SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GD&ĐT QUẢNG XƯƠNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI PHƯƠNG PHÁP CHỨNG MINH ĐƯỜNG THẲNG ĐỒNG QUY, BA ĐIỂM THẲNG HÀNG Người thực hiện: Lại Văn Xuân C
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT QUẢNG XƯƠNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
PHƯƠNG PHÁP CHỨNG MINH ĐƯỜNG THẲNG
ĐỒNG QUY, BA ĐIỂM THẲNG HÀNG
Người thực hiện: Lại Văn Xuân Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn Đơn vị công tác: Trường THCS Quảng Vọng SKKN thuộc lĩnh vực : Toán học
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT QUẢNG XƯƠNG
********
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIẢI BÀI TẬP HÓA HỌC THƯỜNG GẶP Ở CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC THCS.
Người thực hiện: Hồ Thị Hồng
Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THCS Quảng Văn SKKN thuộc lĩnh vực : Hóa học
THANH HÓA NĂM 2021
Trang 2PHỤ LỤC
Trang
A Mở đầu ……… ……… 1
1 Lý do chọn đề tài ……….………… 1
2 Mục đích của đề tài ……….……… 2
B Nội dung nghiên cứu ……… ………….……… 4
1 Thực trạng……… ……… 4
1.1 Những vấn đề về cơ sở lý luận…… ……… 4
1.2 Thực trạng ……….…… 5
2 Những giải pháp thực hiện……… ……… 6
3 Nội dung cụ thể……… …… 6
3.1 Phương pháp tăng giảm khối lượng ……… ……… 6
3.2 Phương pháp bảo toàn khối lượng ……….……… 9
3.3 Phương pháp ghép ẩn số ……… ……… 10
3.4 Phương pháp đường chéo……….……… 12
C Kết quả đạt được và đề xuất……… ……… 13
1 Kết quả đạt được……… 12
2 Bài học kinh nghiệm……… 13
3 Kết luận……… 14
4 Đề xuất……… 15
D Tài liệu tham khảo 16
Danh mục các đề tài SKKN mà tác giả đã được Hội đồng SKKN Ngành GD huyện, tỉnh và các cấp cao hơn đánh giá đạt từ loại C trở lên. A Mở đầu 1 Lý do chọn đề tài
Hoá học là môn học có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục
tiêu đào tạo ở bậc THCS Chương trình Hoá học THCS có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, phổ thông và thói quen làm việc khoa học Góp phần hình thành ở học sinh các năng lực nhận thức và các phẩm chất, nhân cách mà mục tiêu giáo dục đã đề ra
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Hoá học ở trường THCS Qua nghiên cứu nội dung chương trình và quá trình học tập môn Hoá học của học sinh tôi nhận thấy:
Học sinh tiếp thu môn Hoá học rất chậm, dù rằng đây là môn học còn mới đối với các em vì đến lớp 8 các em mới được làm quen Nhưng không
Trang 3Từ chỗ khó tiếp thu ngay ban đầu sẽ dẫn đến sự hời hợt của học sinh đối với môn Hoá học về những năm học sau
Mà cái khó của học sinh đối với môn Hoá học chính là bài tập, học sinh thường rất lúng túng đối với các bài tập Hoá học, sự đa dạng của bài tập Hoá học thường đẩy học sinh và bế tắc khi mà ở trên lớp các em luôn tiếp thu bài một cách thụ động, nhớ một cách máy móc những bài toán mà giáo viên làm mẫu vì các em không có những phương pháp giải áp dụng cho từng dạng toán Hoá học
Đã thế, nhiều giáo viên vẫn không nhận thấy những yếu điểm này của học sinh để tìm cách khắc phục mà vẫn để học sinh tiếp thu một cách thụ động và nhớ máy móc khi giải một bài toán hoá học
Vì vậy để nâng cao chất lượng học môn Hoá học mỗi học sinh cần phải tích cực chủ động học tập song bên cạnh đó giáo viên phải đóng vai trò quan trọng, giáo viên phải cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản từ
đó học sinh sẽ khai thác kiến thức đó vào những vấn đề cụ thể Đặc biệt là phương pháp giải các dạng toán hoá học vì chỉ nắm được phương pháp giải, học sinh mới có thể chủ động trước các dạng toán
Nhận thức được vấn đề này nên tôi đã đi sâu vào nghiên cứu để đưa ra các phương pháp giải phù hợp với từng dạng toán hoá học Xây dựng và đưa
ra các dạng toán hoá học thường gặp để các em học sinh có một tư liệu học tập và không bị lúng túng trước các bài toán hoá học, đồng thời cũng là một cầm nang để các đồng nghiệp có thể sử dụng làm tư liệu trong quá trình giảng dạy để mức độ nhận thức của học sinh ngày một nâng cao
2 Mục đích của đề tài
Chương trình Hoá học THCS ngoài mục tiêu hình thành ở học sinh những kiến thức hoá học cơ bản thì việc bồi dưỡng các kỹ năng: năng lực nhận thức cho học sinh là một nhiệm vụ không kém phần quan trọng
Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ đó và dựa vào kinh nghiệm giảng dạy Hoá học ở trường THCS tôi đã thực hiện đề tài :
Trang 4Một số kinh nghiệm giải bài tập hóa học thường gặp ở chương trình
hoá học THCS.
B Nội dung nghiên cứu
1 Thực trạng
1.1 Những vấn đề về cơ sở lí luận
Trong chương trình THCS nói chung và bộ môn Hoá học nói riêng, mục tiêu đặt ra là không chỉ truyền đạt cho học sinh kiến thức theo yêu cầu mà phải hình thành ở các em những kiến thức tổng quát để từ đó các em có thể vận dụng trong mọi trường hợp, các em có thể giải quyết được những vấn đề đặt ra
Vì lẽ đó mà mỗi giáo viên cần truyền đạt cho học sinh các phương pháp,
để từ những phương pháp được học các em vận dụng vào những vấn đề cụ thể
Mặt khác đối với môn Hoá học nếu không giải được các bài toán hoá học thì các em cũng sẽ không nắm được kiến thức về lý thuyết một cách cụ thể, về bài tập để củng cố lý thuyết Chính vì điều đó mà vấn đề đặt ra ở đây là phải truyền đạt cho các em một cách đầy đủ và có hệ thống các phương pháp giải toán hoá học, vì các bài toán cũng là thước đo mức độ hiểu bài và trình độ tư duy của học sinh
Như vậy qua những luận điểm nêu trên tôi thấy phương pháp giải toán hoá học thực sự là cần thiết đối với học sinh bậc THCS nói riêng và học sinh phổ thông nói chung
1.2 Thực trạng
Trong quá trình học tập môn hoá ở trường THCS, nhìn chung đa số các
em còn lúng túng khi đứng trước tình huống của một bài tập Hoá, phần do chưa nắm vững kiến thức cơ bản, phần do các em chưa được trang bị các có
kỹ năng giải bài tập Hoá nên chất lượng học tập chưa cao
Trang 5Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm ( đợt 1) môn Hoá lớp 9 của
trường THCS Quảng Văn tháng 9 năm 2020 như sau :
Lớp
Tổn
g
Điểm 0->
4,5
Điểm 5->
6,5
Điểm 7->
8,5
Điểm
Tổn
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy số HS có học lực tiếp thu môn Hoá ở mức độ Yếu và kém tương đương với số HS có mức tiếp thu trung bình trở lên, đây là một thực tế và là một kết quả không mong muốn Vậy làm thế nào
để HS tiếp thu kiến thức của bộ môn này được tốt, là một giáo viên có tinh thần trách nhiệm với bộ môn, với học sinh tôi đã trăn trở, suy nghĩ và mạnh dạn đưa đề tài này vào thực hiện với mong muốn tạo cho các em phương pháp học tập tốt và kết quả học tập bộ môn được cao hơn
2 Những giải pháp thực hiện
Thông qua các tiết học chủ đề tự chọn và lồng ghép vào các buổi chữa bài tập trên lớp tôi đã dành nhiều thời gian hướng dẫn cho các em cách phân loại các dạng bài tập Hoá và những phương pháp giải đặc trưng của dạng toán
đó cụ thể như :
* Gồm các phương pháp:
- Phương pháp tăng giảm khối lượng
- Phương pháp bảo toàn khối lượng
- Phương pháp ghép ẩn số
- Phương pháp đường chéo
3 Nội dung cụ thể :
Trang 63.1 Phương phỏp tăng giảm khối lượng:
3.1.1 Khi gặp bài toỏn cú a gam muối clorua (của kim loại Ba , Ca ,
Mg ) tỏc dụng với muối cỏcbonat cú khối lượng b gam Hóy tớnh khối lượng muối cloro của ? Để giải quyết bài toỏn này ta phải tỡm số mol(n) của muối
Độ giảm khối lượng muối a-b là do thay Cl2(71) bằng CO2(60)
Tỡm số mol của muối là
n muối = a - b
71 - 60 =
Đ ộ tăng khối l ợ ng muối theo đề bài
Đ ộ tăng khối l ợ ng muối theo ph ơng trình
và II bằng dung dịch HCl dư thu được dung dịch X và 4,48 lớt khớ (ở đktc) tớnh khối lượng muối khan thu được ở dung dịch X
phản ứng sau:
A2CO3 + 2HCl -> 2ACl + CO2↑ + H2O (1) BCO3 + 2HCl -> BCl2 + CO2↑ + H2O (2)
Số mol khớ CO2 (ở đktc) thu được ở 1 và 2 là:
mol
4 , 22
48 , 4
Theo (1) và (2) ta nhận thấy cứ 1 mol CO2 bay ra tức là cú 1 mol muối cacbonnat chuyển thành muối Clorua và khối lượng tăng thờm 11 gam (gốc
CO3 là 60g chuyển thành gốc Cl2 cú khối lượng 71 gam)
Vậy cú 0,2 mol khớ bay ra thỡ khối lượng muối tăng là:
0,2 11 = 2,2 gam Vậy tổng khối lượng muối Clorua khan thu được là:
M(Muối khan) = 20 + 2,2 = 22,2 (gam)
3.1.2 Khi gặp bài toỏn cho m (g) muối cacbonat của kim loại hoỏ trị II
tỏc dụng với H2SO4 loóng dư thu được n (g) muối Sunfat Hóy tỡm CTPT của muối cacbonat
Trang 7Muốn tìm công thức muối cacbonat phải tìm số mol muối :
n muèi = n - m
96 - 60
do muối cacbonat (CO3 = 60 ) bằng muối Sunfat ( SO4 = 96 )
xác định CTPT của muối ( RCO3)
R + 60 = m
n muèi => R
Bài toán 2: Cho 19,7 g muối cacbonat của kim loại hoá trị II tác dụng với
H2SO4 loãng dư thu được 23,3 g muối Sunfat Hãy tìm CTPT của muối
cacbonat trên
HD giải:
Gọi M là kí hiệu cũng là nguyên tử khối của kim loại hoá trị II
Phương trình hoá học của phản ứng :
MCO3 + H2SO4 → MSO4 + CO2 ↑ + H2O
x mol x mol x mol
23 3 19 7
0 1
96 60
−
Theo bài ra : (M + 60).0,1 = 19,7 => M = 137 (Ba)
Vậy công thức phân tử của muối cần tìm là BaCO3
3.1.3 Trường hợp bài toán cho kim loaị mạnh đẩy kim loại yếu ra khỏi
dung dịch muối của chunmgs ( Trừ kim loại kiềm , Ca) Nếu đề bài cho khối lượng thanh kim loại tăng hoặc giảm so với khối lượng ban đầu, thiết lập mối quan hệ ẩn số với giả thiết đề bài cho
* Nếu đề bài cho khối lượng thanh kim loại tăng, thì lập phương trình đại số sau :
m Kim lo¹i gi¶i phãng - m Kim lo¹i tan = m Kim lo¹i t¨ng
* Nếu đề bài cho khối lượng thanh kim loại giảm, thì lập phương trình đại
số sau :
Trang 8m Kim lo¹i tan - m Kim lo¹i gi¶i phãng = m Kim lo¹i gi¶m
* Nếu đề bài cho khối lượng thanh kim loại tăng a% hay giảm b% thì nên đặt thanh kim loại ban đầu là m gam Vậy khối lượng thanh kim loại tăng a
% × m hay giảm b% × m
Bài toán 3:
Nhúng một lá Sắt nặng 10g vào dung dịch CuSO4, sau một thời gian lấy
lá sắt ra cân lại thấy nặng 10,4 g Hỏi đã có bao nhiêu gam Cu sinh ra, biết lượng Cu sinh ra bám toàn bộ vào lá Sắt
HD giải:
Giả sử đã có a mol Sắt tác dụng với CuSO4 theo phản ứng :
Fe + Cu = FeSO4 + Cu
a a a
=> Khối lượng lá Sắt lúc cân lại là : 64a – 56a = 10,4 - 10
=> 8a = 0,4 => a = 0,05
=> Lượng Cu sinh ra là : 0,05.64 = 3,2g
3.2 Phương pháp bảo toàn khối lượng:
Một bài toán Hoá học ta có thể áp dụng nhiều cách giải khác nhau, có thể giải theo phương pháp bảo toàn khối lượng
Bài toán 4:
Cho một luồng Coqua ống nghiệm đựng m gam hỗn hợp : Fe,FeO,Fe3O4 , Fe2O3 nung nóng Thu được 64 gam chất rắn Khí thoát ra sục vàodung dịch nước vôi trong dư , thu được 40 gam kết tủa Tính m
HD giải:
m gam hỗn hợp +CO→ 64 g + m CO2
Theo định luật bảo toàn khối lượng:
m + mCO = 64 + m CO2
Số mol của CaCO3 là :
n= 40 =0 4, (mol)
Trang 9PTHH :
CO2 + Ca(OH)2 → CaCO3 + H2O
1mol 1 mol 1 mol
0,4 mol 0,4 mol
Khối lượng của CO2 là : 44x0,4 = 17,6 (g)
Khối lượng của CO là : 28x0,4 = 11,2 (g)
m + 11,2 = 64 + 17,6
=> m = 70,4 (g)
với HCl thu được 8,96 lít H2 (ở đktc) Hỏi khi cô cạn dung dịch thu được bao nhiêu gam muối khan
Mg + 2HCl -> MgCl2 + H2↑ 2Al + 6HCl -> 2AlCl3 + 3H2↑
Số mol H2 thu được là: n H 0 , 4mol
4 , 22
96 , 8
Theo (1, 2) ta thấy số mol gấp 2 lần số mol H2
Nên: Số mol tham gia phản ứng là:
nHCl = 2 0,4 = 0,8 mol
Số mol (số mol nguyên tử) tạo ra muối cũng chính bằng số mol HCl bằng 0,8 mol
Vậy khối lượng Clo tham gia phản ứng là :
mCl = 35,5 0,8 = 28,4 gam
Và khối lượng muối khan thu được là:
7,8 + 28,4 = 36,2 gam
3.3 Phương pháp ghép ẩn số:
Cách tiến hành :
- Viết đầy đủ PTHH
Trang 10- Đặt ẩn cho các đại lượng cần tìm
- Tính theo các PTHH, từ đó lập ra các phương trình toán học
- Giải các phương trình hoặc hệ phương trình để tìm ra đại lượng cần tìm
Bài toán 6:
Hoà tan hỗn hợp 20 gam hai muối cacbonnat kim loại hoá trị I và II bằng dung dịch HCl dư thu được dung dịch M và 4,48 lít CO2 (ở đktc) tính khối lượng muốn tạo thành trong dung dịch M
HD giải:
Gọi A và B lần lượt là kim loại hoá trị I và II Ta có phương trình phản ứng sau:
A2CO3 + 2HCl -> 2ACl + H2O + CO2↑ (1) BCO3 + 2HCl -> BCl2 + H2O + CO2↑ (2)
Số mol khí thu được ở phản ứng (1) và (2) là:
mol
4 , 22
48 , 4
Gọi a và b lần lượt là số mol của A2CO3 và BCO3 ta được phương trình đại số sau:
(2A + 60)a + (B + 60)b = 20 (3) Theo phương trình phản ứng (1) số mol ACL thu được 2a (mol)
Theo phương trình phản ứng (2) số mol BCl2 thu được là b (mol)
Nếu gọi số muối khan thu được là x ta có phương trình:
(A + 35.5) 2a + (B + 71)6 = x (4) Cũng theo phản ứng (1, 2) ta có:
a + b = n CO2 = 0 , 2 (mol) (5)
Từ phương trình (3, 4) (Lấy phương trình (4) trừ (5)) ta được:
11 (a + b) = x - 20 (6) Thay a + b từ (5) vào (6) ta được:
11 0,2 = x - 20
=> x = 22,2 gam
Trang 11Bài toán 7: Hoà tan hoàn toàn 11 gam hỗn hợp hai kim loại sắt
và nhôm bằng dung dịch HCl vừa đủ thu được 8,96 lít H2 (đktc)
a Tính phần trăm khối lượng mỗi kim đã dùng
b Thể tích dung dịch HCl 2M đã dùng
HD giải:
a Gọi a ,b lần lượt là số mol của Al và Fe.
PTHH:
2Al + 6HCl →2 AlCl3 + 3H2
a 3a 1,5a
Fe + 2HCl → FeCl2 + H2
b 2b b
Số mol H2 ở (đktc) n V 8,96 0,4
( )
b 0,1 1,5 a b 0,4 2
e
0,2.27
11
%F 100% 49,09% 50,91%
b Số mol HCl đã dùng : n = 3a + 2b = 3.0,2 + 2.0,1 = 0,8
Thể tích dung dịch HCl 2M đã dùng : V 0,8 0,4
2
= = (l)
3.4 Phương pháp đường chéo:
Một bài toán thường có nhiều cách giải nhưng nếu bài toán nào có thể sử dụng được phương pháp đường chéo để giải thì sẽ làm bài toán đơn giản hơn rất nhiều.
Bài toán 8:
Cần pha bao nhiêu gam dung dịch NaCl 20% vào 400g dung dịch NaCl 15%
để được dung dịch NaCl 16%
HD giải:
+ Giải theo phương pháp đường chéo:
Gọi m1 lần lượt là khối lượng của các dung dịch cần lấy
=> 1
1
16
Trang 12Vậy cần phải dùng 100 gam dung dịch NaCl 20%
NaOH 10% thì thu được dung dịch có nồng độ bao nhiêu%.
=> 500 c 10
−
=
−
Giải ra ta được: C =13,6 %
Vậy dung dịch thu được có nồng độ 13,6%.
Bài toán 10: Cần trộn bao nhiêu ml dung dịch NaOH 1M vào bao nhiêu ml dung dịch NaOH 1,5 M Để thu được 600ml dung dịch NaOH 1,2M.
HD giải:
Gọi V1; V2 lần lượt là thể tích của các dung dịch NaOH 1M và NaOH 1,5
M cần lấy Ta có sơ đồ đường chéo sau:
2
−
=
−
Vậy tỷ lệ khối lượng cần lấy là: 1
2
V = 0,2 (1) ta có V1 + V2 = 600 (2)
Giải (1) ;(2) ta được : V1 = 260 ml ; V2 = 240 ml
Vậy cần trộn 260 ml dung dịch NaOH 1M vào 240ml dung dịch NaOH 1,5 M Để thu được 600ml dung dịch NaOH 1,2M
C Kết quả đạt được và đề xuất
1 Kết quả đat được :
Kết quả khảo sát chất lượng môn Hoá Học của Hs khối 9 trường THCS
Quảng Văn đợt 2 - (Tháng 4 năm 2021), sau khi Hs được ''trang bị'' phương
10
C
15- C
Cầnpha bao nhiêu gam dung dịch NaCl 20%
500
:
200
:
1,5
1,2
1,2 - 1
V1
V2
Trang 13pháp này và qua quá trình các em tự nghiên cứu, vận dụng trong học tập môn Hoá như sau :
Điểm 0->
4,5
Điểm 5->
6,5
Điểm 7->
8,5
Điểm
Tổn
* Kết quả thu được qua qua thực hiện đề tài là rất khả quan, đại đa số các em đã hiểu bài và tự tin hơn khi vận dụng các phương pháp đã học vào giải bài tập Hoá
2 Bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện :
- Trong quá trình học tập, lúc đầu các em còn sợ khó, chưa quen với
phương pháp Giáo viên cần giảng chậm , câu hỏi trong các ví dụ phải ngắn gọn, đủ ý, vừa nêu được vấn đề lại vừa gợi mở được cho Hs hướng suy nghĩ ,
để thông qua đó làm nổi bật được nội dung của phương pháp giải
- Sau mỗi phương pháp giáo viên cần ra thêm các bài tập tương tự để học sinh tự giác học tập tiếp thu và trải nghiệm phương pháp và từ đó rút ra kiến thức và kỹ năng trong học tập của bản thân
3 Kết luân :
Là một giáo viên khi đứng trên bục giảng ai cũng muốn truyền đạt một cách hay nhất, học sinh dễ hiểu nhất Muốn làm được như vậy đòi hỏi giáo