1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng lao phổi mới và kết quả phát hiện vi khuẩn lao bằng các xét nghiệm vi sinh tại Hải Phòng 2016-2017

10 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 185,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tiến hành mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nhận xét kết quả phát hiện vi khuẩn lao của các xét nghiệm vi sinh ở bệnh nhân lao phổi mới điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hải Phòng từ 2016-2017.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG LAO PHỔI MỚI VÀ KẾT

QUẢ PHÁT HIỆN VI KHUẨN LAO BẰNG CÁC XÉT NGHIỆM VI SINH TẠI HẢI PHÒNG 2016-2017

Trương Thành Kiên, Trần Quang Phục TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nhận xét kết quả phát hiện vi khuẩn lao của

các xét nghiệm vi sinh ở bệnh nhân lao phổi mới điều trị tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hải Phòng

từ 2016-2017.

Đối tượng: Gồm 112 bệnh nhân lao phổi mới, trên 15 tuổi, chia làm 2 nhóm: nhóm lao phổi AFB (+)

và nhóm lao phổi AFB âm tính Vào viện từ tháng 1/2016 đến 12/2017

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, hồi cứu

Kết quả và kết luận: Tuổi trung bình 48 ± 18,6 tuổi (19 - 92 tuổi) Nam / nữ = 1,94 lần Nhóm tuổi

16-39 tuổi hay gặp nhất Bệnh ĐTĐ typ II là bệnh kèm theo hay gặp nhất Triệu chứng hay gặp: ho kéo dài, sốt về chiều, mệt mỏi, ăn kém và gầy sút cân Ran ẩm ở phổi Tổn thương nửa trên cao hơn nửa dưới của phổi Tổn thương thâm nhiễm hay gặp nhất Có 40,2% bệnh nhân lao phổi có bội nhiễm kèm theo Trên tổng số bệnh nhân nghiên cứu: Cấy MGIT (+) cao nhất chiếm 84,8% Trên những bệnh nhân soi trực tiếp AFB (-): tỷ lệ cấy MGIT (+) cao nhất, chiếm 82,5% Trên những bệnh nhân soi đờm AFB (+): MGIT (+): 86,1% cao hơn Gene Xpert (+) Trên bệnh nhân cấy cổ điển BK (+): MGIT (+) cao nhất chiếm 90,8% Trên 25 bệnh nhân cấy cổ điển BK (+) và soi trực tiếp AFB (-): MGIT (+): 96% cao hơn Gene Xpert (+) 76% Thời gian cho kết quả: MGIT cho kết quả dương tính sau 11 ± 5,2 ngày (4 - 33 ngày) Cấy cổ điển BK (+) sau 26,4 ± 7,1 ngày (7 - 45 ngày).

CLINICAL AND SUBCLINICAL CHARACTERISTICS OF NEW PULMONARY TUBERCULOSIS AND RESULTS OF DETECTION MTB BY MICROBIOLOGICAL TESTS IN HAI PHONG 2016-2017

Kien Truong Thanh, PhucTran Quang ABSTRACT

Objectives: To describe clinical, subclinical characteristics and to comment on the results of

detection of mycobacterium tuberculosis in microbiological tests in patients with new pulmonary tuberculosis treated in Hai Phong Tuberculosis and Lung Diseases Hospital 2016-2017.

Subjects: Including 120 new pulmonary tuberculosis patients, over 15 years old, divided into 2

groups: positive sputum smeargroup and negative sputum smear group Hospitalized from January

2016 to December 2017.

Methods: Cross-sectional description, retrospective.

Results and conclusion: Average age 48 ± 18.6 years old (19 - 92 years old) Male / female = 1.94 times

Age group 16-39 years old is most common Type II diabetes is the most common comorbid disease Common symptoms: Long-lasting cough, Afternoon fever, fatigue, poor appetite and weight loss Rale moist in the lungs The upper half is injured higher than the lower half of the lung, infiltration lesions are most common 40.2% of TB patients had associated superinfection In the total number

of patients studied: The highest MGIT positive culture accounted for 84.8% In patients smear-negative: MGIT positive was the highest, accounting for 82.5% In patients with smear-positive: MGIT positive: 86.1% is higher than Gene Xpert positive In patients with cuture-positive: MGIT positive is the highest (90.8%) In 25 patients with cuture-positive and smear-negative: MGIT positive: 96% higher than Gene Xpert positive(76%) Time to give results: MGIT gives positive results after 11 ± 5.2 days (4 - 33 days) Culture positive after 26.4 ± 7.1 days (7 - 45 days).

Trang 2

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lao đang ngày càng diễn biến phức tạp Theo WHO 2018, trên thế giới có khoảng 10 triệu người mắc lao mới Tử vong do lao là 1,2 triệu người [8] Với mục tiêu thanh toán bệnh lao vào năm 2030 ở nước ta thì việc phát hiện sớm và điều trị khỏi cho những bệnh nhân lao phổi

là rất cần thiết Vì lao phổi chiếm tỷ lệ cao nhất và là nguồn lây quan trọng trong cộng đồng Chẩn đoán lao phổi ngoài dựa vào các triệu chứng lâm sàng, còn phải dựa vào tiêu chuẩn vàng là phát hiện được vi khuẩn lao trong đờm Vì vậy các xét nghiệm phát hiện vi khuẩn lao chiếm vị trí rất quan trọng trong chẩn đoán Hiện nay có nhiều phương pháp phát hiện vi khuẩn lao trong đờm Tuy nhiên đứng trước yêu cầu phải chẩn đoán nhanh, độ chính xác cao

mà giá thành hợp lý thì không phải xét nghiệm nào cũng đáp ứng được các tiêu chí đó Tại Việt Nam đã áp dụng nhiều phương pháp như gene xpert, cấy cổ điển, cấy MGIT, PCR, nhuộm soi đờm trực tiếp Tại Hải Phòng hiện có ít nghiên cứu về kết quả phát hiện vi khuẩn lao của các xét nghiệm vi sinh trong chẩn đoán lao phổi nói trên Vì vậy chúng tôi làm đề tài này với các mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân lao phổi mới điều trị tại Bệnh viện Lao

và Bệnh phổi Hải Phòng từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2017.

2 Nhận xét kết quả phát hiện vi khuẩn lao bằng các phương pháp soi đờm trực tiếp, Gene Xpert, cấy MGIT và cấy cổ điển của đối tượng nghiên cứu trên.

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

* Tiêu chuẩn lựa chọn: Chọn tất cả bệnh nhân trên 15 tuổi được chẩn đoán lao phổi mới

chia làm 2 nhóm: Nhóm lao phổi mới AFB (+) và lao phổi mới AFB (-) điều trị từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2017 Thỏa mãn các điều kiện:

- Chẩn đoán lao phổi AFB dương tính: Thỏa mãn 1 trong 3 tiêu chuẩn sau [5]

+ Tối thiểu có 2 tiêu bản đờm AFB(+) từ 2 mẫu đờm khác nhau

+ Ít nhất một tiêu bản đờm AFB(+) và có hình ảnh tổn thương lao tiến triển trên phim

Xquang phổi

- Ít nhất một tiêu bản đờm AFB(+) và nuôi cấy BK dương tính

- Chẩn đoán lao phổi AFB âm tính: Thỏa mãn tiêu chuẩn sau:

Có ít nhất 6 mẫu đờm soi trực tiếp AFB âm tính làm vào 2 thời điểm khác nhau qua 2 lần khám cách nhau 2 tuần và có tổn thương nghi lao trên Xquang phổi và có xét nghiệm vi sinh

vi khuẩn lao (+)

- Chẩn đoán lao phổi mới: Bệnh nhân chưa điều trị lao phổi bao giờ hoặc tiền sử đã điều

trị thuốc lao nhưng thời gian dưới 1 tháng Được làm đủ các xét nghiệm vi sinh

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Loại trừ những bệnh nhân lao phổi tái phát hoặc có tiền sử điều trị lao trên 1 tháng

- Loại trừ những bệnh nhân đồng nhiễm lao - HIV

- Loại trừ những bệnh nhân không hợp tác trong nghiên cứu

- Loại trừ trẻ em dưới 15 tuổi

- Loại trừ bệnh nhân không được làm đầy đủ xét nghiệm

Trang 3

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2017 tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hải Phòng

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang, hồi cứu.

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện

Cỡ mẫu: Chúng tôi chọn được 112 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn.

2.3.3 Biến số nghiên cứu

- Một số thông tin về bệnh nhân lao phổi: tuổi, giới, địa dư, nghề nghiệp, bệnh kèm theo,

lý do vào viện

- Triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân lao phổi: sốt về chiều, mệt mỏi, ăn kém, gầy sút

cân, ho khạc đờm kéo dài, ho ra máu, khó thở, đau tức ngực, tiếng ran ở phổi

- Cận lâm sàng của bệnh nhân lao phổi: công thức máu, sinh hóa máu: chức năng gan,

thận XQ phổi thẳng: vị trí tổn thương, các dạng tổn thương, mức độ tổn thương

- Kết quả phát hiện vi khuẩn lao bằng các xét nghiệm vi sinh: trên tổng số bệnh nhân

nghiên cứu, trên số bệnh nhân cấy cổ điển BK (+), trên số bệnh nhân soi đời AFB âm tính So sánh tỷ lệ phát hiện vi khuẩn lao bằng gene xpert, cấy MGIT trên số bệnh nhân soi đờm AFB (+) và trên bệnh nhân có cấy BK (+) và AFB âm tính, thời gian phát hiện vi khuẩn lao của các xét nghiệm Đối chiếu kết quả xét nghiệm với mức độ tổn thương

2.4 Xử lý và phân tích số liệu

Số liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 20.0 So sánh giữa các tỷ lệ sử dụng Test 2 So sánh 2 biến định lượng sử dụng T - test

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Một số đặc điểm chung của bệnh nhân lao phổi mới

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân lao phổi mới theo nhóm tuổi, giới và địa dư

Nhóm

Tuổi, giới,

Địa dư

Nhóm lao phổi AFB (-) (n=40)

Nhóm lao phổi AFB (+) (n=72)

Tổng số

n (%)

Tuổi

p > 0,05

Trang 4

Nhóm

Tuổi, giới,

Địa dư

Nhóm lao phổi AFB (-) (n=40)

Nhóm lao phổi AFB (+) (n=72)

Tổng số

n (%)

p > 0,05

p > 0,05

Nhận xét: Tuổi trung bình mắc lao 48 ± 18,6 tuổi, từ 19 - 92 tuổi Không có sự khác biệt

giữa 2 nhóm lao phổi AFB(-) và AFB (+) Nhóm tuổi trẻ hay gặp nhất chiếm 35,7% Nam mắc lao nhiều hơn nữ, tỷ lệ nam/nữ: 1,9 Đa số bệnh nhân ở nông thôn (67,8%)

Bảng 3.2 Nghề nghiệp của bệnh nhân lao phổi mới

Nghề

nghiệp nghiệp Nông phòng Văn HS–SV Công nhân LĐTD Nội trợ Hưu trí Tổng

Nhận xét: Tỷ lệ nghề nghiệp mắc lao cao lần lượt là nông nghiệp 23,2%, hưu trí 23,2%,

công nhân 20,5% và lao động tự do 16,1% Các trường hợp nghề nghiệp khác ít gặp hơn

Tiền sử bệnh kèm theo của bệnh nhân lao phổi mới

Bệnh nền kèm theo của bệnh nhân lao phổi mới cao nhất là đái tháo đường typ 2 chiếm 16,1% Tăng huyết áp chiếm 5,4%, viêm phế quản mạn 2,7%, viêm dạ dày chiếm 3,6% Bệnh khác chiếm 17,8% bao gồm một số bệnh như viêm gan virus B, C, sỏi thận, gout, u đại tràng, viêm đại tràng, nhồi máu não…

3.2 Triệu chứng lâm sàng bệnh nhân lao phổi mới

Bảng 3.3 Lý do vào viện và triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân lao phổi mới

Nhóm

Triệu chứng

Nhóm lao phổi AFB (-) (n=40)

Nhóm lao phổi AFB (+) (n=72)

P

Lý do vào

viện

p > 0,05

Trang 5

Nhóm

Triệu chứng

Nhóm lao phổi AFB (-) (n=40)

Nhóm lao phổi AFB (+) (n=72)

P

Nhận xét: Lý do vào viện hay gặp là ho khạc đờm kéo dài ở 2 nhóm lao phổi AFB(-) và

AFB(+) tương ứng chiếm 77,5% và 76,4% Các triệu chứng lâm sàng lao phổi chiếm tỷ lệ cao ở

cả 2 nhóm lao phổi là: sốt nhẹ về chiều, mệt mỏi, ăn kém, gầy sút cân, ho kéo dài, ran ẩm ở phổi Không có sự khác biệt về triệu chứng ở 2 nhóm lao phổi nói trên p > 0,05

3.3 Đặc điểm cận lâm sàng và kết quả phát hiện vi khuẩn lao

3.3.1 Tổn thương trên Xquang phổi thẳng của bệnh nhân lao phổi

Bảng 3.4 Tổn thương trên XQ phổi thẳng của bệnh nhân lao phổi

Nhóm Tổn thương

trên XQ

Nhóm lao phổi AFB (-)

Nhóm lao phổi

p < 0,05

Trang 6

Nhận xét: Vị trí tổn thương của cả 2 nhóm chủ yếu ở nửa trên của phổi Thâm nhiễm hay

gặp nhất ở cả 2 nhóm Tổn thương nặng ở nhóm lao phổi AFB (+) cao hơn, p < 0,05

3.3.2 Kết quả phát hiện vi khuẩn lao bằng các xét nghiệm vi sinh ở bệnh nhân lao phổi mới

Bảng 3.5 Kết quả xét nghiệm vi khuẩn lao bằng các phương pháp vi sinh

của bệnh nhân nghiên cứu

Xét nghiệm

Kết quả

Cấy

cổ điển (1)

Gene Xpert (2)

Cấy MGIT (3)

Soi trực tiếp (4)

p

Trên tổng số

bệnh nhân

nghiên cứu

(n=112)

Dương tính

87 77,7 89 79,5 95 84,8 72 64,3 p(1;3)= 0,001

p(1;4)= 0,004 Còn lại p>0,05

Trên nhóm soi

đờm AFB (-)

(n=40)

Dương tính

Còn lại p> 0,05

-Trên nhóm soi

đờm AFB (+)

(n=72)

Dương tính

-Trên nhóm

cấy cổ điển

BK(+) (n=87)

Dương tính

Còn lại p> 0,05

Nhóm soi đờm

AFB (-) và cấy

cổ điển BK(+)

(n=25)

Dương tính

-p > 0,05

-Thời gian kết quả trung

bình

26,4 ± 7,1 ngày

2 giờ 11 ± 5,2

ngày

30 phút

Nhận xét: Trên tổng số bệnh nhân lao phổi: cấy MGIT cho tỷ lệ dương tính cao nhất so

với các xét nghiệm khác, chiếm 84,8%, p < 0,05

Trên bệnh nhân soi đờm AFB âm tính thì cấy MGIT cho kết quả phát hiện cao nhất (82,5%), cao hơn cấy cổ điển p < 0,05

Trên bệnh nhân soi đờm AFB (+) thì cấy MGIT phát hiện cao hơn Gene Xpert, p > 0,05 Trên bệnh nhân cấy cổ điển BK (+), cấy MGIT phát hiện cao hơn Gene xpert và soi trực tiếp, p < 0,05 Trên bệnh nhân soi đờm AFB (-) và cấy cổ điển BK (+): cấy MGIT phát hiện cao hơn Gene Xpert, p > 0,05 Thời gian cấy MGIT mọc vi khuẩn trung bình: 11 ± 5,2 ngày (từ 4 - 33 ngày) Cấy cổ điển (+) trung bình: 26,4 ± 7,1 ngày (từ 07 - 45 ngày)

Trang 7

3.3.3 Kết quả xét nghiệm máu ngoại vi

Đa số bệnh nhân lao phổi không có thiếu máu, chiếm 67,5% ở nhóm lao phổi AFB âm và 73,6% ở nhóm lao phổi AFB (+) Có 32,5% bệnh nhân lao phổi AFB âm và 26,4% bệnh nhân lao phổi AFB (+) có thiếu máu nhẹ, p > 0,05 Có 40,2% (45/112) bệnh nhân lao phổi tăng số lượng bạch cầu trên 10 G/L

Men gan AST, ALT đa số trong giới hạn bình thường Men ALT tăng trên 2 lần ở cả 2 nhóm lao phổi chiếm lần lượt 4,2% – 7,5%, p > 0,05

Chỉ số creatinin ở cả 2 nhóm lao phổi đa số trong giới hạn bình thường Có 1,4% - 5% bệnh nhân ở 2 nhóm lao phổi suy thận độ 2 (Creatinin > 130 mcmol/l), p > 0,05

IV BÀN LUẬN

4.1 Một số đặc điểm chung của bệnh nhân lao phổi mới nghiên cứu

Theo tuổi, giới, địa dư: Theo bảng 3.1, tuổi trung bình mắc lao 48 ± 18,6 tuổi, (19 tuổi - 92

tuổi) Nhóm 16-39 tuổi hay gặp nhất chiếm 35,7% Thứ 2 là nhóm từ 40-59 tuổi chiếm 34,8%

Tỷ lệ mắc lao ở nam / nữ = 1,94 lần Tỷ lệ bệnh nhân lao phổi ở nông thôn chiếm 67,8%, cao hơn ở thành thị (32,2%) Theo WHO tỷ lệ nam/nữ = 2 lần ở vùng tây Thái Bình Dương [8] Theo Shukova E.V (2005) tỷ lệ nam / nữ = 1,3 lần Trong đó 10% phụ nữ không đi khám và điều trị được do phải trông con nhỏ, 10% phụ nữ không đi khám bệnh, tự chịu đựng các triệu chứng của bệnh [9]

Theo nghề nghiệp và bệnh kèm theo: Theo bảng 3.2, nghề nghiệp hay gặp mắc lao phổi bao

gồm nông nghiệp, hưu trí, công nhân và lao động tự do Bệnh kèm theo cao nhất là đái tháo đường typ II chiếm 16,1% Các bệnh khác ít gặp hơn Những người làm việc trong môi trường khắc nghiệt, vệ sinh kém, dinh dưỡng kém thì tỷ lệ bệnh lao cũng cao hơn Theo Trần Quang Phục, Cao Thị Bích Hạnh (2015), tỷ lệ bệnh nhân lao phổi mới làm nông nghiệp chiếm 62,4%, người mắc ĐTĐ typ II có nguy cơ mắc lao cao hơn gấp 8,93 lần so với người không mắc ĐTĐ typ II [8,93; (95%CI: 2,71-29,43)] [6]

4.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân lao phổi mới

Theo bảng 3.3: Lý do vào viện chủ yếu là ho kéo dài Các triệu chứng lâm sàng hay gặp

là sốt về chiều, mệt mỏi, gầy sút cân, ho kéo dài, ran ẩm ở phổi Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của các tác giả khác: Nguyễn Thị Nga (2014), lý do vào viện vì ho kéo dài cao nhất chiếm 51,4%, tỷ lệ ho ra máu 14% [7]

Theo Phạm Ngọc Hào (2014): Sốt về chiều có Se: 82%, Sp: 76,6%, PPV: 85,4%, NPV: 71,8% Ho

ra máu có Se: 18%, Sp: 93,3% PPV: 81,8% và NPV: 40,5% Mệt mỏi, ăn kém có Se: 74%; Sp: 66,6% Ran ẩm, ran nổ có Se: 18%, Sp: 6,6% [3] Nguyễn Thị Phương Lan (2011), ho khạc đờm chiếm 88,2% [4] Theo Nguyễn Thị Nga (2014) lao phổi mới có tỷ lệ ran ẩm, ran nổ chiếm 100% [7]

Các triệu chứng: Đau tức ngực, khó thở, ho ra máu ít gặp hơn

4.3 Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân lao phổi

4.3.1 Kết quả chụp XQ tim phổi thẳng của bệnh nhân lao phổi

Theo bảng 3.4: tỷ lệ tổn thương nửa trên cao hơn nửa dưới 2 bên Tổn thương thâm nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả 2 nhóm lao phổi 85% - 91,7% Tổn thương hang ở nhóm lao phổi AFB

Trang 8

(+) cao hơn nhóm lao phổi AFB âm tính Chủ yếu là tổn thương phối hợp Tổn thương càng nặng tỷ lệ nhóm lao phổi AFB (+) càng cao Kết quả này cũng tương tự các nghiên cứu khác như: Nguyễn Thị Phương Lan (2011), tổn thương ở nửa trên của phổi chiếm tỷ lệ cao nhất

là 58,8% [4] Trần Thị Minh Hằng (2008) và Nguyễn Thị Nga (2014), tổn thương XQ hay gặp nhất là thâm nhiễm, chiếm 72,9% và 59,7% [2],[7] Theo Phạm Ngọc Hào (2013), tổn thương thâm nhiễm trong chẩn đoán lao phổi có Se: 96%, Sp: 90% [3] Nguyễn Thị Phương Lan (2011), nghiên cứu về lao phổi mới AFB (+) cho kết quả mức độ tổn thương chủ yếu là từ độ II trở lên chiếm 81,4% trong đó độ II chiếm 41,2% và độ III chiếm 40,2% [4]

4.3.2 Kết quả phát hiện vi khuẩn lao bằng các xét nghiệm vi sinh ở BN lao phổi mới

Theo (Bảng 3.5): Trên tổng số bệnh nhân lao phổi cấy MGIT cho tỷ lệ dương tính cao nhất chiếm 84,8%, p < 0,05 Trên bệnh nhân soi đờm AFB âm tính thì cấy MGIT cho kết quả phát hiện cao nhất (82,5%), cao hơn cấy cổ điển p < 0,05 Trên bệnh nhân soi đờm AFB (+) thì cấy MGIT phát hiện cao hơn Gene Xpert, p > 0,05 Trên bệnh nhân cấy cổ điển BK (+): Cấy MGIT phát hiện cao hơn Gene xpert và soi trực tiếp, p < 0,05

Trên bệnh nhân soi đờm AFB (-) và cấy cổ điển BK (+): cấy MGIT phát hiện cao hơn Gene Xpert, p > 0,05 Thời gian cấy MGIT mọc vi khuẩn trung bình: 11 ± 5,2 ngày (từ 4 - 33 ngày) Cấy cổ điển mọc vi khuẩn trung bình: 26,4 ± 7,1 ngày (từ 07 - 45 ngày)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự một số nghiên cứu khác: Nguyễn Thu

Hà (2006), trong số 50 bệnh nhân được chẩn đoán lao phổi AFB (-), tỷ lệ cấy cổ điển BK (+) chiếm 42% [1] Nguyễn Thị Nga (2014), tỷ lệ cấy đờm BK (+) ở bệnh nhân lao phổi chiếm 75% Cấy cổ điển dịch phế quản BK (+) ở những bệnh nhân nghiên cứu chiếm 80%, tỷ lệ Gene Xpert (+) trên tổng số bệnh nhân lao phổi AFB (-) là 66,7% [7]

Theo Catharina và cộng sự (2011), nghiên cứu đa trung tâm về lao phổi mới cho thấy: Tỷ lệ Gene Xpert (+) trên bệnh nhân lao có cấy cổ điển BK (+) là 90,3%, cao hơn so với soi đờm trực tiếp là 66,7% Tỷ lệ bệnh nhân lao phổi mới có vi khuẩn lao kháng Rifampycin phát hiện bằng Gene Xpert là 2,4%, tỷ lệ này phát hiện bằng cấy cổ điển là 4,6% Thời gian trung bình phát hiện vi khuẩn lao là bằng Gene Xpert là 0 ngày (0-1), soi trực tiếp là 1 ngày (0-1), cấy MGIT (+)

là 16 ngày (13-21), cấy cổ điển là 30 ngày (23-43) ngày Kết quả nghiên cứu này cũng tương tự kết quả của chúng tôi [10]

Nguyễn Thu Hà (2006), trên bệnh nhân lao phổi AFB (-) tỷ lệ cấy MGIT (+) chiếm 60%, cấy cổ điển BK (+) chiếm 42%, tỷ lệ cấy MGIT (+) và cấy cổ điển BK (+) ở nhóm có tổn thương

độ III chiếm tỷ lệ cao nhất, đều là 100% [1]

Trần Thị Minh Hằng (2008), trên người lao phổi AFB (-) tỷ lệ cấy MGIT (+) chiếm 61,1%, giá trị dự báo dương tính của phương pháp cấy MGIT là 100% [2]

4.3.3 Kết quả xét nghiệm máu ngoại vi

- Công thức máu:

+ Số lượng hồng cầu: Theo kết quả nghiên cứu cho thấy đa số bệnh nhân lao phổi không

có thiếu máu Thiếu máu nhẹ từ 26,4% đến 32,5% ở 2 nhóm lao phổi, p > 0,05 Theo Trần Văn Sáng (2015), bệnh nhân lao phổi thường không có thiếu máu hoặc thiếu máu nhẹ[5] Nguyễn Thu Hà (2006), số lượng bệnh nhân thiếu máu nhẹ chỉ chiếm 6%, còn lại không có thiếu máu [1]

Trang 9

+ Số lượng bạch cầu: Tỷ lệ tăng số lượng bạch cầu > 10 G/L chiếm 40,2% ở toàn bộ bệnh

nhân lao phổi nghiên cứu với p > 0,05 giữa 2 nhóm lao phổi Nguyễn Thị Nga (2014), bạch cầu

> 10 G/L là 24,4% [7]

+ Men gan AST, ALT: Men gan AST, ALT của bệnh nhân lao phổi đa số trong giới hạn bình

thường Có 5,3% bệnh nhân lao phổi có tăng men gan ALT trên 2 lần

+ Chức năng thận: Đa số bệnh nhân lao phổi có chức năng thận trong giới hạn bình

thường, chiếm 95% - 97,3% ở 2 nhóm lao phổi Có 1,4% - 5% bệnh nhân ở 2 nhóm lao phổi

có suy thận độ 2, p > 0,05 Nguyễn Thị Nga (2014), nghiên cứu về lao phổi mới cho thấy bệnh nhân lao phổi mới chức năng thận đa số trong giới hạn bình thường [7]

V KẾT LUẬN

1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân lao phổi mới

- Tuổi trung bình mắc lao 48 ± 18,6 tuổi, (19 - 92 tuổi) Nam / nữ = 1,94 lần

- Nhóm tuổi 16-39 tuổi hay gặp nhất chiếm 35,7%

- Bệnh ĐTĐ typ II là bệnh kèm theo hay gặp chiếm 16,1%

- Triệu chứng lâm sàng hay gặp và chiếm tỷ lệ cao là: ho kéo dài, sốt về chiều, mệt mỏi,

ăn kém và gầy sút cân Ran ẩm ở phổi Ho ra máu ít gặp từ 15% đến 18,9%

- Tỷ lệ tổn thương nửa trên cao hơn nửa dưới của phổi Tỷ lệ tổn thương thâm nhiễm hay gặp nhất, chiếm 85% - 91,7% ở 2 nhóm lao phổi Mức độ tổn thương phổi đa số là tổn thương

từ độ II trở lên, chiếm 85% - 93,1% ở 2 nhóm lao phổi

- Có 40,2% bệnh nhân lao phổi có bội nhiễm kèm theo

- Đa số bệnh nhân lao phổi không có thiếu máu

- Men gan, chức năng thận của bệnh nhân lao phổi mới đa số trong giới hạn bình thường

2 Kết quả phát hiện vi khuẩn lao bằng các phương pháp vi sinh trên bệnh nhân lao phổi mới

- Trong số 112 BN nghiên cứu: Cấy MGIT (+) cao nhất chiếm 84,8%

- Trên bệnh nhân soi trực tiếp AFB (-): tỷ lệ cấy MGIT (+) cao nhất, chiếm 82,5%

- Trên bệnh nhân soi đờm AFB (+): MGIT (+): 86,1% cao hơn Gene Xpert (+)

- Trong số 87 bệnh nhân cấy cổ điển BK (+): MGIT (+) cao nhất chiếm 90,8%

- Trên 25 bệnh nhân cấy cổ điển BK (+) và soi trực tiếp AFB (-): MGIT (+): 96%, cao hơn Gene Xpert (+) 76%

- Thời gian cho kết quả: Soi đờm trực tiếp là 30 phút Gene Xpert là 2 giờ Cấy MGIT cho kết quả dương tính trung bình sau 11 ± 5,2 ngày (4 - 33 ngày) Cấy cổ điển BK (+) trung bình là 26,4 ± 7,1 ngày (7 - 45 ngày)

- Bệnh nhân lao phổi có mức độ tổn thương phổi càng nặng thì tỷ lệ phát hiện vi khuẩn lao càng tăng lên

KHUYẾN NGHỊ

Trong các xét nghiệm vi sinh, cấy MGIT cho tỷ lệ phát hiện vi khuẩn lao cao nhất trong các trường hợp, nhất là trong các trường hợp soi đờm AFB (-): cấy MGIT (+) cao nhất 82,5%,

Trang 10

cao hơn cấy cổ điển (62,5%) với p < 0,05 Ở những bệnh nhân cấy cổ điển BK (+) thì MGIT (+) cao nhất chiếm 90,8% Thời gian cấy MGIT cho kết quả dương tính trung bình 11 ngày MGIT

là phương pháp cấy lỏng, khi cấy MGIT (+) chứng tỏ là có vi khuẩn lao sống và hoạt động Vì vậy chúng tôi khuyến nghị nên cấy MGIT để chẩn đoán ở tất cả các bệnh nhân nghi lao phổi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thu Hà (2006),“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân lao phổi mới AFB(-) và

kết quả phát hiện vi khuẩn lao của kỹ thuật nuôi cấy, PCR, MGIT” Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên

khoa cấp II, Đại Học Y Hà Nội.

2 Trần Thị Minh Hằng (2008), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả của phương

pháp MGIT trong lao phổi AFB âm tính” Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp II, Đại Học Y Hà Nội.

3 Phạm Ngọc Hào, Trần Văn Sáu (2013), “Nghiên cứu giá trị của lâm sàng, Xquang phổi chuẩn, PCR trong

chẩn đoán lao phổi AFB âm tính” Luận văn thạc sỹ Y học Đại học Y Hà Nội.

4 Nguyễn Thị Phương Lan, (2011), “Tỉ lệ kháng thuốc trên bệnh nhân lao phổi mới AFB (+) tại BV lao và

bệnh phổi Đồng Nai” Y học TP HCM * Tập 15.

5 Trần Văn Sáng (2015), “Bệnh học lao”, NXB Y học, Hà Nội.

6 Trần Quang Phục, Cao Thị Bích Hạnh (2015), “Đặc điểm dịch tễ lao phổi mới và một số yếu tố liên

quan tại huyện An Lão, Hải Phòng trong 5 năm, từ 2008-2012” Tạp chí Y học thực hành, số 966, tr

409 - 413.

7 Nguyễn Thị Nga (2014), “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình hình vi khuẩn kháng thuốc ở bệnh

nhân lao phổi từ 2010-2013”, Luận văn Thạc sỹ Y học, Trường Đại Học Y Hà Nội.

8 World Health Organization (2019), “Glober tuberculosis report” Printed in France.

9 Shukova E.V, Smirnow S.V, Soukhov V.M et al (2005), “Reason for late diagnosis of pulmonary

tuberculosis”, Probl Tuberk, 9: 6-14.

10 Catharina C Boehme, Mark P Nicol, Pamela Nabeta et al (2011)”Feasibility, diagnostic accuracy, and eff ectiveness of decentralised use of the Xpert MTB/RIF test for diagnosis of tuberculosis and

multidrug resistance: a multicentre implementation study” Lancet 2011; 377: 1495–1505.

Ngày đăng: 27/05/2021, 03:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm