Mục tiêu của đề tài là hệ thống cơ sở lý luận liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam; xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam; kiến nghị đối với cơ quan thẩm quyền, doanh nghiệp và các đối tượng khác để cải thiện việc áp dụng IFRS tại Việt Nam.
Trang 1-
NGUYỄN THỊ THU PHƯƠNG
ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC
ÁP DỤNG CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH
QUỐC TẾ (IFRS) TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của bất kỳ ai Nội dung của luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu của luận văn
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014
Nguyễn Thị Thu Phương
Trang 3MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa và đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 5
6 Giới thiệu kết cấu 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG IFRS 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
2.1 Tổng quan về IFRS 11
2.1.1 Lịch sử hình thành của IFRS 11
2.1.2 Tình hình áp dụng IFRS của các quốc gia trên thế giới 15
2.1.3 Lợi ích và khó khăn của việc áp dụng IFRS tại Việt Nam 18
2.2 Lý thuyết nền về việc nghiên cứu các các nhân tố ảnh hưởng 21
2.2.1 Thuyết hành vi dự định 21
2.2.2 Thuyết định chế 24
2.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị 26
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Trang 43.1 Các giả thuyết cần kiểm định các nhân tố ảnh hưởng việc áp dụng IFRS tại Việt
Nam 28
3.1.1 Nhân tố văn hóa 28
3.1.2 Nhân tố tăng trưởng kinh tế 29
3.1.3 Nhân tố thị trường vốn 31
3.1.4 Nhân tố trình độ học vấn 32
3.1.5 Nhân tố hội nhập kinh tế thế giới 34
3.1.6 Nhân tố hệ thống pháp luật 35
3.1.7 Nhân tố chính trị 37
3.2 Thiết kế nghiên cứu 38
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 39
3.2.2 Các bước tiến hành nghiên cứu 39
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 41
4.1 Mô tả mẫu điều tra 41
4.2 Các bước phân tích dữ liệu 41
4.3 Kết quả nghiên cứu chính thức 43
4.3.1 Thống kê mô tả 43
4.3.2 Phân tích tương quan 44
4.3.3 Hồi qui đa biến 48
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 59
5.2.1 Đối với cơ quan có thẩm quyền 59
5.2.2 Đối với các doanh nghiệp 61
5.2.3 Đối với các đối tượng khác 62
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai 63
Trang 55.3.1 Hạn chế của đề tài 63 5.3.3 Hướng nghiên cứu trong tương lai 64
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
IFRS International Financial Reporting Standards
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IAS International Accounting Standards
Chuẩn mực kế toán quốc tế IASB International Accounting Standard Board
Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế IASC International Accounting Standards Committee
Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế IFAC International Federation of Accountants
Hội đồng của Liên đoàn kế toán quốc tế FASB Financial Accounting Standards Board
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính IOSCO International Organization of Securities Commissions
Tổ chức quốc tế các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán GAAP Generally Accepted Accounting Principles
Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận rộng rãi
Trang 7TRA Theory of Reasoned Action
Thuyết hành động hợp lý VAS Vietnamese Accounting Standards
Chuẩn mực kế toán Việt Nam ASBE Association for Small Business and Entrepreneurship
Hệ thống chuẩn mực kế toán doanh nghiệp WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới SPSS Statistical Package for the Social Sciences
Phần mềm thống kê khoa học xã hội BCTC Báo cáo tài chính
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Danh mục bảng, biểu Bảng số Tên bảng
Bảng 3.1 Bảng tổng hợp các nhân tố tác động
Bảng 4.1 Phân bổ mẫu điều tra
Bảng 4.2 Tóm tắt phương pháp kiểm định các giả thiết nghiên cứu Bảng 4.3 Bảng thống kê mô tả
Bảng 4.4 Ma trân hệ số tương quan giữa các biến đo bằng thang đo định
danh Bảng 4.5 Phương pháp chạy hồi qui
Bảng 4.6 Đánh giá độ phù hợp của mô hình
Bảng 4.7 Phân tích ANOVA kiểm định độ phù hợp của mô hình
Bảng 4.8 Kết quả phân tích hồi qui lần đầu
Bảng 4.9 Kết quả phân tích hồi qui sau khi loại bỏ nhân tố hội nhập kinh
tế Bảng 4.10 Kết quả phân tích hồi qui sau khi loại bỏ nhân tố văn hóa
Trang 9Danh mục sơ đồ
Sơ đồ số Tên sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Quy trình nghiên cứu
Sơ đồ 2.1 Thuyết hành động hợp lý (TRA)
Sơ đồ 2.2 Thuyết hành vi dự định (TPB)
Sơ đồ 2.3 Mô hình nghiên cứu
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, sự phát triển của tiến trình theo hướng quốc tế hóa các chuẩn mực kế toán là điều tất yếu Không có một “ngôn ngữ chung” thì các chuẩn mực của các quốc gia được đưa ra khác nhau, ảnh hưởng tính hiệu quả của thị trường thế giới, có thể làm giảm sút khả năng hợp tác tìm kiếm vốn để cạnh tranh một cách có hiệu quả Hơn nữa, nếu mỗi quốc gia xây dựng riêng cho mình các chuẩn mực kế toán thì rất tốn kém, trong khi nhu cầu đối với các chuẩn mực đều giống nhau giữa các quốc gia khác nhau, mặc dù nền văn hóa và những truyền thống khác có thể tác động tới quá trình xây dựng chuẩn mực ở mỗi quốc gia Theo xu hướng chung và tất cả các nhân tố quốc tế đã thúc đẩy sự thay đổi và hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế Hiện nay, IFRS là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế chất lượng cao, các nguyên tắc kế toán thống nhất trong lập và trình bày BCTC, có thể đáp ứng phần lớn các yêu cầu đặt ra cho một chuẩn mực kế toán chung toàn cầu, đã và đang tiếp tục quá trình hoàn thiện Việt Nam đang trong quá trình hội nhập thị trường toàn cầu, việc
áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế là cần thiết Vì vậy, các doanh nghiệp tại Việt Nam
có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty niêm yết…cần phải biết việc trình bày báo cáo tài chính theo IFRS
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới như EU, Úc, Nam Phi, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á…Hoa Kỳ
đã cho phép các công ty nước ngoài niêm yết tại nước này sử dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế mà không cần chỉnh hợp Nhiều quốc gia đang trong quá trình chuẩn
bị thông qua bộ chuẩn mực IFRS trong những năm tới Hiện nay, chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn chưa hòa hợp hoàn toàn với chuẩn mực kế toán quốc tế Tồn tại một khoảng cách khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc
tế Những khác biệt này có ảnh hưởng đến quá trình hội nhập quốc tế về kế toán của
Trang 11Việt Nam Việc áp dụng IFRS có chọn lọc, phù hợp thực tiễn hoạt động kinh doanh tại Việt Nam là điều cấp thiết phải tiến hành
Để áp dụng IFRS, tồn tại nhiều trở ngại và thách thức đối với Việt Nam Bởi lẽ đây là một chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế với một chuẩn mực cao, phức tạp, đòi hỏi chi phí cao và thời gian dài để áp dụng Đặc biệt, để có thể áp dụng IFRS, nguồn nhân lực trong lĩnh vực kế toán yêu cầu được đào tạo có trình độ, chuyên môn cao để
có thể hiểu và thực hành Tuy nhiên, kế toán tại Việt Nam chưa được đào tạo chuyên sâu về IFRS, chưa có kinh nghiệm thực tế, trình độ còn thấp Vì vậy, việc áp dụng IFRS sẽ là khó khăn không hề nhỏ đối với những người đang làm trong lĩnh vực kế toán Những thách thức, khó khăn này cần được xác định, lường trước để Việt Nam có thể đưa ra những biện pháp khắc phục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Việc áp dụng IFRS hiện nay là vấn đề cấp bách được đặt ra đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài, các công ty niêm yết Nhưng luôn tồn tại những nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS) tại Việt Nam” để nghiên cứu Từ đó, phần nào giúp làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS, đưa ra các biện pháp đẩy nhanh quá trình áp dụng IFRS tại Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu chính:
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam
- Đề xuất một số kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu về cải thiện việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Trang 12- Kiến nghị đối với cơ quan thẩm quyền, doanh nghiệp và các đối tượng khác
để cải thiện việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu:
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam?
- Biện pháp giúp cải thiện việc áp dụng IFRS tại Việt Nam là gì?
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS) tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian: quý 2, năm 2014
- Không gian: tại thành phố Hồ Chí Minh
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận nghiên cứu định lượng, trên cơ sở các nghiên cứu trước, suy diễn mô hình nghiên cứu và kiểm định bằng cách tiến hành khảo sát, thu thập ý kiến của những chuyên gia, những người làm việc trong ngành kế toán, kiểm toán tại Việt Nam Quy trình nghiên cứu theo sơ đồ 1.1 như sau:
Trang 13Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu
CƠ SỞ LÝ THUYẾT Các công trình nghiên cứu trước
MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Mô hình đo lường các nhân tố tác động
Mô hình các nhân tố tác động đến quyết định sử dụng thẻ ATM
NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
Thống kê mô tả Phân tích tương quan Phân tích hồi quy đa biến
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Quan hệ: Các nhân tố tác động đến nhân tố bị tác động
Trang 145 Ý nghĩa và đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm từ những chuyên gia, những người làm trong ngành kế toán, kiểm toán về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Từ đó, nghiên cứu hy vọng sẽ cung cấp những gợi ý cho nhà điều hành, các nhà lập quy về các chính sách liên quan, nhằm ngày càng nâng cao chất lượng việc áp dụng IFRS tại Việt Nam Ngoài ra, nghiên cứu cũng hy vọng sẽ có những đóng góp cho những công trình nghiên cứu kế toán tại Việt Nam
6 Giới thiệu kết cấu
Phần Mở Đầu
Chương 1 : Tổng quan các công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS
Chương 2 : Cơ sở lý luận
Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5 : Kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG IFRS
Trong thời gian qua, đã có những nghiên cứu về việc áp dụng IFRS tại các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Tác giả chọn ra một số nghiên cứu tiêu biểu như dưới đây
Nghiên cứu thứ nhất của Fatma Zehri & Jamel Chouaibi (2013) “Adoption
determinants of the International Accounting Standards IAS/IFRS by the developing countries” Hai tác giả nhận ra rằng còn hạn chế những nghiên cứu đối với việc thông qua IFRS tại các nước đang phát triển Đã từng có một nghiên cứu của Zeghal & Mhedhbi (2006) tập trung vào yếu tố quyết định áp dụng IAS/IFRS ở các nước đang phát triển Trong thực tế, nghiên cứu của họ có kiểm tra một mẫu tạo thành từ 32 nước đang phát triển có thông qua IAS và 32 quốc gia khác không áp dụng Trên thực tế, họ kết luận rằng những nước đang phát triển có thị trường vốn, trình độ học vấn cao và tăng trưởng kinh tế cao có nhiều xu hướng áp dụng IFRS
Nghiên cứu này của Fatma Zehri & Jamel Chouaibi (2013) là một phần mở rộng của nghiên cứu được tiến hành bởi Zeghal và Mhedhbi (2006) có chủ đề về các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc áp dụng các IAS của sự phát triển quốc gia Tuy nhiên, đóng góp của báo cáo này bao gồm trong thử nghiệm sự phù hợp của các kết quả đạt được từ nghiên cứu của Zeghal và Mhedhbi (2006) cũng như các biến khác liên quan đến hệ thống pháp luật, môi trường và chính trị ở 74 nước đang phát triển
Mục đích của nghiên cứu này là xác định các yếu tố chính quyết định cho việc
áp dụng IAS/IFRS của các nước đang phát triển Các kết quả phân tích thực nghiệm đã chỉ ra rằng sự phát triển các quốc gia thuận lợi nhất để thông qua IFRS là có một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, trình độ cao về giáo dục và luật chung dựa trên một hệ thống pháp luật Đối với các biến khác, văn hóa, sự tồn tại của một thị trường vốn, chính trị
và tính quốc tế không đáng kể tác động đến quyết định áp dụng IFRS Trong thực tế,
Trang 16hầu hết các nghiên cứu đã nêu bật tầm quan trọng các thể chế yếu tố tiêu chí (tăng trưởng kinh tế, trình độ học vấn, thị trường vốn) cùng với một số tính năng cụ thể liên quan đến các công ty điều hành quốc gia (kích thước, mức nợ, chất lượng kiểm toán bên ngoài) trong việc quyết định áp dụng các chuẩn mực này
Trên thực tế, các nước đang phát triển phương thức chuyển đổi sang IFRS có lẽ
sẽ khác với các nước phát triển Kết quả của nghiên cứu có thể cung cấp một số thông tin có giá trị cho phát triển chuẩn mực kế toán quốc gia Tuy nhiên, nghiên cứu hiện tại
đã để lại một số giới hạn Đặc biệt, sức mạnh giải thích của mô hình vẫn còn khá khiêm tốn Điều này bao hàm sự tác động trái của một số tồn tại của bỏ qua biến có thể được khám phá trong các nghiên cứu ở tương lai
Nghiên cứu thứ hai của Duc Hong Thi Phan, Bruno Mascitelli & Meropy Barut
(2014) “Perceptions Towards International Financial Reporting Standards (IFRS): The Case of Vietnam” Nghiên cứu trên đã đưa ra nhận thức của kế toán Việt Nam về những thuận lợi, bất lợi, chi phí và thách thức của việc áp dụng IFRS khi Việt Nam tiến hành áp dụng Nhận thức này đóng vai trò quan trọng trong việc áp dụng IFRS tại Việt Nam Gần đây, Bộ Tài chính Việt Nam đang trong quá trình sửa đổi, ban hành một số Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) để phù hợp với các IFRS hiện hành Nghiên cứu này xem xét các nhận thức, mối quan tâm lo ngại và mong đợi của cộng đồng kế toán Việt Nam và hỗ trợ các chuẩn mực kế toán Việt Nam trong việc đưa ra các quyết định
kế toán sao cho ảnh hưởng thuận lợi đến kế toán thực hành Tổng khoảng 3.000 câu hỏi
đã được gửi đến 3.000 kế toán viên, kế toán trưởng, cán bộ tài chính và các viện nghiên cứu ở Việt Nam trong năm 2012 Nghiên cứu tiết lộ rằng các chuyên gia kế toán Việt Nam lạc quan về lợi ích tiềm năng từ IFRS thông qua, cho thấy chi phí dự kiến và thách thức trong việc thực hiện IFRS và đề nghị hỗ trợ mạnh mẽ cho một chuyển đổi dần dần từ VAS sang IFRS Ba nhóm được nghiên cứu là kiểm toán, kế toán và chuyên gia Người được hỏi nhận thức rằng việc áp dụng IFRS sẽ tăng tính so sánh cũng như
Trang 17tính minh bạch cho các công ty trên toàn quốc gia Điều này sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận được với thị trường vốn quốc tế và để nâng cao danh tiếng của họ ở cả cấp quốc gia và tổ chức
Tuy nhiên, không phải tất cả doanh nghiệp Việt Nam đều nhận thức được lợi ích
từ việc áp dụng IFRS Một số nhược điểm của IFRS đã được khảo sát, bao gồm cả quá phức tạp và không thích hợp, chưa kể đến sự thiếu chuyên gia về IFRS Các khía cạnh chi phí của việc áp dụng là cả thời gian và tiền Việc tái đào tạo cán bộ tài chính từ cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc theo chuẩn mực kế toán Việt Nam với cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc theo IFRS là một trong những thách thức lớn nhất Mặc dù báo cáo IFRS đã được xem như là tốn kém, mất thời gian và khó khăn, đáng ngạc nhiên, những người được hỏi lạc quan về lợi ích lâu dài Tránh chi phí của báo cáo kép được coi là lợi thế tiết kiệm chi phí nhất Mặc dù có một số mối quan tâm của những thách thức đáng để thực hiện IFRS, phần lớn số người được hỏi cho thấy sự sẵn sàng của họ để áp dụng IFRS để đạt được hiệu ứng tích cực từ báo cáo IFRS Những phát hiện này hỗ trợ các kết quả trong Pandaram (2002) và mâu thuẫn với các kết quả trong Rezaee et al (2010) Thứ nhất, nghiên cứu này là một trong một số ít, nếu không phải là nghiên cứu toàn diện đầu tiên để kiểm tra nhận thức về kế toán Việt Nam về những ưu điểm, nhược điểm, chi phí và những thách thức của áp dụng IFRS ở Việt Nam Xu hướng gần đây trong nghiên cứu kế toán quốc tế dường như chỉ ra rằng các nhà nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS trong các nền kinh tế chủ chốt như các thành viên của Liên minh châu Âu, Úc, Canada, Hoa Kỳ và Trung Quốc Có rất ít nghiên cứu về các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển so với các nước phát triển Từ góc độ toàn cầu, những phát hiện của nghiên cứu này có thể thêm vào các cuộc tranh luận về lý do tại sao các nước đang phát triển nên áp dụng IFRS Các kết quả nghiên cứu ngụ ý rằng lợi ích từ IFRS cho các nước đang phát triển khác nhau
để hưởng những lợi ích của các nước phát triển Hơn nữa, những phát hiện của nghiên cứu này liên quan đến sự phức tạp của các chuẩn mực như hầu hết các nhược điểm của
Trang 18IFRS cũng làm nổi bật những ưu tiên cao cho IASB để giải quyết những nỗ lực của họ trong việc đưa ra IFRS được chấp nhận trên toàn cầu IASB nhận thức rằng mục tiêu
"thiết lập các chuẩn mực báo cáo tài chính chung chất lượng cao cho toàn cầu" không thể đạt được nếu các nước đang phát triển như Việt Nam không áp dụng IFRS Những thách thức đối với Việt Nam trong việc đối phó với chuyển đổi và chuyển đổi các vấn
đề IFRS được pha trộn bởi tốc độ, mức độ sửa đổi và ban hành các chuẩn mực mới được khởi xướng bởi IASB IASB phải lưu ý rằng sự cân bằng giữa sự cần thiết phải cải thiện IFRS từ các ý kiến của các nền kinh tế khác nhau và những khó khăn phải đối mặt của các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam trong việc thực hiện IFRS là điều cần thiết Trường hợp của Việt Nam, như một đại diện của các nước đang phát triển, có thể hữu ích cho IASB trong quá trình cải thiện hội tụ toàn cầu của các chuẩn mực kế toán quốc gia và IFRS Có lẽ IASB cũng nên đặt một tập trung mạnh vào một nhóm riêng biệt của các nước đang phát triển nếu IFRS thực sự là để đạt được mục tiêu của hội tụ toàn cầu với IFRS
Các kết quả nghiên cứu vẫn tồn tại hạn chế của bất kỳ nghiên cứu khảo sát nào Đầu tiên, có một khả năng rằng một số người trả lời có thể khuynh hướng trung bình hoặc câu trả lời thiếu rõ ràng trong bảng câu hỏi Kết quả cần được diễn giải một cách cẩn thận vì cỡ mẫu tương đối nhỏ
Nghiên cứu trong tương lai nên kiểm tra nhận thức từ nhóm khác của người sử dụng báo cáo tài chính (ví dụ, các nhà phân tích tài chính, chứng khoán, môi giới, nhà đầu tư, các quan chức chính phủ)
Nghiên cứu thứ ba của Duc Hong Thi Phan (2010) “The Relevance of
International Financial Reporting Standards (IFRS) to a Developing Country: Evidence from Vietnam” Bài viết này thông qua các khái niệm về kế toán của Gernon và Wallace (1995) đề xuất trong việc kiểm tra môi trường kế toán của Việt Nam để xác định một số yếu tố có thể giải thích sự thiếu hỗ trợ cho các chuẩn mực Báo cáo tài
Trang 19chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam Dựa trên các tài liệu của quốc tế về mô hình hội tụ
kế toán, tác giả đánh giá tác động tiềm năng của IFRS thông qua chất lượng và tính so sánh của báo cáo tài chính tại Việt Nam, những tác động thị trường vốn và các chi phí tiềm năng của chuyển đổi từ nguyên tắc kế toán Việt Nam (VAS) để áp dụng đầy đủ các IFRS Nghiên cứu cũng nêu bật một số yếu tố quan trọng có khả năng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện của IFRS tại Việt Nam Bài viết kết luận với một cuộc thảo luận
sự phát triển tương lai của chuẩn mực kế toán tại Việt Nam đối với việc thực hiện các IFRS
Hầu hết các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS thực hiện tại các quốc gia phát triển Một số ít nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc
áp dụng IFRS thực hiện tại các quốc gia đang phát triển Một số nghiên cứu về hướng
áp dụng IFRS tại Việt Nam chưa đánh giá đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng Việt Nam một quốc gia đang phát triển, đang trong quá trình hoàn thiện chuẩn mực kế toán theo thông lệ quốc tế, đề tài này còn khá mới lạ nên có rất ít công trình nghiên cứu
Kết luận chương 1: những nghiên cứu về việc áp dụng IFRS đã chỉ ra những thuận lợi và thách thức khi Việt Nam tiến hành áp dụng IFRS, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS Những nhân tố tiêu biểu đã được nêu trong các nghiên cứu có thể kể đến như tốc độ tăng trưởng kinh tế, trình độ giáo dục, hệ thống pháp luật, văn hóa, thị trường vốn, chính trị, tính quốc tế, …Những nghiên cứu trên đã cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho đề tài nghiên cứu của tác giả
Trang 20CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
mà còn là sự toàn vẹn và minh bạch Báo cáo tài chính
Quá trình hình thành và phát triển chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được tính từ khi Ủy ban Chuẩn Mực Kế toán Quốc tế - IASC (tiền thân của IASB) được thành lập đến nay Qúa trình này được chia thành hai giai đoạn chính, trước và sau năm
2001
Giai đọan thứ nhất: từ 1973 đến 2001
Năm 1973 một uỷ ban xây dựng các chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standard Committee - IASC) đã được thành lập tại Luân Đôn với tư cách
là tổ chức soạn thảo chuẩn mực quốc tế đầu tiên trên thế giới
IASC là một tổ chức độc lập, thực hiện các mục tiêu xây dựng, ban hành các Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASs) và để cho IASs được chấp nhận rộng rãi trên thế
Trang 21giới Hơn nữa, IASC luôn cố gắng cập nhật, cải tiến và biến đổi phù hợp các quy định
về kế toán, chuẩn mực kế toán và các thủ tục trình bày báo cáo tài chính, phát huy tối
đa tính hiệu quả, hiệu lực của chuẩn mực kế toán quốc gia và quốc tế
Thành viên của uỷ ban này là tất cả các tổ chức kế toán chuyên nghiệp Thông qua việc xây dựng đưa ra các chuẩn mực, nguyên tắc kế toán, uỷ ban này có sứ mệnh thu hẹp những khác biệt về kế toán giữa các nước, các chuẩn mực kế toán này được chấp nhận và tuân thủ trên thế giới, làm cho số liệu kế toán đáp ứng được yêu cầu dễ hiểu, so sánh được, hướng đến việc cải thiện và hòa hợp về các quy định liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính
Sự ra đời của Ủy ban Chuẩn Mực Kế toán Quốc tế (IASC) vào năm 1973 là kết quả của một thỏa thuận giữa các hiệp hội nghề nghiệp của các nước Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Mexico, Hà Lan, Vương quốc Anh và Ireland, và Hoa Kỳ Các thành viên hỗ trợ bổ sung được thêm vào trong những năm tiếp theo, và trong năm 1982, những "thành viên" hỗ trợ của IASC bao gồm tất cả các tổ chức kế toán chuyên nghiệp
là thành viên của Liên đoàn Kế toán Quốc Tế (IFAC) Hội đồng quản trị thiết lập chuẩn mực của IASC được gọi là Hội đồng quản trị IASC gồm có 13 quốc gia thành viên và bổ sung 3 thành viên tổ chức hoạt động bán thời gian, trên cơ sở tình nguyện
Số lượng thành viên gia nhập IASC ngày càng tăng Tính đến cuối 2000, IASC có 156 thành viên đến từ 114 quốc gia
Trong suốt quá trình hoạt động, IASC đã ban hành được Khuôn mẫu lý thuyết
về việc lập và trình bày báo cáo tài chính và 41 Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS), trong đó có 31 chuẩn mực có hiệu lực đến cuối năm 2000 Các chuẩn mực này được sử dụng làm cơ sở xây dựng chuẩn mực kế toán tại nhiều quốc gia, và được chấp nhận bởi nhiều cơ quan quản lý thị trường chứng khoán
Một bước chuyển mới trong nỗ lực thúc đẩy việc sử dụng các chuẩn mực quốc
tế của IASC vào năm 1987 IASC sẽ xem xét sửa đổi các chuẩn mực kế toán quốc tế
Trang 22hiện có của mình, để có thể thỏa mãn nhu cầu của tổ chức quốc tế các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán IOSCO là cần có một tập hợp các chuẩn mực làm cơ sở chung cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các công ty muốn được niêm yết trên thị trường chứng khoán nước ngoài Tổ chức quốc tế các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán (IOSCO) đã chấp nhận tạm thời việc phát triển các chuẩn mực kế toán quốc tế phục vụ thị trường vốn năm 1995 Cho đến năm 2000, Ủy ban Kỹ thuật của IOSCO chấp nhận chính thức tất cả các chuẩn mực kế toán quốc tế của IASC, và khuyến cáo các cơ quan quản lý thị trường vốn các nước cho phép các công ty nước ngoài được lựa chọn chuẩn mực kế toán quốc tế thay cho chuẩn mực kế toán quốc gia
Sau gần 25 năm thành tựu, năm 1997, IASC nhận thấy rằng để tiếp tục thực hiện vai trò của mình một cách hiệu quả, phải tìm cách để mang lại sự hội tụ giữa chuẩn mực kế toán quốc gia và thông lệ, chuẩn mực kế toán toàn cầu với chất lượng cao Để làm điều đó, IASC thấy cần phải thay đổi cấu trúc Vào cuối năm 1997, IASC đã thành lập một Ban Công tác chiến lược để xem xét lại cơ cấu và chiến lược của mình Giai đoạn này kết thúc vào cuối năm 2000 với sự tái cấu trúc IASC hình thành IASB vào năm 2001
Giai đoạn thứ 2: từ 2001 đến nay
Sau khi IASC tái cơ cấu để thúc đẩy xa hơn quá trình hội tụ kế toán quốc tế, vào tháng 4 năm 2001, Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế IASB ra đời, thay thế Ủy ban Chuẩn Mực Kế toán Quốc tế (IASC) Tổ chức Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASC Foundation) đã hình thành với chức năng giám sát hoạt động, cơ cấu và chiến lược cũng như tài trợ kinh phí hoạt động cho IASB IASC Foundation là tổ chức bao gồm các công ty kiểm toán quốc tế, các định chế tài chính tư nhân, các công ty công nghiệp, các ngân hàng trung ương và ngân hàng phát triển,…trên toàn thế giới
Trang 23IFRS Foundation và IASB được thành lập vào năm 2001 để phát triển chuẩn mực báo cáo tài chính chất lượng cao, dễ hiểu, thực thi và được chấp nhận trên toàn cầu dựa trên nguyên tắc xác định rõ ràng
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) là một cơ quan tư nhân độc lập, phát triển và phê duyệt Chuẩn mực báo cáo tài chính Quốc tế (IFRS) Tính đến cuối năm 2005, IASB đã ban hành tất cả 42 chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/IFRS) IASB có 14 thành viên, trong đó 12 thành viên của 9 nước làm việc toàn thời gian và một số chuyên gia khác IASB phối hợp với các tổ chức ban hành chuẩn mực kế toán ở các nước để đạt được sự hội tụ các chuẩn mực kế toán
Mục tiêu hoạt động chính của IASB là phát triển các chuẩn mực kế toán có chất lượng cao, thống nhất, dễ hiểu và có tính khả thi cao cho toàn thế giới trên quan điểm phục vụ lợi ích của công chúng; tăng cường tính minh bạch, có thể so sánh được của thông tin trong báo cáo tài chính và các báo cáo liên quan đến tài chính, kế toán khác, giúp những thành viên tham gia thị trường vốn thế giới và những người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra các quyết định kinh tế; xúc tiến việc sử dụng và ứng dụng nghiêm ngặt các chuẩn mực kế toán quốc tế; đem đến những giải pháp có chất lượng cao cho
sự hòa hợp giữa hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia và các chuẩn mực kế toán quốc
tế Đồng thời, thúc đẩy quá trình hội tụ chuẩn mực kế toán quốc gia với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
IASB giữ lại các chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành cũng như ban hành các chuẩn mực mới là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế Các chuẩn mực kế toán quốc
tế hiện hành được xem xét lại, chỉnh sửa và ban hành dưới tên chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế Trong hơn mười năm qua, đã có 13 chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế mới (IFRS) được ban hành và 29 chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) được chỉnh sửa, bổ sung Khuôn mẫu lý thuyết cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế (IFRS Framework) cũng được ban hành mới vào năm 2010
Trang 24Thuật ngữ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được sử dụng theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các chuẩn mực do IASB ban hành
Trong giai đọan này, Hiệp định Norwalk ký kết vào tháng 9 năm 2002 giữa Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính (FASB), chuẩn mực của Mỹ, và Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) Hiệp định là một bước tiến quan trọng đối với Hoa Kỳ, chính thức hóa cam kết về sự hội tụ của US GAAP và Chuẩn mực Báo cáo tài chính Quốc tế FASB cam kết hợp tác hướng tới mục tiêu sản xuất các chuẩn mực báo cáo chất lượng cao trên toàn thế giới để hỗ trợ thị trường vốn toàn cầu lành mạnh Hiệp định đặt ra một số sáng kiến, trong đó có một động thái để loại bỏ sự khác biệt nhỏ giữa các chuẩn mực của Mỹ và Quốc tế, quyết định sắp xếp chương trình làm việc trong tương lai và cam kết làm việc cùng nhau trong các dự án chung
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế đã và đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới
2.1.2 Tình hình áp dụng IFRS của các quốc gia trên thế giới
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế ngày càng được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới như châu Âu, Úc, Nam Phi, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á… Toàn bộ các quốc gia trong khối liên minh Châu Âu (EU) đã áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cho việc lập báo cáo tài chính từ năm 2005 Hoa Kỳ đã cho phép các công ty nước ngoài niêm yết tại nước này sử dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế mà không cần chỉnh hợp từ 01.01.2008 Bên cạnh đó cũng có nhiều quốc gia đang trong quá trình chuẩn bị thông qua bộ chuẩn mực IFRS trong những năm tới
Mỗi quốc gia lựa chọn cách áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế cho phù hợp như vận dụng toàn bộ các chuẩn mực kế toán quốc tế mà không cần sự sửa đổi, bổ sung; hoặc vận dụng toàn bộ nhưng có bổ sung, sửa đổi; hoặc vận dụng có chọn lọc và sửa đổi bổ sung thêm để phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế quốc gia mình Tuy nhiên, một số quốc gia vẫn xây dựng hệ thống chuẩn mực riêng cho mình
Trang 25Qúa trình áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế vẫn gặp phải nhiều khó khăn do
sự khác biệt về môi trường, văn hóa, kinh tế, pháp luật giữa các quốc gia Xu thế hội tụ
kế toán của một số quốc gia có thể thống nhất trong chuẩn mực nhưng chưa hoàn toàn nhất quán trong thực tế
Để hiểu rõ hơn hình hình áp dụng IFRS trên thế giới, việc xem xét tình hình áp dụng tại một số quốc gia điển hình như Liên minh châu Âu EU, Mỹ, Úc, Trung Quốc giúp vấn đề được rõ hơn
Liên minh châu Âu EU trên nguyên tắc chung áp dụng nguyên bản IFRS, nhưng chưa thật sự đồng bộ so với IFRS, vì việc thông qua phê duyệt từng IFRS để tạo nên hệ thống, còn một số IFRS chưa được thông qua Do tính thống nhất trong hệ thống chuẩn mực chưa hoàn chỉnh, chuẩn mực kế toán của các quốc gia EU cũng khó được nhất quán, việc áp dụng vào thực tế của các công ty trong các quốc gia khác nhau sẽ ít nhiều tạo ra những khác biệt Như vậy, mục tiêu chung là xây dựng chuẩn mực toàn cầu chất lượng cao sẽ khó thực hiện Dù EU rất tích cực tham gia quá trình xây dựng IFRS nhưng vẫn bảo lưu những quan điểm riêng trong hệ thống kế toán khu vực Hội tụ kế toán quốc tế như hình thức của EU là một phương pháp tiếp cận riêng của các quốc gia trong cùng khu vực
Tại Mỹ, vào tháng 9 năm 2002, Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính của Mỹ (FASB) ký thỏa hiệp Norwalk với IASB để phát triển chuẩn mực chất lượng cao, hợp tác thực hiện những dự án chung, hạn chế những khác biệt giữa nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung của Mỹ (US GAAP) và IFRS Quá trình hợp tác là một thử thách khá lớn Một số khác biệt như hệ thống kế toán của Mỹ được hướng dẫn một cách chi tiết để thực thi theo các qui định, IFRS thì hạn chế những hướng dẫn Bên cạnh đó, hệ thống kế toán của Mỹ xây dựng dựa trên cơ sở qui định (rules-based), IFRS theo những nguyên tắc (priciples-based) Hệ thống kế toán Mỹ bị chi phối bởi luật chứng khoán, IFRS thì không
Trang 26Mặc dù gặp phải những khó khăn nhất định nhưng Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) đã có những động thái tích cực hướng tới hệ thống chuẩn mực quốc tế Với những nỗ lực không ngừng của SEC trong tiến trình hội tụ của Mỹ, SEC quyết định chấp nhận sử dụng IFRS vào năm 2008 và lộ trình này là cơ sở để hình thành một chuẩn mực toàn cầu Đến 2011, SEC tuyên bố ủng hộ xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán toàn cầu chất lượng cao trên cơ sở các IFRS
Úc là một trong những quốc gia đầu tiên áp dụng IFRS, việc áp dụng IFRS được thực thi từ ngày 01.01.2005 Tuy nhiên, để phù hợp với đặc điểm riêng của quốc gia, môi trường pháp lý của Úc, chuẩn mực kế toán Úc đã được điều chỉnh, bổ sung lại tức
là IFRS được chuyển đổi theo Úc Từ đó, chuẩn mực kế toán Úc không nhất quán với IFRS, dẫn đến sự khác biệt khi áp dụng vào thực tế Việc thực thi IFRS của Úc không
có sự khác biệt giữa trước và sau khi áp dụng IFRS Đây được xem như một chính sách trung lập trong việc thực thi chuẩn mực kế toán quốc tế tại Úc
Tại Trung Quốc, từ ngày 1.1.2007, hệ thống chuẩn mực kế toán theo hướng hội
tụ kế toán quốc tế trên cơ sở IFRS gồm 38 chuẩn mực kế toán có hiệu lực Chuẩn mực
kế toán Trung Quốc đã hình thành trên nền tảng của IFRS Tuy nhiên, một số điểm khác biệt vẫn tồn tại giữa CMKT Trung Quốc và IFRS do CMKT Trung Quốc không phát triển và áp dụng đầy đủ giá trị hợp lý, yêu cầu công bố các bên liên quan được chỉnh sửa lại cũng như không thực hiện đánh giá tổn thất tài sản Trung Quốc chỉ hội tụ
về hình thức vì CMKT Trung Quốc được che đậy bên ngoài với IAS/IFRS nhưng thực chất Trung Quốc vẫn áp dụng chính sách kế toán doanh nghiệp Năm 2009, Ngân hàng thế giới đã khẳng định hệ thống kế toán cho hoạt động doanh nghiệp ASBE về cơ bản
đã đáp ứng hội tụ CMKT quốc tế nhưng CMKT phải được hội tụ một cách toàn diện và đầy đủ ASBE cam kết giai đoạn chuyển đổi từ 2009 đến kết thúc 2011 và đã lên chương trình những nội dung cơ bản cho lộ trình hội tụ đầy đủ Gần đây, bộ Tài chính của Trung Quốc tuyên bố Trung Quốc đã áp dụng đầy đủ theo IFRS nhưng có một số
Trang 27loại trừ, tất cả các công ty có qui mô lớn và vừa sẽ phải áp dụng theo CMKT từ năm
2012
Nhiều quốc gia và khu vực kinh tế thế giới đang hướng tới chuẩn mực quốc tế
và tích cực trong việc xây dựng chuẩn mực quốc tế thành chuẩn mực toàn cầu chất lượng cao, thống nhất thông tin trình bày trên báo cáo tài chính của các quốc gia, đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa kinh tế Hội tụ kế toán quốc tế từ chuẩn mực đến thực tiễn
là cả một quá trình đầy thử thách, khó khăn nhưng là xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình quốc tế hóa kinh tế thế giới hiện nay
2.1.3 Lợi ích và khó khăn của việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Lợi ích của việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
IFRS là một hệ thống các chuẩn mực kế toán có chất lượng cao, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong lập và trình bày BCTC, các chuẩn mực này đã làm thay đổi cách thức ghi nhận, đo lường và trình bày các yếu tố của BCTC, giúp loại trừ sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán, nhờ đó đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng
IFRS giúp so sánh giữa các báo cáo tài chính Hiện nay có nhiều cách thức khác nhau để chuẩn bị các báo cáo tài chính Đây là một trong những khó khăn lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài vì phải xem xét các báo cáo tài chính được chuẩn bị dưới các chuẩn mực khác nhau Nhờ IFRS, các chủ đầu tư có thể nhìn nhận các hoạt động tài chính với tính minh bạch cao hơn, từ đó có thể so sánh tình trạng hoạt động cũng như hiệu suất giữa các doanh nghiệp một cách chính xác hơn, có thể đưa ra quyết định đầu
tư tốt hơn Nếu doanh nghiệp Việt Nam có thể truyền tải một cái nhìn đầy triển vọng trong báo cáo tài chính, họ sẽ có nhiều cơ hội hơn để thu hút các nhà đầu tư và đơn vị cho vay vốn ở cả trong và ngoài nước Như vậy, IFRS sẽ khuyến khích thị trường vốn Việt Nam phát triển mạnh mẽ, ổn định
Trang 28Thời gian qua, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài thường báo cáo kép, tạo ra hai bộ báo cáo tài chính, một bộ lập theo các chuẩn mực kế toán Việt Nam để trình cơ quan chính phủ Việt Nam và một bộ khác tuân thủ IFRS để báo cáo công ty mẹ của họ Hội tụ để IFRS sẽ giúp họ tiết kiệm rất nhiều chi phí chuẩn bị hai bộ báo cáo như trước, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công ty có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam
Áp dụng IFRS giúp tiết kiệm thời gian, chi phí soạn thảo chuẩn mực, đẩy nhanh quá trình hòa nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế Ngoài ra, phí kiểm toán sẽ được giảm bớt do khi các báo cáo cùng được lập trên cùng một cơ sở thì sẽ tạo điều kiện cho kiểm toán kiểm tra nhanh hơn dẫn đến tốn ít thời gian và chi phí hơn
Nhiều nước trên thế giới sử dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế để làm điều kiện niêm yết chứng khoán trên thị trường nước họ hoặc có nhiều nước áp dụng toàn
bộ chuẩn mực kế toán quốc tế mà không sửa đổi bất cứ một điều gì Vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam muốn gia tăng xuất khẩu và thiết lập hoạt động ở nước ngoài sẽ phải chịu sự giám sát chặt chẽ hơn và phài lập báo cáo tài chính theo các chuẩn mực kế toán quốc tế Do đó, áp dụng IFRS sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam gia tăng xuất khẩu và thiết lập hoạt động ở nước ngoài
Theo IFRS, các doanh nghiệp sẽ tạo ra một bộ các báo cáo kế toán và tài chính được tiêu chuẩn hóa và nhất quán cho việc tuân thủ các yêu cầu pháp lý và hợp nhất Điều đó sẽ hỗ trợ cải thiện khả năng phân tích các báo cáo tài chính và quá trình lên kế hoạch thuế cho doanh nghiệp
Áp dụng IFRS giúp các thông tin hoạt động được truy cập một cách nhanh chóng, từ đó việc phân tích và ra quyết định sẽ tốt hơn, đảm bảo sự nhanh chóng, kịp thời
Trang 29Các doanh nghiệp sẽ có thể tiêu chuẩn hóa và sắp xếp hệ thống kế toán xuyên suốt doanh nghiệp, từ đó giúp giảm chi phí cho việc kiểm toán và báo cáo theo luật định, quản lý tài nguyên tốt hơn
Khó khăn của việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Chuẩn mực báo cáo tài chính theo tiêu chuẩn quốc tế áp đặt những thay đổi mà các doanh nghiệp phải tuân thủ Doanh nghiệp sẽ phải thực hiện một số thay đổi từ đơn giản đến phức tạp Có thể kể đến một số vấn đề có thể phát sinh như bổ sung một vài tài khoản trong hệ thống tài chính, đổi mới một số quy trình kinh doanh, thiết kế lại toàn bộ hoặc từng phần hệ thống tài chính Các doanh nghiệp có thể không xác định rõ được những thay đổi nào cần thiết cho đến khi họ bắt đầu quá trình áp dụng, những khó khăn trong thời gian đầu áp dụng là khó tránh khỏi
Chi phí đầu tư ban đầu khá lớn do doanh nghiệp bắt buộc phải xây dựng lại một
hệ thống thu thập, xử lý và trình bày thông tin tài chính Việc đào tạo lại cho nhân viên, chuyển đổi lại hệ thống báo cáo, xây dựng lại các quy trình, thay đổi hệ thống phần mềm là những thách thức không hề nhỏ, tốn nhiều chi phí của doanh nghiệp Đối với nhiều doanh nghiệp chi phí cơ hội để theo cái mới là quá lớn so với lợi ích mà cá nhân doanh nghiệp đó thu đươc
Chuẩn mực IFRS được đánh giá quá phức tạp và rất khó hiểu Đối với những người sử dụng báo cáo tài chính thì việc lấy thông tin tài chính từ đây để hỗ trợ cho mục đích ra quyết định thực sự bị hạn chế, càng khó khăn hơn đối với những người không có hoặc có ít kiến thức về kế toán Sự phức tạp trong việc trình bày báo cáo tài chính thì mục đích làm cho báo cáo minh bạch hơn đã không làm được
Sự thiếu hụt nguồn nhân lực được đào tạo, thiếu người làm kế toán có trình độ, chuyên môn cao, am hiểu về IFRS là một trong những thách thức lớn nhất Kế toán tại Việt Nam chưa được đào tạo chuyên sâu về IFRS, chưa có kinh nghiệm thực tế, rất khó khăn cho họ tìm hiểu, chấp nhận khái niệm và phương pháp kế toán mới quy định
Trang 30trong IFRS Ví dụ như việc đo lường giá trị hợp lý là ngoài kinh nghiệm của hầu hết các chuyên gia kế toán Việt Nam Việc tái đào tạo cán bộ tài chính kế toán từ cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc theo chuẩn mực kế toán Việt Nam sang cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc của IFRS sẽ là khó khăn rất lớn
Hiện nay, các công ty Việt Nam vẫn đang áp dụng nguyên tắc giá gốc Các khái niệm "giá trị hợp lý” không tồn tại trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, việc thay đổi khái niệm “giá trị hợp lý” không phải là dễ dàng Hệ thống kế toán tại Việt Nam vẫn chưa được thay đổi hoàn toàn thị trường vì nền kinh tế ở Việt Nam không phải là hoàn toàn nền kinh tế thị trường Sở hữu nhà nước vẫn còn lớn trong nền kinh tế và ảnh hưởng đến chính sách kinh tế của chính phủ Vì vậy, Việt Nam khó có thể áp dụng tất
cả các nguyên tắc của thị trường tự do, trong đó có giá trị hợp lý
2.2 Lý thuyết nền về việc nghiên cứu các các nhân tố ảnh hưởng
2.2.1 Thuyết Hành vi dự định (TPB)
Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) là sự phát triển và cải tiến của Thuyết hành động hợp lý TRA Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó Mối quan hệ giữa ý định và hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được đưa
ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen & Fishben, 1980; Sheppard, Hartwick & Warshaw, 1988, trích trong Ajzen, 1991, tr 186)
Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan Trong đó, thái độ của một cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó Ajzen (1991, tr 188) định nghĩa chuẩn chủ quan (Subjecttive
Trang 31Norms) là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi Khái quát về thuyết hành động hợp lý theo sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1: Thuyết hành động hợp lý (TRA)
(Nguồn: Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989)
Theo Ajzen (1991), sự ra đời của thuyết hành vi dự định TPB (Theory of planned behavior) xuất phát từ giới hạn của hành vi con người có ít sự kiểm soát Nhân
tố thứ ba mà Ajzen cho là có ảnh hưởng đến ý định của con người là yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control) Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi (Ajzen, 1991, tr 183)
Đo lường niềm tin đối với những
thuộc tính của sản phẩm
Niềm tin về những người ảnh hưởng
sẽ nghĩ rằng tôi nên thực hiện hay
Ý định Niềm tin đối với những thuộc tính của
sản phẩm
Trang 32Thuyết hành động hợp lý TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành
vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được; yếu tố về thái độ đối với hành
vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng Khái quát về thuyết hành vi dự định theo sơ đồ 2.2
Sơ đồ 2.2: Thuyết hành vi dự định (TPB)
(Nguồn: website của Ajen: http://www.people.umass.edu/aizen/tpb.diag.html)
Trong thực tế các mô hình TPB thường được sử dụng để dự báo và giải thích hành vi của con người đối với các quyết định cụ thể Nói chung, nhận thức kiểm soát hành vi và thái độ có xu hướng quan hệ chặt chẽ nhất với hành vi và ý định ủng hộ môi trường; chuẩn chủ quan có mức độ ít hơn (Armitage & Conner, 2001)
Áp dụng vào mô hình nghiên cứu, ba yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định thực
hiện hành vi là thái độ cá nhân, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi Từ đó, góp phần giải thích ảnh hưởng của nhân tố đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam về mặt văn hóa, hệ thống pháp luật, chính trị
Trang 332.2.2 Thuyết định chế
Thuyết định chế cổ điển (còn được biết đến là Kinh tế học thể chế hoặc Kinh tế chính trị thể chế) được hình thành đầu thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ, do Thorstein Veblen sáng lập Bằng cách dùng những phương pháp và cách tiếp cận của các khoa học liên ngành, các nhà nghiên cứu kế tục thuyết định chế cố gắng mở rộng phạm vi phân tích kinh tế Theo thuyết định chế, hành vi của cá thể kinh tế biểu hiện chủ yếu bởi sự chi phối của những thông lệ, quy định, luật định xã hội hay tập thể
Định chế được hiểu là quy tắc, tiêu chuẩn, thông lệ của hành vi cá thể trong các hình thái xã hội hợp thành Ở mức độ xã hội hoàn chỉnh đó là luật định, luật pháp Trong giao tiếp, văn hóa đó là ngôn ngữ Tổ chức, cơ quan là các hình thức xã hội, trong đó các định chế riêng ràng buộc và chi phối hành vi các cá thể như một luật chơi Nhưng tổ chức xã hội không đồng nghĩa với định chế Tổ chức xã hội chỉ là dạng thức
cụ thể, là khuôn khổ hoạt động của các định chế Định chế quy định tính chất, đặc điểm các quan hệ xã hội
Thuyết định chế hướng đến phân tích các phạm trù kinh tế và các quá trình kinh
tế không chỉ trong dạng thuần chất kinh tế, mà còn đề cập các yếu tố ngoại vi như xã hội, tâm lý, sinh học, tôn giáo
Các luận điểm căn bản:
Không thay đổi các phạm trù quen thuộc của kinh tế học cổ điển như giá cả, lợi nhuận, nguyên lý cung - cầu, nhưng xem xét chúng trong phạm vi rộng hơn của các mối quan hệ
Khác với trường phái thỏa dụng biên, thuyết định chế nghiên cứu các vấn đề kinh tế không phải trong dạng thuần nhất, mà xem kinh tế là thành phần không thể tách rời của xã hội
Trang 34Kinh tế chính trị cổ điển cho rằng kinh tế là cơ sở hạ tầng của khoa học, văn hóa, chính trị Thuyết định chế cho rằng tất cả các lĩnh vực trên ngang bằng nhau và liên quan mật thiết với nhau
Thuyết định chế bác bỏ "nguyên tắc tối ưu" của kinh tế học hiện đại, cho rằng các chủ thể kinh tế hành động không phải để đạt mục đích chức năng cao nhất, mà là theo những thói quen được định hình bởi các quy định hay các tiêu chuẩn xã hội
Theo thuyết định chế, nhu cầu xã hội là tiên quyết Hành động của những cá thể tiêu biểu hầu như được quyết định bởi tình huống trong nền kinh tế nói chung, chứ không phải ngược lại Mục đích và phương hướng của các cá thể được xác định bởi xã hội Thuyết ích dụng biên tế và kinh tế chính trị cổ điển, ngược lại, cho rằng nhu cầu của cá thể là đầu tiên, hợp thành nhu cầu cộng đồng sau đó
Phủ nhận cách tiếp cận nền kinh tế như một hệ thống cân bằng, thuyết định chế xem nền kinh tế như một hệ thống có khả năng tiến hóa, được điều khiển bởi những quá trình mang tính chất tích lũy Những nhà định chế học phát triển học thuyết này dựa trên nguyên tắc "nguyên nhân mang tính tích lũy" mà Veblen đề ra Theo đó, phát triển kinh tế được xem là nguyên nhân của sự tác động qua lại của các hiện tượng kinh
tế có khả năng tăng cường lẫn nhau Thuyết ích dụng biên tế xem nền kinh tế trong trạng thái tĩnh và động Còn kinh tế học cổ điển xem phát triển kinh tế là quá trình tự nhiên
Ủng hộ sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế thị trường
Phủ nhận quan điểm "con người duy lý", nghĩa là phủ nhận con người có khả năng tối ưu hóa cho mình các ích dụng vật chất Thuyết này cho rằng hành vi của cá thể khó có thể được định trước bởi vì không thể tính được hết sự chi phối của các yếu
tố kinh tế và phi kinh tế lên hành vi
Trang 35Cho rằng giá cả không dao động nhiều như các nhà kinh tế học cổ điển đã khẳng định, tuy là chi phí sản xuất, cầu hàng hóa hay tình thế thị trường thay đổi rất lớn
Các nhà định chế học xem nhiệm vụ của khoa học kinh tế không chỉ gồm dự đoán kinh tế, giải thích hệ thống của các mối liên quan, mà còn phải đưa ra những hướng dẫn, công thức phù hợp với những thay đổi trong đời sống chính trị hay nhận thức của xã hội
Phương pháp luận: Trong các nghiên cứu của các nhà định chế học thường không gặp những công thức hay biểu đồ toán học Họ chỉ tập trung giải quyết những vấn đề riêng biệt, quan trọng và cấp thiết, chứ không đưa ra phương pháp chung nhất, không xây dựng một trường phái khoa học nhất định Đó cũng là biểu hiện sự hạn chế của thuyết này, sự thiếu chuẩn bị cho một lý thuyết hoàn chỉnh
Áp dụng vào mô hình nghiên cứu, thuyết định chế giúp tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam về khía cạnh pháp luật, kinh tế, văn hóa, chính trị
2.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị
Dựa vào nghiên cứu của Fatma Zehri & Jamel Chouaibi (2013) và Duc Hong Thi Phan (2010), tác giả chọn ra bảy nhân tố để nghiên cứu: (1) Văn hóa, (2) Tăng trưởng kinh tế, (3) Thị trường vốn, (4) Trình độ học vấn, (5) Hội nhập kinh tế thế giới, (6) Hệ thống pháp luật, (7) Chính trị ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Việc xây dựng các nhân tố dựa trên các cơ sở sau:
- Các nhân tố có ảnh hưởng trong phân tích từ những nghiên cứu trước đây;
- Các nhân tố có thể đo lường, khảo sát dễ dàng;
- Dữ liệu dễ dàng ghi nhận;
- Nhân tố liên quan đến môi trường kinh tế, xã hội, văn hóa của Việt Nam
Mô hình nghiên cứu được khái quát trong sơ đồ 2.3
Trang 36Sơ đồ 2.3: Mô hình nghiên cứu
Kết luận chương 2: Việc áp dụng IFRS tồn tại cả những thuận lợi và khó khăn Tuy nhiên, hội tụ kế toán quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình quốc tế hóa kinh tế thế giới hiện nay Dựa trên thuyết hành vi dự định và thuyết định chế, mô hình nghiên cứu được xây dựng gồm bảy nhân tố: Văn hóa, tăng trưởng kinh tế, thị trường vốn, trình độ học vấn, hội nhập kinh tế thế giới, hệ thống pháp luật, chính trị ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
Trình độ học vấn
Hệ thống pháp luật Văn hóa
Chính trị
Tăng trưởng kinh tế Thị trường vốn
ÁP DỤNG IFRS TẠI VIỆT NAM
Hội nhập kinh tế
thế giới
Trang 37CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Các giả thuyết cần kiểm định các nhân tố ảnh hưởng việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
3.1.1 Nhân tố văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa, được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra Văn hóa tác động đến mọi mặt trong đời sống con người
Văn hóa là một yếu tố quan trọng trong giải thích sự lựa chọn hệ thống kế toán phù hợp cho mỗi quốc gia Doupnik và Salter (1995) cho thấy các chỉ tiêu văn hóa và các giá trị văn hóa khác nhau có sự phát triển đáng kể, sinh ra bởi các môi trường bên ngoài
Zeff (1998) thấy rằng văn hóa là một yếu tố ảnh hưởng lớn đối với các tiêu chuẩn và giá trị hệ thống xã hội cũng như các hành vi của hệ thống tương tác nhóm
Văn hoá của Việt Nam là tránh rủi ro và sự không chắc chắn Điều kiện địa lý
và tự nhiên khắc nghiệt, tín ngưỡng, lịch sử chiến tranh và nền kinh tế nghèo đói là những nguyên nhân chính hình thành nền văn hoá tránh sự không chắc chắn và rủi ro của người Việt Nam Việt Nam trải qua bao khó khăn mới giành được độc lập tự do, xây dựng đất nước với nền kinh tề thị trường chỉ ba chục năm gần đây Việt Nam có nguồn gốc là đất nước thuần nông, phần lớn nhữnng người Việt Nam xuất thân từ vùng
Trang 38nông thôn nghèo khó, họ làm lụng rất khó khăn và vất vả để kiếm sống và có được tài sản Vì vậy, khi sử dụng tài sản, họ luôn cân nhắc thận trọng, đảm bảo sự chắc chắn cao mới thực hiện
Về bản chất, Việt Nam tránh rủi ro và sự không chắc chắn Do đó, một kế toán Việt Nam thường tránh tính toán ước tính kế toán Họ được hướng dẫn để được nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định và nguyên tắc và làm theo từng bước hướng dẫn chính xác Tên tài khoản được xác định trước và số tài khoản đã làm giảm tính linh hoạt trong hệ thống kế toán Việt Nam để tránh sự không chắc chắn
Tuy nhiên, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế lại không có tính chắc chắn cao Bởi lẽ việc sử dụng nhiều ước tính kế toán trong chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
đã làm tăng yếu tố không chắc chắn Một trong những ước tính kế toán quan trọng là
áp dụng cơ sở giá trị hợp lý Đây là một trong những khác biệt lớn giữa IFRS và VAS Hiện tại, VAS vẫn áp dụng cơ sở giá gốc
VAS được thiết lập với các ước tính kế toán ít hơn và thận trọng hơn làm hạn chế những yếu tố không chắc chắn Chính điều này đã giảm đi sự phù hợp của thông tin trên báo cáo tài chính theo VAS
Giả thuyết đầu tiên là như sau:
Giả thuyết 1: Văn hóa là yếu tố ảnh hưởng việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
3.1.2 Nhân tố tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển kinh tế Tiến bộ kinh tế là cơ
sở, là điều kiện cơ bản để đạt được những tiến bộ xã hội Sự tích lũy về lượng của nền kinh tế là điều kiện tạo ra sự nhảy vọt về chất của nền kinh tế và cũng là điều kiện cơ bản giúp cải thiện đời sống con người
Từ việc hình thành IASB, các nước đã cố gắng cải thiện thống kế toán của họ bằng cách áp dụng các chuẩn mực IFRS IFRS được phát triển và chuẩn bị bởi một cơ
Trang 39quan thiết lập chuẩn mực kế toán quốc tế, các chuẩn mực bị chi phối và lấy cảm hứng
từ một số sự kiện đáng chú ý của các nước phát triển Khi xem xét các thành phần và cấu trúc của IASB, sự xuất hiện của các nước phát triển là chủ yếu so với các nước đang phát triển Sự khác biệt này cần được chú ý giải quyết khi xây dựng các chuẩn mực
Điều này khẳng định rằng phát triển kế toán chưa bao giờ tách biệt khỏi sự phát triển kinh tế Arpan và Radebaugh (1985) coi phát triển kinh tế thực sự là biến cơ bản
có ảnh hưởng sâu sắc sự phát triển của kế toán, cũng như ảnh hưởng đến các chức năng khác trong xã hội
Ở mức độ nghiên cứu, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và IFRS luôn gây tranh cãi Trong khi các nghiên cứu của Zeghal và Mhedhbi (2006) đã chứng minh rằng áp dụng IFRS dễ chấp nhận hơn ở các quốc gia đang phát triển với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Nhưng Wooly (1998) đã quan sát thấy rằng, trong bối cảnh châu Á, không đáng kể sự khác biệt có thể được nhận thấy được giữa điều kiện tăng trưởng kinh tế với áp dụng IFRS và những áp dụng chuẩn mực kế toán riêng của mỗi quốc gia
Việt Nam là một nền kinh tế mới nổi trong những năm gần đây và đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường Mức
độ phát triển kinh tế của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước phát triển Do vậy, các hoạt động kinh tế ở Việt Nam còn đơn giản hơn nhiều so với các nước phát triển Thực tế, việc lựa chọn áp dụng toàn bộ chuẩn mực kế toán quốc tế được cho là chưa cần thiết trong trường hợp Việt Nam, có khả năng dẫn đến phát sinh chi phí cao hơn và lợi ích mang lại thấp hơn chi phí bỏ ra Mức độ phát triển kinh tế của Việt Nam là lý do
cơ bản dẫn tới sự cần thiết của việc áp dụng có chọn lọc các chuẩn mực kế toán quốc
tế
Do đó, giả thuyết sau đây để nghiên cứu:
Trang 40Giả thuyết 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng việc áp dụng IFRS tại Việt Nam
3.1.3 Nhân tố thị trường vốn
Chất lượng thông tin tài chính là một thành phần quan trọng trong sự phát triển
và hiệu quả của thị trường vốn Trên thực tế, các thách thức chính đối với việc áp dụng IFRS nằm trong điều kiện các hoạt động chức năng của thị trường chứng khoán, từ đó bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thế giới
Về mặt này, Gray & Radebaugh (1997) đã tuyên bố rằng các nhà đầu tư cần có
đủ thông tin phức tạp để có thể phân tích cơ hội đầu tư và tối ưu hóa lựa chọn của họ Một ví dụ, áp lực của môi trường thể chế đã nhắc nhở một số quốc gia trông cậy vào việc thay chuẩn mực kế toán quốc gia bằng IFRS Jemakowicz và Gornik Tomaszewski (2006) đã chỉ ra rằng các quốc gia có thị trường tài chính được mở cho các nhà đầu tư nước ngoài có nhiều khả năng áp dụng IFRS
Do đặc trưng của hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội ở Việt Nam, Việt Nam vẫn chưa có nhu cầu cao về thông tin kế toán chất lượng cao theo IFRS Việt Nam vừa mới phát triển nền kinh tế thị trường từ những năm cuối của thế kỷ 20 với thị trường vốn non trẻ nhất Hiện nay, thị trường vốn vẫn chưa có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, chưa liên thông với thị trường vốn trên thế giới
Đồng thời, người lập và sử dụng báo cáo kế toán chưa có nhu lớn đối vối thông tin tài chính chất lượng vì thông tin kế toán chỉ đóng vai trò hạn chế trong việc ra quyết định của họ Ngoài ra, mức độ tập trung vốn sở hữu của các doanh nghiệp Việt Nam tương đối cao Do vậy, nhu cầu về công bố thông tin và thông tin tài chính chất lượng cao là thấp ở Việt Nam Ngược lại, nhu cầu về thông tin công bố ở các nước khác phát triển với mức độ tập trung vốn sở hữu thấp là rất cao