1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dự thảo tóm tắt Luận án Tiến sĩ Vật lý: Đánh giá khả năng phá hủy nền do động đất cho khu vực nội thành thành phố Hà Nội phục vụ công tác quy hoạch và quản lý rủi ro đô thị

28 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là tìm hiểu, áp dụng một hệ phương pháp luận cho phép kết hợp các yếu tố địa chấn và địa kỹ thuật trong đánh giá khả năng phá hủy nền do động đất phù hợp với các điều kiện của Việt Nam. Từ đó nâng cao năng lực, phát triển hướng nghiên cứu độc lập về đánh giá phả hủy nền do động đất tại Việt Nam. Xây dựng bức tranh toàn cảnh về khả năng phá hủy nền với các động đất kịch bản hiện thực cho khu vực nội thành Hà Nội, phục vụ công tác quy hoạch và quản lý rủi ro đô thị.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

_

Bùi Thị Nhung

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHÁ HỦY NỀN DO ĐỘNG ĐẤT CHO KHU VỰC NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ RỦI RO ĐÔ THỊ

Chuyên ngành: Vật lý địa cầu

Mã số: 62440111

(DỰ THẢO)TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VẬT LÝ

Hà Nội - 2018

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học:

Hướng dẫn chính : PGS.TS Nguyễn Hồng Phương

Hướng dẫn phụ : PGS.TS Đỗ Đức Thanh

Phản biện:

Phản biện:

Phản biện:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận án tiến sĩ họp tại

vào hồi giờ ngày tháng năm 20

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

Động đất là một dạng thiên tai không thường xuyên xẩy ra nhưng những tác hại do động đất gây ra thì vô cùng lớn Trong đó sự phá hủy nền được coi là hệ quả trực tiếp của động đất mạnh như trượt lở nền và hóa lỏng nền

Các vùng đô thị là những vùng rất nhạy cảm với các thảm họa Hà Nội

là một thành phố có tốc độ phát triển rất nhanh.Trong khi đó Hà Nội nằm trong vùng có độ nguy hiểm động đất khá cao Trong hoạt động lập kế hoạch

và quản lý rủi ro đô thị, các vấn đề liên quan tới rủi ro động đất nói chung cũng như hiện tượng phá hủy nền nói riêng cần phải được quan tâm

Phá hủy nền kèm theo động đất mạnh là hiện tượng khá phổ biến và được nghiên cứu nhiều trên thế giới Tuy nhiên, do hiện tượng này chưa bao giờ xẩy ra ở Việt Nam nên các nghiên cứu về phá hủy nền do động đất ở Việt Nam cho đến nay vẫn mang tính dự báo và chủ yếu tập trung vào hai hướng chính là 1) đánh giá khả năng phá hủy nền cho các khu vực đô thị, trong đó yếu tố địa chấn được chú trọng và 2) đánh giá độ an toàn của hệ thống đê điều dưới tác động của động đất, ở đây yếu tố địa kỹ thuật được chú trọng Hai hướng nghiên cứu này còn chuyên sâu và độc lập với nhau

Trên cơ sở các phân tích nêu trên và xuất phát từ ý tưởng về sự kết hợp các yếu tố địa chấn và địa kỹ thuật trong cùng một phương pháp đánh giá khả

năng phá hủy nền do động đất, đề tài “Đánh giá khả năng phá hủy nền do động đất cho khu vực nội thành thành phố Hà Nội phục vụ công tác quy hoạch và quản lý rủi ro đô thị” được đặt ra

Mục đích của luận án

- Tìm hiểu, áp dụng một hệ phương pháp luận cho phép kết hợp các yếu tố địa chấn và địa kỹ thuật trong đánh giá khả năng phá hủy nền do động đất phù hợp với các điều kiện của Việt Nam Từ đó nâng cao năng lực, phát triển hướng nghiên cứu độc lập về đánh giá phả hủy nền do động đất tại Việt Nam

- Xây dựng bức tranh toàn cảnh về khả năng phá hủy nền với các động đất kịch bản hiện thực cho khu vực nội thành Hà Nội, phục vụ công tác quy hoạch và quản lý rủi ro đô thị

Trang 4

Ý nghĩa khoa học của luận án:

Luận án tìm hiểu, bổ sung tiến tới hoàn thiện một hệ phương pháp luận trong đánh giá khả năng hóa lỏng nền do động đất cho Việt Nam với những cải tiến cho phù hợp với các điều kiện của Việt Nam, và được áp dụng cho khu vực nội thành của thành phố Hà Nội Các yếu tố địa chấn và địa kỹ thuật được chú trọng bao hàm trong cùng một phương pháp, đã cung cấp cơ sở phương pháp luận cho các nghiên cứu đánh giá phá hủy nền các khu vực đô thị của Việt Nam trong tương lai

Ý nghĩa thực tiễn của luận án:

1 Tập cơ sở dữ liệu đa dạng, khá đầy đủ (lỗ khoan, địa chất công trình, địa chất thủy văn, địa mạo, địa chấn) được cập nhật từ các công trình

có liên quan phục vụ trong các tính toán và phân tích của luận án, đây là nguồn dữ liệu quý giá cho mục tiêu nghiên cứu đánh giá phá hủy nền và rủi

ro đô thị cho thành phố Hà Nội

2 Kết quả của luận án sẽ có những đóng góp đáng kể trong việc phòng chống và giảm nhẹ hậu quả do động đất gây ra cho cộng đồng đô thị, làm cơ

sở để lập các kế hoạch quản lý rủi ro và ứng phó động đất cho toàn bộ thành phố Hà Nội

Những điểm mới của luận án

1 Bản đồ phân loại nền đất địa phương khu vực nội thành Hà Nội được thực hiện theo các tài liệu địa chất công trình, địa vật lý dựa trên tiêu chuẩn NEHRP có đối chiếu với tiêu chuẩn của Việt Nam Với phạm vi nghiên cứu mở rộng và nguồn số liệu cập nhật mới đầy đủ nhất đến thời điểm hiện nay

2 Áp dụng phương pháp mới cho phép tổ hợp các đặc điểm địa chất

và địa mạo trong đánh giá mức độ nhạy cảm với hóa lỏng của đất nền khu vực Hà Nội mở rộng Chỉ ra các vùng với mức độ nhạy cảm khác nhau đối với hiện tượng hóa lỏng nền trong động đất

3 Trình bày một hệ phương pháp luận cho phép kết hợp các yếu

tố địa chấn và địa kỹ thuật trong đánh giá khả năng phá hủy nền do động đất và đã được áp dụng cho thành phố Hà Nội như một hướng nghiên cứu độc lập Các kết quả áp dụng đánh giá nguy hiểm hóa lỏng nền vùng nội thành thành phố Hà Nội: bao gồm việc đánh giá mức độ nguy hiểm hóa

Trang 5

lỏng nền dựa vào các giá trị hệ số an toàn kháng hóa lỏng của mỗi lớp đất riêng biệt và dự báo khả năng xẩy ra phá hủy nền do hóa lỏng bề mặt theo

xác suất tính theo chỉ số LPI trong các kịch bản động đất hiện thực

Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị về các nghiên cứu tiếp theo luận án được bố cục gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu phá hủy nền do động đất Chương 2 Phân loại nền đất nội thành thành phố Hà Nội và nghiên cứu

Kết quả của luận án đã được công bố trong: 01 bài hội nghị quốc tế và

03 bài báo trong nước

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁ HỦY NỀN

DO ĐỘNG ĐẤT 1.1 Lịch sử nghiên cứu phá hủy nền do động đất

Phá hủy nền là một trong những chủ đề thú vị nhưng phức tạp và gây nhiều tranh cãi trong giới chuyên gia động đất Chỉ sau những ảnh hưởng tàn phá của nó ở Alaska (Mỹ) và Niigata (Nhật Bản) do động đất cùng xẩy ra năm 1964 với độ lớn lần lượt M=9.2 và M=7.5 mới thực sự thu hút sự chú ý của các nhà khoa học địa chấn trên thế giới và buộc họ suy nghĩ về nó Thuật ngữ phá hủy nền đã được Mogami & Kubo, 1953 lần đầu tiên đưa ra Nhìn chung, có hai hướng nghiên cứu phá hủy nền được thực hiện rộng rãi từ trước đến nay Hướng đầu tiên dựa trên bản đồ phá hủy nền lịch sử Hướng thứ hai, một bản đồ nguy hiểm phá hủy nền phân chia vùng thành các khu vực có mức độ nguy hiểm phá hủy nền khác nhau Nhiều nhà nghiên cứu đã thực hiện hợp cả hai hướng nghiên cứu này

Nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng thành công khái niệm bản đồ nguy hiểm phá hủy nền với các hiện tượng trượt lở và hóa lỏng nền Điều này đã

Trang 6

Hazus được phát triển bởi FEMA và 2) Phương pháp phân tích sử dụng số liệu địa kỹ thuật tại chỗ

Sự phát triển nhanh của máy tính điện tử đã làm cuộc cách mạng về nghiên cứu cũng như phát triển kỹ thuật động đất kể từ những năm 1960

Tại Việt Nam các nghiên cứu về hiện tượng phá hủy nền được thực hiện chủ yếu theo hai hướng chính là 1) đánh giá khả năng phá hủy nền cho các khu vực đô thị và 2) đánh giá độ an toàn của hệ thống đê điều dưới tác động của động đất

Hướng nghiên cứu hóa lỏng nền trong đánh giá rủi ro động đất đô thị đã được các chuyên gia địa chấn bắt đầu thực hiện ở Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ 21, trên cơ sở phương pháp luận của FEMA Độc lập với hướng nghiên cứu trên, hướng nghiên cứu hóa lỏng nền phục vụ đánh giá an toàn cho hệ thống đê điều và các công trình thủy lợi cũng được nhóm các chuyên gia thủy lợi thực hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây Phương pháp luận áp dụng trong các nghiên cứu theo hướng này để tính khả

năng hóa lỏng của mỗi lớp đất riêng biệt dựa vào hệ số kháng hóa lỏng của

1.3.1 Các khái niệm hóa lỏng nền

Các chuyên gia khác nhau có các cách khác nhau khi định nghĩa về hóa lỏng, dưới đây là một số khái niệm về hóa lỏng nền hay được sử dụng nhất: + Hóa lỏng nền là một hiện tượng trong đó ứng suất và độ cứng của đất

bị giảm do chấn động địa chấn hoặc sự giảm tải đột ngột khác

+ Hóa lỏng nền là quá trình các trầm tích dưới mực nước ngầm bị mất ứng suất và có hành vi giống chất lỏng hơn chất rắn chủ yếu do các sóng địa chấn gây ra

Trang 7

1.3.2 Cơ chế hóa lỏng nền

1.3.3 Các điều kiện đối với hóa lỏng nền

Điều kiện về vị trí và loại đất rất nhạy cảm với sự hóa lỏng là như sau:

Điều kiện về vị trí

- Vị trí đó gần tâm chấn hoặc phá hủy đứt gẫy của một trận động đất lớn

đủ để có thể gây cho đất nhậy cảm hóa lỏng

1.3.4.1 Các hóa lỏng nền được đặc trưng bởi dịch chuyển nền ngang

1.3.4.2 Các hóa lỏng nền đặc trưng bởi dịch chuyển thẳng đứng

1.3.5 Các tiêu chí để xác định và thành lập bản đồ hóa lỏng nền khu vực

+ Đất có nhạy cảm với hóa lỏng?

+ Nếu đất nhạy cảm, thì hóa lỏng sẽ được kích hoạt hay không?

+ Nếu hóa lỏng được kích hoạt, phá hủy sẽ xẩy ra hay không?

Chương 2 PHÂN LOẠI NỀN ĐẤT NỘI THÀNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO CÁC TÀI LIỆU ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH, ĐỊA VẬT LÝ

Theo các tiêu chí đánh giá khả năng hóa lỏng nền cho một khu vực như

đã trình bày ở chương 1, điều kiện đầu tiên cần xem xét là khu vực đó phải bị tác động bởi chấn động địa chấn đủ lớn Chấn động địa chấn được đặc trưng bởi đại lượng rung động nền (như gia tốc nền cực đại-PGA hay vận tốc nền cực đại-PGV) Độ lớn của các giá trị PGA (hoặc PGV) bị khuếch đại đáng kể

do hiệu ứng nền địa phương của các loại nền khác nhau trong khu vực Vì vậy, trong chương này sẽ tiến hành phân loại nền cho khu vực nội thành thành phố Hà Nội

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Gồm 12 quận huyện nội thành Hà Nội (hình 2.1)

2.2 Số liệu sử dụng

Trang 8

Bao gồm 157 dữ liệu lỗ khoan được thu thập, chọn lọc từ các công trình đã công bố trước đây và được biểu thị trên bản đồ khu vực nghiên cứu (hình 2.1), trong đó có 117 lỗ khoan có giá trị SPT (Nspt) và 40 lỗ khoan không có giá trị Nspt, chỉ có giá trị vận tốc sóng ngang (VS,30)

Trong lỗ khoan TX-22 với độ sâu từ mặt đất tới 45m có 7 lớp, mỗi lớp

có những đặc điểm hình thái, thành phần vật chất, các chỉ tiêu cơ lý, lực học được tóm lược và phân loại nền như sau:

Lớp 1-lớp đất lấp nằm trên cùng, không có ý nghĩa trong xây dựng, vì

vậy các đặc trưng cơ lý và lực học của lớp này ít được chú ý

Lớp 2-lớp đất sét pha màu nâu, nâu vàng, trạng thái dẻo cứng, phân bố

dưới đáy lớp 1 từ độ sâu 1.2m đến 8.0m, bề dầy 6.8m, có N/30=7÷13, nên được xếp vào nền loại E theo NEHRP

Tương tự, các lớp 3 thuộc kiểu nền F, lớp 4 kiểu F, lớp 5 là nền E, lớp

6 là nền loại D, lớp 7 nền C

Xét ở độ sâu từ bề mặt tới 30m thì nền loại F chiếm ưu thế nên nền F

có ý nghĩa quyết định đến khả năng phản ứng dưới tác động động đất tại điểm này và vì vậy nền loại F được chọn cho lỗ khoan này

Ranh giới của từng loại nền được xác định dựa vào kết quả phân loại của từng lỗ khoan theo nguyên tắc nếu hai lỗ khoan gần nhau thể hiện hai loại nền khác nhau thì điểm giữa hai lỗ khoan đó được chọn làm ranh giới của 2 loại nền

2.4 Phân loại nền đất khu vực nội thành thành phố Hà Nội

Ngoài những lỗ khoan có giá trị SPT, các lỗ khoan chỉ có giá trị vận tốc sóng ngang VS,30 cũng được phân loại nền dựa vào giá trị VS,30 theo tiêu chuẩn NEHRP

Trang 9

Từ hình 2.1 chúng ta thấy phân bố lỗ khoan không bao phủ toàn bộ vùng nghiên cứu, nên không thể tiến hành xây dựng bản đồ phân loại nền chỉ

từ thông tin lỗ khoan đã có Tuy nhiên có thể sử dụng bản đồ phân loại nền

đã được tiến hành dựa trên các thông tin địa chất, địa vật lý, địa chất thủy văn… đã được thành lập trước đây (hình 2.4) và bổ sung thông tin mới từ số liệu lỗ khoan đã thu thập để thu được bản đồ phân loại nền tốt hơn cho khu vực nghiên cứu

Bản đồ phân loại nền mới cho khu vực nghiên cứu theo tài liệu lỗ khoan được xây dựng dựa trên nguyên tắc hiệu chỉnh sau đây:

-Ở những khu vực trước đây chưa có thông tin phân loại nền sẽ được phân loại nền theo thông tin mới từ lỗ khoan

- Ở những khu vực đã có thông tin phân loại nền, tiến hành chỉnh lý ranh giới nền theo thông tin mới từ lỗ khoan

- Ở những khu vực không có thông tin mới từ lỗ khoan, sẽ giữ nguyên loại nền hiện có

Bản đồ phân loại nền mới xây dựng cho toàn vùng nghiên cứu được trình bày trên hình 2.5

Từ kết quả phân loại nền đất khu vực nghiên cứu như hình 2.5 cho thấy:

Trên phạm vi khu vực nghiên cứu có mặt cả 3 loại nền D, E và F Nền loại E là loại nền chủ đạo chiếm diện tích gần như toàn bộ khu vực huyện Gia Lâm, và các quận Long Biên, Hà Đông, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Đống Đa, trong khi đó nền loại F rải rác ở một số khu vực huyện Thanh Trì, quận Hoàng Mai, Thanh Xuân, phía Tây quận Từ Liêm Sự phân bố của nền loại D tập trung ở phía tây bắc vùng nghiên cứu như quận Tây Hồ, phía bắc quận Thanh Xuân, một phần quận Từ Liêm, và một phần nhỏ trong quận Hà Đông và quận Long Biên Nhìn tổng quan có thể nhận định với toàn bộ khu vực nghiên cứu nền đất yếu dần từ phía tây bắc xuống phía đông nam Nền khu vực ở mức trung bình yếu, nên cần chú ý đối với tác động của động đất

Trang 10

Hình 2.2 Phân loại nền cho tập hợp các lớp đất trong 30m đầu tiên của

nền đất ở lỗ khoan TX-22

2.5 Đánh giá hiệu ứng khuếch đại nền địa phương

Hiệu ứng khuếch đại nền địa phương được hiệu chỉnh như sau:

(2.1)

Trang 11

ở đây, amax hay PGAi là gia tốc cực đại nền xác định cho nền loại i, PGA là gia tốc cực đại nền xác định cho nền loại B, FA là hệ số khuếch đại nền chu kỳ ngắn xác định cho nền loại i cho trong bảng 2.4

Hình 2.5 Kết quả phân loại nền đất mới theo tài liệu địa chất công trình, số liệu các lỗ khoan và địa vật lý khu vực nội thành

Trang 12

117 lỗ khoan theo chỉ số Nspt, và 40 lỗ khoan có VS,30 cùng với các thông tin địa chất công trình cập nhật mới nhất, phạm vi nghiên cứu mở rộng hơn

Kết quả phân loại nền tương đối phù hợp với địa hình tại khu vực và bản

đồ địa chất công trình của khu vực đã công bố Độ sâu các lỗ khoan đều đạt trên 30m do đó xét về sự ảnh hưởng đến công trình khi có động đất xảy ra là đảm bảo Với số lượng lỗ khoan luận án có được, kết quả có thể coi là đáng tin cậy

Bản đồ phân loại nền mới xây dựng cho khu vực với việc bổ sung đầy đủ hơn thông tin từ 157 lỗ khoan thực sự là một nguồn tài liệu hữu ích cho việc đánh giá rủi ro động đất, là thông tin quan trọng trong công tác quy hoạch và kháng chấn của thành phố có mật độ dân cư dày đặc, nhiều công trình trọng điểm như thành phố Hà Nội

Theo đánh giá của các nhà khoa học Hà Nội nằm trong vùng có hoạt động động đất khá cao (cấp 7, cấp 8) Trong khi kết quả phân loại nền đất khu vực với nền đất chủ yếu nền E, có cả nền F là những kiểu nền đất yếu, khả năng khuếch đại rung động nền bề mặt lớn Do đó vùng Hà Nội hoàn toàn có khả năng xẩy ra hóa lỏng nền trong động đất và các đánh giá về mối nguy hiểm này cần được xem xét

Chương 3 ĐÁNH GIÁ ĐỘ NHẠY CẢM HÓA LỎNG NỀN DO

ĐỘNG ĐẤT KHU VỰC HÀ NỘI

Sau khi đã xác định được thành phố Hà Nội nằm ở vị trí cần có những đánh giá về nguy hiểm hóa lỏng nền do động đất, nhiệm vụ tiếp theo là đánh giá khả năng nhạy cảm với hóa lỏng của nền đất địa phương

3.1 Phạm vi nghiên cứu

Để có được cái nhìn tổng thể về mức độ nhạy cảm với hóa lỏng của nền vùng nghiên cứu 12 quận huyện đã nêu so với vùng lân cận, toàn bộ khu vực thành phố Hà Nội giới hạn trong phạm vi kinh độ: 105.20

E÷1060E; vĩ độ: 20.50N÷21.50N sẽ được xem xét

3.2 Cơ sở số liệu

3.2.1 Tài liệu địa chất-địa chất công trình

Các thông tin cần thiết cho quá trình phân tích nhạy cảm hóa lỏng được trích xuất từ: Bản đồ địa chất công trình Hà Nội tỷ lệ 1:320.000 do Ngô Quang

Trang 13

Toàn và nnk thành lập năm 2009 và bản đồ địa chất thủy văn tỷ lệ 1:25.000 của

Vũ Thanh Tâm, 2014 (hình 3.1)

3.2.2 Đặc điểm địa chất thủy văn

Đặc điểm địa chất thuỷ văn nổi bật của vùng Hà Nội là có nhiều tầng chứa nước nhưng đóng vai trò quan trọng là các tầng chứa nước trầm tích bở rời

tuổi Đệ Tứ phân bố rộng khắp trên toàn vùng nghiên cứu với bề dày khá lớn

Đối với các trầm tích chứa nước lỗ hổng Đệ Tứ, hầu hết các công trình nghiên cứu đều phân chia ra thành hai tầng chứa nước qh và qp theo trật tự từ trẻ đến cổ và từ trên xuống

3.2.3 Tài liệu địa mạo

Để có được thông tin về đặc điểm địa mạo thành phố Hà Nội bản đồ Địa mạo thành phố Hà Nội của Đào Đình Bắc công bố năm 2010 được sử dụng (hình 3.4)

3.4 Đánh giá độ nhạy cảm hóa lỏng nền khu vực thành phố Hà Nội

3.4.1 Đánh giá độ nhạy cảm hóa lỏng nền của thành phố Hà Nội theo đặc điểm địa chất

Khai thác các thông tin chi tiết có liên quan đến từng đơn vị địa chất trong vùng nghiên cứu, kết hợp với các tiêu chuẩn liệt kê của Youd & Perkins (1978),

độ nhạy cảm hóa lỏng nền cho mỗi đơn vị địa chất được xác định bằng cách gán các giá trị cấp độ nhạy cảm hóa lỏng nền từ 1 đến 4 tương ứng với mức độ nhạy cảm hóa lỏng từ rất thấp đến cao

Các kết quả thu được sau khi xử lý trong môi trường GIS cho bản đồ về phân bố độ nhạy cảm với hóa lỏng nền theo đặc điểm địa chất được thể hiện như hình 3.5

Trang 14

Hình 3.5 cho thấy khả năng hóa lỏng nền thành phố Hà Nội khi dựa vào

các đặc điểm địa chất được đánh giá ở mức trung bình Khả năng hóa lỏng cao

nhất là vùng đồng bằng thấp, trũng (5-6m) bị phân cách bởi hệ thống sông ngòi,

kênh, mương, ao hồ cấu tạo địa chất phức tạp Bắt gặp chúng ở Đông Anh và

một vài nơi trong phạm vi nội thành, các trầm tích trẻ ven lòng sông Hồng,

sông Đuống (aQ2

3tb).Trầm tích nguồn gốc hồ-đầm lầy (lbQ2

1-2hh) nằm dưới độ sâu khoảng 1,5-20m, dày trung bình 13,5m, thành phần chính là bột sét, bột cát

màu xám xanh, xám đen, mịn dẻo chứa nhiều mùn thực vật phần phía dưới là

bột sét, bùn lẫn mùn thực vật chưa phân hủy hết, màu xám, lớp bùn này phổ

biến nhiều ở khu vực nội thành và huyện Thanh Trì.Tiếp đến là vùng có khả

năng hóa lỏng trung bình, đây là khu vực đồng bằng tương đối bằng phẳng hai

bên sông Hồng Vùng núi phía tây bắc, tây nam thành phố và chỏm núi phía bắc

Sóc Sơn là núi đá phiến cứng, đá vôi không có khả năng hóa lỏng

3.4.2 Đánh giá độ nhạy cảm với hóa lỏng nền của thành phố Hà Nội

theo đặc điểm địa mạo

Hình 3.4 Khả năng nhạy cảm hóa lỏng nền theo đặc điểm thạch học khu vực Hà Nội

Hình 3.5 Khả năng nhạy cảm hóa lỏng nền theo đặc điểm thạch học khu vực

Hà Nội

Ngày đăng: 27/05/2021, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm