1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp về bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lí lớp 9

20 42 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 236 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lí luận: - Có thể nói, hầu như trên thế giới hiện nay các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi trong chiến lược phát triển giáo dục phổ thông, trong đó nh

Trang 1

MỤC LỤC

0

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG

TRƯỜNG THCS QUẢNG VĂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ BỒI DƯỠNG HỌC

SINH GIỎI MÔN ĐỊA LÍ LỚP 9

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thảo Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Quảng Văn SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Địa lí

QUẢNG XƯƠNG NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1.1 Lí do chọn đề tài 02

1.2 Mục đích nghiên cứu 02

2.3 Các giải pháp, biện pháp thực hiện 05

2.3.1.2 Yêu cầu học tập của học sinh: 05

2.3.1.3 Yêu cầu chuẩn bị của giáo viên: 06

2.3.2.4 Kĩ năng làm việc với bản đồ: 08

2.3.2.5 Kĩ năng làm việc với Át lát Địa lí Việt Nam: 08

2.3.2.6 Kĩ năng phân tích và nhận xét bảng số liệu thống kê: 09

2.3.2.7 Kĩ năng vẽ biểu đồ từ bảng số liệu đã cho và rút ra các

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 16

3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:

1.MỞ ĐẦU

Trang 3

1.1 Lí do chọn đề tài:

Như chúng ta đã biết lúc sinh thời Hồ Chí Minh đã dạy: “ Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người” Người luôn nhắc nhở các thế hệ người Việt Nam luôn quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ Việc trồng người chính là sự nghiệp giáo dục của đất nước Vì vậy ngay từ buổi khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc giáo dục con người – quan tâm đến sự nghiệp trồng người Bởi vì con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc cho con người là mục tiêu cao cả của chế độ ta

Nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục nên trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp này Trong Nghị quyết Ban chấp hành trung ương IV khóa VII đã xác định: “ Giáo dục và đào tạo

là quốc sách hàng đầu”

Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa với những mục tiêu cụ thể: Xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh thì vấn đề giáo dục lại đặt ra vô cùng quan trọng Giáo dục đào tạo ra những con người nhân ái, trung thực , trách nhiệm, có ý thức sức khỏe, lao động giỏi đáp ứng sự phát triển trong tương lai của đất nước, hội nhập với toàn cầu

Để đạt được những mục tiêu đó thì ngay trong mỗi đơn vị giáo dục phải

có mục tiêu phấn đấu, biện pháp rõ ràng để đạt được những mục tiêu cụ thể của trường mình rộng hơn Ngoài những mục tiêu đạt được chất lượng đại trà thì việc bồi dưỡng chất lượng mũi nhọn cũng là một vấn đề quan trọng luôn luôn được đề cập đến trong phương hướng hoạt động các năm học của nhà trường

Đối với trường THCS Quảng Văn trong những năm qua việc bồi dưỡng học sinh giỏi luôn được nhà trường quan tâm, tạo mọi điều kiện cho công tác bồi dưỡng, kết quả trường đã đạt được nhiều giải cao trong các kì thi học sinh giỏi cấp huyện và tỉnh

Tuy nhiên trong giai đoạn mới cùng với việc thay sách giáo khoa, đổi mới nội dung và phương pháp thì việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi cũng gặp nhiều khó khăn, là người trực tiếp được phân công giảng dạy đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí tại trường THCS Quảng Văn tôi luôn trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội ngũ này, đó là vấn đề có ý nghĩa lý luận và

thực tiễn sâu sắc Chính vì vậy tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp về bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí lớp 9”.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Bản thân đưa ra đề tài nghiên cứu để nêu lên một số kinh nghiệm trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí 9 nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn nói chung và chất lượng học sinh giỏi bộ môn nói riêng

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Trang 4

Đề tài nghiên cứu về quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Địa lí ở Trường THCS Quảng Văn nhằm đưa ra các các giải pháp nâng cao chất lượng học sinh giỏi bộ môn Địa lí

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá điều tra thực tế, so sánh… để thực hiện những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra

2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

2.1 Cơ sở lí luận:

- Có thể nói, hầu như trên thế giới hiện nay các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi trong chiến lược phát triển giáo dục phổ thông, trong đó nhiều nước ghi riêng thành một mục dành cho học sinh giỏi hoặc coi đó là một dạng giáo dục đặc biệt

Trên thế giới việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi đã có từ lâu, ví như thời nhà Đường, những trẻ em có tài đặc biệt được mời đến sân Rồng để học tập và được giáo dục bằng những hình thức đặc biệt Nước Mĩ, nước Anh v.v cũng đều có sự quan tâm đặc biệt đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Năm 1985 Trung Quốc thừa nhận phải có một chương trình đặc biệt dành cho hai loại đối tượng học sinh yếu kém và học sinh giỏi, trong đó học sinh giỏi có thể học vượt lớp

Một số nước, một số nơi họ định nghĩa về học sinh giỏi như sau: Học sinh giỏi là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo thể hiện động cơ học tập mãnh liệt, đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết, người cần một sự giáo dục đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với người đó Hoặc

ở Hoa Kì định nghĩa học sinh giỏi: Đó là những học sinh có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo hoặc các lĩnh vực lý thuyết riêng biệt Những học sinh này thể hiện tài năng đặc biệt của mình từ tất cả các bình diện xã hội,văn hóa

Theo quan niệm về học sinh giỏi Địa lí ở nước ta thì có thể thông qua cách định nghĩa đơn giản hơn: Học sinh giỏi có kiến thức, kĩ năng, có tư duy, linh hoạt hơn những học sinh khác Điểm khác biệt của học sinh giỏi Địa lí với học sinh bình thường là ở chỗ học sinh giỏi nắm kiến thức cơ bản địa lí vững chắc và toàn diện hơn, có kĩ năng địa lí hoàn thiện hơn và đặc biệt, có tư duy địa

lí linh hoạt và sâu sắc hơn Ở mức độ cao hơn nữa học sinh giỏi là những người

có khả năng sáng tạo, nghĩa là khả năng tìm ra cái mới, giải quyết cái mới

Như vậy để trở thành học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lí nói riêng cần phải rèn luyện trên cả ba phương diện: kiến thức, kĩ năng địa lí và

kĩ năng tư duy

Trên cơ sở quan niệm về học sinh giỏi như trên có thể thấy rằng để giáo dục học sinh giỏi là công việc khó khăn đòi hỏi nhiều công sức của thầy và trò, cũng như thời gian bồi dưỡng, phương pháp, nội dung bồi dướng và số tiết giảng dạy v.v…

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi nghiên cứu:

Trang 5

- Đối với việc lựa chọn và bỗi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí ở các Nhà trường THCS nói chung và trường THCS Quảng Văn nói riêng trong những năm trước

là rất khó khăn

Học sinh chưa thực sự yêu thích môn học, phần lớn các em đều cho rằng học Địa lí rất khó, khô khan, trừu tượng, quá nhiều đối tượng Địa lí, kĩ năng biểu đồ còn non, hơn nữa đây là môn học không thi vào cấp Trung học phổ thông nên các em chưa thực sự đầu tư về thời gian để học tập Do đó, học sinh cảm thấy không có động lực khi học địa lí, Chính vì vậy chất lượng đội tuyển chưa thấp cụ thể như sau:

Năm học Học sinh tham gia Học sinh giỏi huyện Học sinh giỏi tỉnh

-Phụ huynh và học sinh chưa quan tâm đúng, mặc dù trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp huyện , cấp tỉnh nhà trường luôn có học sinh đạt giải , chất lượng đạt được cao song số lượng học sinh tham gia chưa nhiều như các môn văn, toán Đây cũng là vấn đề mà nhà trường và giáo viên trực tiếp giảng dạy phải tiếp tục quan tâm và đề nghị với phụ huynh quan tâm trong thời gian tới và các năm tiếp theo

- Đối với giáo viên:

Phần lớn giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử Những người được phân công giảng dạy tâm huyết với công tác bồi dưỡng, có năng lực chuyên môn vững vàng, biết áp dụng các phương pháp đặc trưng bộ môn vào quá trình dạy học góp phần nâng cao chất lượng đội tuyển

Song phương pháp ôn tập bồi dưỡng còn đơn điệu, chủ yếu cung cấp kiến thức ở sách giáo khoa, chưa mở rộng các nguồn tài liệu tham khảo Nội dung đơn điệu , chưa rèn luyện nhiều cho học sinh kỹ năng biểu đồ,chưa đi sâu phân tích , tổng hợp các đối tượng địa lí

Bên cạnh công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, giáo viên còn phải bảo đảm chất lượng đại trà, thậm chí còn làm công tác kiêm nhiệm khác,

-Về phía nhà Trường THCS Quảng Văn trong nhiều năm qua bám sát mục tiêu giáo dục của ngành trong công tác giảng dạy, giáo dục và bồi dưỡng học sinh giỏi cũng đã xác đinh tầm quan trọng của công tác này Vì vậy những năm Nhà có nhiều giải pháp tích cực trong công tác bồi dưỡng HS giỏi bộ môn.làm công tác tuyển chọn và có kế hoạch dài hơi cho chương trình bồi dưỡng nên số lượng học sinh giỏi tăng nhanh Nhà trường có những giải pháp

cụ thể như:

- Sinh hoạt tổ chuyên môn trao đổi kinh nghiệm, đánh giá rút kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng HS giỏi bộ môn

- Hổ trợ về tinh thần vật chất, thời gian cho giáo viên dạy đội tuyển

- Họp phụ huynh trao đổi vận đông học sinh tham gia đội tuyển

Trang 6

Về phía bản thân tự nghiên cứu tìm , học hỏi , tìm hiểu tìm ra nguyên nhân và giải pháp, áp dụng các giải pháp nên kết quả tiến bộ dần qua các năm

Đây cũng là vấn đề mà nhà trường và giáo viên trực tiếp giảng dạy phải tiếp tục quan tâm và đề nghị với phụ huynh quan tâm trong thời gian tới và các năm tiếp theo

2.3 Các giải pháp, biện pháp thực hiện:

2.3.1 Một số yêu cầu cần thiết:

2.3.1.1 Lựa chọn đối tượng :

Giáo viên cần có kế hoạch lựa chọn học sinh vào đội tuyển ngay từ đầu

năm học và từ lớp 6 phân loại học sinh làm 3 đối tượng:

+ Yếu

+ Trung bình

+ Khá - giỏi

Trong quả trình dạy học chúng ta cần lồng ghép kiến thức nâng cao, thường xuyên giao bài, động viên, đôn dốc, kiểm tra, chấm, chỉnh sửa, khuyến khích học sinh.Gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh học sinh

Nhờ các thế mà học sinh từ chỗ không thích học môn Địa lí thành yêu thích môn Địa lí từ đó có hứng thú học tập và học tập tích cực Làm cho chất lượng bộ môn nâng lên rõ rệt

Khi đó tiến hành chọn lựa những học sinh yêu thích môn Địa lí và học tập tích cực có những kỹ năng cơ bản, để hướng dẫn các em ôn luyện những kiến thức cơ bản và các kỹ năng Địa lí thông qua các giờ dạy ở trường, giao bài tập

về nhà cho các em làm và rèn luyện

2.3.1.2 Yêu cầu học tập của học sinh:

Với học sinh giỏi Địa lí do có năng lực hơn những học sinh khác và có tư duy sáng tạo nhưng để hoàn thiện và để trở thành một học sinh giỏi Địa lí thực

sự thì cần phải rèn luyện các yêu cầu như sau:

+ Kiến thức:

- Kiến thức địa lí phổ thông: Học sinh phải nắm được một số kiến thức phổ thông, cơ bản mang tính hệ thống thiết thực về: Trái Đất – môi trường sống của con người , dân cư , kinh tế, xã hội

- Các mối liên hệ nhân quả là loại kiến thức phổ biến trong địa lí Việc giải thích các hiện tượng địa lí phần lớn phải dựa vào các mối liên hệ này từ đơn giả đến phức tạp

- Các quy luật địa lí thường được học tập trung ở chương cuối một phần hoặc một số phần, có tính khái quát các mối liên hệ nhân quả phổ biến lặp đi, lặp lại thường xuyên

Ngoài các kiến thức cơ bản, phải rút ra được các kiến thức khái quát Kiến thức địa lí phổ thông học sinh cần nắm được chia thành 6 mức độ

- Biết, hiểu, vận dụng, tổng hợp, đánh giá

+Kĩ năng địa lí:

Củng cố và phát triển các kĩ năng:

Trang 7

- Quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp hoặc so sánh, đánh giá các sự vật hiện tượng, sử dụng bản đồ, biểu đồ…

- Thu thập, xử lý, trình bày các thông tin địa lí

- Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và giải quyết một số vấn đề có liên quan đặc biệt trong cuộc sống

Kĩ năng học địa lí trong nhà trường có thể chia thành 5 mức độ: Bắt chước, thao tác, chuẩn hóa, phối hợp, tự động

Đối với học sinh giỏi phải đạt được kĩ năng 4 và 5 nhờ đó mà các em mới

có thể sử dụng các kĩ năng này để tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu tìm ra các kiến thức cần đạt

+Tư duy :

- Tư duy cần thiết của học sinh hiện nay trong quá trình học tập là tư duy loogic, tư duy biện chứng, tư duy hình tượng, gắn nó với tình huống cụ thể

- Trong quá trình học tập có các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp,

so sánh, khái quát hóa, cần chú trọng đến rèn luyện các tháo tác tư duy này

2.3.1.3 Yêu cầu chuẩn bị của giáo viên:

- Giáo viên phải lựa chọn, xây dựng kế hoạch và chương trình cụ thể đảm bảo tính hệ thống

- Chuẩn bị tốt giáo án bồi dưỡng - đảm bảo kiến thức cơ bản, trọng tâm và

có hệ thống Vì chương trình Địa Lí THCS là chương trình đồng tâm nên khi bồi dưỡng học sinh qua mỗi chuyên đề giáo viên phải chú ý tính lô gíc và hệ thống của kiến thức trong từng chuyên đề

- Giáo viên bồi dưỡng đội tuyển không những trang bị cho mình về kiến thức, phương pháp giảng dạy mà còn phải biết sưu tầm tích luỹ tư liệu dạy học, tích cực đọc nghiên cứu tài liệu tham khảo, nâng cao tích luỹ kinh nghiệm, các

bộ đề để rèn luyện cho học sinh.Nâng cao , mở rộng kiến thức

- Kết hợp giữa trang bị kiến thức và rèn luyện các kỹ năng Địa Lí theo từng chuyên đề như: Kỹ năng đọc bản đồ, át lát, phân tích bản đồ, nhận xét bảng số liệu, vẽ và phân tích biểu đồ…Đây là nhiệm vụ trọnh tâm của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa Lí

- Trong từng chuyên đề giáo viên phải có sưu tầm dạng đề tiêu biểu về kiến thức kỹ năng để rèn luyện cho học sinh giúp học sinh làm quen củng cố kiến thức, kỹ năng đã học

- Sau mỗi chuyên đề cần khảo sát, đánh giá để rèn kỹ năng tư duy, trình bày cho học sinh, từ đó kiểm tra, đánh giá, nắm bắt tình hình nhận thức của học sinh

để có biện pháp khắc phục

- Đánh giá phân loại đối tượng học sinh, nắm được các điểm mạnh điểm yếu của từng học sinh từ đó có biện pháp bồi dưỡng cho phù hợp

- Hướng dẫn cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện

kỹ năng Địa lí từ đó phát triển óc tư duy sáng tạo độc lập của học sinh là rất quan trọng, đó cũng là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn Địa lí nói riêng hiện nay

2.3.2 Một số biện pháp cụ thể:

Trang 8

Để học tập có hiệu quả trong quá trình dạy và học cần chú ý đến một số vấn đề như sau:

2.3.2.1.Nhớ kiến thức một cách lôgic:

- Trong môn học Địa lí một trong những yếu điểm của học sinh là tư duy không tốt do thiếu những kiến thức cần thiết, trong đó đặc biệt là các khái niệm địa lí, nắm được các kiến thức cơ bản là cơ sở cho tư duy tốt hơn tạo điều kiện

để nắm các kiến thức mới tốt hơn Kiến thức mới lại giúp cho tư duy nhận thức được những kiến thức khác mới hơn

- Nắm chắc kiến thức là điều cần thiết, nhớ lâu bền kiến thức địa lí và có thể vận dụng được vào trong các trường hợp cụ thể, để nhớ lâu bền cần phải có trí nhớ lôgic Muốn ghi nhớ lôgic trong quá trình ghi nhớ phải hiểu và vận dụng được các quy luật của trí nhớ

- Theo quan niệm trí nhớ là hoạt động phản xạ có điều kiện, phản xạ này phải được lặp đi, lặp lại nhiều lần, do vậy trong quá trình ghi nhớ kiến thức phải cho học sinh ôn tập thường xuyên Sau một số bài, mộ số chương hay chuyên đề cần có sự ôn tập lại để tăng cường trí nhớ., do vậy khi giảng dạy cần tạo được ấn tượng mạnh trong mỗi đơn vị kiến thức cần đạt

- Hứng thú học tập của học sinh được tạo lên từ sự nhớ lâu, men kích thích việc học tập của học sinh

- Tập trung chú ý sẽ làm tăng trí nhớ, trong quá trình học tập học sinh phải tập trung tối đa vào việc học(nghe giảng, trao đổi , thảo luận ) học xong mới tập trung vào việc khác

2.3.2.2 Rèn luyện kĩ năng tư duy:

- Trong học tập địa lí hiện nay các tư duy cần được rèn luyện là:

+ Câu hỏi dạng phân tích: Các câu hỏi này nhằm gợi ý tách riêng từng phần của sự vật và hiện tượng địa lí Ví dụ phân tích khả năng để đồng bằng sông Hồng trở thành vựa lúa lớn thứ 2 của cả nước hay đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng lương thực, thực phẩm hàng đầu của cả nước

+ Câu hỏi dạng tổng hợp: Các câu hỏi này nhằm là cho học sinh xác lập được tính thống nhất và mối liên hệ giữa các thuộc tính và sự vật, câu hỏi tổng hợp không phải là tổng cộng đơn thuần các bộ phận của sự vật, sự tổng hợp đúng sẽ là một hoạt động tư duy mang lại kết quả mới nhất về chất, Ví dụ: Vị trí địa lí Việt Nam có tác động như thế nào đến tự nhiên và phát triển kinh tế, xã hội, Chứng minh rằng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước Phân tích và tổng hợp thường đi liền với nhau không thể tách rời nhau, luôn đi kèm với nhau, đôi lúc loại câu hỏi này có thành phần của loại câu hỏi kia

+ Câu hỏi dạng so sánh, liên hệ: nhằm liên hệ các sự vật hiện tượng địa lí lại với nhau trong một mối quan hệ, ví dụ: Hai vùng trồng cây công nghiệp Trung du và Miền núi Bắc Bộ với Tây Nguyên giống nhau và khác nhau như thế nào?

+ Câu hỏi nguyên nhân- kết quả:, Vi dụ: Tại sao ngành công nghiệp chế biến lương C, thực phẩm trở thành ngành công nghiệp trọng điểm của nước ta?

Trang 9

Giải thích tại sao Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm dịch vụ lớn và đa dạng nhất nước ta?

2.3.2.3 Rèn luyện kĩ năng địa lí:

Để rèn được các kĩ năng địa lí học sinh phải được thường xuyên luyện tập, bởi vì các kĩ năng này do hoạt động thường xuyên mà có, thông qua các bài học, đơn vị kiến thức làm việc với bản đồ, Atlat, bảng số liệu thống kê, tính toán Thường thì ở Môn địa lí 9 THCS có một số kĩ năng địa lí sau:

2.3.2.4 Kĩ năng làm việc với bản đồ:

- Đây là kĩ năng có bản của môn học, nếu không nắm vững kĩ năng này thì khó có thể hiểu và giải thích được các sự vật hiện tượng, tự mình cũng khó tìm tòi các kiến thức địa lí khác Do tính chất cơ bản của kĩ năng này lên trong nhiều năm đề thi học sinh giỏi huyện, tỉnh đều thực hiện trên cơ sở đó và chủ yếu thông qua Át lát Địa lí Việt Nam Do vậy việc rèn luyện kĩ năng về bản đồ không thể thiếu trong học địa lý

- Thông thường khi làm việc với bản đồ học sinh phải:

+ Hiểu hệ thống kí hiệu, ước hiệu trên bản đồ

+ Nhận biết, chỉ và đọc tên các đối tượng địa lí trên bản đồ

+ Biết đặc điểm, vị trí, sự phân bố các đối tượng địa lí trong không gian

và mô tả được đặc điểm của các đối tượng đó

- Muốn đọc được bản đồ phải có kiến thức địa lí, nếu không có kiến thức thì không thể đọc được bản đồ, Ví dụ muốn phân tích được tại sao Hà Nội và vùng phụ cận lại có công nghiệp tập trung ở mức độ cao, thì ngoài quan sát bản

đồ phải có các kiến thức liên quan về xã hội, tự nhiên…

2.3.2.5 Kĩ năng làm việc với Át lát Địa lí Việt Nam:

Trong các đề thi học sinh giỏi thường các em luôn thấy dạng câu hỏi có dựa vào Át lát, ví như: Dựa vào Át lát Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học em hãy:… Với những câu hỏi loại này học sinh phải dựa vào cả hai cơ sở là kiến thức đã học và Át lát, việc tách rời hoặc không đảm bảo hai cơ sở sẽ dẫn đến bỏ sót kiến thức kể cả Át lát và kiến thức đã học

Ví dụ : Dựa vào kiến thức đã học và Át lát Địa lí Việt Nam hãy: Cho biết

sự phân bố cây công nghiệp và cây lương thực? Giải thích sự phân bố đó?

- Những kiến thức học sinh có thể khai thác được một cách đơn giản nhất

là quan sát để nhận xét:

+ Ngành trồng trọt nước ta có cơ cấu cây trồng đa dạng gồm cây công nghiệp và cây lương thực- thực phẩm

+ Cây công nghiệp gồm: Cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, chè… phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi và trung du

+ Cây lương thực phân bố rộng khắp nhưng chủ yếu phân bố ở vùng đồng bằng, lớn nhất là đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và đồng bằng duyên hải miền Trung

- Những kiến thức mà học sinh phải huy động từ kiến thức đã học

+ Cây công nghiệp được phân bố ở các vùng như Trung du và Miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ vì những nới này có địa hình chủ yếu là miền đồi núi, có đất Feralit, khí hậu cận nhiệt, cận xích đạo… thuận lợi cho phát

Trang 10

triển; Ví dụ: Vùng trung du và Miền núi Bắc Bộ cây chè có diện tích lớn nhất, quan trọng nhất vì nhờ vào các điều kiện tự nhiên như đất Feralit phát triển trên

đá vôi có diện tích lớn, màu mỡ, khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt, ôn đới là điều kiên

tự nhiên thích hợp để phát triển, chè được trồng thành vùng chuyên canh lớn, mặt khác chè là sản phẩm được thị trường ưa chuộng, phân phối rộng khắp nên quy mô và sản lượng ngày càng tăng nhanh

2.3.2.6 Kĩ năng phân tích và nhận xét bảng số liệu thống kê:

- Trong các đề thi của tỉnh, huyện các câu hỏi yếu cầu phân tích số liệu thường xuất hiện nhiều, do tính chất khó của loại câu hỏi này, đồng thời loại câu hỏi này còn cho phép đánh giá sự am hiểu, vận dụng kiến thức của hóc sinh vào các trường hợp cụ thể, đánh giá được kĩ năng chọn lọc, xác định kiến thức địa lí Thông qua loại câu hỏi này yêu cầu học sinh phân tích bảng số liệu để rút ra các nhận xét cần thiết

- Đọc bảng số liệu về bản chất là so sánh các số liệu theo hàng ngang và cột dọc, rút ra các nhận xét cần thiết Học sinh cần phải nắm vững tến bảng, các tiêu đề của bảng, đơn vị tính, yêu cầu cụ thể của bài tập, hiểu rõ các tiêu chí cần nhận xét( ví dụ để nhận xét về một loại cây trồng, người ta thường quan tâm đến sản lượng, cơ cấu, năng suất, để nhận xét về dân cư người ta thường quan tâm đến phân bố, quy mô dân số, kết cấu hoặc nhận xét về đô thị thì quan tâm đến chức năng, quy mô, phân cấp, sự phân bố) việc phân tích nhìn chung không phức tạp nhưng học sinh thường phạm lỗi phân tích thiếu hoặc nêu không đầy

đủ các nhận xét cần thiết Để tránh trường hợp này xảy ra cần lưu ý so sánh các

số liệu theo cột dọc và hàng ngang với một trình tự hợp lý, chú ý so sánh các mốc thời gian đầu và cuối của bảng, các mốc thời gian liền kề nhau theo thứ tự, các mốc có tính đột biến

+ Phân tích câu hỏi làm rõ yêu cầu và phạm vi cần phân tích, nhận xét, phát hiện những yêu cầu chủ đạo để tập trung làm rõ, nếu như không xác định đúng yêu cầu chủ đạo thì rất dễ bị lạc đề

+ Tái hiện lại kiến thức có bản có liên quan đến yêu cầu của câu hỏi và đến các số liệu đã cho để xác đinh tiêu chí cho phù hợp Ví dụ: Khi câu hỏi yêu cầu dựa vào các số liệu cần thiết để nhận xét dân cư, cần phải phác thảo một dàn

ý bao gồm:: đề cập đến vai trò, nguồn lực, tình hình phát triển, cơ cấu ngành và lãnh thổ, sự phân bố… Tuy nhiên đây chỉ là cái chung, cần dựa vào để trình bày, tránh sót ý Việc phân tích, nhận xét cụ thể còn tùy thuộc vào các số liệu đã cho

Việc phân tích và nhận xét bảng số liệu thông thường được tiến hành như sau: Phát hiện các mối liên hệ giữa số liệu theo cột dọc và hàng ngang, chú ý đến các giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, giá trị trung bình, những đột biến tăng hay giảm đột ngột, chú ý so sánh đối chiếu cả giá trị tuyệt đối và tương đối; Chú ý phân tích khái quát trước sau đó mới đi sâu vào các thành phần cụ thể; Khi xét nên theo trình tự từ khái quát đến cụ thể, từ chung đến riêng, từ cao xuống thấp bám sát yêu cầu của câu hỏi và kết quả xử lý số liệu Mỗi nhận xét đều có dẫn chứng cụ thể để tăng sức thuyết phục

Ví dụ: Cho bảng số liệu sau:

Ngày đăng: 26/05/2021, 22:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w