- Phân môn Làm văn chủ yếu mang tính thực hành, nên học sinh phải vận dụng những kiến thức văn học, tiếng Việt và kiến thức đời sống xã hội để tạo lập các loại văn bản dưới hình thức n[r]
Trang 1Chuyên đề
VÀO TRONG DẠY HỌC
MÔN NGỮ VĂN Báo cáo: Đinh Thái Thuận
1
Trang 2I Đặc điểm môn Ngữ văn và phương pháp dạy
Gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn, có chung mục đích là giáo
dục thẩm mĩ và rèn luyện cho học sinh (HS) các kỹ năng nghe, nói, đọc viết, nhưng có
vị trí độc lập tương đối và PPDH đặc thù.
1-Văn học
Mục đích: giúp HS biết cách đọc để hiểu cho được giá trị của mỗi văn bản thể
hiện qua cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản đó Cái
hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản là cái duy nhất không
lặp lại, biểu hiện tối đa nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm
2-Tiếng Việt
- Hình thành ở HS năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ năng cơ bản là:
nghe, nói, đọc, viết.
- Giúp cho HS có những hiểu biết về ngôn ngữ tiếng Việt, có ý thức sử dụng và giữ gìn
sự trong sáng của tiếng Việt
- Dạy tiếng Việt thông qua:
+ Từ:nghĩa, từ loại, các phép tu từ, cấu tạo, chức năng,…
+ Câu: Các loại câu, dấu câu, các thành phần của câu, cách sử dụng và liên kết các
câu,…
+ Đoạn văn: nhận thức về cách viết một đoạn văn, liên kết câu và liên kết đoạn
văn,…
2
Trang 33 - Làm văn
- HS nhận biết các loại văn bản, đặc điểm, chức năng cách thức tạo lập văn bản
theo từng loại thể
- Phân môn Làm văn Ở THCS:
+ Văn nghệ thuật (miêu tả, tự sự, biểu cảm)
+ Văn nghị luận (chính trị - xã hội, văn học)
- Phân môn Làm văn chủ yếu mang tính thực hành, nên học sinh phải vận dụng những kiến thức văn học, tiếng Việt và kiến thức đời sống xã hội để tạo lập các loại văn bản dưới hình thức nói hoặc viết
3
Trang 4Lớp Đọc hiểu văn bản Tiếng Việt Làm văn
Lớp 6
Truyện dân gian.
Truyện ngắn hiện đại.
Kí, Văn bản nhật dụng.
Thơ hiện đại.
Từ Câu
Văn tự sự Văn miêu tả
Văn biểu cảm
Văn nghị luận (chứng minh)
Lớp 8
Truyện hiện đại.
Thơ cận đại, hiện đại.
Kịch
Từ Câu Đoạn
Văn thuyết minh Văn bản tường trình
Lớp 9
Truyện trung đại.
Truyện, thơ, kịch hiện đại.
Những kiến thức Ngữ Văn cơ bản ở THCS
Trang 5II Vai trò của Bản đồ tư duy (BDTD)
1 Là hình thức ghi chép nhằm:
- Tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng
- Tóm tắt những ý chính của một nội dung
- Hệ thống hóa một chủ đề, chương, phần, giai đoạn…
2 Là hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng
việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết
3 Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với
các mạng lưới liên tưởng (các nhánh)
4 Vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học của giáo viên, việc học tập
của học sinh…
5 Thiết kế BĐTD:
- Chọn tên chủ đề đưa vào vị trí trung tâm
- Vẽ các nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3… (tùy theo kiến thức)
- Cần tránh:
+ Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng
+ Ghi chép quá nhiều ý không cần thiết
+ Dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màu
Trang 6III- Thực trạng
1 Khó khăn:
a-Giáo viên (GV)
- Muốn sử dụng BĐTD đòi hỏi GV cần chuẩn bị nhiều loại dụng
cụ : phấn màu các loại, viết mực nhiều nhiều màu…
- Có lượng thời gian rảnh nhiều mới tư duy được bản đồ theo ý, phù hợp thẩm mỹ, thiếu tính toàn diện
- Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin để vẽ được BĐTD
- Việc đầu tư vào cho môn học, phần học của HS rất cao
- Đồ dùng học tập phục vụ chưa đủ phục vụ cho tiết học
- HS sẽ ngại lên trình bày theo nội dung mà GV yêu cầu tư duy.…
Trang 72 Thuận lợi:
- Tổ chuyên môn đầu tiên trong Huyện, trong trường được BGH,
Tổ trưởng bộ môn chỉ đạo, tiên phong ứng dụng BĐTD trong bộ môn Ngữ văn nhằm khuyến khích thành viên tổ áp dụng phương pháp dạy học mới mà ngành giáo dục vừa mới triển khai
- BĐTD sẽ giúp GV tổng quan kiến thức mà HS đã học, vừa học
- BĐTD sẽ giúp GV bổ sung được kiến thức khi thấy cần thiết
- Sử dụng BĐTD sẽ giúp GV thích thú, gây trực quan mới
- Sử dụng BĐTD sẽ giúp GV dễ đánh giá phân loại HS,phát huy thêm năng khiếu
- Tiết kiệm thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng
- Giúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “sơ đồ” thể hiện sự liên kết chặt chẽ của tri thức
- Giáo viên và học sinh cùng làm việc tập thể một cách tích cực, sáng tạo, cùng niềm vui vì làm ra “sản phẩm trí tuệ”( dù chửa thẩm
mỹ )
- Thuân lợi cho việc dạy văn bản nghị luận khi việc sử dụng BĐTD
Trang 8
b- Học sinh:
- Hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm điều mà giáo viên truyền thụ
- HS tự phát huy suy nghĩ năng lực, tư duy của mình
- HS dám tự viết, vẽ ra theo cách hiểu, biết, năng khiếu
- HS tự tăng cường đồ dùng học tập, thích thú học môn Ngữ văn
- HS bắt kịp theo tình hình học của các bạn trong nhóm, tổ, lớp…
- Phát huy tính tích hợp năng lực học của các môn học khác
- Hiểu bài, vận dụng tốt các kỹ năng
3-Vấn đề tư duy khi sử dụng bản đồ tư duy trong môn Ngữ văn:
Những câu hỏi cần đặt ra là:
- Bản đồ tư duy (BĐTD) có phải là công cụ ghi chép vạn năng với mọi bài học ?
- BĐTD có thể vận dụng trong mọi trường hợp, mọi công đoạn của quá trình nhận thức của HS không ?
- Giáo viên có thể soạn bài dưới hình thức BĐTD được hay không ?
- Học sinh có thể ghi bài theo BĐTD như thế nào ?
- Trong dạy học bộ môn Ngữ văn, BĐTD dùng vào các trường hợp nào sẽ phát huy hiệu quả ?
- HS sẽ nhận được lời khen hay chê từ phía GV, bạn (HS)
Trang 9IV- Định hướng minh họa sử dụng bản đồ tư duy trong môn Ngữ văn
Ví dụ: 1 Hệ thống hoá kiến thức
a- Kiến thức chung về môn Ngữ văn
9
Trang 10b- Kiến thức về từ:
10
Trang 11c- Kiến thức về câu:
11
Trang 12d- Kiến thức về tổng quan tác phẩm văn học:
Trang 13e-Có thể ở nhiều cấp độ phân môn khác nhau
13
Thuyết minh
Trang 142 Sơ đồ hóa kiến thức đơn vị bài học:
a-Cả bài học
14
Trang 1717
Trang 20Ví dụ:- Nhân vật lão Hạc trong tác phẩm Lão Hạc
20
Trang 21- Điều kiện để một văn bản có tính mạch lạc
21
Trang 226 Không nên quá cực đoan cho rằng BĐTD có thể giúp người học biết tất cả.
7 Đây là phương pháp tích cực, khuyến khích sử dụng BĐTD vào trong dạy, học
Trên cơ sở những kiến thức vừa mới được tiếp thu lí thuyết, qua học hỏi báo cáo tập huấn về phương pháp mới: Ứng dụng bản đồ tư duy Tôi thiết nghĩ việc báo cáo
“Ứng dụng bản đồ tư duy vào trong dạy học môn Ngữ văn” mà tôi xây dựng phục vụ
môn Ngữ văn không thể tránh khỏi sự am hiểu tinh tuý, uyên thâm của các thành viên trong tổ, đồng thời không tránh được sự suy diễn khô khan, lẫn điều kiện khi chuẩn bị Vì vậy, tôi rất mong sự góp ý chân thành, trung thực vì tổ bộ môn, vì sử dụng ứng dụng BĐTD trong dạy học môn Ngữ văn của đơn vị trường mang lại kết quả cao hơn
Long Phú, ngày 12 tháng 10 năm 2011
Người viết
ĐINH THÁI THUẬN