đ-

ợc hỏi về tác động thúc đẩy sản xuất kinh doanh của tổ chức Đảng tạidoanh nghiệp thì có 75,51% công nhân trả lời có tác dụng, 11,68% trả lờikhông có tác dụng và 12,81% không trả lời [54, tr 29] Những số liệu nàymột mặt thể hiện tác dụng cha cao trong lãnh đạo sản xuất của các tổ chức

Đảng ở cơ sở, mặt khác cũng thể hiện sự nhận thức cha đầy đủ của côngnhân về vai trò của tổ chức Đảng ở cơ sở

Mặc dù thấy hiệu quả hoạt động của tổ chức Đảng ở cơ sở cha cao,mong muốn tổ chức Đảng đợc chỉnh đốn để xứng đáng là đội tiên phongcủa GCCN, nhng công nhân cha có ý thức cao trong việc xây dựng, chỉnh

đốn Đảng

Một vấn đề đáng lo ngại là phần lớn công nhân không có ý thứcphấn đấu để đợc đứng trong hàng ngũ của Đảng Tốc độ phát triển đảngviên là công nhân tuy có tăng nhng rất chậm, thời kỳ 1993-1996 là0,38%/ năm, đến thời kỳ 1997-1999 chỉ có 0,1%/ năm Do đó, tỷ lệ đảngviên là công nhân đợc kết nạp chiếm có 10% trong tổng số đảng viên mớikết nạp trong toàn Đảng Năm 1993 đội ngũ đảng viên là công nhân, lao

động chỉ chiếm 8,6%, năm 1995: 8,6%, năm 1997 là 9,2%, năm 1998 là9,19% ở nhiều doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài và công ty t nhân,trong nhiều năm không kết nạp đợc đảng viên [47, tr 66-67] Theo điều

Trang 32

tra của Viện Công nhân và Công đoàn về thực trạng tình hình công nhân

đến thời điểm 1999 thì chỉ có 19,73% công nhân đ ợc hỏi trả lời cónguyện vọng gia nhập Đảng [54, tr 7] Trong số 19,73% đó, có thể cónhiều ngời muốn gia nhập Đảng vì muốn dễ dàng hơn trên con đờngthăng quan tiến chức chứ không phải vì mục đích phục vụ đất n ớc, phục

vụ nhân dân Điều này phản ánh trình độ nhận thức của công nhân đốivới Đảng cha cao

Về thái độ đối với nhà nớc, nhìn chung công nhân thuộc lòng bảnchất của Nhà nớc ta là nhà nớc của dân, do dân, vì dân; biết đánh giágiữa bản chất của Nhà nớc và những cái đã thực hiện đợc trong thực tiễnhoạt động của Nhà nớc ta Khi hỏi công nhân ở một số doanh nghiệp tại

Hà Nội rằng Nhà nớc ta là nhà nớc của dân, do dân, vì dân, về mặt lýthuyết có đúng không, thì 92,3% công nhân cho là đúng, 2,6% cho rằngcha đúng, 5,1% cho rằng khó trả lời Khi hỏi trong thực tế nhà n ớc củadân, do dân, vì dân đã đạt cha thì 22,6% công nhân trả lời đã đạt đợc,32,3% cho rằng cha đạt đợc, 46,2% cho rằng đã đạt đợc ở mức độ nhất

định [16, tr 3]

Tuy đánh giá đợc những thành tựu và hạn chế trong hoạt động củaNhà nớc, nhng ý thức của công nhân trong việc góp phần xây dựng mộtNhà nớc trong sạch vững mạnh cũng cha cao Do bị ảnh hởng của lối sốngthực dụng, công nhân thờng nghĩ rằng mình là ngời làm công ăn lơng, đấutranh thì tránh đâu, "con kiến kiện củ khoai" nên họ dù bất bình cũng rất ítdám đấu tranh chống tham nhũng Khi đợc hỏi ba vấn đề quan tâm nhất củacông nhân hiện nay thì chỉ có 27,66% công nhân đa ra vấn đề chống thamnhũng và 25,12% đa vấn đề công bằng xã hội [54, tr 30] Ngay trong cácdoanh nghiệp nhà nớc ở Hà Nội - nơi có điều kiện nhiều mặt để nâng cao ýthức chính trị thì khi hỏi: trớc những biểu hiện tiêu cực nh tệ quan liêu, nạntham nhũng anh (chị) có thái độ nh thế nào thì chỉ có 74,4% trả lời là đấutranh phê phán, 12,8% trả lời bất bình song không phê phán, 3,1% chấp

Trang 33

nhận các hiện tợng đó, 9,7% khó trả lời [16, tr 3] Nh vậy có thể thấy phầnlớn công nhân có nhận thức đúng về Nhà nớc, còn ý thức trong việc xâydựng Nhà nớc trong sạch vững mạnh thì cha cao.

Về thái độ của công nhân đối với tổ chức Công đoàn, hiện nay dotốc độ phát triển đoàn viên và xây dựng công đoàn cơ sở khu vực kinh tếngoài quốc doanh còn chậm so với quy định của Bộ luật Lao động, và yêucầu của Tổng Liên đoàn Theo đánh giá của Tổng Liên đoàn Lao động ViệtNam thì đến cuối năm 2000 vẫn còn khoảng 50% doanh nghiệp có vốn đầu

t nớc ngoài và 70% doanh nghiệp t nhân đủ điều kiện nhng cha thành lậpCông đoàn [74, tr 44] Do vậy, còn nhiều công nhân cha có ý thức về tổchức chính trị - xã hội này của giai cấp mình

ợc hỏi tác dụng của Công đoàn trong việc thúc đẩy sản xuất - kinh doanh tạidoanh nghiệp thì 82,70% công nhân trả lời có tác dụng, 11,56% trả lờikhông có tác dụng và 5,74% không trả lời [54, tr 29] Theo báo cáo tóm tắtkết quả khảo sát xã hội học về "Vai trò của Công đoàn và thái độ của côngnhân, viên chức, lao động với một số vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách hiệnnay" của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tháng 10 năm 2000, thì côngnhân đã đánh giá một số mặt hoạt động của Công đoàn nh sau: Về tham giagiải quyết việc làm: 40,3% công nhân trả lời có vai trò tốt; 36,4% trả lờibình thờng; 15,2% trả lời cha tốt; 5,3% cho rằng khó trả lời Về giải quyếtvấn đề phúc lợi xã hội, tỷ lệ trả lời tơng ứng là: 53,6%; 34,4%; 6,7%; 5,3%

Trang 34

Về đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, tỷ lệ trả lời tơng ứng là: 38,2%;38,9%; 15%; 7,9% [55, tr 14] Những số liệu trên cho thấy một bộ phậnkhông nhỏ công nhân cha ý thức đầy đủ về tổ chức Công đoàn, thiếu tin t-ởng vào tổ chức Công đoàn.

Một điều đáng buồn là do không tin tởng vào hoạt động của tổ chứcCông đoàn nên nhiều công nhân không muốn gia nhập Công đoàn - một tổchức chính trị - xã hội của GCCN

Về thái độ đối với sự nghiệp đổi mới đất nớc, phần lớn công nhânnhận thức đợc những nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới, thấy đợcnhững khó khăn của sự nghiệp đổi mới, tin tởng vào thắng lợi của sự nghiệp

đổi mới Theo kết quả điều tra của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học - Học việnChính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về tình hình công nhân tại các doanhnghiệp nhà nớc ở Hà Nội từ tháng 11năm 1999 đến tháng 4 năm 2000, thì

có 8,2 % khẳng định sự nghiệp đổi mới đất nớc thắng lợi to lớn, 91,8% trảlời sự nghiệp đổi mới đất nớc có nhiều thành tựu song còn nhiều khó khăn[16, tr 4]

Tuy nhiên, công nhân còn cha thấy rõ trách nhiệm của mình đối với

sự nghiệp đổi mới đất nớc Biểu hiện ở chỗ công nhân tham gia tích cực cácphong trào thi đua yêu nớc nhng chỉ thuần túy vì kinh tế (lơng, thởng) chứcha nâng lên đợc tầm ý thức chính trị của công nhân với t cách là ngời lao

động trong chế độ XHCN Công nhân cha ý thức đợc tầm quan trọng trongviệc học tập nâng cao trình độ mọi mặt để đóng góp có hiệu quả vào sựnghiệp đổi mới Bên cạnh đó, ý thức của công nhân về chống tham nhũng,lãng phí, chống các tệ nạn xã hội cha cao Từ đó, công nhân cha nhận thức

đợc những nội dung cụ thể của sự nghiệp đổi mới, trớc hết phải từ chínhbản thân mình, đơn vị mình

Trang 35

Những năm gần đây, nhận thức của công nhân đối với quyền lợi vànghĩa vụ của mình đợc nâng lên Với sự phát triển mạnh của các phơng tiệnthông tin đại chúng, các loại sách báo, công nhân đợc tiếp cận nhiều hơnvới các văn bản pháp luật Tuy nhiên, sự hiểu biết về các văn bản pháp luật

đó mới chỉ ở mức độ rất khái quát Một bộ phận không nhỏ công nhânkhông tiếp cận đợc hoặc không quan tâm đến luật pháp Ngay Luật cơ bản -Hiến pháp, công nhân trong các doanh nghiệp nhà nớc ở Hà Nội cũng chỉ

có 46,7% tìm đọc; 45,6% có nghe tên song cha đọc; 7,7% ít quan tâm Vớinhững luật liên quan trực tiếp đến công nhân, thì tỷ lệ cũng chỉ khá hơn mộtchút, nh Bộ luật Lao động: 73,8% công nhân đã tìm đọc, 23,1% có nghe tênsong cha đọc; Luật Công đoàn 57,4% đã tìm đọc, 39% có nghe tên song ch-

và 29,3% Thỏa ớc lao động tập thể tỷ lệ trả lời biết là 78,44% và khôngbiết là 21,56% [54, tr 26] Chính vì thiếu những hiểu biết cần thiết vềquyền và nghĩa vụ của mình nên nhiều công nhân bị thiệt thòi mà khôngbiết để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình, và nhiều công nhân do khônghiểu những nghĩa vụ của mình mà vi phạm kỷ luật lao động bị sa thải, hoặcthiệt mạng do vi phạm về an toàn vệ sinh lao động Theo báo cáo của TổngLiên đoàn Lao động Việt Nam năm 1999 có 3.825 vụ tai nạn lao động,

Trang 36

trong đó có 292 vụ tai nạn lao động chết ngời, làm chết 355 ngời Trong số

đó, có đến trên 70% số vụ là do ngời sử dụng lao động và ngời lao động viphạm các quy tắc về an toàn, vi phạm các quy trình kỹ thuật an toàn và cácnội quy, biện pháp an toàn trong quá trình lao động [58, tr 4-5] Một điều

đáng chú ý hơn nữa là ngay những quy định về quyền và nghĩa vụ của côngnhân, đáng lẽ ra công nhân phải tham gia xây dựng vì họ là những ngời trựctiếp lao động nhng công nhân lại rất thờ ơ, phó mặc cho ngời khác Cũngtheo báo cáo kết quả điều tra xã hội học về thực trạng GCCN Việt Nam đếnthời điểm 1999 của Viện Công nhân và Công đoàn, Tổng Liên đoàn Lao

động Việt Nam thì tỷ lệ trả lời tham gia và không tham gia của công nhân

đối với các câu hỏi nh sau:

Kết quả sản xuất kinh doanh: 9,26% tham gia, 94,74% không tham gia.Nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nớc: 8,63% tham gia,91,37% không tham gia

Đơn giá tiền lơng: 11,21% tham gia, 88,97% không tham gia

Nội quy kỷ luật lao động: 18,32% tham gia, 81,68% không tham gia.Quy chế của doanh nghiệp: 16,21% tham gia, 83,79% không tham gia.Thỏa ớc lao động tập thể : 21,13% tham gia, 78,87% không thamgia [54, tr 26]

Qua những số liệu trên có thể thấy công nhân còn hiểu biết rất ít vềquyền và nghĩa vụ của mình Vì vậy, cần tuyên truyền giáo dục để côngnhân hiểu rõ hơn để từ đó thực hiện tốt nghĩa vụ của mình và đấu tranh bảo

vệ quyền lợi hợp pháp của mình, để công nhân thực sự trở thành ngời chủcủa doanh nghiệp, ngời chủ của xã hội

Về thái độ của công nhân đối với bạn đồng minh, thì từ lâu, côngnhân đã thấy đợc mối quan hệ máu thịt giữa công nhân - nông dân - tríthức Điều đó cũng thể hiện trong giai đoạn hiện nay nhng chỉ chủ yếu

Trang 37

thông qua các mối quan hệ kinh tế (giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữacác thành phần kinh tế, giữa kinh tế trung ơng với kinh tế địa phơng ) vàcác mối quan hệ đó nhiều khi không phải do chính quan hệ trực tiếp giữacông nhân - nông dân - trí thức tạo ra mà thực tế phần lớn do tác động quy

định của chính sách nhà nớc Nhng thực trạng hệ thống chính sách của Nhànớc còn thiếu hoặc cha đồng bộ, cha sát thực hoặc thực hiện không nghiêmnên nhiều khi không tạo ra đợc sự liên minh, hoặc phá vỡ liên minh Vì cha

có hệ thống chính sách phù hợp để tạo lực hút đối với trí thức, dẫn đến hiệntợng chảy máu chất xám hay cha quan tâm đến việc nghiên cứu ứng dụngnhững thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp Thực trạngtrên, một phần phản ánh sự cha hiệu quả của các chính sách của Nhà nớc vềvấn đề này, một phần cũng phản ánh ý thức phục vụ nông nghiệp và nôngdân của công nhân, trí thức cha cao

Đối với ngời sử dụng lao động, trong đó có giới chủ, thì hiện nay đaphần công nhân đều khẳng định phải tuân thủ tuyệt đối lệnh của giám đốc.Tức là đã thấy đợc mối quan hệ chủ thợ, cấp dới phải phục tùng sự lãnh đạocủa cấp trên Một bộ phận công nhân đã dám đứng lên đấu tranh, kể cả ởmức đình công để bảo vệ lợi ích kinh tế, chính trị của mình

Tuy nhiên, cả hai vấn đề trên đều có những mặt trái của nó Thứ

nhất, sự phục tùng đôi khi đến mức tuyệt đối, không thể hiện đợc quyền

làm chủ của mình, hay nói cách khác là sự chịu nhục trớc giới chủ vì

"miếng cơm manh áo", sống an phận, "có tai không nghe, có mắt khôngnhìn", thấy những việc làm sai trái của giới chủ chỉ im lặng, không có phản

ứng gì Thứ hai, các cuộc đình công ở nớc ta nhìn chung là không đúng

luật Theo báo cáo của Ban pháp luật thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việtnam thì từ năm 1995 đến năm 2000 cả nớc có 351 vụ đình công, trong đó100% số vụ không theo trình tự, thủ tục quy định, vi phạm quy định về chủ

Trang 38

thể đình công [59, tr 1-2] Điều đó cho thấy ý thức chính trị của công nhâncha cao.

Từ những phân tích trên có thể thấy, nhìn chung ý thức chính trị củaGCCN Việt Nam hiện nay cha cao so với SMLS của mình Không nhữngvậy mà ý thức chính trị của GCCN hiện nay còn có biểu hiện cha đồng bộ

và cha nhất quán Điều đó có nghĩa là về vấn đề này thì nhận thức đúng, cóthái độ đúng, vấn đề khác lại nhận thức không đúng Chẳng hạn công nhântin tởng vào sự đúng đắn của con đờng cách mạng Việt Nam (88,2% côngnhân), đánh giá một cách khách quan kết quả của sự nghiệp đổi mới (91,8%công nhân cho rằng sự nghiệp đổi mới đạt đợc nhiều thành tựu song cònnhiều khó khăn) Thế nhng công nhân lại không thấy đợc vai trò của mình

đối với sự nghiệp đổi mới đó, đối với sự phát triển của xã hội Điều đó thểhiện ở chỗ công nhân cha có ý thức cao trong việc học tập nâng cao trình

độ Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển nh vũ bão hiện nay, côngnhân lại là đại diện cho lực lợng sản xuất tiên tiến, vậy mà vẫn có nhữngcông nhân mù chữ và tái mù chữ Theo báo cáo của Ban T tởng Văn hóa -Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về thực trạng trình độ học vấn, taynghề của công nhân lao động thì đến cuối năm 2000, ở Hà Giang có 1,5%công nhân mù chữ, thành phố Hồ Chí Minh là 0,03%; KonTum là 0,33%,Khánh Hòa là 0,8%, Đắc Lắc là 0,45%, Quảng Nam là 0,3% Điều đángbuồn là trong số đó có cả những thanh thiếu niên - lực l ợng lao động trẻ,chủ chốt của đội ngũ lao động công nghiệp mới đầu thế kỷ XXI [67, tr 2].Trình độ chuyên môn, trình độ chính trị của công nhân cũng còn nhiều bấtcập so với yêu cầu (đã phân tích ở phần trớc) Hoặc công nhân có nhậnthức đợc những kết quả hoạt động của Công đoàn: 75,3% công nhân đợchỏi trả lời Công đoàn thực hiện tốt việc thăm hỏi đoàn viên, 68,9% côngnhân đợc hỏi trả lời Công đoàn thực hiện tốt việc tham gia đảm bảo antoàn lao động, 57,4 % công nhân đợc hỏi trả lời Công đoàn thực hiện tốt

Trang 39

việc tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất, 40,3% công nhân

đợc hỏi trả lời Công đoàn thực hiện tốt việc tham gia giải quyết việc làm,53,6% công nhân đợc hỏi trả lời Công đoàn thực hiện tốt việc giải quyếtvấn đề phúc lợi [55, tr 14] Thế nhng, chỉ có 5,47% công nhân đợc hỏi trảlời có nguyện vọng gia nhập tổ chức Công đoàn [54, tr 7] Điều đó chothấy mặc dù công nhân đã thấy đợc ở mức độ nào đó những tác động của

tổ chức Công đoàn nhng vẫn cha ý thức đợc sự cần thiết phải tham gia tổchức Công đoàn để đợc bảo vệ lợi ích cho mình

Một ví dụ nữa là công nhân bất bình trớc những vi phạm của giớichủ, đã đình công để phản đối Tức là đã ý thức đợc mối quan hệ giữa giớichủ và công nhân là vừa hợp tác vừa đấu tranh nhng lại không có ý thứctrong việc nghiên cứu các văn bản pháp luật, nội quy, quy chế dẫn đến đìnhcông không đúng luật

ý thức chính trị của GCCN nớc ta hiện nay không những còn thấp,cha đồng bộ, cha nhất quán mà còn biểu hiện không đều ở độ tuổi và ở các

rõ ràng, vì vậy thờng đề cao yếu tố kinh tế, kỹ thuật mà xem nhẹ yếu tốchính trị, dễ hoang mang dao động trong việc định hớng phấn đấu, dễ bị

ảnh hởng bởi những tác động xấu của cơ chế thị trờng Điều đó có nghĩa là,những công nhân trẻ dễ không vững vàng về bản lĩnh chính trị

Trang 40

Sự không đều của ý thức chính trị còn biểu hiện ở các đơn vị khácnhau của GCCN Thờng thì những công nhân ở những doanh nghiệp thuộcthành phần kinh tế nhà nớc có ý thức chính trị cao hơn so với các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác (đặc biệt những doanh nghiệp cóvốn đầu t nớc ngoài) Bởi vì trong các doanh nghiệp nhà nớc thì bầu khôngkhí dân chủ, cởi mở hơn, ngời công nhân không cảm thấy mối quan hệ chủ

- thợ ở đây, mà thấy mình là ngời chủ của doanh nghiệp, hơn nữa trong cácdoanh nghiệp, ban giám đốc cũng thờng tạo điều kiện về thời gian, về vậtchất cho các hoạt động chính trị Còn trong các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế khác (đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài)thì công nhân thờng tự ti về mình, cho rằng mình là ngời làm thuê, tốt nhất

là nên tập trung làm tốt công việc chuyên môn, không nên chú ý đến vấn đềchính trị Hơn nữa, một bộ phận giới chủ trong các doanh nghiệp này cũngkhông tạo điều kiện cho công nhân nâng cao ý thức chính trị Vì vậy, trongcác doanh nghiệp này, công nhân dần sẽ phai nhạt ý thức chính trị, thờ ơ vớinhững hoạt động chính trị, thậm chí còn bị ảnh hởng của chủ nghĩa thựcdụng trong hoạt động chính trị (đi nghe phổ biến nghị quyết Đại hội Đảng,nghe thời sự phải bồi dỡng tiền mới đến )

Trình độ ý thức chính trị còn biểu hiện khác nhau ở những doanhnghiệp làm ăn có hiệu quả và ở những doanh nghiệp làm ăn cha có hiệuquả Thờng những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, đời sống của côngnhân nâng cao cả về vật chất và tinh thần thì có ý thức chính trị cao hơn ở

đó công nhân phấn khởi, tin tởng vào con đờng cách mạng mà Đảng ta vàBác Hồ đã lựa chọn, tin tởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, tin tởngvào sự lãnh đạo của Đảng Còn những doanh nghiệp hoạt động cha có hiệuquả, thiếu việc làm, thu nhập thấp, lơng thởng không kịp thời thì thờng xuấthiện tâm lý lo lắng, chán chờng, kỷ luật lao động lỏng lẻo, thiếu tin tởng

Ngày đăng: 27/05/2021, 07:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (2000), "Xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc - từ lý luận đến thực tiễn", Lao động và Công đoàn, (2), tr. 19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng giai cấp công nhân trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc - từ lý luận đến thực tiễn
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2000
2. Bộ giáo dục và đào tạo (1997), Đề cơng bài giảng môn triết học Mác - Lênin, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cơng bài giảng môn triết học Mác -Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
3. Đặng Ngọc Chiến (2000), "Công nhân, viên chức, lao động và Côngđoàn Việt Nam với phong trào thi đua yêu nớc trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí Cộng sản, (20), tr. 23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân, viên chức, lao động và Côngđoàn Việt Nam với phong trào thi đua yêu nớc trong thời kỳ đổimới
Tác giả: Đặng Ngọc Chiến
Năm: 2000
4. Hoàng Minh Chúc (1998), "Phong trào Công đoàn Việt Nam trong hơn mời năm đổi mới", Tạp chí Cộng sản, (14), tr. 6-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Công đoàn Việt Nam tronghơn mời năm đổi mới
Tác giả: Hoàng Minh Chúc
Năm: 1998
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ơng khóa VII, (Lu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Banchấp hành Trung ơng khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hớng lớn trong công tác t tởng hiện nay, (Lu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), "Nghị quyết của Bộ Chính trị về mộtsố định hớng lớn trong công tác t tởng hiện nay
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ơng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Banchấp hành Trung ơng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Cù Thị Hậu (1999), "70 năm - chặng đờng vẻ vang của tổ chức Côngđoàn Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, (14), tr. 19-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 70 năm - chặng đờng vẻ vang của tổ chức Côngđoàn Việt Nam
Tác giả: Cù Thị Hậu
Năm: 1999
11. Cù Thị Hậu (2001), "Giai cấp công nhân Việt Nam đi đầu thực hiện đ- ờng lối đổi mới do Đảng khởi xớng và lãnh đạo", Lao động và Công đoàn, (243), tr. 4,6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt Nam đi đầu thực hiện đ-ờng lối đổi mới do Đảng khởi xớng và lãnh đạo
Tác giả: Cù Thị Hậu
Năm: 2001
12. Lê Mậu Hãn (chủ biên) (1995), Đảng Cộng sản Việt Nam các Đại hội và Hội nghị Trung ơng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam các Đại hộivà Hội nghị Trung ơng
Tác giả: Lê Mậu Hãn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
13. Hiến pháp nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Hiến pháp nớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1992
14. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học (1997), Giáo trình môn Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình môn Chủ nghĩa xã hội khoa học
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
15. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Khoa học Chính trị (1999), Tập bài giảng chính trị học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng chính trị học
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Khoa học Chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
17. Phạm Thị Xuân Hơng (2000), "Nâng cao ý thức giai cấp cho công nhân - một việc quan trọng cần làm trong giai đoạn hiện nay", Lao động và Công đoàn, (10), tr. 8 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao ý thức giai cấp cho côngnhân - một việc quan trọng cần làm trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Phạm Thị Xuân Hơng
Năm: 2000
18. Nguyễn Hải Khoát (2000), "Cách tiếp cận văn hóa - tâm lý trong công tác tuyên truyền, giáo dục đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc", Nghiên cứu lý luận, (5), tr. 55 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tiếp cận văn hóa - tâm lý trong côngtác tuyên truyền, giáo dục đờng lối, chính sách của Đảng và Nhànớc
Tác giả: Nguyễn Hải Khoát
Năm: 2000
19. Nguyễn Văn Khởi (2000), "Về vai trò của cán bộ công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp", Lao động và Công đoàn, (7), tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vai trò của cán bộ công đoàn cơ sởtrong các doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Khởi
Năm: 2000
20. V.I. Lênin (1974), Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1974
21. V.I. Lênin (1975), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Matxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1975

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w